Hồ Chí Minh – Một cuộc đời: Phần cuối

Nguyên tác: Ho Chi Minh: A Life

Người dịch: Nguyễn Thành Nam

——————————————————

Con người trở thành huyền thoại

Cái chết của HCM tạo nên một tiếng vang rộng lớn trên khắp thế giới. Hà nội nhận được hơn 22000 điện chia buồn từ 121 nước. Các nước XHCN đều tổ chức lễ viếng trọng thể. Tuyên bố chính thức từ Matxcova: “HCM là người con vĩ đại của nhân dân Việt nam anh hùng, nhà lãnh đạo nổi bật của phong trào cộng sản và giải phóng dân tộc, người bạn của nhân dân Xô viết”. Các nước thứ ba ca ngợi Hồ như người bảo vệ cho các dân tộc bị áp bức. Một bài báo Ấn độ viết:

“HCM là tinh hoa của dân tộc, hiện thân của khát vọng cháy bỏng cho tự do và tranh đấu”. Bài xã luận trên một tờ báo Uruguay viết: “Người có trái tim bao la như vũ trụ, tình yêu vô bờ bến với con trẻ, là mẫu mực của sự giản dị trên tất cả các lĩnh vực” (1). Phản ứng chính thống của các chính phủ phương Tây lặng lẽ hơn. Chính phủ Nixon từ chối bình luận. Nhưng các phương tiện thông tin đại chúng bày tỏ quan điểm quyết liệt. Các báo chống chiến tranh miêu tả HCM như một địch thủ đáng kính trọng, người bảo vệ cho kẻ yếu và các dân tộc bị áp bức. Ngay cả những kẻ chống đối chế độ Hà nội cũng bày tỏ sự kính trọng HCM như người suốt đời chiến đấu cho độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

Điều mà các nhà bình luận khắp thế giới quan tâm là ảnh hưởng của cái chết của Cụ tới cuộc chiến tranh Đông dương. Mặc dù những lời đồn đại về HCM như một đặc vụ cộng sản, và một nhà cách mạng tàn bạo, dư luận đều thống nhất HCM là một người thực dụng. Hồ hiểu được sự phức tạp của tình hình thế giới và luôn có những quyết sách phù hợp. Ngay cả Lindon Jhonson, đối thủ chính của Hồ trong suốt thập kỷ 60 đã phải nhiều lúc bực mình quát lên: giá như mà tôi có thể ngồi với “Già Hồ”, chúng tôi chắc chắn sẽ đạt được thoả thuận. Những người kế tục Hồ không có được ảnh hưởng như vậy. Ngoài Hồ, chẳng ai trong ban lãnh đạo Đảng chu du trên thế giới, đặc biệt là Pháp, chưa kể đến các nước phương Tây khác. Một số được đi học nước ngoài thì tầm nhìn cũng bị hạn chế bởi quan điểm chính thống của Matxcova và Bắckinh. Chẳng ai ở phương Tây biết đến Lê Duẩn. Thậm chí, Matxcova và Bắc Kinh cũng không có nhiều hiểu biết về ông này. Lần đầu tiên Hồ khởi thảo bản di chúc vào năm 1965, sau đó chỉnh sửa vào các năm 1968, 1969. Cũng như trong cuộc đời mình, trong bản di chúc, ông cố gắng cân bằng sự cống hiến cho độc lập của dân tộc Việt nam và phong trào cách mạng thế giới. Ông coi trọng cả chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa xã hội nhưng nhấn mạnh đến việc hàn gắn vết thương chiến tranh và nâng cao đời sống nhân dân như nhiệm vụ hậu chiến quan trọng nhất của Đảng. Ông đặc biệt căn dặn việc dân chủ hoá tổ chức và nâng cao tiêu chuẩn đạo đức của đảng viên sau chiến tranh. Cuối cùng ông tha thiết đề nghị sự thống nhất của phong trào cộng sản quốc tế.

Lễ viếng HCM được cử hành tại quảng trường Ba đình với hơn 100,000 người tham dự. Lê Duẩn đọc điếu văn thề đánh bại xâm lược Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Duẩn còn hứa sẽ hiến dâng hết sức mình để xây dựng CNXH ở Việt nam và hàn gắn những rạn nứt trong phong trào cộng sản quốc tế.

Duẩn đã phần nào thực hiện được lời hứa của mình. Dưới sự lãnh đạo của ông, Hà nội kiên trì tăng cường lực lượng tại miền Nam, chuẩn bị cho cuộc tiến công vào năm bầu cử tổng thống Mỹ. Hai bên cũng đã ngồi vào bàn đàm phán tại Paris nhưng chẳng mấy kết quả bởi đều chờ đợi những thắng lợi tại chiến trường để mặc cả. Mặc dù bị những tổn thất nặng nề nhưng Đảng vẫn lạc quan vì phong trào phản chiến đặc biệt lên cao ở Mỹ. Tổng thống Nixon đã buộc phải tuyên bố rút hết quân Mỹ về nước vào cuối nhiệm kỳ của mình. Mùa hè 1972, khi Mỹ chỉ còn khoảng 50000 lính Mỹ ở Việt nam, Hà nội mở chiến dịch Phục sinh. Cũng như Tết 1968, chiến dịch không đạt được kết quả như ý nhưng đã tạo một động lực quan trọng trên bàn đàm phán. Tháng 1/1973, hai bên ký hiệp định Paris, bảo đảm rút hết quân Mỹ về nước. Không lời nào đả động đến các đơn vị chủ lực Bắc Việt đang đóng ở miền Nam. Một cơ quan được thành lập là Hội đồng Hoà giải và Hoà hợp dân tộc nhằm xác định ranh giới chiếm đóng giữa chính quyền Sài gòn và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam. Hội đồng này sau đó sẽ lãnh trách nhiệm tổ chức tổng tuyển cử. Cũng như hiệp định Genevo 2 thập kỷ trước đây, hiệp định Paris không kết thúc được chiến tranh Việt nam. Nó chỉ mở đường cho Mỹ rút quân dễ hơn và đưa miền Nam trở lại tình hình đầu những năm 1960. Và cả hai bên chẳng ai có ý định tôn trọng hiệp định. Năm 1975, Hà nội mở cuộc tổng tiến công. Chính quyền Mỹ, (đã yếu đi nhiều sau vụ scandan của Nixon dẫn đến ông này từ chức và đưa Ford lên cầm quyền) quyết định không can thiệp và sơ tán các nhân viên của mình khỏi Việt nam. Ngày 30-4, cuộc vật lộn đẫm máu làm hơn 1 triệu người Việt nam thiệt mạng đã trở thành “Cuộc chiến giờ đã chấm dứt” (lời tổng thống Ford). Khome đỏ cũng đã tiến vào Phompenh trước đó 2 tuần. Chính quyền cách mạng cũng được thành lập ở Lào trong cùng năm. Tháng 7/1976, hai miền Việt nam thống nhất trở thành nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam.

Nhưng trong các lĩnh vực khác, Duẩn đã không thành công lắm trong việc thực thi lời hứa của mình. Từ những năm 1968, chuyên gia Xô viết đã đến để bàn về việc ướp xác Hồ. Tuy nhiên kế hoạch này được giữ kín vì chắc chắn HCM mong muốn mình được hoả thiêu. Khi Hồ mất, trung ương cũng tỏ ra khá lúng túng. Sau khi tư vấn với Liên xô, một chuyên gia được cấp tốc cử sang vào giữa tháng 9 để tiến hành bảo tồn cơ thể Hồ. Ngày 29/11, Bộ chính trị quyết định xây Lăng. Theo kế hoạch do Bộ xây dựng và Quốc phòng đề xuất, lăng phải hiện đại và có tính dân tộc, nghiêm túc nhưng giản dị như phong cách của HCM. Dự án được phê duyệt tháng 12/1971 và khởi công ngay sau khi hiệp định Paris được ký kết. Ngày 29/8/1975, Lăng HCM được khánh thành tại địa điểm linh thiêng nhất của cách mạng Việt nam: quảng trường Ba đình. Theo ý tưởng, nó thể hiện bông sen vươn lên từ bùn đen, một đối âm của chùa Một cột gần đó. Tuy nhiên theo nhiều nhà quan sát, toà nhà này quá nặng nề và buồn tẻ, hoàn toàn đối lập với tính cách không phô trương và sự hài hước tinh quái của chủ nhân của nó. Nhà sử học Huế Hồ Tài Tâm cho rằng, người ta muốn xây dựng HCM như một lãnh tụ của phong trào cộng sản quốc tế chứ không phải là Bác Hồ được hàng triệu người Việt nam yêu quý. Tuy nhiên hàng tuần cũng có đến hơn 15000 người viếng lăng. Ban lãnh đạo Đảng rõ ràng đã cố tình lờ đi mong muốn của HCM được tổ chức tang lễ một cách bình dị và hoả thiêu. Sinh thời Hồ luôn ghét sự xa hoa và đã từng phủ quyết một kế hoạch xây dựng bảo tàng của mình tại Kim liên năm 1959. Để tránh sự dị nghị của dư luận, ban lãnh đạo Đảng đã xoá đi đoạn này trong di chúc của Hồ. Họ còn tiện thể xoá luôn ý nguyện của Hồ miễn thuế nông nghiệp 1 năm và dự báo của ông rằng cuộc chiến tranh sẽ kéo dài thêm vài năm nữa. Sau đại hội IV vào tháng 12/1976, lãnh đạo Đảng tuyên bố sẽ xây dựng căn bản chủ nghĩa xã hội trên toàn quốc vào cuối thập kỷ. Để thể hiện quyết tâm, Đảng đổi tên từ Đảng lao động Việt nam thành Đảng cộng sản Việt nam. Hình ảnh Hồ Chí Minh được triệt để lợi dụng để kêu gọi sự hỗ trợ của dân chúng. Ẳnh Hồ treo khắp nơi. Sách, báo về HCM xuất bản liên tục. Thanh niên được tổ chức học tập cách sống Hồ Chí Minh. Các học trò như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đua nhau viết hồi ký về Hồ, nhấn mạnh “tư tưởng Hồ Chí Minh” như một công cụ chính để xây dựng đất nước. Một bảo tàng đồ sộ về HCM được khánh thành vào năm 1990 cạnh quảng trường Ba đình. Các nhà thiết kế phủ một lớp đá trắng với ý đồ biến bảo tàng thành một đoá hoa sen, tuy nhiên toà nhà trông vẫn giống một cái mũi tàu hơn (2).

Mặc dù HCM được trình diễn như hiện thân của nước Việt nam mới, các nhà quan sát đã thấy rõ sự khác nhau trời vực giữa phong cách lãnh đạo của Lê Duẩn và người tiền nhiệm lẫy lừng của mình. HCM luôn nhấn mạnh sự kiên trì và phát triển từng bước của cách mạng Việt nam và tranh thủ sự thống nhất ủng hộ trong toàn xã hội, Duẩn thì ưa dùng những chiến thuật quá tham vọng dẫn đến sự chia rẽ trong nội bộ lãnh đạo Đảng, gạt một bộ phận không nhỏ dân chúng ra ngoài cuộc. HCM luôn tìm cách điều chỉnh những chiến lược của mình cho phù hợp thực tế quốc tế. Duẩn thì hùng hổ trong lĩnh vực đối ngoại, không những biến các láng giềng Đông Nam Á thành thù địch mà còn chọc tức đồng minh quan trọng nhất của mình là Trung quốc. Những người chống đối bị đưa ra khỏi Ban lãnh đạo như Võ Nguyên Giáp (3) hoặc phải chuồn ra nước ngoài như Hoàng Văn Hoan.

Kết quả thật là bi thảm. Cuộc cải tạo công thương nghiệp tháng 3/1978 làm hàng vạn người vượt biên. Chương trình hợp tác hoá gây nên sự thù địch của đa số nông dân miền Nam. Đến cuối những năm 70, nền kinh tế bị xáo động bởi việc “xây dựng nền móng của CNXH trước cuối thập kỷ” đã trở thành thảm hoạ. Tình hình đối ngoại cũng chẳng khá khẩm gì hơn. Sau khi không thuần phục được chế độ cuồng tín và diệt chủng Pol Pot, tháng 12/1978 Việt nam tấn công Cambodia và dựng nên chính phủ bù nhìn ở Phnompenh. Để trả thù, Trung quốc đưa quân qua biên giới phía Bắc. Một cuộc chiến ngắn ngủi nhưng đã ngốn nốt những nguồn lực quý báu còn sót lại của đất nước. Giữa những năm 80, dân chúng công khai bày tỏ sự tức giận đối với Ban lãnh đạo đã cố tình không theo đuổi những lời khuyên của HCM là bảo đảm cho nhân dân được hưởng những thành quả của thắng lợi. Sau khi Duẩn chết năm 1986, Đảng thừa nhận sai lầm (được gọi là chủ nghĩa “thắng lợi”) và quyết tâm cải tổ. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, một người kháng chiến miền Nam cũ, chấp nhận kinh tế thị trường XHCN, mở cửa cho đầu tư nước ngoài, khuyến khích những tư tưởng tự do trong dân chúng. Chính sách này được gọi là “đổi mới” và tỏ ra rất giống chiến lược perestroika của Gorbachev. Tuy nhiên Hà nội cho rằng chính sách của họ được đẻ ra bởi đòi hỏi bức bách của tình hình Việt nam.

Cuối thập kỷ 80, những thế lực bảo thủ trong Đảng giành lại thế chủ động. Họ cho rằng, những tư tưởng ngoại lai tuy có tác dụng kích thích kinh tế tăng trưởng nhưng lại đẻ ra những tệ nạn xã hội như nghiện hút, SIDA, mại dâm và chủ nghĩa hưởng thụ. Người thay thế Nguyễn Văn Linh, cán bộ đảng chuyên nghiệp Đỗ Mười thắng tay trừng trị những phần tử chống đối dưới khẩu hiệu “cải tổ kinh tế, ổn định chính trị”. Mặc dù tự do hoá kinh tế mới có những thành công khiêm tốn, Đảng tái xác nhận quyền lãnh đạo xã hội duy nhất của mình trong hiến pháp 1991 (4).

Những nhà cải cách nhanh chóng sử dụng di sản của HCM để hậu thuẫn cho đường lối của mình. Họ cho rằng với cách suy nghĩ thực dụng, Cụ sẽ ủng hộ việc nâng cao mức sống nhân dân trước khi xây dựng CNXH. Như một nhà nhân văn, dám chấp nhận nhiều tư tưởng trái ngược, chắc chắn Cụ cũng không để xảy ra sự phân rã trong hàng ngũ lãnh đạo và có nhiều biện pháp để huy động tối đa sự ủng hộ của dân chúng. Cuối những năm 80, những người cải cách được cổ vũ bởi Vũ Kỳ, thư ký riêng cuối cùng của HCM. Ông này tố cáo Lê Duẩn và các đồng chí đã xoá đi một số đoạn trong di chúc của Cụ, đặc biệt là về thuế nông nghiệp và đám tang đơn giản. Bộ chính trị buộc phải nhận lỗi, nhưng chống chế là họ hành động như vậy duy nhất chỉ vì mục đích làm lợi cho đất nước và nhân dân Việt nam như mục tiêu của cuộc đời Cụ.

*  *  *

Không chỉ ở Việt nam, tính cách và di sản thực sự của Hồ cũng được nhìn nhận hết sức mập mờ ở nước ngoài. Vị thánh giải phóng các dân tộc khỏi ách áp bức của phương Tây? Thủ phạm gieo rắc chủ nghĩa cộng sản? Hay tệ hơn, một kẻ cơ hội lợi dụng giả vờ giản dị để tìm kiếm những hào quang cá nhân? Tại hội nghị của UNESCO nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của HCM, những lời ca tụng cũng phần nào bị lu mờ bởi làn sóng những chỉ trích chống lại việc tôn sùng một con người, suy cho cùng phải chịu trách nhiệm về cái chết của rất nhiều đồng bào mình.

Đối với nhiều nhà quan sát, cái nút của vấn đề là ở chỗ xác định HCM là ai, một chiến binh cộng sản hay một nhà dân tộc chủ nghĩa. Những người ngoại quốc đã từng tiếp xúc với H đều khẳng định H giống một người yêu nước hơn một nhà cách mạng Maxist. Bản thân H cũng đã nhiều lần khẳng định chính khát vọng giải phóng dân tộc đã dẫn ông đến với chủ nghĩa Max chứ không phải ngược lại. Hãy đọc trả lời của H cho sĩ quan tình báo Mỹ Charles Fenn:

Đầu tiên, hãy hiểu rằng, để đánh thắng một kẻ thù hùng mạnh như Pháp là một nhiệm vụ bất khả thi nếu không có sự giúp đỡ từ bên ngoài. Sự trợ giúp đó không chỉ bằng vũ khí, mà có thể là các quan hệ, lời khuyên. Người ta không thể giành độc lập bằng cách đánh bom hoặc các hành động tương tự. Các nhà cách mạng tiền bối thường phạm sai lầm này. Cần phải có tổ chức, tuyên truyền, đào tạo và kỷ luật. Cũng cần phải có những niềm tin, cẩm nang, phân tích, thậm chí có thể nói tương tự như Kinh Thánh. Chủ nghĩa Max-Lenin đã cho tôi những khuôn khổ đấy.

Khi được hỏi, tại sao ông lại không chọn dân chủ hoặc một hình thức chính trị nào đấy mà lại chọn một hệ tư tưởng rõ ràng gây phản cảm cho Mỹ, đất nước mà ông hết sức ngưỡng mộ, H đã trả lời: ông nhận được sự giúp đỡ thực tế chỉ khi đến Matxcova và Liên xô đã là “người bạn thực sự trong lúc khó khăn”. Chung thuỷ đổi lấy sự thủy chung.

Rõ ràng là sự tồn vong của VN luôn là mối quan tâm đầu tiên và cao nhất của HCM. Quan điểm này đã từng làm cho không ít các đồng chí của ông tại Hànội, Bắc kinh và Matxcova nghi ngờ liệu ông có phải là nhà Marxist chân chính? Nhưng cũng chắc chắn là trong ông có một trái tim của nhà cách mạng thế giới. Khuynh hướng này nhiều khả năng xuất phát từ những kinh nghiệm của ông trong những năm lênh đênh trên biển, tận mắt chứng kiến sự cùng cực mà các dân tộc thuộc địa phải gánh chịu. Thời gian sống ở Pari càng làm cho Hồ thất vọng về thói đạo đức giả của chủ nghĩa thực dân Pháp, từ chối áp dụng những lý tưởng sống cao đẹp cho các nước thuộc địa. Hai năm nằm trong giai đoạn cao trào của cách mạng Nga đã tiếp cho Hồ niềm tin lãng mạn vào tương lai của chủ nghĩa cộng sản, khi mà theo Lê nin, chủ nghĩa yêu nước sẽ được thay thế bằng quan điểm thế giới cộng đồng. Những cuộc tàn sát đẫm máu diễn ra sau đó ở Matxcova cũng như sự thờ ơ của phong trào cách mạng vô sản với các vấn đề thuộc địa đã phần nào ảnh hưởng nhiều đến thái độ của Hồ. Tuy vậy, đến cuối đời, Hồ vẫn trung thành với một chế độ xã hội mà ông cho là tốt đẹp hơn chế độ tư bản đã mang lại những đau khổ không kể xiết cho các dân tộc bị áp bức ở Á, Phi và Mỹ la tinh.

Suy cho cùng, trong HCM có cả hai: nhà dân tộc chủ nghĩa và một chiến binh cộng sản. Vấn đề ở đây chỉ là vấn đề chiến thuật trong từng thời điểm. Cụ là tín đồ của của nghệ thuật “quyền biến”, luôn biết cách điều chỉnh những lý tưởng của mình theo những điều kiện của thời đại. Ngay cả ở đối với các đồng chí trong đảng, hành động của Cụ có vẻ như rất “vô nguyên tắc”. Nhưng HCM chia sẻ quan điểm của nhà khoa học xã hội Anh Walter Bagehot: “the best was sometimes the enemy of the good”, Cụ tin rằng có thể đạt được mục tiêu tốt nhất thông qua hàng loạt những bước vô cùng nhỏ. Trên thực tế năm 1945 và 1954, HCM đã thoả hiệp trên mặt trận ngoại giao thay vì tiếp tục cuộc chiến trong những điều kiện bất lợi. Trong nước, Cụ luôn nhấn mạnh rằng việc tiến lên mô hình CNXH phải được thực hiện hết sức từ tốn để chiếm được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng.

Cũng như tổng thống Mỹ LBJ, HCM tự coi mình là Nhà Tuyên Truyền, kiểu mẫu lãnh đạo luôn tin mình có thể đạt được mục tiêu không phải bằng sức mạnh mà bằng lẽ phải. Trong chừng mực nào đó, có thể nói ông đã thành công. Trong nhiều trường hợp, bằng việc thoả hiệp Cụ đã giải giáp kẻ thù, biến yếu điểm về quân sự thành lợi thế chính trị. Thêm vào đó, hình ảnh của Cụ: giản dị, hào hiệp, quên mình đã mang lại sự ủng hộ to lớn cho cuộc đấu tranh dành độc lập dân tộc của Việt nam. Khó có thể tưởng tượng cao trào phản chiến toàn cầu chống chiến tranh ở Việt nam những năm 60 lại có thể xảy ra nếu cuộc chiến đó được gắn với Lê Duẩn hoặc Trường Chinh chứ không phải Hồ Chí Minh.

Liệu hình ảnh của HCM là chân thật? Đây là một câu hỏi rất khó trả lời. Có vẻ như không nghi ngờ gì là Cụ cảm giác hết sức không thoải mái trong một môi trường sang trọng và thích sống một lối sống không phô trương. Tuy nhiên một số người quen “không mù quáng” cũng nhận thấy những yếu tố kỹ xảo trong hình ảnh một nhà nho khổ hạnh trở thành nhà cách mạng Marxist. Năm 1946, khi sang Pháp, cùng với HCM, ông Vũ Đình Huỳnh thư ký của cụ có kể lại lời tâm sự của Cụ: “nhiều khi vài giọt nước mắt cũng góp phần giải quyết được vấn đề”. Một nhà ngoại giao Balan trong ủy ban đình chiến cũng đã quan sát thấy tuy cực lực phản đối nhưng thực ra Cụ cũng “khoái” sự tán tụng mà dân chúng dành cho. Cái “Tôi” cũng góp phần đáng kể khi HCM cho ra đời hai cuốn tiểu sử tự viết những năm 1940 và 1950. Hình ảnh HCM như một vị thánh không chỉ là kết quả của sự xưng tụng của người khác mà còn được nuôi dưỡng cẩn thận bằng chính HCM.

T ất nhiên là Cụ có những lý do chính trị chính đáng để làm việc đó. Năm 1947, khi một phóng viên Mỹ hỏi tại sao Cụ lại được tâng bốc nhiều thế, HCM đã trả lời, có thể phần nào nhân dân tìm thấy trong Cụ một biểu tượng thể hiện khát vọng của chính họ. Khi còn trẻ, HCM đã nhận thấy thanh niên Việt nam luôn sùng kính những tư tưởng nhân đạo bất tử của Khổng tử được thể hiện và truyền đạt bởi các ông giáo làng quê mùa. Trong điều kiện đất nước bị nô lệ, văn hoá và bản thân sự tồn vong của dân tộc bị đe doạ, dễ hiểu tại sao HCM đã chọn cá tính đó như biểu tượng của sự cứu nước và phục hưng.

Đươ ng nhiên là Cụ cũng phải trả giá cho hình ảnh của sự hy sinh và thực dụng của mình. Khác với phương pháp lãnh đạo bằng thống trị cá nhân của Lenin, Mao, Stalin, HCM là người hoà giải luôn tin tưởng vào việc thuyết phục chứ không phải đàn áp để lãnh đạo đảng CSVN từ những ngày trứng nước. Trong những năm 30,40, nhờ uy tín và kinh nghiệm ở QTCS, Cụ rất thành công. Nhưng từ những năm 50 trở đi, một số nhà lãnh đạo khác bắt đầu đòi quyền được hoạch định chiến lược và tỏ ra nghi ngờ những lời khuyên của Cụ. Giữa những năm 60, trong những năm cuối đời, HCM hầu như bị biến thành một kẻ bất lực. Các tư tưởng của Cụ được các đồng chí – học trò “chào đón” nhưng sau đó bị cho ra rìa vì “không phù hợp”.

Có ph ải là HCM thực sự ngây thơ khi tin vào học thuyết của Tôn Tử: chiến thắng vĩ đại nhất là chiến thắng không cần bạo lực. Nếu nhìn lại, có lẽ Cụ cũng đã quá cả tin khi tin rằng có thể thuyết phục người Pháp rời bỏ Đông Dương sau WWII. Vài năm sau HCM cũng đã tính lầm khi cho rằng nếu có thể tìm được một lối thoát danh dự, Mỹ có thể chấp nhận một chính phủ do cộng sản chiếm ưu thế ở Việt nam. Nhưng mọi bằng chứng đều cho thấy HCM luôn tỏ ra sáng suốt trong việc đánh giá tương quan lực lượng trên trường thế giới và luôn mềm dẻo để tìm được quyết sách phù hợp với những khả năng thay đổi. Mặc dù tìm mọi cách để tránh bạo lực, khi cần thiết Cụ sẵn sàng “rút kiếm”. Đáng tiếc là các học trò của Cụ đa phần là không có được sự mềm dẻo như vậy.

Rất nhiều nhà phê bình đã cho rằng chính Truman đã châm lửa cho cuộc chiến Việt nam khi không trả lời những “ve vãn” từ HCM sau khi thế chiến II kết thúc. Là người thực dụng, HCM thừa hiểu là đất nước ông dễ nhận được sự giúp đỡ thiết thực từ Washington hơn từ Moscow. Ông cũng thường công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình với nền dân chủ Mỹ và đã gắn những tư tưởng đó vào bản Tuyên ngôn độc lập của Việt nam. Mặc dù những quan điểm này mới nghe có vẻ hấp dẫn, nhưng phần nào nó nói lên người Mỹ cũng có những “huyền thoại” về HCM. Bằng chứng cho thấy, những động thái ngoại giao có tính mời chào của HCM với Mỹ là kết quả của một sự tính toán hơn là sự nhận thức về tư tưởng. Trên thực tế Hồ thường xuyên rộng rãi những lời tán dương cho đồng minh và cả những kẻ thù tiềm năng của mình để tìm kiếm những lợi ích chiến thuật. Mặc dù luôn để ngỏ khả năng thuyết phục những nhà lãnh đạo Mỹ bỏ cuộc ở Đông Dương, Cụ cũng không nghi ngờ về việc Mỹ, kẻ đại diện cho chủ nghĩa tư bản bóc lột, trước sau cũng sẽ xung đột với phe XHCN (5).

Cũng chưa chắc là Hồ đã hoàn toàn rảnh tay trong việc xây dựng chiến lược. Nhiều đồng chí của ông (như Trường Chinh và Lê Duẩn chẳng hạn) không hoàn toàn chia sẻ cách tiếp cận hoà giải của Hồ, thậm chí họ còn cho đó là thái độ thoả hiệp vô nguyên tắc với kẻ thù giai cấp. Và có thể Cụ cũng phải tính đến các vấn đề nội bộ đó. Cũng khó tin là một cử chỉ thân thiện của Nhà Trắng cũng đủ đưa HCM và các đồng chí của mình vào con đường tư bản. Như sau này Hà nội tìm cách lợi dụng mâu thuẫn giữa Moscow và Bắckinh, nhiều khả năng là Washington cũng chỉ trở thành công cụ để họ đạt được mục tiêu của mình. Nhà Trắng chắc cũng chẳng ngồi yên nhìn Hà nội xây dựng phong trào cách mạng tại Lào và Campuchia.

Tuy nhiên, từ chối bàn tay thân thiện của HCM, Paris và Washington đã để lại những hậu quả bi thương cho dân tộc Việt nam. Cho dù HCM theo tư tưởng gì đi chăng nữa, bây giờ nhìn lại cũng phải công nhận rằng HCM và các đồng chí Việt minh của mình là những người xứng đáng nhất được lãnh đạo đất nước. Chính sự ủng hộ sâu sắc của nhân dân cho chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà qua nhiều thế hệ đã giúp họ đứng vững trong hai cuộc chiến với Pháp và Mỹ.

Ngày nay sự tôn sùng HCM vẫn còn khá sâu sắc ở Việt nam, đặc biệt là phía Bắc. Phía Nam, tình hình không được khả quan lắm do nhân dân vốn quen nhìn chính phủ trung ương đầy nghi ngờ. Tuy nhiên, những ảo tưởng của Cụ về một Đảng cách mạng trong sáng và vì dân đang bị tan vỡ. Chẳng có gì ngăn chặn được nạn tham nhũng trong các quan chức đang đe doạ tạo nên một làn sóng giận dữ trong dân chúng có thể dìm cách mạng xuống bùn. Lớp trẻ cũng đang dần lãng quên, họ vẫn kính trọng HCM nhưng không còn coi hình ảnh Cụ là quan trọng trong đời sống của họ. Ẳnh hưởng của HCM đối với thanh niên Việt nam trong thế kỷ 21 cũng sẽ không khác nhiều Abraham Lincon đối với một người Mỹ bình thường.

Kể cả trong những người ủng hộ sự sùng kính với HCM, nhiều người cho rằng nó như một thứ thuốc phiện cho nhân dân. Một trí thức Việt nam nói với tôi: “Tất cả các dân tộc trong chiến tranh đều cần những huyền thoại về những người sáng lập”. Nhiều người muốn thay thế hình ảnh HCM trong sáng như một vị thánh bằng một hình ảnh khác gần gũi với con người hơn. Những năm gần đây, có nhiều tin đồn về những cuộc phiêu lưu tình ái cũng như những đứa con ngoài giá thú của cụ. Tháng 4/2000, Nông Đức Mạnh, một quan chức vô danh, được đồn là con của HCM, đã được bầu làm tổng bí thư Đảng CSVN (6).

Trên bình diện thế giới, hình ảnh HCM như một nhân vật tinh tuý của thế kỷ 20, cũng không còn gây được nhiều xúc động như vài thế hệ trước (mặc dù, một cửa hàng ở quận Cam – Cali đã bị Việt kiều đập phá vì đã treo ảnh HCM trước cửa). Vài chục năm trước, khi cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc nổ ra khắp nơi, và nền văn minh Hoa kỳ có vẻ như đang xuống dốc, HCM tượng trưng cho tiếng nói của tương lai. Ngày nay, khi chủ nghĩa cộng sản mang đầy tai tiếng còn chủ nghĩa tư bản đang lên, hỗn hổng của lòng yêu nước và CNXH của Hồ, cũng như cách mạng văn hoá của Mao hay những tư tưởng thần thánh của Ghandi trở nên kỳ quặc. Nhiều người cho rằng Hồ chỉ là một nhà chiến thuật lắm mưu mẹo, các bài viết thì tầm thường và thiếu tính tư tưởng, tầm nhìn thì chẳng khác gì giấc mơ của Max thấy giai cấp công nhân giận dữ đập cửa các ông chủ tư bản bóc lột. Những cách nhìn phiến diện như vậy đã không thấy được tầm quan trọng của HCM với thời đại của chúng ta. Có thể tầm nhìn của ông về một xã hội cộng sản đại đồng là khiếm khuyết (hay ít nhất là như vậy với cách nhìn tại thời điểm này), không thể phủ nhận sự nghiệp mà ông lãnh đạo và cổ vũ là quyết định của thế kỷ 20, là đỉnh cao của phong trào giải phóng dân tộc và là dấu hiệu rõ ràng đầu tiên minh chứng sự giới hạn quyền lực của thế giới tự do do Mỹ lãnh đạo nhằm chặn đứng chủ nghĩa cộng sản. Thế giới sau Việt nam đã không bao giờ như xưa nữa.

Khó mà hình dung cách mạng Việt nam mà không có HCM. Tuy các nhà sử học thường lý luận rằng thời thế sẽ tạo nên anh hùng, rõ ràng trong nhiều trường hợp như cách mạng Nga, cuộc nội chiến Trung hoa, vai trò của cá nhân là vô cùng to lớn. Việt nam cũng là trường hợp như vậy. HCM là người khởi xướng, sáng lập và là biểu tượng đầy cảm hứng của cách mạng Việt nam. Như một nhà tổ chức tài năng, một nhà chiến lược sắc sảo, một nhà lãnh đạo lôi cuốn, HCM là hình ảnh của Lenin và Gandhi được gạch nối bằng Khổng tử. Mặc dù cuộc chiến tranh Việt nam vượt quá số phận của bất cứ một cá nhân nào, không có HCM, nó sẽ là một cuộc chiến hoàn toàn khác với những hậu quả hoàn toàn khác.

Nhiều nhà quan sát lấy làm tiếc là một tài năng như HCM mà lại chọn nhầm ý thức hệ, và liệu có một sự thay đổi nào của điều kiện lịch sử có thể làm cho cậu Nguyễn Tất Thành cải đạo theo những tư tưởng của văn minh phương Tây hiện đại? Vào thời đó, phương Tây tượng trưng cho sự bóc lột các thuộc địa, và cũng như nhiều nhà lãnh đạo châu Á khác, các cảnh tượng man rợ của chủ nghĩa thực dân đã in dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn mẫn cảm của Nguyễn Tất Thành. Tuy nhiên, rất nhiều những niềm tin của HCM xem ra gần gũi với lý tưởng phương Tây hơn là với Max và Lenin. Mặc dù thường nhận là nhà Marxist chính thống, Hồ không quan tâm nhiều đến những học thuyết giáo điều và thường xuyên làm dịu đi những khía cạnh cứng nhắc của chủ nghĩa cộng sản khi áp dụng ở Việt nam. Tại sao HCM, một con người cả cuộc đời ngưỡng mộ những giá trị nhân văn của Nho giáo và các tín ngưỡng phương Tây, lại tiếp tục truyền bá cho chủ nghĩa MaxLenin, kể cả khi đã thấy rõ những thất bại của nó trong việc bảo vệ những giá trị ấy? Một số nhà phê bình cho rằng, bộ mặt nhân văn của Hồ là chỉ để đánh lừa những kẻ cả tin. Tuy nhiên câu trả lời thuyết phục hơn là có vẻ như HCM tin rằng ông có thể tránh được những cạm bẫy của chủ nghĩa Stalin và sẽ thành công trong việc kết hợp những tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa Max cổ điển với những giá trị nhân văn trong một nước Việt nam tương lai. Đến khi sự việc vỡ lở rằng Việt nam cũng sẽ lặp lại đúng những sai lầm như người anh Xoviet của mình, HCM mất phương hướng và không đủ nghị lực chính trị để công khai chống lại.

Dù sao, như từ của nhà triết học Mỹ Sidney Hook’s, HCM xứng đàng là “con người làm nên lịch sử”, “con đẻ của khủng hoảng”, người kết hợp trong mình hai động lực chính của nước Việt nam hiện đại: ước mơ độc lập dân tộc và khát vọng tìm kiếm bình đẳng kinh tế – xã hội. Những động lực đó vượt qua biên giới Việt nam, mang hình ảnh HCM đến thôi thúc các dân tộc bị áp bức đứng lên đòi lại phẩm giá và tự do. HCM đã trở thành huyền thoại trong đền thờ các vị anh hùng cách mạng suốt đời đấu tranh để mang tiếng nói của những người cùng khổ đến với thế giới!

——————————–

1. Báo Nhân dân (Montevideo) 4/9/1969.

2. Trong chuyến thăm Việt nam ngay trước khi khánh thành tác giả may mắn được làm quen với một nhóm thợ người Tiệp đang thực hiện một số những công trình bên trong. Nhóm này nói, họ được chỉ đạo thể hiện sự xấu xa của chủ nghĩa tư bản ở thế kỷ 20, nhưng họ đã lén lút tìm cách đưa vào tác phẩm của mình những tiến bộ của thời đại.

3. Tại đại hội Đảng năm 1982, Võ Nguyên Giáp bị đưa ra khỏi Bộ chính trị, chuyển sang làm trưởng ban công nghệ.

4. Sự “mặc cả của quỷ sứ” này được thể hiện trong Hiến pháp phê duyệt năm 1991.

5. Tôi thấy nhiều nhà nghiên cứu Việt nam cũng mắc phải sai lầm này. Họ hỏi tôi, tại sao Truman và Rusovelt không trả lời thư của HCM đề nghị công nhận DRV. Tôi đã nói với họ là Stalin cũng chẳng trả lời những bức thư đó. Rất nhiều những bài báo của Hồ đả kích xã hội Mỹ cũng chẳng bao giờ được dịch sang tiếng Anh.

6. Mạnh luôn phủ nhận tin đồn này mặc dù thừa nhận mẹ mình đã có một thời gian phục vụ Hồ đầu những năm 40. Ngẫu nhiên, phong cách lãnh đạo của Mạnh cũng có phần giống Hồ: hoà giải, luôn thuyết phục các đồng chí của mình thoả hiệp. Xem thêm Olivier Todd : “Huyền thoại về HCM: đỉnh cao về thông tin sai lệch”, Vietnam Commentary (5-6/1990) pp 13-14.

Quay về: Phần giới thiệu

Tác giả: William J. Duiker
Dịch giả: Nguyễn Thành Nam
TEch24.vn

Advertisements