Hồ Chí Minh – Một cuộc đời: Phần 15

Nguyên tác: Ho Chi Minh: A Life

Người dịch: Nguyễn Thành Nam

——————————————————

Tất cả cho tiền tuyến

Hội nghị 15 đã xác nhận Đảng từ bỏ thái độ theo dõi đợi thời và đặt mục tiêu thống nhất đất nước lên ưu tiên cao nhất. Tuy nhiên chiến lược thực hiện thế nào thì chưa rõ ràng. Một số đề nghị kết hợp đấu tranh vũ trang và nổi dậy như thời cách mạng tháng Tám. Số khác lại tiên đoán, có lẽ phải chấp nhận đụng độ quân sự trực tiếp như giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp. Có nhiều câu hỏi đặt ra chưa được giải đáp: liệu chế độ Diệm có tự sụp đổ vì tham nhũng và dốt nát? Liệu Mỹ có thể can thiệp trực tiếp để tiến hành một cuộc chiến tranh ở Đông dương? Liệu các đồng minh của Hà nội có sẵn lòng giúp đỡ? Tạm thời, các nhà lãnh đạo Đảng thống nhất dùng thuật ngữ của Duẩn: “cuộc chiến tranh cách mạng”, theo đó, các lực lượng cách mạng miền Nam trước mắt phải dựa chủ yếu vào đấu tranh chính trị, dần dần xây dựng các vùng giải phóng và sức mạnh quân sự để đẩy phong trào tiến lên. Mao cũng đã khuyên H cẩn thận trong chuyến nghỉ mát ở Bắc đại hải mùa hè năm 1958. Mỹ thì công khai bày tỏ thái độ kiên quyết phá bỏ hiệp định Geneva, quyết tâm xây dựng chính quyền không cộng sản tại Nam Việt nam. Trong hiến chương thành lập khối SEATO năm 1954, Mỹ còn đèo vào: “Trong trường hợp Nam VN, Lào, Campuchia bị tấn công, các nước thành viên cần phải coi như đó là một hiểm họa chung và phối hợp hành động trong khuôn khổ hiến pháp nước mình cho phép” Trong suốt năm 1959, từng nhóm nhỏ trong số hơn 90,000 các cán bộ tập kết được tập trung huấn luyện ở Xuân Mai và được đưa trở lại miền Nam. Mỗi nhóm có khoảng từừ 50 người được xe tải chở theo đường núi ở Nam Lào và đi bộ qua giới tuyến để vào Nam. Đoàn 559 (tháng 5 năm 1959) được thành lập và giao nhiệm vụ xây dựng hệ thống đường mòn để vận chuyển vũ khí, lương thực và quân đội. Hệ thống này dựa trên các tuyến đường được hình thành trong kháng chiến, sau này sẽ được cả thế giới biết đến dưới cái tên: “đường mòn Hồ Chí Minh”. Một đơn vị khác, được gọi là đoàn 759, chịu trách nhiệm mở tuyến đường biển. Các đơn vị hoạt động vận tải được đặt tên là “Bộ đội Trường sơn”. Đầu tiên, họ vận chuyển đồ tiếp tế bằng tay, bằng xe đạp, sau này mới có xe tải. Các chuyến đi thường cực kỳ gian khổ. Một người kể lại: “càng đi về phía Nam, tình hình càng xấu đi. Cuối cùng mỗi người chỉ còn một nhúm gạo để dành cho những lúc khẩn cấp nhất. Trong hai tháng liền, chúng tôi ăn tất cả cây, củ, chim thú tìm thấy trong rừng“. Người khác kể:

Đầu tiên, chúng tôi đi 8 tiếng/ngày. Gặp rừng núi hiểm trở, càng ngày càng chậm đi. Chỉ khi nào giao liên và trưởng đoàn cho nghỉ mới được nghỉ. Những trạm tiếp đón thường là chỗ quang đãng và an toàn. Ngoài ra cũng không có gì khác. Với một chiếc võng, chúng tôi tự chống chọi với mưa gió. Thực phẩm và nước uống cũng không đủ. Mọi người tự học cách tiết kiệm. Càng đi xa càng đói. Khi thức ăn trở nên khan hiếm, tình đồng chí cũng bị mòn theo. Ai cũng chỉ lo cứu mạng sống của mình (1).

Tình hình miền Nam tiếp tục diễn biến phức tạp. Diệm thực thi luật 10/59 cho phép các lực lượng an ninh được tự do buộc tội, đánh đập và xử tử những phần tử bị nghi là có quan hệ với Hà nội. Tại đồng bằng sông Cửu long, dân chúng bị dồn vào các khu làng nông nghiệp làm du kích mất chỗ ẩn náu. Các lãnh đạo đảng tìm cách đánh trả. Cuối tháng 8, dân chúng được sự hỗ trợ của Việt minh trong vùng đã nổi dậy chiếm 16 thôn thuộc huyện miền núi Trà bồng, tỉnh Quảng ngãi, lập nên vùng giải phóng với khoảng hơn 1000 dân. Năm tháng sau, một cuộc khởi nghĩa nữa nổi lên ở Kiến hòa (Việt minh gọi là Bến tre), nằm giữa châu thổ sông Cửu long. Dân chúng vùng này có cảm tình với Việt minh vì được chia đất, sau đó Diệm đã buộc họ phải trả lại cho chủ cũ. Các cán bộ đảng đã khéo léo kích động dân chúng nổi dậy, cầm theo giáo mác và gậy tầm vông, hỗ trợ cho các đơn vị đóng giả là lính Sài gòn xông vào chiếm các cơ quan hành chính xã. Một thành viên tham gia khởi nghĩa đã kể lại:

Lúc đó khoảng sau 9h tối. Tôi mới về đến căn cứ thì nghe thấy tiếng trống và mõ, hòa theo tiếng reo hò lan hết từ làng này sang làng khác. Đêm càng khuya, tiếng trống càng thôi thúc kêu gọi tất cả mọi người vùng lên. Bỗng có tiếng reo: “Cháy rồi, bốt cháy rồi. Cháy nhanh quá”. Các lực lượng bao vây được lệnh đốt tất cả các đồn bốt mà họ chiếm được. Nhân dân xé cờ ba que, đốt biển nhà và thẻ căn cước, chặt cây dựng chướng ngại vật trên đường (2).

Với nhịp độ chống đối ngày càng tăng, các nhà lãnh đạo Đảng quan ngại là tình hình sẽ dẫn đến cuộc chiến lan rộng. Tháng 4/1960, Duẩn phải phát biểu kiên quyết giới hạn bạo lực chỉ trong miền Nam. Duẩn thừa nhận, việc giữ ổn định hòa bình quốc tế và xây dựng CNXH ở miền Bắc, trước mắt sẽ tạo thêm khó khăn cho cách mạng miền Nam, nhưng cho rằng về lâu dài sẽ trở thành những nhân tố có lợi cho thống nhất.

Trên trường quốc tế, mâu thuẫn giữa LX và TQ về chiến lược toàn cầu ngày càng sâu sắc. Giận dữ vì thái độ không hợp tác của TQ, Liên xô rút lại lời hứa cung cấp bom nguyên tử đã được thỏa thuận từ mấy năm trước. Sau này, Việt nam mới học được võ lợi dụng mâu thuẫn để thủ lợi, còn hiện tại họ chỉ biết cầu xin hai ông anh làm lành với nhau. H tiếp tục đóng vai trò nhà ngoại giao chiến lược. Tháng 7/1959, H đi Moscow. Trước khi đi, H dặn lại cuộc chiến ở miền Nam sẽ rất khốc liệt và phức tạp, các đồng chí tuyệt đối phải tránh manh động. Thời điểm này hoàn toàn không phù hợp cho việc bàn chiến lược gia tăng xung đột ở miền Nam. Kh đang chuẩn bị cho chuyến đi thăm Mỹ vào tháng 9 và hiển nhiên không muốn làm mất lòng Mỹ về vụ Việt nam. LX cam kết viện trợ kinh tế cho DRV nhưng đều nhấn mạnh tầm quan trọng việc thực thi các điều khoản của hiệp định Geneva trong hòa bình.

Sau khi hội đàm với Kh, do Trung ương ĐCS TQ đang họp, chưa tiếp được, H thong thả dạo qua các nước cộng hòa châu Âu của LX như U, Crưm và Capcazơ. Cuối tháng 7, H đi tàu qua Trung á đến Alma Ata và từ đó mới bay đi Urumqi, thủ phủ của tỉnh Tân cương Trung quốc. Hội nghị TƯ của ĐCS TQ lần này họp tại Lư sơn, một khu nghỉ mát tại miền Nam TQ, nhằm mục tiêu giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ lãnh đạo về chính sách Đại Nhảy Vọt. Tổng chỉ huy quân đội trong chiến tranh Triều tiên, nguyên soái Bành Đức Hoài đã lớn tiếng chỉ trích ĐNV làm cho nhân dân đói khổ. Bành cũng bảo vệ mối quan hệ chặt chẽ với Hồng quân, chống lại chính sách tự lực của Mao. Kết quả, Bành bị cách chức và Lâm Bưu lên thay. H ở lại Urumqi vài ngày rồi đi tàu đến Tây An, nơi ông đã từng đến năm 1938 như một người tham quan, và đến Bắc kinh hôm 13/8. Do Mao vẫn chưa về, H đàm phán với Chu và Lưu Thiếu Kỳ. Hội này thông báo chấp nhận chiến lược “chiến tranh cách mạng” nhưng hạn chế ở đấu tranh chính trị và các hoạt động vũ trang ở mức thấp. H quay về Hà nội ngày 26/8.

Có thể nói H không thu thập được gì nhiều qua chuyến đi này ngoài những lời hứa giúp đỡ một cách lịch sự. Mao thậm chí còn không tiếp. Nhưng H đã quá quen với thái độ ngạo mạn của mấy ông bạn TQ, trong lúc thân mật với anh em, H gọi Mao là “Hoàng đế Vũ trụ”. Mấy tháng sau, lại có dịp tu bổ lại quan hệ, khi dẫn đoàn Việt nam sang dự lễ kỷ niệm 10 năm ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa. Sau khi gặp lại người bạn cũ thân thiết là Tống Khánh Linh, H đã hội đàm với Mao ngày 3/10. Khi về nước, H viết bài đăng trên báo Nhân dân, kêu gọi các đồng chí nghiên cứu kinh nghiệm Trung quốc và bày tỏ sự biết ơn “đời đời” của nhân dân VN với sự giúp đỡ của TQ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Trong lúc H bận rộn trên mặt trận ngoại giao, thì các đồng chí của ông tập trung vào kế hoạch 3 năm xây dựng nền móng của CNXH ở miền Bắc. Nhờ H luôn cảnh cáo việc dùng vũ lực và chỉ được phép dùng “các biện pháp dân chủ” để thuyết phục nhân dân, việc tập thể hóa ở nông thôn cũng như quốc hữu hóa công thương tại thành phố đã diễn ra tương đối thuận lợi, tránh được cảnh bạo lực và bất hòa của cải cách ruộng đất. Đến cuối năm 1959, lãnh đạo Đảng bắt đầu nghĩ đến kế hoạch công nghiệp hóa 5 năm kiểu Xô viết. Vì việc thực hiện kế hoạch này sẽ ngốn nhiều nguồn lực và ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh ở miền Nam, đảng muốn triệu tập Đại hội vào hè hoặc mùa thu năm 1960 để thảo luận và thông qua.

Tình hình thế giới tiếp tục phức tạp. Mâu thuẫn giữa LX và TQ đã lên đến đỉnh điểm tại Đại hội đảng cộng sản Rumani tháng 6/60 khi hai đoàn công khai đả kích nhau về chiến lược của phe XHCN trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Sau vụ việc, LX đã quyết định gọi tất cả các chuyên gia ở TQ về nước. Đoàn Việt nam do Lê Duẩn dẫn đầu đã làm lơ, không đứng về bên nào, mặc dù Duẩn ủng hộ quan điểm của TQ là Mỹ đang tìm cách gây chiến. Xã luận báo Nhân dân cũng không nhắc gì đến vụ này chỉ nói rằng sự bất hòa giữa các đảng cộng sản có thể ảnh hưởng to lớn đến cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt nam. HCM làm mọi việc để không làm mất lòng bên nào. Tháng 5, H bay sang TQ để kỷ niệm sinh nhật lần thứ 70 và nghỉ ngơi vài ngày. Ngay sau đó, trên báo Nhân dân lại xuất hiện bài của H ca ngợi “chính sách đúng đắn” của LX. Tháng 8, H lặng lẽ viếng thăm cả Bắc kinh và Moscow vừa để thông báo chính sách của DRV tại miền Nam vừa tìm cách hàn gắn sự bất hòa giữa hai đồng minh lớn.

Đại hội đảng lần thứ 3 được tổ chức tại Hà nội ngày 5/9/1960 lần đầu tiên từ năm 1951. Có 576 đại biểu đại diện cho hơn nửa triệu đảng viên từ hai miền tham dự. H phát biểu khai mạc với tư cách là chủ tịch Đảng. Tuy có dành một chút thời gian nói về những sai lầm trong quá khứ mà Đảng đang tích cực sửa chữa, bài phát biểu chủ yếu nói về tương lai xây dựng XHCN ở miền Bắc. Về vấn đề thống nhất, H gọi miền Nam là “thành đồng tổ quốc” và khẳng định Đảng tìm kiếm thống nhất bằng con đường hòa bình. Có vẻ như lãnh đạo Đảng chưa thống nhất được chiến lược với miền Nam, nên trong báo cáo chính trị của mình, Lê Duẩn cũng chỉ kêu gọi chung chung, cho rằng đó sẽ là cuộc đấu tranh “gian khổ và lâu dài, bao gồm nhiều hình thức và sử dụng sức mạnh của quần chúng”. Duẩn cũng không nhắc đến khả năng DRV phải can thiệp trực tiếp. Bởi thế kế hoạch 5 năm được thông qua với sự nhất trí cao. Đại hội cũng chính thức bổ nhiệm Duẩn làm bí thư thứ nhất (thay thế chức Tổng bí thư). Bộ chính trị cũng được bổ sung thêm 2 thành viên miền Nam là Phạm Hùng và Nguyễn Chí Thanh. Thanh mới được phong hàm đại tướng ngang với Giáp, nhưng xuất thân từ tổng cục Chính trị. Lê Đức Thọ tuy là người bắc nhưng đã làm phó cho Duẩn ở miền Nam trong thời gian kháng chiến chống Pháp (3).

Đại hội III không phát biểu gì về quan hệ Xô – Trung. Cả hai nước đều cử đoàn đại biểu đến dự. Không có cãi vã gì trên diễn đàn, trước công chúng. H đích thân đứng ra làm phiên dịch cho 2 đoàn. Nghị quyết của đại hội vẫn nêu rõ Liên xô là đầu tàu của phe xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên cả hai đoàn đều không mặn mà lắm với việc đẩy cao xung đột ở miền Nam Việt nam.

Đảng vẫn tích cực tìm kiếm cách lật đổ Diệm mà không tạo cớ cho Mỹ nhảy vào can thiệp trực tiếp. Một phương pháp cổ điển là thành lập một mặt trận rộng rãi kiểu Việt minh, làm ngọn cờ để tập hợp mọi lực lượng có thể, nhưng vẫn chịu sự chi phối của đảng. Mặt trận này phải có một cương lĩnh đủ để hấp dẫn những trí thức đấu tranh cho Việt nam thống nhất nhưng e ngại sự thống trị của miền Bắc, những người không ưa thích gì chủ nghĩa cộng sản nhưng luôn ủng hộ nhân dân lao động. Mặt trận phải làm các thành viên tin tưởng là có thể lật đổ chế độ độc tài thối nát của Diệm mà không sợ phải ngay lập tức dâng các tỉnh miền Nam cho cộng sản. Ngay trong đại hội III, Tôn Đức Thắng đã nhắc đến ý tưởng này. Theo Thắng, mặt trận này theo nguyên tắc 4 giai cấp của Lê nin, bao gồm thêm các phần tử tôn giáo và dân tộc ít người. Nguyên tắc tổ chức là thành phần rộng rãi, chia thành nhiều cấp từ trung ương đến địa phương. Mặt trận sẽ thành lập chính phủ lâm thời bao gồm tất cả các phần tử tiến bộ, đàm phán tiến tới thống nhất hòa bình với miền Bắc. Chủ nghĩa cộng sản tuyệt nhiên không được nhắc đến. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam, gọi tắt là NLF được thành lập ngày 20/12/1960 trong một khu rừng cao su dọc biên giới với Campuchia, sau này sẽ trở thành cơ sở đóng quâncủa Trung ương cục. Theo Trương Như Tảng, một thành viên tham gia lễ thành lập “tất cả những người có mặt trong gian nhà đơn sơ đều hiểu rằng mình đang tham dự một sự kiện có ý nghĩa lịch sử”. Trên đường về Sài gòn, Tảng cảm thấy lâng lâng “một hy vọng dù nhỏ nhoi”.

Mấy tuần sau, JFK nhậm chức tổng thống Mỹ. Trong lễ bàn giao, tuyệt nhiên không thấy Eisenhower đả động gì đến sự phản kháng ngày càng tăng ở miền Nam Việt nam (4). Nông dân bất mãn vì tham nhũng và thuế cao. Phật tử phản kháng vì chính quyền đàn áp, chỉ ủng hộ công giáo, các dân tộc ít người, người Hoa… bị phân biệt đối xử. Giới trí thức thành thị không thể chấp nhận một chính quyền độc tài, gia đình trị. Hiến pháp năm 1956 được Mỹ giúp phác thảo đã trở thành một tờ giấy chết. Khoảng giữa tháng 1/1961, ngay sau một cuộc đảo chính quân sự bất thành ở miền Nam, Bộ chính trị đã họp để đánh giá tình hình. BCT nhận định không còn một cơ hội nào cho việc thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình và cần phải đẩy mạnh đấu tranh chính trị và vũ trang để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa có thể đến bất cứ lúc nào. H đồng ý, không quên nhắc các đồng chí của mình phải chuẩn bị hết sức cẩn thận. Đảng quay trở lại với cách tổ chức thời chống Pháp. Trung ương Cục miền Nam được tái thành lập do Nguyễn Văn Linh phụ trách. Dưới Cục có đảng ủy miền tại 5 vùng và các chi bộ đảng tại tỉnh, huyện, xã. Tháng 2/1961, tại hội nghị ở chiến khu D, các đơn vị vũ trang của đồng bằng sông Cửu long và Tây nguyên được sát nhập thành Quân giải phóng miền NVM (PLAF) chịu sự chỉ huy thống nhất. Chính quyền Sài gòn bắt đầu gọi họ là Việt cộng.

Trong lúc các lãnh đạo kháng chiến bận rộn với việc tổ chức lại cơ sở cách mạng, H tiếp tục tập trung vào mặt trận ngoại giao. Với mâu thuẫn Xô – Trung đã trở thành công khai, vấn đề lập trường của khối XHCN với các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã trở thành chủ đề bàn luận gay gắt trong các cuộc tụ tập lớn. Tháng 11/1960, H, Duẩn, Thanh tham dự Hội nghị 81 đảng CS và công nhân tại Moscow. Khrutsev chắc cũng hy vọng sử dụng diễn đàn hội nghị để ép TQ theo các chính sách của mình, nhưng không được các đoàn khác đồng tình. Đoàn Việt nam tuy không phát biểu nhưng tham gia tích cực các hoạt động sau hậu trường để soạn thảo nghị quyết của hội nghị, khẳng định quan điểm từ Tuyên bố 1957 về quyền lựa chọn các phương pháp tiến lên CNXH khác nhau ở các nước có điều kiện khác nhau. H đóng vai trò cá nhân quan trọng. Tại một phiên họp, khi trưởng đoàn TQ Lưu Thiếu Kỳ tức giận bỏ về sứ quán, Kh đã phải nhờ H đứng ra hòa giải mời Lưu trở lại. Những người thân cận đều nói H rất buồn về sự chia rẽ, làm uy tín của khối XHCN trong các nước thứ ba suy giảm nghiêm trọng. Trong khi các thành viên khác của đoàn Việt nam đều có vẻ ủng hộ quan điểm của TQ, H nghi ngờ sâu sắc về tham vọng của Mao cũng như chính sách “Tọa sơn quan hổ đấu” của ông này. Bởi thế H thường ủng hộ quan điểm của Nga trong những phiên họp đinh. Quen với việc “làm theo ý Cụ” nên Duẩn, Thanh không nói gì. Tuy nhiên khi về Hà nội, chắc họ cũng đã thì thầm với các thành viên khác của Bộ chính trị dẫn bất mãn về quan điểm “ba phải” của H tại hội nghị. Đại hội 22 Đảng cộng sản LX mùa thu năm 1961 lại một dịp cãi vã to. Lần này H đi cùng với Duẩn và vẫn quyết tâm giữ thái độ trung lập. Tuy nhiên khi Chu Ân Lai đùng đùng bỏ về Bắc kinh giữa chừng thì đoàn Việt nam bị buộc phải hành động. H và Duẩn cũng rời hội nghị, nhưng thay vì về nước, lại đi tham quan các tỉnh miền Tây Liên xô để chứng tỏ là mình không bất mãn gì (5).

Việc thành lập NLF và PLAF đã tiếp thêm sức mạnh cho phong trào chống Diệm. Đến cuối năm 1961, PLAF đã có đến 15000 người, gấp 5 lần so với năm 1959. Họ cũng đã bắt đầu chủ động tấn công các căn cứ của đối phương, thiết lập các vùng giải phóng ở Tây nguyên để làm bàn đạp xuống đồng bằng. Sự lớn mạnh nhanh chóng có hai lý do: tiếp viện từ phía bắc, đến năm 1961 đã đạt khoảng 5000 người, và ảnh hưởng rộng rãi của NLF trong dân chúng.

Trước khi nhậm chức, Kenedy đã được thông báo về tình hình xấu đi ở Lào do Pathet Lào quyết tâm lật đổ chính phủ liên hiệp, nay lại phải đối mặt với nguy cơ ngày càng tăng ở NVN. Một phái đoàn đặc biệt đã được phái đến nghiên cứu tình hình và khuyến cáo tổng thống nhanh chóng tăng số lượng cố vấn quân sự tại Nam VN, đồng thời tìm kiếm một giải pháp thương lượng ở Lào (vì rất khó lý giải cho sự can thiệp quân sự của Mỹ ở đây)

Mặc dù là người cho rằng chế độ của Diệm chứa đựng những mâu thuẫn nội tại trầm trọng và sẽ tự sụp đổ, H luôn dặn các đồng chí không được đánh giá thấp Diệm, bởi Diệm là một nhà lãnh đạo kiên định và có đội ngũ cộng sự rất trung thành. Hà nội cũng phải cảnh giác với Mỹ. Nước này có vẻ như đã quyết rằng quyền lợi của Mỹ sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nếu thất bại ở Nam Việt nam. Tại hội nghị chiến lược của Bộ chính trị tháng 10/1961, H đã chỉ ra rằng Mỹ mạnh hơn rất nhiều Pháp về mặt quân sự và bất cứ ý tưởng nào lấy vũ lực để chọi vũ lực trong cuộc chiến mới sẽ thất bại. Sức mạnh của các lực lượng cách mạng nằm trong lĩnh vực chính trị, vì thế H đã đề ra sách lược gồm 3 thành tố: chiến tranh du kích, phát động quần chúng, và đặc biệt quan trọng là dành được sự ủng hộ của dư luận thế giới. Nghị quyết gửi cho các lãnh đạo miền Nam nhấn mạnh: “cao trào cách mạng chưa tới và chúng ta chỉ có thể dành thắng lợi bằng từng bước vững chắc” Tháng 7/1962, chính quyền Kennedy ký hiệp định thành lập chính phủ liên hiệp 3 bên tại Lào (cánh hữu, Pathet Lào và các phần tử trung lập). Trong thư gửi các đồng chí của mình ở miền Nam, Duẩn nhắc đến khả năng Mỹ có thể chấp nhận một giải pháp tương tự ở miền Nam VN. H đặc biệt hứng thú với ý tưởng này. DRV tích cực xúc tiến việc tìm kiếm những phần tử trí thức trung gian ở miền Nam VN và Pháp ủng hộ mình để chuẩn bị cho việc thành lập chính phủ 3 bên ở Sài gòn. Kennedy chấp nhận giải pháp thỏa hiệp ở Lào trên cơ sở nhận định là Hà nội sẽ tuân thủ hiệp định Geneva và ngừng việc tiếp tế qua đường mòn HCM mà một phần lớn chạy qua lãnh thổ Lào. Bởi thế, khi những báo cáo tình báo cho thấy Hà nội vẫn tiếp tục tăng cường tiếp tế, Mỹ quyết định từ bỏ phương án thỏa hiệp ở Nam VN. Dù vậy, H vẫn hy vọng vào một giải pháp chính trị với sự tham gia mạnh mẽ của NLF. H hiểu rằng Mỹ đang lúng túng và không phải tìm kiếm chiến thắng mà một đường rút lui trong danh dự.

Các phần tử bi quan trong Đảng không tin vào quan điểm của H là có thể dành thắng lợi mà không phải đổ máu nhiều. Và họ có lý. Có nhiều dấu hiệu cho thấy Washington quyết tâm dành chiến thắng ở Việt nam. Năm 1962, Mỹ giúp Diệm xây dựng chương trình ấp chiến lược, vốn được người Anh sử dụng khá hiệu quả trong cuộc chiến chống nổi loạn ở Mã lai. Hàng ngàn ấp chiến lược được xây dựng như những cộng đồng dân cư độc lập, có khả năng tự bảo vệ chống VC thâm nhập để tuyển dụng và kiếm thực phẩm. Lúc đầu chương trình này đã gây được một số khó khăn nghiêm trọng cho VC, tuy nhiên do sự yếu kém và quan liêu của chính phủ, cuối cùng hơn một nửa số ấp bị VC phá hủy hoặc trà trộn vào.

Vào đầu những năm 60, Hà nội tiếp tục gặp khó khăn hơn trong việc duy trì quan hệ cân bằng với hai ông bạn lớn. Mặc dù không muốn mang tiếng là không ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nhưng rõ ràng là Khrutsov không muốn đối chọi trực tiếp với Mỹ và không hài lòng khi tình hình ĐNA ngày càng căng thẳng. Thái độ này rất vừa ý Bắc kinh, đang muốn thay thế Moscow ở vị trí anh Cả của các dân tộc bị áp bức. Mao cho rằng Mỹ đâm đầu vào thòng lọng khi tăng cường can thiệp quân sự ở Việt nam. Kinh nghiệm trong cuộc chiến Đông dương lần đầu cho thấy, Mỹ sẽ không phản ứng mạnh khi TQ giúp đỡ vũ khí cho Việt nam, vì vậy khi H và Thanh sang thăm Bắc kinh hè năm 1962 và đề nghị giúp đỡ, BK đã không ngần ngại đồng ý tăng cường viện trợ quân sự, hy vọng Hà nội sẽ đoạn tuyệt với Moscow. Tháng 5/1963, Lưu Thiếu Kỳ dẫn đoàn sang thăm Việt nam để đánh giá tình hình. Lưu nhắc lại quan hệ lịch sử giữa hai nước, phê phán công khai thái độ “lưng chừng” của bọn xét lại (ngụ ý Liên xô), và thề sẽ là “hậu phương lớn” của nhân dân Việt nam. Các nhà lãnh đạo Việt nam đã đón tiếp Lưu rất nồng hậu. Có điều là mấy ngày trước đó, họ cũng hết sức vồn vã với một phái đoàn thương mại của Liên xô. Trong tiệc chiêu đãi Lưu, H cũng tránh chỉ trích LX mà chỉ kêu gọi phe XHCN phải đoàn kết hơn nữa.

Mùa xuân năm 1963, chính quyền Diệm tự kết án tử hình mình bằng cách đàn áp Phật giáo. Ngày 11/6, hình ảnh một nhà sư tự thiêu trên đường phố Sài gòn được truyền đi khắp thế giới và gây xúc động sâu sắc. Khi Kennedy chỉ trích Diệm đã đàn áp phật tử, Ngô Đình Nhu tức giận tuyên bố đã đàm phán với NLF để đuổi tất cả các cố vấn Mỹ ra khỏi Việtnam. Có báo cáo cho rằng cuối hè năm 1963, H đã gửi thư riêng cho Diệm đề nghị đàm phán. Không rõ Diệm trả lời thế nào, nhưng khi trả lời câu hỏi của Mieczyslaw Maneli, đại biểu Balan ở DRV về điều kiện đàm phán của Bắc Việt, Phạm Văn Đồng đã nêu rõ: Người Mỹ phải rút đi. Không có căn cứ quân sự và quân đội nước ngoài ở Việt nam. Chúng tôi có thể đạt được thỏa thuận với bất cứ người Việt nam nào”. Theo Maneli, H cũng có mặt trong cuộc gặp, nhưng không bình luận gì. Mặc dù tình thế của Diệm đã xấu đi nhiều, nhưng H vẫn thừa nhận Diệm là một đối thủ đáng nể, và cần phải thỏa thuận để có thể giảm thiểu quyền lực của ông này. H kêu gọi các đồng chí của mình ở miền Nam tìm mọi cách tìm kiếm sự ủng hộ của dân chúng, trong khi đợi Mỹ tỉnh ngộ. Trả lời một phóng viên Nhật bản tháng 7/1963, H nhận định, qua kinh nghiệm bản thân, ông thấy dân Mỹ rất yêu công lý và hòa bình. Bởi thế chỉ có một giải pháp là Mỹ phải rút và người VN sẽ tự giải quyết lấy vấn đề theo các nguyên tắc của hiệp định Geneva. Quan điểm lạc quan thận trọng của H về một giải pháp chính trị không được sự ủng hộ hoàn toàn trong Đảng. Tại hội nghị Bộ chính trị tháng 12/1962, đảng đã nhận định cuộc chiến tranh ở miền Nam là cuộc chiến tranh chống đế quốc và cần phải tăng cường cả đấu tranh chính trị lẫn đấu tranh vũ trang. Một nghị quyết bí mật được gửi vào Nam, khẳng định cuộc chiến rồi sẽ được giải quyết bằng vũ lực từ nhỏ đến lớn. Tài liệu này không công khai phủ nhận tầm quan trọng của đấu tranh chính trị, và không chấp nhận quan điểm quân sự được dùng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng cho rằng làn sóng cách mạng ở VN đã đạt đến cao trào, và vấn đề chỉ còn là khi nào sẽ áp dụng vũ lực. Cuộc chiến sẽ kết thúc bằng nổi dậy và tổng tiến công của NLF, một kiểu kết hợp giữa Cách mạng tháng 8 và mô hình chiến tranh 3 giai đoạn của Mao. Quan điểm này rõ ràng phản ánh cách nhìn của Duẩn, người luôn tin vào một thắng lợi quân sự rõ ràng. Duẩn cho rằng quan điểm của H dựa vào đấu tranh ngoại giao là ngây thơ, ông này nói “Bác Hồ lưỡng lự, còn tôi đã chuẩn bị tất cả khi rời miền Nam ra đây. Tôi chỉ có một mục đích: thắng lợi cuối cùng” (6).

Đầu tháng 11/1953, cuộc đảo chính quân sự được Mỹ bật đèn xanh đã lật đổ Diệm. Cả Diệm và Nhu, mặc dù đã đầu hàng, đều bị thủ tiêu. Mất Diệm, NLF mất khả năng lợi dụng cảm tính chống Diệm để mở rộng lực lượng. Tại các thành phố, phe đảo chính do Dương Văn Minh tức Minh Lớn cầm đầu được sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng đang bất mãn. Mặt khác, Đảng cũng đoán trước được rằng giới lãnh đạo mới không thể nào có được sự kiên định và ý chí của Diệm. Đã quá kinh nghiệm về tính bè phái của các phần tử dân tộc, trong cuộc họp Bộ chính trị ngày 10/12, H tiên đoán (và hóa ra là đúng như vậy) đây sẽ là không phải là cuộc đảo chính cuối cùng.

Vài tuần sau, bản thân Kennedy cũng bị ám sát tại Dallas, Lindon Jonson lên thay. Tình hình thay đổi nhanh chóng, buộc Đảng phải xem xét lại sách lược của mình. Liệu có đẩy mạnh đấu tranh để lợi dụng tình trạng hỗn loạn ở Sài gòn? Liệu tổng thống Mỹ mới lên có hiếu chiến hơn? Hay hòa hoãn để tìm một giải pháp chính trị? Theo các bằng chứng rải rác còn sót lại, Hội nghị TƯ lần thứ 9 tháng 12/1963 là cuộc hội nghị nóng bỏng nhất trong lịch sử Đảng. Lần đầu tiên, TƯ không chỉ là cơ chế đóng dấu cho các quyết định đã được Bộ chính trị dàn xếp. Một số thành viên lớn tiến đề nghị nhanh chóng đưa ngay quân đội miền Bắc tham chiến để giải quyết vấn đề trước khi Mỹ có thể can thiệp. Số khác e ngại làm vậy sẽ dẫn đến Mỹ can thiệp trực tiếp, làm mất lòng Liên xô đang tìm cách tránh căng thẳng với Mỹ, đẩy Việt nam vào thế phải dựa hẳn vào ông bạn TQ không mấy tin cậy. Nghị quyết cuối cùng thỏa hiệp, chính thức thừa nhận đấu tranh vũ trang là hình thức đấu tranh chủ yếu, kêu gọi các lực lượng miền Nam tìm cách giành thắng lợi trong thời gian ngắn nhất, nhưng không đưa quân miền Bắc vào trực tiếp tham chiến. Các nhà chiến lược của Đảng đặt cược vào việc có thể đánh đổ Sài gòn mà không tạo cớ cho Mỹ nhảy vào.

Mặc dù luôn luôn tìm cách cân bằng trong quan hệ Xô – Trung, trong thời gian cuối, có nhiều lãnh đạo không giữ được bình tĩnh. Thanh đã từng phát biểu: “Chúng tôi không ảo tưởng và không đánh giá thấp Mỹ, có điều chúng tôi không sợ. Nếu ai đó cứ cho rằng kiên quyết chống Mỹ là sẽ thất bại và dẫn đến chiến tranh hạt nhân, thì chỉ còn có cách đầu hàng chủ nghĩa đế quốc”, rõ ràng là nhằm vào Kremlin. Quan điểm của Thanh được Duẩn và các đồng sự như Hoàn, Thọ ủng hộ. Phạm Văn Đồng là một nhà tổ chức và thường không có ý kiến trong những vụ này. Chinh cũng không muốn thách thức giới lãnh đạo mới. Giáp không nhất trí với chiến lược chiến tranh du kích tích cực của Duẩn, nhưng cũng không đồng ý với Thanh về việc tiến hành chiến tranh “thông thường” vào thời điểm hiện tại khi quân đội nhân dân Việt nam chưa được huấn luyện và trang bị đầy đủ. Theo Giáp, căng thẳng với Liên xô vào thời điểm này là tự sát vì chỉ có Moscow mới có thể cung cấp những kỹ thuật mà quân đội đang cần. Tuy nhiên, kỳ lạ là Giáp đã ngồi im, không phát biểu. Vai trò của H trong vụ này không rõ ràng. Duẩn cho rằng gần đây H không còn sự sắc sảo trong suy nghĩ và đánh giá tình hình, thậm chí có tin đồn là Duẩn đã đề nghị H nghỉ hưu, chuyển sang lãnh đạo Viện Max-Lenin, Thanh sẽ giữ chức chủ tịch nước còn Duẩn lãnh đạo Đảng (7). Nhưng tất nhiên H không thể không quan tâm đến chiến lược mới. H thường xuyên nêu rõ đây là một cuộc chiến mưu mẹo, chứ không phải là đối đầu trực tiếp nhất là với Mỹ. H cũng luôn luôn tìm cách cân bằng quan hệ giữa LX và TQ. Khi Lê Liêm, một tướng có công lớn trong trận Điện biên phủ, báo với H là dự thảo nghị quyết hội nghị có thể có những điểm đả kích LX trực tiếp, H nói làm thế khác gì tát vào mặt người ta, và khuyên Liêm chống lại. Tuy nhiên khi Liêm đứng lên phát biểu thì H lại ngồi im. Những lúc tinh thần bài Xô trở nên quá nóng, H bỏ ra ngoài hút thuốc. Cuối cùng những điểm đả kích Liên xô trực tiếp cũng được Duẩn gạt ra vì không muốn đốt cầu với LX. 10 thành viên đã bỏ phiếu chống lại bản nghị quyết cuối cùng (8).

Không muốn làm mất lòng LX, sau hội nghị, Duẩn, Thọ và Tố Hữu đã sang Moscow để trình bày quan điểm. Tố Hữu – nhà thơ, đã xuất hiện trên chính trường nhờ những phát biểu chống LX ầm ĩ trong hội nghị 9. Trên đường đi cả đoàn đã dừng lại ở Bắc kinh để thảo luận. Kết quả làm việc ở Moscow không nhiều, thông cáo chung rất chung chung, chứa đựng sự không thống nhất về quan điểm ở miền Nam VN. Sau khi đoàn trở về, báo chí chính thống lại tiếp tục đả kích tràn lan “chủ nghĩa xét lại”. Tư tưởng bài Liên xô lan rộng. Bộ chính trị bật đèn xanh thành lập một tòa án để xét xử và đưa ra khỏi đảng những thành phần xét lại, bao gồm cả những cán bộ cao cấp như Viện trưởng Viện Max Lenin Hoàng Minh Chính, cánh tay phải của Giáp là Lê Liêm. Thậm chí Giáp cũng bị tấn công, bị buộc tội là có thư từ bí mật trực tiếp với Khorutxov. Cuối cùng H phải can thiệp và xác nhận là chính mình đã cho phép Giáp làm việc đấy (9).

H chắc chắn là đã rất nhức đầu với những sự kiện xung quanh hội nghị 9. Việc phế bỏ Diệm cho thấy Mỹ có thể đã từ bỏ đường lối không can thiệp trực tiếp vào Việt nam. Mặc dù phê duyệt chiến lược leo thang vũ trang ở miền Nam, H không thể không lo lắng vì thái độ hấp tấp của một số cái đầu nóng trong Đảng, đặc biệt là việc đánh LX và những đồng minh của LX ở Hà nội. Sau một thời gian im tiếng, H đã xuất hiện trong ghế chủ tịch Hội nghị chính trị đặc biệt tháng 3/1964, được tổ chức để bàn về những bất đồng trong lãnh đạo Đảng. H phát biểu, nhấn mạnh Việt nam tiếp tục tìm kiếm việc thống nhất bằng con đường hòa bình trên cơ sở những điều khoản của hiệp định Geneva, nhưng cũng khẳng định, nhân dân miền Bắc sẽ quyết tâm ủng hộ cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam. H kêu gọi nhân dân Mỹ hãy hành động để buộc chính phủ Mỹ chấm dứt cuộc chiến tranh phi nghĩa và bẩn thỉu, đang làm ô danh nước Mỹ. Cuối cùng, H kêu gọi sự thống nhất mục đích trong DRV và trong khối xã hội chủ nghĩa.

Trong mấy tháng sau, các lực lượng cách mạng ráo riết hoạt động ở miền Nam. Lợi dụng sự yếu kém về chính trị và bè phái lục đục của chính quyền Sài gòn, NLF và PLAF liên tục tấn công khuếch trương thanh thế ở vùng nông thôn. Mục đích của đảng là đánh đổ chính quyền Sài gòn, thành lập chính phủ 3 bên gồm một số quan chức Sài gòn cũ, NLF và thành phần thứ trung gian gồm các trí thức trong và ngoài nước. Các phần tử này đã được đảng làm việc trước, vì thế đảng tin tưởng là chính phủ mới sẽ là điểm khởi đầu để tiến tới thống nhất với miền Bắc theo đường lối của đảng. Nhưng Mỹ không nghĩ vậy. Hà nội không hề hay biết là chính quyềnJohnson đã quyết chí ở lại miền Nam Việt nam và đang ráo riết kiếm cớ để thể hiện cho Hà nội biết ý chí của mình. Đầu tháng 8/1964, các xuồng máy của hải quân Việt nam tấn công một chiến hạm Mỹ. Vài ngày sau, khi “hình như” lại xảy ra một vũ tấn công mới, Johnson liền lập tức hạ lệnh ném bom miền Bắc để trả đũa. Mặc dù McNamara tuyên bố các tàu chiến Mỹ chỉ đang thực hiện việc tuần tra thường xuyên của mình, nhưng chứng cớ sau đó, cho thấy chúng đang tiến hành một chiến dịch trinh sát, nhằm thăm dò khả năng theo dõi của rada Bắc Việt. Cùng thời điểm, một chiến dịch đổ bộ biệt kích được tiến hành. Các chỉ huy địa phương Bắc Việt rõ ràng là đã có lý khi quyết định tấn công cảnh cáo.

Sự kiện vịnh Bắc bộ thuyết phục các nhà lãnh đạo Đảng rằng Washington quyết tâm leo thang chiến tranh. Vài ngày sau, Bộ chính trị quyết định gửi những đơn vị chủ lực chiến đấu đầu tiên vào Nam theo đường mòn Hồ Chí Minh. Đến cuối năm, sư đoàn quân chủ lực đầu tiên đã vào đến chiến trường miền Nam, chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công cuối cùng mùa xuân năm 1965. Lãnh đạo đảng vẫn hy vọng có thể lật đổ chính quyền Sài gòn trước khi Mỹ có thể can thiệp. Sau cuộc họp bộ chính trị, Lê Duẩn đã bay sang Bắc kinh để tham khảo ý kiến về quyết định của mình. Mao cũng cho rằng tình hình miền Nam chưa thuận lợi cho một giải pháp chính trị và có thể phải tiến hành một cuộc chiến tranh du kích kéo dài. Chính quyền TQ cũng kích động những cuộc biểu tình chống Mỹ rộng rãi. Quân đội TQ ở miền Nam được đặt trong tình trạng báo động. Mao và các quan chức khác công khai phát biểu sẽ giúp đỡ Việt nam, cho dù cuộc chiến có thể kéo dài 100 năm, “Rừng xanh còn đây, lo gì thiếu củi” (10). Tuy nhiên Viet nam cũng đã khéo léo từ chối đề nghị của phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình sẽ giúp đỡ mạnh mẽ hơn nữa nếu VN chấm dứt quan hệ với Liên xô.

Ngược lại với TQ, sự kiện vịnh Bắc bộ làm xấu đi mối quan hệ giữa VN và Liên xô. Khi Duẩn đến thăm Moscow vào giữa tháng 8, sau khi thăm Bắc kinh, LX đã chỉ lập lờ lên tiếng lên án Mỹ, đồng thời kêu gọi đàm phán hòa bình và trì hoãn việc công nhận NFL là đại diện chính thức của miền Nam Việt nam. May mắn, tình hình lại thay đổi. Mùa thua năm đó, phái Breznhev đã lật đổ Khrutxov, đưa B lên làm Tổng bí thư. Ngày 16/10, Hà nội gửi điện chúc mừng B, ngay ngày sau đó lại khéo léo gửi điện chúc mừng TQ thử thành công vũ khí hạt nhân. H và các đồng chí hy vọng Ban lãnh đạo mới của LX có thể trợ giúp về mặt quân sự và giúp Việt nam duy trì được mối quan hệ cân bằng giữa hai cường quốc. Tháng 11, Phạm Văn Đồng sang thăm Moscow để đánh giá tình hình. Chuyến thăm được đánh giá tốt. LX hứa sẽ tăng viện trợ và hỗ trợ nếu Mỹ mở rộng chiến tranh ra phía Bắc, cho phép NLF được mở văn phòng đại diện tại Moscow. Việt nam đã có được sự ủng hộ của cảhai đồng minh quan trọng nhất của mình cho cuộc chiến mới.

Mùa thu năm 1964, tình hình Sài gòn rất không ổn định. Các phe phái đua nhau đấu đá dành quyền lực mặc cho Mỹ hết sức tức giận. Thiếu sự chỉ đạo từ phía trên, quân đội Sài gòn ở địa phương chẳng buồn tác chiến, một số thậm chí còn lén lút thỏa thuận với lực lượng VC hoạt động trong vùng. Báo cáo của CIA khẳng định nếu không có những hành động kiên quyết từ phía Mỹ, Sài gòn sẽ sụp đổ trong vòng từ 3 đến 6 tháng. Hà nội cũng có vẻ đồng quan điểm, kêu gọi các đồng chí miền Nam tập trung nỗ lực để dành thắng lợi cuối cùng. Để cảnh báo Mỹ về những thiệt hại nếu liều lĩnh tham chiến, VC đã tấn công căn cứ không quân Biên hòa, giết 4 lính Mỹ, làm bị thương hơn 30. Trong dịp Noel, khách sạn Caravel bị đánh bom. Bom cũng nổ tại Brink’s BBQ bên kia phố, giết chết 2 lính Mỹ (11). COSVN không lạc quan lắm vì cho rằng PALF chưa đủ sức đánh lớn. Tháng 12, VC đánh trận Bình Giã, chứng tỏ khả năng PALF có thể tiêu diệt một lực lượng lớn quân chủ lực của Sài gòn. Ngay cả cẩn thận như H cũng phải thốt lên: “Bình Giã là trận Điện biên phủ thu nhỏ”. Trong thư gửi Thanh tháng 2, Duẩn thúc giục tấn công trước khi Mỹ quyết định có gửi quân bộ hay không. Khi đó VC sẽ có thế mạnh để đàm phán về việc Mỹ rút quân. Mặc dù không bảo đảm thắng lợi, Duẩn dẫn lời Lênin: “Hãy hành động sẽ biết”.

Hà nội đã hành động hơi muộn. Ngày 7/2, VC tấn công trại lính đặc nhiệm tại Pleiku, giết 8 lính Mỹ và làm bị thương gần 100. Sáu ngày sau, Johnson hạ lệnh cho máy bay ném bom trả đũa trên khắp miền Bắc, kể cả một số thành phố. Tháng 3, hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ vào Đà nẵng. Ngay sau đó, 2 tiểu đoàn nữa được tiếp viện. Tướng Oetmolen, tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt nam kêu gọi nhanh chóng tăng quân để ngăn chặn VC chiếm đóng miền Nam.

Đầu tháng 2, Kosugin thăm Hà nội, hứa sẽ tăng cường viện trợ quân sự, bao gồm cả tên lửa đất đối không và pháo cao xạ. Việt nam hứa sẽ kiềm chế chiến tranh trong phạm vi miền Nam và tìm kiếm các giải pháp hòa bình. TQ có vẻ không hài lòng và từ chối ra tuyên bố chung cùng với LX ủng hộ Việt nam, khiến Hà nội rất tức giận. Tháng 3, Chu Ân Lai sang Việt nam giải thích, sở dĩ TQ từ chối vì chính sách của Liên xô chẳng qua la “xét lại” được ngụy trang. Chu cũng khuyên VN không nên nhận viện trợ quân sự của LX, nói bóng gió rằng điều đó có thể ảnh hưởng đén quan hệ Trung – Việt (12). Ngày 26/3, Hội nghị trung ương lần thứ 11 được nhóm họp. Đến lúc này, quy mô can thiệp của Mỹ đã rõ, tuy nhiên Hà nội vẫn chưa nắm được mục tiêu cuối cùng của Mỹ. Một số cho rằng Mỹ muốn diễu võ giương oai để có thể đàm phán trên thế mạnh. Theo H, tình hình nguy hiểm hơn nhiều vì cho rằng có thể Mỹ đã quyết định chấp nhận cứng rắn ở miền Nam VN. Hội nghị ra nghị quyết hăm dò khả năng đàm phán của Mỹ. Ngày 22/3, NLF thông báo trên đài phát thanh Giải phóng về đề nghị 5 điểm, mấy ngày sau đài Hà nội đưa lại, có thay đổi đôi chút không đòi hỏi Mỹ phải rút hết mới đàm phán mà chỉ cần Mỹ hứa. Ngày 8/4, Phạm Văn Đồng đưa ra tuyên bố 4 điểm: rút hết quân đội nước ngoài, tuân thủ các điều khoản của hiệp định Geneva, giải quyết vấn đề miền Nam theo cương lĩnh của NLF, tiến tới thống nhất đất nước một cách hòa bình. Washington tỏ ra cứng rắn. Trong lúc Đồng con đang chuẩn bị bản tuyên bố của mình, Johnson đã ra lệnh đưa thêm 2 sư đoàn vào Việt nam. Ngày 7/4, tại trường Đại học John Hopkins, LBJ tuyên bố chỉ đàm phán mà không có bất cứ một nhượng bộ nào. Thái độ của Mỹ càng làm cho phe chủ chiến trong Đảng tin rằng vấn đề sẽ được giải quyết trên chiến trường chứ không ở trên bàn đàm phán như H hy vọng. Trong thư gửi cho Thanh, Duẩn nêu rõ: “chỉ khi nào nổi dậy thành công mới có thể đặt lại vấn đề một chính phủ trung lập”

Vai trò của TQ trở nên đặc biệt quan trọng khi cuộc chiến bắt đầu leo thang đầu năm 1965. Không những cung cấp viện trợ quân sự và kinh tế với tư cách là “hậu phương lớn”, TQ nhiều lần tuyên bố sẽ trực tiếp tham chiến nếu Mỹ xâm lược miền Bắc, mang lửa chiến tranh trực tiếp đến TQ. Mao lúc này đang bận rộn chuẩn bị cho cuộc thanh trừng nội bộ lớn, lợi dụng Việt nam như cái cớ để kích động tinh thần cách mạng trong nước, đồng thời dúi Mỹ sa lầy vào một cuộc chiến “unwinable”. Khi tiếp H tại Bắc kinh tháng 5/1965, Mao hứa “sẽ giúp tất cả những gì có thể”, gửi các đội xây dựng thiết lập mạng lưới giao thông từ biên giới TQ, thậm chí cả đường mòn HCM và hệ thống đường từ Bắc Lào (để “chuẩn bị cho những trận đánh lớn sau này”, như Mao nói). H đã hết lòng cám ơn “tình anh em đồng chí của TQ”, hứa VN sẽ tự lực chiến đấu. Cùng lúc đó, Bắc kinh cũng không tìm cách đối đầu trực tiếp với Mỹ. Trong cuộc phỏng vấn của nhà báo Mỹ Edga Snow hồi tháng Giêng, Mao đã tuyên bố không tham gia chiến tranh nếu không bị tấn công trực tiếp, qua đó gián tiếp không phản đối việc Mỹ tăng cường sự hiện diện quân sự chỉ ở miền Nam. Tháng 4, Chu Ân Lai cũng gửi điện riêng cho tổng thống Pakistan Abu Khan, thông báo rằng TQ sẽ không tìm cách gây chiến với Mỹ mà chỉ hoàn thành nghĩa vụ quốc tế với DRV. Tháng sau, tướng Dũng ký hiệp ước quân sự tại Bắc kinh, theo đó, nếu tình hình không đổi, VN sẽ phải tự chiến đấu. Nếu Mỹ yểm trợ không quân và hải quân cho quân đội Sài gòn tấn công miền Bắc, TQ cũng sẽ yểm trợ không quân và hải quân. Nếu Mỹ tiến công trực tiếp miền Bắc, TQ sẽ đưa bộ binh tham chiến tuy theo yêu cầu của chiến trường. Tháng 7, Lâm Bưu từ chối cung cấp phi công chiến đấu cho Việt nam, làm Duẩn rất giận, liền đi thăm Moscow và gọi Liên xô là “tổ quốc thứ hai”

Cuối năm 1965, quân Mỹ đóng tại Việt nam đã lên tới 200.000, chính thức leo thang từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” với sự tham gia toàn diện của các đơn vị chiến đấu Mỹ. Trung ương Đảng cũng quyết định ồ ạt đưa quân chủ lực vào Nam để cân bằng lực lượng. Được sự ủng hộ của Duẩn, Thanh đã chỉ đạo quân đội giao chiến trực tiếp với Mỹ tại một số địa điểm chọn trước, nhằm chứng minh khả năng đối đầu trên chiến trường của PAVN, mặc dù không được Giáp đồng tình. Duẩn còn gọi Giáp là “con thỏ hèn nhát”. H không tham gia trực tiếp vào việp lập chiến lược chiến tranh do sức khỏe càng ngày càng suy giảm. Tuy nhiên, những khi có thể, H vẫn tham gia ý kiến chỉ đạo trong các cuộc họp Bộ chính trị. Mặc dù trước đây luôn tìm những biện pháp đấu tranh để tránh Mỹ có cớ can thiệp trực tiếp, bây giờ H hoàn toàn ủng hộ việc tăng cường chiến tranh tại miền Nam, để chứng minh cho Mỹ sự quyết tâm của Việt nam. “Chúng ta sẽ chiến đấu bằng bất cứ cách nào kẻ thù muốn, và chúng ta sẽ thắng”. H cũng đồng ý rằng thời điểm hiện tại không chín mùi cho đàm phán vì Mỹ đang quyết tâm gây chiến để đàm phán trên thế mạnh. Nhận thức được phong trào phản chiến thế giới và tại Mỹ đang lớn mạnh, H nhắc các đồng chí phải trình bày quan điểm đàm phán của mình rõ ràng để thế giới thấy được bản chất giả dối trong những đề nghị của Mỹ. H cũng nhấn mạnh, những cuộc tấn công trực tiếp vào quân Mỹ và tay sai sẽ tạo điều kiện cho phe bồ câu tăng thêm sức mạnh trong cuộc hội và công chúng Mỹ.

Chiến tranh tiếp tục khốc liệt, làm VN phải dựa thêm vào vũ khí của LX, khiến TQ rất thấy khó chịu, thường xuyên cảnh cáo các nhà lãnh đạo Việt nam về bọn phản bội LX. Những lời khuyên của TQ về cách thức tiến hành chiến tranh, dựa trên quan điểm của Chu là TQ có nhiều kinh nghiệm “dealing” với Mỹ hơn, gợi lại những kỷ niệm cay đắng của VN trong hội nghị Geneva. Hồng vệ binh TQ “tình nguyện” sang giúp đỡ VN hồi đầu cách mạng văn hóa gây khó chịu cho dân chúng địa phương, chẳng khác gì những cố vấn TQ hô hào khẩu hiệu của Mao thời cải cách ruộng đất tại VN. Đến mùa xuân năm 1966, quan hệ trở nên khá căng thẳng. Trong một bài phát biểu hồi tháng 5, đáp lại bài báo của Lâm Bưu về việc VN phải có thói quen “tự lực”, Duẩn đã tuyên bố VN nghiên cứu kỹ kinh nghiệm của các nước anh em nhưng không áp dụng một cách mù quáng. Duẩn còn đi xa hơn nữa khi nhắc lại lịch sử: “Không phải ngẫu nhiên mà trong lịch sử dân tộc ta, mỗi khi đứng lên chống giặc ngoại xâm, chúng ta đều quyết chiến đấu”. Báo chí Việt nam cũng bóng gió nói về sự đe dọa từ phía Bắc từ thời phong kiến. Bắc kinh cũng nhanh chóng nhận ra vấn đề này. Giữa tháng 4, khi tiếp Đồng, Mao đã xin lỗi về thái độ của bọn hồng vệ binh, “Nếu chúng nó phá, các đồng chí cứ bắt giao lại cho chúng tôi”. Ngay sau đó, về bài phát biểu của Duẩn, Chu tuyên bố TQ không có ý định áp đặt ý chí cho Việt nam và nếu các đồng chí Việt nam thấy khó chịu, TQ sẽ rút các đơn vị xây dựng tại miền Bắc (khoảng 100,000 người) và rút quân đội ra khỏi vùng biên giới. Duẩn cũng nhượng bộ, cám ơn TQ đã giúp đỡ to lớn. Tuy nhiên Duẩn vẫn bảo vệ quyền được quan hệ với LX vì những mục đích thực tế, cho rằng ngay cả TQ hồi xưa cũng đã sử dụng sự giúp đỡ của LX. Về quan điểm LX phản bội, Duẩn đề nghị thái độ hòa giải với “các nước xét lại” để thuyết phục họ quay về những nguyên tắc cách mạng cơ bản. H cũng can thiệp trực tiếp. Trong cuộc gặp giữa H với các nhà lãnh đạo TQ, khi Chu nhắc lại quan điểm đề nghị rút quân ra khỏi biên giới, Đặng đã ngắt lời, cho rằng cần phải giữ quân để đề phòng Mỹ tấn công. H ngay lập tức khẳng định là VN hoàn toàn ủng hộ và cảm thấy thoải mái với sự có mặt của quân đội TQ ở biên giới phía Bắc.

Tình hình có dịu đi, nhưng những hạt giống nghi ngờ đã được ươm cho tương lai. Trong năm 1966, quyết tâm tránh thất bại bẽ mặt ở miền Nam, Mỹ tiếp tục tăng cường sức mạnh quân sự. Quân đội Mỹ trực tiếp tiến hành các chiến dịch “tìm và diệt” để đẩy các lực lượng cách mạng lên vùng cao nguyên và biên giới xa dân chúng và nguồn tiếp tế. Quân đội Sài gòn chủ yếu làm nhiệm vụ bình định và hoạt động trong đô thị và các tỉnh duyên hải. Tướng Thanh tiếp tục chiến lược đối đầu trực tiếp, nhằm gây sức ép buộc Mỹ đàm phàn và giữ tinh thần cho các lực lượng cách mạng. Chiến lược này cực kỳ hao người. Mặc dù con số 300,00thương vong của PAVN và PALF do Mỹ đưa ra rõ ràng là bốc phét, quân đội Việt nam chắc chắn phải chịu những tổn thất rất lớn, và phải buộc liên tục bổ sung từ ngoài Bắc, hàng năm lên tới hơn 50,000 quân. Chiến lược của Thanh chưa mang lại lợi ích rõ ràng gì. Chính quyền Sài gòn vẫn lung lay nhưng chẳng có vẻ gì là sắp đổ, nhất là khi “bọn trẻ” Thiệu – Kỳ lên nắm quyền. Dưới sức ép của Mỹ, một dự thảo hiến pháp được thông qua. Sài gòn chuẩn bị bầu cử tổng thống. Tại Mỹ, phong trào phản chiến lan rộng nhưng chưa đủ đây đượ c Nhà Trắng chú ý. Trong Đảng, bắt đầu có sự bàn tán xì xào về chiến lược “vá trời” của Thanh. Như thường lệ, H đứng về phe ôn hòa, ủng hộ chiến tranh kéo dài, nhiều giai đoạn, kết hợp giữa đấu tranh chính trị, tuyên truyền và chiến tranh du kích. Để thuyết phục những người nóng vội muốn đạt thắng lợi nhanh, H sử dụng hình ảnh nấu cơm.Rút lửa sớm, cơm sẽ sống. Để lửa to quá cơm sẽ cháy. H tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng, dự đoán những mâu thuẫn nội bộ trong nước Mỹ dâng cao và sẽ đạt được đỉnh vào cuộc bầu cử tổng thống tới. Tháng 12/1966, H viết thư ngỏ gửi nhân dân Mỹ, nêu rõ những mất mát của nhân dân Việt nam, cũng như uy tín của nước Mỹ, do cuộc chiến gây ra. H viết bức thư này khi đại sứ quán Italia ở Sài gòn đang môi giới một số sáng kiến hòa bình. Tuy nhiên ngay sau đó, không quân Mỹ oanh kích một số vùng ngay sát thủ đô và Hà nội đã hủy bỏ cuộc gặp dự kiến được tiến hành ở Vacsava (13) H cũng đã tỏ rõ thái độ rất cương quyết khi gặp lại ông bạn cũ là Jean Sainteny, tháng 7/1966 để thăm dò khả năng trung gian hòa giải của Pháp. Cũng như tổng thống Pháp Charle de Gaulle, S cho rằng Mỹ không thể đạt được mục đích của mình ở Đông Dương, tốt nhất là một giải pháp thỏa hiệp tạo nên một chính phủ trung lập ở Sài gòn. Trong cuộc thảo luận, H nói biết rất rõ khả năng của Mỹ có thể tiêu diệt tất cả các thành phố Bắc Việt, nhưng nhân dân Việt nam sẽ sẵn sàng chiến đấu đến cùng và sẽ chiến thắng. Việt nam mong muốn tìm một giải pháp rút lui trong danh dự cho Mỹ, nhưng kết quả là quân Mỹ vẫn phải rút hết. Lúc đó mọi vấn đề sẽ được giải quyết.

Tháng 5/1965, H sinh nhật lần thứ 75. Trong suốt thập kỷ cuối cùng, H vẫn điều hành Hội đồng chính phủ, Bộ chính trị và Ủy ban TƯ, nhưng càng ngày càng ủy quyền cho các đồng chí của mình. Mặc dù vẫn lắng nghe những kinh nghiệm của H trong quan hệ quốc tế và các vấn đề chiến lược chiến tranh, từ giữa những năm 1960, vai trò chính của H là trở thành hình ảnh “Bác Hồ” yêu quý, thăm dân chúng, trường học, nhà máy để cổ vũ cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước và xây dựng CNXH.

Đó là những năm tháng cực kỳ gian khổ. Cuộc chiến leo thang ở miền Nam đòi hỏi sự tăng viện không ngừng. Từ năm 1965 đến cuối thập kỷ, quân số PAVN tại miền Nam đã tăng từ 240,000 người lên hơn 400,000 người. Hầu như tất cả nam giới từ 16 đến 45 bị động viên nhập ngũ. Phụ nữ thay thế họ trong các nhà máy, đồng ruộng. Phụ nữ còn tham gia các đội thanh niên xung phong, tự vệ địa phương, lực lượng phá bom và phòng không tầm thấp. Sản lượng lương thực giảm sút trầm trọng và chỉ có viện trợ của TQ mới ngăn được nạn đói lan rộng. Các cuộc không kích của không quân Mỹ phá hủy nhiều thành phố trong đó có Vinh. Nhân dân thành phố được sơ tán về các vùng nông thôn. Dân chúng cũng đã đào hơn 300,000 km giao thông hào và 20 triệu hầm trú ẩn. Nhưng có vẻ vẫn chưa đủ. Dù không có con số dân thường thương vong chính thức của miền Bắc, ước tính có đến hàng triệu người Việt nam chết ở cả hai miền đất nước. Nhân dân đã phải trả giá đắt cho quyết tâm thực hiện giấc mơ thống nhất đất nước của Bác H. H cũng chia sẻ cùng những khó khăn chung của nhân dân và sống rất giản dị trong căn nhà sàn, đầy những kỷ niệm lãng mạn của những ngày đầu kháng chiến. Thời gian bắt đầu in dấu ấn của mình. Các phóng viên nước ngoài đều nhận thấy H có những lúc khó thở, chuyển động chậm chạp, và thỉnh thoảng mất tập trung. H bắt đầu viết di chúc lần đầu tiên vào dịp sinh nhật lần thứ 75. Cũng trong tháng 5/65, H cùng với thư ký riêng Vũ Kỳ đi TQ 3 tuần, vừa để tránh bom, vừa để tư vấn chiến lược với TQ, đồng thời tranh thủ nghỉ ngơi. Sau khi gặp Mao ở Trường Sa, H tiếp tục đến Bắc kinh để thảo luận với các lãnh đạo TQ khác. Khi có người quan ngại về sức khỏe và hỏi H có ngủ ngon không, ông đã trả lời: “Hỏi chú Kỳ thì biết“. Mặc cho H phản đối, TQ vẫn tổ chức sinh nhật H rầm rộ với vô số khách mời là các cô gái trẻ (Vũ Kỳ cho biết là H rất “tôn trọng” họ). Kết thúc đàm phán, H đi Sơn đông thăm quê hương của Khổng tử. Trước miếu thờ Đại Sư phụ, H nhắc lại sự cam kết sâu sắc của Khổng giáo với những giá trị nhân đạo. H giải thích nguyên tắc Đại Đồng (Great Unity), chính là nền móng của quan điểm xã hội công bằng hiện tại. Hòa bình vĩnh viễn chỉ có được khi thế giới trở nên đại đồng. Trên máy bay về nước, H đã làm thơ ghi lại những cảm xúc của mình khi được thăm quê hương của người con vĩ đại của Trung hoa (14).

Sau khi đi về, sức khỏe của H tiếp tục giảm sút, mặc dù có lúc có những phút lóe sáng bất thường. Trong một chuyến viếng thăm của Tào Trư đến Hà nội, H đột ngột nhờ Tào kiếm cho một cô gái trẻ Quảng đông để đỡ đần trong cuộc sống. Khi Tào hỏi lại, sao H không kiếm một cô gái Việt nam, H nói: “ở Việt nam, ai cũng gọi tôi là Bác”. Về đến TQ, Tào báo cáo lại với Chu Ân Lai, vì sự việc tế nhị, Chu tư vấn với ban lãnh đạo VN và vụ việc bị cho chìm xuồng (15).

Tháng 5/1966, H lại sang TQ kỷ niệm sinh nhật lần thứ 76. Sau khi được các lãnh đạo TQ cam kết sẽ ủng hộ VN đến thắng lợi cuối cùng, bất kể nguy cơ Mỹ có thể tấn công TQ trực tiếp, H đi nghỉ mấy ngày tại trung nguyên, sau đó đi Sơn đông, Mãn châu và về nước và tháng 6. Ngày 17 tháng 7, H gửi lời kêu gọi đến toàn thể nhân dân Việt nam, cám ơn những hy sinh cao cả của họ và tuyên bố “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Tại Bắc kinh, hàng trăm ngàn dân TQ biểu tình trên quảng trường Thiên an môn ủng hộ sự nghiệp thống nhất đất nước của Việt nam.

Mặc dù sức khỏe yếu đi, H vẫn tuân thủ chặt chẽ việc tập thể dục buổi sáng và một nếp sống lành mạnh: làm vườn, cho cá ăn và tiếp khách. H tiếp tất cả từ phóng viên phương Tây, các chính khách nước ngoài, đại biểu miền Nam cho đến nhân dân khắp nơi, dưới một rặng cây ngay gần nhà. Bộ chính trị họp ngay dưới nhà sàn, trừ những khi Mỹ ném bom quá gần. Tuy nhiên không phải lúc nào H cũng tham dự họp. Khi có những vấn đề rắc rối, Duẩn dặn các đồng chí: “Đừng làm Bác phải suy nghĩ nhiều”. Vào dịp sinh nhật lần thứ 77, khi H đang đi Quảng đông, Bộ chính trị đã họp về sức khỏe của H và cử Nguyễn Lương Bằng trực tiếp theo dõi sức khỏe của Cụ. Lê Thanh Nghị được phân công dẫn đầu một đoàn sang LX để tư vấn và tìm hiểu cách thức giữ gìn thân thể của H sau khi chết.

Đầu năm 1967, H tiếp hai nhà hoạt động hòa bình Mỹ là Harry Ashmore và William Baggs, gợi ý có thể đàm phán hòa bình nếu Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc. Sau khi vụ việc được báo cáo lại cho bộ ngoại giao Mỹ, Johnson gửi thư cho H, đề nghị chấm dứt ném bom nếu miền Bắc chấm dứt tiếp tế vào Nam. Dĩ nhiên là Hà nội, dự kiến lợi dụng chấm dứt ném bom để tăng viện, không thể chấp nhận đề nghị đó. Tháng 7, khi ông bạn cũ là Raymond Aubrac đến Hà nội để thăm dò triển vọng hòa bình, H đã nêu rõ, Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc một cách vô điều kiện thì mới có thể đàm phán. Tháng 9, H đi dưỡng bệnh dài ngày tại một vùng núi gần Bắc kinh.

Trong lúc H đi vắng, Bộ chính trị tích cực thảo luận về tiến hành “Cuộc tổng tiến công và nổi dậy” được dự kiến từ đầu thập kỷ. Mặc dù quân giải phóng và quân Bắc Việt vẫn hoạt động tương đối hiệu quả trên toàn chiến trường, nhưng với sự có mặt của gần 500,000 quân Mỹ, VC và Bắc Việt đang phải gánh chịu những thương vong nặng nề, tinh thần quân sĩ giảm sút, tỷ lệ đào ngũ tăng nhanh. Washington không chấp nhận thất bại làm cho nhiều người nghi ngờ cách mạng sẽ tất yếu thắng lợi. Các nhà lãnh đạo Đảng cần phải có hành động để giành lại quyền chủ động và chiếm lại những vị trí đã mất. Trong một thời gian dài, H luôn dặn các đồng chí của mình, cuộc tiến công phải được tổ chức vào năm bầu cử tổng thống để gây sức ép tối đa lên hệ thống chính trị của Mỹ. Những cuộc tiến công quân sự phải được kết hợp với sự nổi dậy của dân chúng trong thành phố. Mục tiêu tối thiểu là làm Sài gòn hoảng loạn và buộc Mỹ phải đàm phàn trên thế yếu. Kế hoạch tấn công Tết Mậu thân chỉ được phê duyệt vào tháng 12 khi H từ TQ trở về. Ngay sau đó H lại quay lại TQ.

Cuộc tổng tiến công được tiến hành đồng loạt ngày 31/1/1968 trên tất cả các thành phố lớn, thị xã, thị trấn và nông thôn. Tại Sài gòn, những đơn vị đặc công cảm tử đánh chiếm các cơ sở chính quyền, thậm chí chiếm tầng dưới của tòa nhà Đại sứ quán Mỹ. Tại Huế, VC chỉ chịu rút lui sau những trận đánh giáp lá cà với lính thủy đánh bộ Mỹ, sau 3 tuần chiếm giữ thành phố. Cuộc tiến công đã thất bại về mặt quân sự, hơn 30000 thương vong làm cho Việt cộng hầu như không gượng dậy lại được trong những năm tiếp theo. Chính quyền Thiệu vẫn đứng vững. Tuy nhiên những hiệu quả chính trị lại hết sức khả quan. Hơn 2000 lính Mỹ chết, 3000 bị thương, cùng với những trận đánh được ghi hình trực tiếp từ trung tâm Sài gòn đã đẩy phong trào phản chiến Mỹ lên đỉnh cao. Nhà Trắng buộc phải nhượng bộ để tìm giải pháp hòa bình. Cuối tháng 3, Johnson tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở lên và không ra tranh cử nhiệm kỳ tiếp.

Trong khi Nhà Trắng đang nhằn quả đắng, Lê Đức Thọ đi Bắc kinh để báo cáo kết quả với H. Mặc dù sau này thừa nhận thành công vừa phải của chiến dịch, chắc chắn là Thọ đã miêu tả với H một thắng lợi vĩ đại. Khi Thọ báo cáo là sẽ đi miền Nam để đánh giá tình hình, H một mực đòi đi theo. Thọ tìm cách thoái thác, kêu rằng khi đi qua cảng Sihanoukville – Campuchia, mọi người sẽ nhận ra bộ râu của H ngay. H liền đồng ý cạo đi, Thọ lại cho rằng nếu thế thì nhân dân miền Nam sẽ không nhận ra Bác. H cam kết sẵn lòng làm bất cứ việc gì, kể cả phải đóng giả thủy thủ hoặc nấp trong hầm tàu. Cuối cùng Thọ phải hứa sẽ báo cáo với bộ chính trị để xem xét sự việc. Khi Thọ đứng lên ra về H ôm hôn và khóc. Sau này Thọ kể lại ông có cảm giác không bao giờ gặp lại người đồng chí già của mình nữa.

Có lẽ H cũng đoán được là Bộ chính trị sẽ không thỏa mãn yêu cầu của ông vì lý do sức khỏe. H viết thư cho Duẩn, cho rằng nếu được thay đổi không khí, sức khỏe của ông sẽ khá hơn. Chuyến đi của ông cũng sẽ cổ vũ tinh thần của đồng bào chiến sĩ miền Nam đang hết lòng chiến đấu cho sự nghiệp. Ngày 19/3, H viết thư nhờ Chu can thiệp, nhưng cũng chẳng đi đến đâu (16).

H về nước ngày 21/4 và tuy sức khỏe còn rất yếu, vẫn tham gia vào cuộc họp Bộ chính trị đánh giá kết quả của cuộc tổng tiến công. H hài lòng khi biết McNamara phải tuyên bố từ chức và Johnson không ra tranh cử nhiệm kỳ 2. Tháng 6, sau khi Robert Kennedy, một TNS chống chiến tranh bị ám sát, H viết trên báo Nhân dân rằng sẽ còn nhiều người Mỹ vô tội nữa bị giết vì chiến tranh. Tháng 5, Johnson tuyên bố ngừng ném bom dưới vĩ tuyến 20 và chấp nhận ngồi vào bàn thương lượng. Không rõ H có trực tiếp tham gia quyết định chấp nhận đàm phán hay không? Tuy hài lòng, H cảnh báo các đồng chí của mình, công việc sau khi thắng lợi sẽ “rất phức tạp và khó khăn”. Để tránh sai lầm, Đảng phải tái tổ chức, xác định lại vị trí của đảng viên. H căn dặn tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, nâng cao đời sống dân chúng, cải tạo những phần tử chậm tiến như hút xách, đĩ điếm trong xã hội miền Nam.

H còn tư vấn về chiến lược đàm phán trong tương lai với Mỹ, khi tình hình vẫn đang rất phức tạp. Mỹ từ chối đưa ra văn bản về việc chấm dứt ném bom vĩnh viễn. TQ lúc đó đang vật lộn với cách mạng văn hóa, chỉ trích các đồng chí Việt nam qua vội vã đàm phán với bọn đế quốc. Chu tư vấn Đồng bắt Mỹ chấp nhận “Bốn điểm” trước khi thương lượng và chỉ đàm phán trên thế mạnh. Đồng vặn lại, đương nhiên VN sẽ không thỏa hiệp và đàm phán trong những điều kiện bất lợi, nhưng suy cho cùng, Việt nam mới là người tiến hành chiến tranh. Trong các nhận xét của mình về vấn đề đàm phán, H thường xuyên tỏ ra là người thực tế, cân nhắc kỹ lưỡng được và mất. H cảnh báo, không được chủ quan, có thể rơi vào bẫy của Mỹ, ngừng bắn ở miền Nam nhưng Mỹ vẫn có cơ hội ném bom trở lại miền Bắc. Tháng 11/1968, đàm phán hòa bình được mở ra ở Paris. Mỹ cam kết chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc (mặc dù Johnson vẫn kiên quyết không chịu viết thành văn bản), mặc dù không có ngừng bắn, Hà nội hứa sẽ không tiến hành những cuộc tiến công quy mô lớn như Tết. Những đột phá hòa bình đã quá muộn để giúp ứng cử viên dân chủ Humphrey thắng cử. Humphrey có quan điểm chống chiến tranh, nhưng không được công khai quan điểm vì bị ràng buộc bởi vị trí phó tổng thống, được đảng dân chủ đề cử sau một Đại hội cực kỳ sóng gió tại Chicago. Richard Nixon, người tuyên bố đã có “kế hoạch bí mật” để chấm dứt chiến tranh, đã đưa đảng Cộng hòa trở lại chính trường sau 8 năm.

Trong những năm cuối đời, H đã sửa lại di chúc nhiều lần, nhưng lần nào ông cũng nêu rõ nguyện vọng được hỏa táng. Trong bản cuối cùng, H muốn tro của mình sẽ được rải tại 3 địa danh ở miền Bắc, miền Nam và miền Trung, biểu tượng cho sự cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp thống nhất đất nước. H viết, ông sẽ vui lòng đi gặp Karl Max, Vladimir Lenin và các nhà cách mạng khác. H dặn miễn thuế nông nghiệp 1 năm để khoan sức dân và bày tỏ lòng biết ơn của đảng. Trong dịp Tết năm 1969, H lần cuối cùng ra khỏi Hà nội, đi thăm nhân dân ở thị xã Sơn tây. Tháng 4, H tham gia họp Bộ chính trị, khuyên các đồng chí, nếu Mỹ đã quyết định rút, phải để cho họ rút trong danh dự. Tại hội nghịTrung ương tháng 5, H căn dặn không nên chủ quan vội vã trong đánh giá, mặc dù Mỹ đã quyết định rút quân, tình hình vẫn rất nguy hiểm.

Cuối cùng H cũng được thỏa mãn nguyện vọng gặp gỡ với đoàn đại biểu các chiến sĩ miền Nam tại Hồ Tây. Tại lễ sinh nhật lần thứ 79, các cộng sự của ông đã thề sẽ giành chiến thắng và đưa H vào thăm miền Nam. Cũng trong tháng đó, H sửa lại lần cuối cùng bản di chúc, viết thêm trên lề. Sức khỏe H đã yếu đi rất nhiều và các bác sĩ quyết định theo dõi nhịp tim của ông thường xuyên. Mặc dù ngôi nhà sàn rợp bóng cây, H vẫn rất mệt trong mùa hè nóng nực. Ông vẫn cố gắng duy trì tập thể dục buổi sáng, tưới cây và cho cá ăn. Nguyễn Lương Bằng và Trường Chinh hàng ngày sang ăn cơm với H (17). Một ngày giữa tháng 8, sức khỏe H xấu đi đột ngột, phổi bị xung huyết. Mặc dù được tiêm kháng sinh, H vẫn thấy đau ở ngực. Ngày 28/8, tim bắt đầu loạn nhịp. Tuy nhiên khi Bộ chính trị đến báo cáo tình hình, H nói đã đỡ rất nhiều. Hai ngày sau, khi Đồng đến thăm, H hỏi han về tình hình chuẩn bị cho ngày lễ Độc lập. Sáng hôm sau, H dậy sớm, ăn một bát cháo và tiếp một đoàn cựu chiến binh đến thăm. 9h45 sáng ngày 2/9, 24 năm sau ngày khôi phục nền độc lập của Việt nam, trái tim HCM đã ngừng đập.

——————————–

1. Trích trong David Charnoff và Đoàn Văn Toại: Vietnam: a Portrait of its People at War (London, I.B. Tauris, 1996).

2. Theo Nguyễn Thị Định Không có con đường nào khác p 65, 69-70. Bà Định sau này trở thành bộ trưởng quốc phòng trong chính phủ Lâm thời miền NVN, thành lập năm 1969.

3. Phạm Hùng quê ở Vĩnh long. Nguồn gốc của Thanh có gây tranh luận, nhiều bằng chứng là Thanh sinh ra trong một gia đình ngèo ở phía nam Huế, nhưng cũng có người cho là Thanh xuất xứ từ một dòng họ quý tộc và có quá khứ tương đối huyền bí. Trong tương lai gần, Thanh sẽ thay thế Giáp trong việc hoạch định các chiến lược chiến tranh ở miền Nam.

4. Về sự kiện thành lập NLF, xem thêm: Trương Như Tảng Vietcong memoir: An inside Account of the Vietnam War and its aftermath.

5. Các lãnh đạo Trung quốc cũng không bằng lòng với thái độ của H. Xem a H. Xem 1975 Quang Zhai, (Chapel Hill, University of North Carolina Press) pp 87-88. Khi còn ở Moscow, khi H khuyên Khrutsov nhượng bộ vì TQ là một nước lớn và rất quan trọng, Kh đã phản bác lại là LX cũng là một nước lớn và rất quan trọng. H nhận xét “Đồng chí thấy chưa, chúng tôi còn khó khăn gấp đôi vì đừng quên TQ còn là láng giềng của chúng tôi”. Xem Ang Cheng Guan Vietnamese Communist’s relations, p 168.

6. Vũ Thu Hiên Đêm giữa ban ngày” theo Hiên, H không thích chiến tranh và chỉ sử dụng như là biện pháp cuối cùng. Còn Duẩn luôn dùng chiến tranh để đạt được mục đích của mình.

7. Nguyễn Văn Trân, Viết cho mẹ và quốc hội (Garden Grove, Calif: Van nghe 1996) p 328, hoặc xem thêm Georges Boudarel, Nguyen Van Ky, Hanoi 1936-1996: Du drapeau rouge au billet vert (Paris: Editions Autrement 1997) pp 144-147.

8. Nghe đồn là có lúc cãi nhau căng thẳng quá, Giáp phải bỏ ra ngoài đánh piano.

9. Chính là bạn của Giáp, nhà khoa học và anh hùng trong kháng chiến chống Pháp. Chính Trường Chinh đã yêu cầu Chính soạn thảo dự thảo nghị quyết của hội nghị, sau đó bị bác bỏ vì “xét lại”. Chính bị tống giam dài hạn. Cùng bị xử còn có Bùi Công Trừng, Ung Văn Khiêm.

10. Không có chứng cớ rõ ràng về vai trò của H trong quyết định gửi quân vào Nam. Mặc dù trước đó trong cuộc họp BCT, H đã cảnh báo các đồng chí của mình phải chuẩn bị cho tình huống xấu nhất, và cho rằng quyết định nem bom miền Bắc của Mỹ là một quyết định chiến lược chứ không phải tạm thời. Trong cuộc gặp với Mao, Duẩn đã thông báo là DRV quyết định gửi 1 sư đoàn vào Nam, và cuộc tiến công tàu Madoc chỉ là quyết định của các chỉ huy địa phương. Theo thông tin mà Mao có được, lời buộc tội của Mỹ về cuộc tiến công thứ hai của hải quân Việt nam do Wasinhton bị nhận thông tin sai lệch.

11. Một ngày thứ sáu đầu năm 1965, tác giả sang Bangkok nghỉ cuối tuần. Ngày thứ bảy, đảo chính, một chính phủ mới ra đời. Chủ nhật, chính phủ mới bóc tem này lại bị lật đổ. Ngày thứ Hai, tác giả quay lại Sài gòn, bỏqua mất hẳn một chính phủ mới.

12. Muốn phân tích kỹ hơn về chính sách của LX trong giai đoạn này, xem thêm Ilia Gaiduk “The Soviet Policy Dilema in Vietnamese conflict”, hoặc Vietnam: The early decision củủ 218.

13. Sáng kiến này được gọi là Chiến dịch Marigold, được miêu tả trong cuốn LBJ and Vietnam: A different kind of War của George C. Herring (Austin: U of Texas Press, 1994) pp 104-107.

14. Chi tiết chuyến đi được Vũ Kỳ kể trong cuốn Bác viết di chúc . H đã trích những quan điểm của Khổng giáo như: không sợ nghèo, chỉ sợ không công bằng; dân là gốc của nước; lợi ích của nhân dân trước, sau đó là lợi ích của đất nước, sau cùng mới đến lợi ích của vua. H cũng cực kỳ kính trọng Nguyễn Trãi. Tháng Giêng 1965, H thăm Côn sơn và đã dành thời gian rất lâu bên mộ của Nguyễn.

15. Câu chuyện này được kể lại trong cuốn “Những điều bí ẩn của Tao Trư” (Tao Zhu Ji mi), tác giả Quan Yan, Xinan Military Literature (Chengdu), No 72 (1995). Tào là bí thư Quảng đông trước khi bị thanh trừng trong cách mạng văn hóa. Tôi (tác giả) đoán rằng sự việc diễn ra vào mùa xuân hoặc đầu hè năm 1966. Bài báo cho rằng H muốn một cô gái Quảng đông vì nhớ đến những kỷ niệm về người vợ đầu tiên Tăng Tuyết Minh. Chính phủ TQ đã cất công tìm 3 ứng viên trước khi ý tưởng bị dẹp. Chu Ân Lai e ngại rằng điều này sẽ dấy lên tinh thần chống Trung quốc tại Việt nam.

16. Theo Fidel Castro, trong những năm cuối đời, mấy lần đảng đã phải dùng sức mạnh để ngăn H tham gia các đoàn đi B.

17. Để chống nóng, H đã dùng một cái quạt mo, tự tay viết lên đó chữ B (Bác?) để phân biệt với người khác.

>> Phần cuối: Con người trở thành huyền thoại

Tác giả: William J. Duiker
Dịch giả: Nguyễn Thành Nam
TEch24.vn

Advertisements