Văn học và sự kiện
QĐND – Có một đoạn phim tài liệu về Bác Hồ ở Việt Bắc làm xúc động lòng người: Sau khi tắm suối xong, cùng đồng chí công vụ, Bác mặc quần đùi, cởi trần, còn áo may ô và khăn mặt thì phơi lên đầu mút cây sào, giống như thiếu nhi nông thôn rước cờ lá chuối, vừa đi về nhà vừa tranh thủ phơi khăn áo! Cảm động vì thấy Bác vô cùng giản dị và sinh hoạt của Bác ở chiến khu hồi đó thật thiếu thốn; hơn nữa, tính Bác lạc quan, hóm hỉnh, tìm niềm vui từ những chuyện nhỏ hàng ngày. Dòng suối mà Bác tắm đó có tên là Khuôn Tát, thuộc bản Nà Lọm, xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Chúng ta biết rằng, trước cách mạng Tháng Tám, Bác và Trung ương ở Tân Trào, Tuyên Quang, và từ đó về giành chính quyền ở Hà Nội. Mùa xuân năm 1947, sau khi rút khỏi Thủ đô, Bác và Trung ương trở lại Tân Trào, nhưng chỉ một thời gian ngắn thì sang Định Hóa, Thái Nguyên. Mặc dù Tân Trào và Định Hóa thuộc hai tỉnh, nhưng khá gần nhau, chỉ cách một đèo De và núi Hồng, hai địa danh khá quen thuộc trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu. Sở dĩ Bác và Trung ương chọn nơi đây vì “địa lợi, nhân hòa” như Bác từng tổng kết:
“Trên có núi, dưới có sông
Có đất ta trồng, có bãi ta chơi
Tiện đường sang Bộ Tổng
Thuận lối tới Trung ương
Nhà thoáng, ráo, kín mái
Gần dân không gần đường”.
Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc. Ảnh tư liệu.
Ngày đó, dân ở bản Nà Lọm chỉ có chín gia đình của người Tày và người Dao. Dân thưa, địa hình heo hút, xa trục đường giao thông, ít người qua lại nên dễ giữ được bí mật. Hơn nữa nếu có bị lộ thì cũng nhanh chóng rút qua đèo De, vào núi Hồng, sang Tuyên Quang, nhưng thực tế chuyện đó đã không xảy ra, mà Trung ương và Bác đã ở đây cho đến ngày về tiếp quản Thủ đô Hà Nội.
Hiện nay, ở khu này có hai mái nhà đã trở thành di tích lịch sử cấp quốc gia: Đó là lán Tỉn Keo và ngôi nhà Bác ở những năm đó. Lán Tỉn Keo là nơi hội họp của cơ quan đầu não của ta, trong đó có nhiều cuộc thật quan trọng như ngày 6-12-1953, Bác đã chủ trì cuộc họp của Bộ Chính trị, quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Có một chi tiết ở lán này làm khách tham quan cảm động là hai cây bông bụt Bác trồng cạnh lán với mục đích làm vợi bớt nỗi nhớ quê nhà, vì ở Kim Liên quê Bác, bông bụt là cây rất quen thuộc, từ cổng vào tận nhà. Lán Tỉn Keo là lán đất, còn nơi ở của Bác trên đồi Nà Đình là nhà sàn nhỏ, nằm dưới rừng cây cổ thụ, đặc biệt có những cây phách rất cao, lá nhỏ, rụng lá cuối hè đầu thu mà trong bài thơ Việt Bắc có nhắc tới: “Ve kêu rừng phách đổ vàng…”. Cạnh lán, có một đoạn hầm ngầm dài mấy chục thước, không chỉ đề phòng làm nơi ẩn nấp khi bị máy bay bắn phá, mà còn là đường rút lui bí mật nếu gặp những cuộc càn của giặc. Ở đoạn phim tài liệu đã nhắc trên kia, khi Bác và người công vụ từ suối Khuôn Tát đi lên là để về lán này đấy. Lán này là nơi ở, đồng thời là nơi Bác làm việc hàng ngày, kể cả tiếp khách đến thăm. Hồi đó vì bí mật, khách nói chung cũng chỉ có nội bộ mà thôi. Ngày 15-1-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến chào Bác trước khi lên đường đi Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ở lán này, Bác đã căn dặn Đại tướng nhiều điều, trong đó có ý nghĩa của bốn chữ “tướng quân tại ngoại” và đặc biệt Bác nhấn mạnh hai chữ “chắc thắng”.
Thời gian đã trôi qua gần hai phần ba thế kỷ, những người từng biết Bác ở Nà Lọm không còn mấy, ngoài bà cụ Ma Thị Tôm. Ngày Bác ở Nà Lọm, cụ Tôm còn ở tuổi thiếu nhi, ngày đi lấy củi, chăn trâu đôi khi gặp Bác, nhưng cũng không chú ý nhiều, vì “ông ké” này cũng mặc áo chàm như người trong bản. Có khác là thấy Ké tập võ dưới bóng đa cùng những người khác. Riêng có điều cụ Tôm không quên được, đó là tiếng ho từ nơi Ké ở vọng vào đêm vắng trong những đợt gió mùa đông bắc…
Đã mấy năm nay, trên đỉnh đèo De được dựng lên khu tưởng niệm Bác Hồ. Hàng ngày có nhiều đoàn khách khắp nước đến thăm, thắp hương cắm vào lư hương lớn trong công trình xây dựng hiện đại này mà lòng lại nhớ về một dòng suối trong, hai ngôi lán nhỏ, một cây đa cổ thụ dáng dấp cây đa ở Tân Trào, tán tỏa ôm ấp một khoảng đất rộng… từng gắn bó mật thiết với Bác ở chiến khu Việt Bắc.
Về thăm ATK, nghe lời giới thiệu cùng những mẩu chuyện kể, lòng người dâng trào cảm xúc và thương Bác. Thơ văn không chỉ là công cụ hữu hiệu ghi lại cảm xúc mà còn có thể làm sống lại một phần sự kiện lịch sử. Tôi hy vọng điều đó khi sáng tác bài thơ này.
ÔNG KÉ BẢN NÀ LỌM
Bản Nà Lọm có chín mái sàn
Người Tày, người Dao nói riêng thứ tiếng
Dòng Khuôn Tát chín nhà cùng uống.
Một mùa đông, Nà Lọm thêm mái sàn
Nhỏ hơn chín mái sàn đã có
Trong nhà chỉ một mình ông Ké.
Gặp người Tày, Ké nói tiếng Tày
Gặp người Dao, Ké nói tiếng Dao
Dáng gầy, mắt hiền, vầng trán cao.
Ké xắn quần, cuốc đất tăng gia
Vui tắm suối, tập võ dưới bóng đa
Buồn, lặng ngồi bên cây bông bụt.
Ké thức khuya, mặc đêm đông giá rét
Trong gió mùa nghe khúng khắng tiếng ho
Người Tày, người Dao bản Nà Lọm cùng lo.
Quê Ké phương nào, không ai biết
Con cháu Ké đâu, chẳng ai hay
Người gặp Ké hàng ngày thường thưa Bác.
Bảy năm chiến khu, là Ông Ké Nà Lọm
Chỉ biết thật tên khi đất nước hòa bình
Ngày tiễn về Thủ đô, trẻ già cùng khóc
Vẫy xe gọi hoài Bác Hồ Chí Minh!
Vương Trọng
qdnd.vn