Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin (22-4-1960)

Ngay sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tôi làm thuê ở Pari, khi thì làm cho một cửa hàng phóng đại ảnh, khi thì vẽ “đồ cổ mỹ nghệ Trung Hoa” (do một xưởng của người Pháp làm ra!). Hồi đó, tôi thường rải truyền đơn tố cáo tội ác bọn thực dân Pháp ở Việt Nam.

Lúc bấy giờ, tôi ủng hộ Cách mạng Tháng Mười chỉ là theo cảm tính tự nhiên. Tôi chưa hiểu hết tầm quan trọng lịch sử của nó. Tôi kính yêu Lênin vì Lênin là một người yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình; trước đó, tôi chưa hề đọc một quyển sách nào của Lênin viết.

Tôi tham gia Đảng Xã hội Pháp chẳng qua là vì các “ông bà” ấy- (hồi đó tôi gọi các đồng chí của tôi như thế) – đã tỏ đồng tình với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. Còn như Đảng là gì, công đoàn là gì, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là gì, thì tôi chưa hiểu.

Hồi ấy, trong các chi bộ của Đảng Xã hội, người ta bàn cãi sôi nổi về vấn đề có nên ở lại trong Quốc tế thứ hai (11) , hay là nên tổ chức một Quốc tế thứ hai rưỡi (12) , hoặc tham gia Quốc tế thứ ba của Lênin? Tôi dự rất đều các cuộc họp một tuần hai hoặc ba lần. Tôi chǎm chú nghe những người phát biểu ý kiến. Lúc đầu, tôi không hiểu được hết. Tại sao người ta bàn cãi hǎng như vậy? Với Quốc tế

thứ hai, hoặc thứ hai rưỡi, hay là thứ ba, thì người ta cũng đều làm được cách mạng cả, sao lại phải cãi nhau? Và còn Quốc tế thứ nhất (13) nữa, người ta đã làm gì với nó rồi?

Điều mà tôi muốn biết hơn cả – và cũng chính là điều mà người ta không thảo luận trong cuộc họp là: vậy thì cái quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa?

Trong một cuộc họp, tôi đã nêu câu hỏi ấy lên, câu hỏi quan trọng nhất đối với tôi. Có mấy đồng chí đã trả lời: Đó là Quốc tế thứ ba, chứ không phải Quốc tế thứ hai. Và một đồng chí đã đưa cho tôi đọc Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa (14)đǎng trên báo Nhân đạo.

Trong Luận cương ấy, có những chữ chính trị khó hiểu. Nhưng cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao? Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”.

Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba.

Trước kia, trong các cuộc họp chi bộ tôi chỉ ngồi nghe người ta nói; tôi cảm thấy người nào cũng có lý cả, tôi không phân biệt được ai đúng và ai sai. Nhưng từ đó tôi cũng xông vào những cuộc tranh luận. Tôi tham gia thảo luận sôi nổi. Mặc dù chưa biết đủ tiếng Pháp để nói hết ý nghĩ của mình, tôi vẫn đập mạnh những lời lẽ chống lại Lênin, chống lại Quốc tế thứ ba. Lý lẽ duy nhất của tôi là: Nếu đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu đồng chí không bênh vực các dân tộc thuộc địa thì đồng chí làm cái cách mạng gì?

Không chỉ tham gia các cuộc họp của chi bộ tôi mà thôi, tôi còn đến những chi bộ khác để bênh vực lập trường “của tôi”. ở đây, tôi cần nhắc thêm rằng các đồng chí Mácxen Casanh, Vayǎng Cutuyariê, Môngmútxô và nhiều đồng chí khác đã giúp đỡ tôi hiểu biết thêm. Cuối cùng ở Đại hội thành phố Tua (15) , tôi cùng các đồng chí ấy biểu quyết tán thành tham gia Quốc tế thứ ba.

Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.

Ở nước ta và ở Trung Quốc cũng vậy, có câu chuyện đời xưa về cái “cẩm nang” đầy phép lạ thần tình. Khi người ta gặp những khó khǎn lớn, người ta mở cẩm nang ra, thì thấy ngay cách giải quyết. Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

HỒ CHÍ MINH

—————————————-

Báo Nhân dân, số 2226, ngày 22-4-1960.

(11) Quốc tế thứ hai: Thành lập nǎm 1889, tại Đại hội Liên minh quốc tế các đảng xã hội chủ nghĩa, họp tại Pari (Pháp). Quốc tế thứ hai đã có tác dụng phổ biến chủ nghĩa Mác về bề rộng và đánh dấu thời kỳ chuẩn bị cơ sở cho phong trào cách mạng phát triển rộng rãi trong nhân dân lao động ở nhiều nước.

Sau khi Ph. Ǎngghen mất (1895), cơ quan lãnh đạo của Quốc tế thứ hai rơi vào tay các phần tử cơ hội chủ nghĩa, theo con đường xét lại học thuyết cách mạng của C.Mác.

Nǎm 1914, khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) nổ ra, các lãnh tụ Quốc tế thứ hai đã chạy sang phía chính phủ đế quốc ở nước mình và Quốc tế tan rã.

Nǎm 1919, các nhóm và các đảng phái tả trong Quốc tế thứ hai đã gia nhập Quốc tế Cộng sản. Cùng thời gian này, Quốc tế thứ hai được khôi phục trong cuộc hội nghị ở Bécnơ. Tr. 126.

(12) Quốc tế thứ hai rưỡi (tên gọi chính thức là Liên hiệp Quốc tế các đảng xã hội chủ nghĩa): Tổ chức quốc tế của các đảng và các nhóm xã hội chủ nghĩa phái giữa đã ly khai Quốc tế thứ hai do sức ép của quần chúng cách mạng. Tổ chức này được thành lập vào tháng 2-1921 tại Hội nghị đại biểu ở Viên (Áo). Trên lời nói, những người cầm đầu Quốc tế thứ hai rưỡi công kích Quốc tế thứ hai, nhưng trên thực tế đối với tất cả các vấn đề quan trọng nhất của phong trào vô sản, họ đã thực hiện một chính sách cơ hội chủ nghĩa, chia rẽ giai cấp công nhân và mưu toan sử dụng liên minh này để chống lại ảnh hưởng ngày càng lớn của những người cộng sản đối với quần chúng công nhân.

Tháng 5-1923, Quốc tế thứ hai và Quốc tế thứ hai rưỡi hợp nhất thành Quốc tế công nhân xã hội chủ nghĩa. Tr. 126.

(13) Quốc tế thứ nhất (Hội liên hiệp lao động quốc tế): Tổ chức quốc tế đầu tiên của giai cấp vô sản, thành lập nǎm 1864 tại Hội nghị công nhân quốc tế ở Luân Đôn (Anh), do C. Mác và Ph. Ǎngghen lãnh đạo.

Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Quốc tế thứ nhất là Hội đồng trung ương (từ nǎm 1866 là Đại hội đồng) do C.Mác là ủy viên thường trực. Khắc phục những ảnh hưởng tiểu tư sản và những khuynh hướng bè phái lúc đó đang tồn tại trong phong trào công nhân, C.Mác đã đoàn kết xung quanh mình những người giác ngộ nhất để lãnh đạo cuộc đấu tranh kinh tế và chính trị của công nhân ở các nước, củng cố sự đoàn kết quốc tế của họ. Quốc tế thứ nhất đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp truyền bá chủ nghĩa Mác và trong việc kết hợp chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân.

Nǎm 1876, tại Hội nghị Philađenphia (Mỹ), Quốc tế thứ nhất đã thông qua nghị quyết chính thức giải tán. Tr. 127.

(14) Ở đây Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nói tới bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, do V.I. Lênin soạn thảo và trình bày tại Đại hội lần thứ II của Quốc tế Cộng sản họp từ ngày 19-7 đến ngày 7-8-1920.

Trong bản Luận cương và trong Báo cáo của Tiểu ban về vấn đề dân tộc và thuộc địa trình bày tại Đại hội, V.I. Lênin đã đề cập tới những vấn đề hết sức quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc. Người chỉ rõ: Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, cách mạng giải phóng dân tộc là một phạm trù của cuộc cách mạng vô sản, vì vậy những người cộng sản phải ủng hộ các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, rằng, với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, giai cấp vô sản ở các nước chậm tiến, sau khi hoàn thành nhiệm vụ dân tộc dân chủ có thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.

Luận cương trên đây của V.I. Lênin đã ảnh hưởng sâu sắc tới nhận thức tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình Người tìm đường cứu nước. Qua việc nghiên cứu Luận cương, Người đã hoàn toàn tin theo V.I. Lênin và Quốc tế thứ ba. Người đã khẳng định rằng con đường duy nhất đúng đắn của cách mạng Việt Nam là đi theo con đường cách mạng vô sản. Tr. 127.

(15) Đại hội Tua: Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp, họp từ ngày 25 đến ngày 30-12-1920, tại thành phố Tua. Tham gia đại hội có 285 đại biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh – lúc đó lấy tên là Nguyễn Ái Quốc tham dự với tư cách là đại biểu Đông Dương của Đảng Xã hội Pháp. Vấn đề trọng tâm nhất mà Đại hội thảo luận là việc Đảng Xã hội Pháp có gia nhập Quốc tế cộng sản hay không. Chính vấn đề này đã nổ ra cuộc đấu tranh gay gắt tại Đại hội. Bảo vệ chủ trương gia nhập Quốc tế Cộng sản có Pôn Vayǎng Cutuyariê, Mácxen Casanh, Nguyễn ái Quốc và đa số đại biểu trong Đại hội. Chống lại việc gia nhập Quốc tế Cộng sản là thiểu số đại biểu do Lêông Blum và Rơnôđen cầm đầu.

Sau 4 ngày thảo luận, Đại hội đã đi đến biểu quyết với hơn 70% số phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản, trong đó có lá phiếu của Nguyễn ái Quốc. Đa số đại biểu của Đại hội đã tiến hành việc thành lập Đảng Cộng sản Pháp và Đảng đã chính thức được thành lập vào nǎm 1921.

Với bản tham luận có nội dung lên án mạnh mẽ những tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với các thuộc địa, nhất là đối với Đông Dương, với lá phiếu của mình, Nguyễn ái Quốc trở thành một trong những người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Cùng với việc nghiên cứu Luận cương của V.I. Lênin, sự kiện Đại hội Tua đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người – từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lênin. Tr. 127.

cpv.org.vn