Chí nhân thay cường bạo

Trong mắt người nước ngoài

QĐNDLTS: Báo chí và nhiều nguồn thông tin khác của Mỹ chỉ rõ tính tổ chức chặt chẽ và tình người của Quân đội nhân dân Việt Nam trong chăm sóc, chữa trị thương binh, bệnh binh, chính sách đối với thương binh, tử sĩ, kể cả đối với tù binh của đối phương…

Từ đầu cuộc chiến tranh tổng lực của Mỹ giữa thập kỷ 60 thế kỷ 20, tác giả Ku-nô Knô-bơn (Kuno Knoebl) trong cuốn “Việt Cộng: Bộ mặt của cuộc kháng chiến ở Việt Nam” (Victor Charlie: The face of war in Viet Nam, Nxb Frederick A.Praeger, 1967), cảnh báo: “Kẻ thù của cách mạng miền Nam (quân đội Mỹ) điều hành một bộ máy chiến tranh hiện đại, yểm trợ đường không với trực thăng, máy bay ném bom, yểm hộ pháo binh và tiếp tế vô cùng dồi dào. Một lính Mỹ bị thương có được mọi cơ may để tới một quân y viện nhanh chóng và có một cơ hội lớn hơn so với thương binh Quân Giải phóng để có thể sống sót, dù bị thương nặng đến mức nào. Đối với chiến sĩ Quân Giải phóng, cùng lắm cơ hội sống chỉ đến khi được đưa về căn cứ gần nhất trong rừng, hoặc làng nào gần nhất có người dân theo cách mạng, thông thường đều nằm cách mặt trận nhiều cây số. Nhiều thương binh bị chết do không được cấp cứu đúng lúc. Các cơ hội để cho cán binh Quân Giải phóng bị vây thoát chết là gần như không có”.

Ku-nô Knô-bơn nhấn mạnh rằng, trong khi các đơn vị của quân đội Mỹ có thể sửa sai nhiều lần, bất chấp thương vong, các lực lượng Giải phóng “thua xa” đối phương về vũ khí, trang bị, quân số, nên đã chọn cách đánh hiệu quả, tiết kiệm sinh lực, trang bị, “góp gió thành bão”. Tác giả viết: “Họ (Mặt trận giải phóng) bù chỗ yếu bằng chiến lược và bằng lập kế hoạch vô cùng tỉ mỉ… Họ thỉnh thoảng mắc sai lầm, nhưng không bao giờ lặp lại hai lần…

Trang 225 thuật lại một cuộc trao đổi của Ku-nô Knô-bơn với một đại diện của Mặt trận Giải phóng. Câu hỏi vì sao Quân Giải phóng hiếm khi để lại thương binh, xác tử sĩ tại chiến trường, có một câu trả lời là: Cần cố mang theo “xác đồng chí của mình và chôn cất họ càng gần quê cha đất tổ của họ càng tốt”, theo ước nguyện của các chiến sĩ trước khi vào trận đánh.

Một mặt trận tranh đấu mất còn

Trong sách “Bộ đội Việt Nam – một thiên chính sử” (Inside the VC and the NVA the real story of North Armed Forces, Nxb Ballantine Books, 1993), chương 8, các tác giả Mai-cơn Li Lan-ninh (Michael Lee Lanning) và Đan Crác (Dan Cragg) viết khá tỉ mỉ về hệ thống quân y của Quân Giải phóng.

“Cung cấp về y tế là vô cùng gay go đối với các đơn vị Quân Giải phóng, thường hoạt động trong rừng, thường xuyên phải vận động chiến, hành quân xa vất vả. Bộ đội thường bị Quân đội Mỹ và Quân đội Sài Gòn tấn công trên bộ và từ trên không, tồn tại với một suất ăn tối thiểu, dễ bị các bệnh truyền nhiễm nhiệt đới tại các vùng địa hình khác nhau thuộc Đông Nam Á. Hiện chưa có số liệu về sự thiếu thốn thuốc men ở miền Bắc, nhưng yêu cầu phục vụ chiến đấu và phòng, chống tật bệnh trong điều kiện chiến trường miền Nam đã đặt đội ngũ y, bác sĩ Quân Giải phóng vào tình thế vô cùng khó khăn cho thực hiện chức trách của mình.

Ngoài sự hết lòng vì thương binh, bệnh binh, các giải pháp được áp dụng là tận dụng tất cả các nguồn cung cấp thuốc men từ viện trợ các nước “phe cách mạng” (các nước XHCN), giúp đỡ nhân đạo từ một số nước thứ ba (thường ở bán đảo Scandinavia), mua tại các thị trường tạm bị chiếm ở Nam Việt Nam, mua ở Lào và Cam-pu-chia. Cơ sở vật chất tại chỗ được tận dụng theo phương châm Đông-Tây y kết hợp”.

Chăm sóc thương binh trong Quân y viện dã chiến, năm 1969. Ảnh: Lưu trữ Đông Dương, Hoa Kỳ.

Tài liệu Hậu cần cộng sản tại chiến trường miền Nam (của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn in năm 1970), nêu các nguồn cung cấp thuốc vào miền Nam cho Mặt trận Giải phóng, như những mục tiêu cần ngăn chặn, kiềm tỏa. Quân đội Sài Gòn cũng theo sát các xưởng dược của Trung ương Cục, Chiến khu Dương Minh Châu, Khu ủy các Khu, các trường đào tạo dược sĩ, dược tá của Miền và các nguồn “xâm nhập” của chuyên gia y dược vào miền Nam. Tài liệu này khái toán chi phí mua thuốc của Mặt trận năm 1966 lên tới 200 triệu đồng tiền Việt Nam Cộng hòa, tương đương với 2,5 triệu USD.

Quân Mỹ – Sài Gòn thường chú trọng tìm các bệnh xá, trạm xá quân dân y, các kho – xưởng, cơ sở bào chế thuốc để đánh vào. Theo các sách được dịch sang Anh ngữ, như cuốn Nhật ký của liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm về một trạm xá bị quân Mỹ – Sài Gòn tìm diệt như một mục tiêu quan trọng bậc nhất. Một tác phẩm khác được những người đọc phương Tây chấm 5 sao là bút ký “Tây Nguyên ngày ấy” của cố GS, bác sĩ Lê Cao Đài, đã làm rung động tâm tưởng độc giả trên từng trang sách, trên từng số phận của thương binh, bệnh binh và những người chăm sóc họ trong quân y viện trong rừng. Các trạm xá, bệnh xá, quân y viện… đều cố gắng tồn tại, trụ bám bằng mọi giá, để làm “điểm chờ” cho hy vọng bảo tồn sinh mạng của đồng đội bị thương.

Thầy thuốc như mẹ hiền

Mai-cơn Li Lan-ninh và Đan Crác viết tiếp: “Một yếu tố cực kỳ quan trọng để đảm bảo tinh thần chiến đấu trong bất kỳ quân đội nào là chất lượng điều trị… Nhiều người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam coi hệ thống y tế của “Việt Cộng” là cực kỳ nguyên thủy. Điều này không đúng. Một bác sĩ Mỹ viết năm 1966, “xu hướng hạ thấp quy mô và hiệu quả của hoạt động y tế của “Việt Cộng” là cần tránh… Nếu toàn bộ sự thật được công bố, tất cả chúng ta sửng sốt vì chất lượng y tế mà họ cung cấp được cho bệnh binh và thương binh của mình”.

Một quân y sĩ Quân Giải phóng cho biết cương lĩnh của nghề mình: “Lương y như từ mẫu. Có nghĩa là các chiến sĩ ở xa cha mẹ họ, nên quân y sĩ phải thay mặt cha mẹ của chiến sĩ. Người quân y sĩ có nhiệm vụ làm giảm nỗi đau khi chiến sĩ đau ốm, phải an ủi chiến sĩ khi họ không vui, phải cư xử như bạn tâm tình của chiến sĩ”.

Buồng mổ trong mùa nước nổi tại quân y viện dã chiến Nam Bộ. Sách: “Chân trần chí thép: Những ký ức từ bên kia chiến tuyến” (Bare Feet, Iron Will ~ Stories from the Other Side of Vietnam’s Battlefields), tác giả James G.Zumwalt, Nxb Forits Publishing, 2010.

Sơ cứu được thực hiện nhờ các thứ thuốc trong túi thuốc cá nhân, có thể gồm cả các thuốc kháng sinh, vi-ta-min, các vị thuốc đông y. Khi việc cứu chữa tại chỗ không giải quyết được, thương binh, bệnh binh được chuyển tới các quân y viện. Các quân y viện như thế thường được triển khai một cách có cân nhắc, chẳng hạn, thuộc một Binh trạm trên đường Trường Sơn, tại một vùng đất biên giới Cam-pu-chia”.

Các tác giả tiếp tục mô tả một bệnh viện dã chiến có 3 phòng mổ nằm dưới mặt đất, có khá nhiều thuốc men, nằm trên diện tích khoảng 0,4ha. Dưới bệnh viện là hệ thống địa đạo. Địa đạo khá rộng, sâu tới 2m, dài hơn 20m, rộng khoảng 15m, có thể mắc võng…

Một bệnh viện dã chiến tuyến trên có thể được xây trên mặt đất, có ba khoa, trên chu vi một chiều 200m, chiều kia 100m, chứa được 70-80 giường mỗi khoa. Viện có máy X quang, khoảng 4 bác sĩ và nhiều quân y sĩ, y tá, có thể giải phẫu và điều trị nhiều bệnh và thương tật.

Nhưng việc sơ tán thương binh khỏi chiến trường là rất khó khăn. Có trường hợp thương binh nặng phải chuyển lên tuyến trên bằng thuyền mất đôi ba ngày đường. Nhưng điều kiện điều trị là tốt. Một thương binh kể: “Thức ăn ở quân y viện có dinh dưỡng cao. Hàng ngày, bệnh nhân nhận được khẩu phần có cả sữa, chanh, thịt lợn, gà, bò… Bác sĩ phẫu thuật chính được thương binh, bệnh binh yêu mến vì ông luôn coi cưa cắt là phương án cuối cùng, luôn cố cứu, không để thương binh bị tàn phế”.

Sách cũng mô tả một quân y sĩ Quân Giải phóng là giàu lòng nhân ái và gương mẫu, so với chuẩn mực của bất kỳ bên nào.

Chí nhân thay cường bạo

Theo hồ sơ lưu trữ “Khó khăn, bất cập trong thực hiện chính sách và thực tiễn của Việt Cộng” (Contradictions between offial policy and VC, năm 1967) của tình báo Mỹ, Quân Giải phóng phải đảm bảo chữa trị, đối xử tốt với tù binh đã bị thương của phe Mỹ.

Nhiều tác giả phương Tây, như W.Bớc-sét (Wilfred Burchett) đã viết, bất kỳ cán bộ, chiến sĩ cách mạng nào, dù bị thương, đau ốm, “nếu bị quân đội Mỹ bắt, sẽ nhất định bị tra tấn ngay lập tức”. Từ 1965, sách “Việt Cộng: Bộ mặt của cuộc kháng chiến ở Việt Nam” đã tả cảnh một chiến sĩ Quân Giải phóng bị thương, bị bắt và bị tra tấn dã man. Phía Mỹ cho rằng, người lính này khẳng định chỉ chiến đấu vì lòng yêu nước. Nhưng tác giả Ku-nô Knô-bơn đã nhận thấy khuôn mặt của người lính Quân Giải phóng đã bừng sáng khi tên anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh được nhắc đến. Từ chối cung khai “tổ chức biên chế của Việt Cộng”, người thương binh đã hy sinh tại trận vì cực hình tàn khốc của kẻ thù.

Lê Đỗ Huy
qdnd.vn