Archive | Tháng Hai 2012

Búp sen xanh – Chương III: Phần 3

TUỔI HAI MƯƠI

3.1

Ba người ra khỏi ngõ hẻm, Út Huệ nói với cha :

– Xem chợ Tết, đừng để anh Ba đi bộ, cha ạ.

– Ừ. Tao cũng đã nghĩ cái việc đó. Con gọi xe tay đến, mau đi!

Anh Ba vẻ băn khoăn :

– Đừng gọi xe nữa, cô Út ạ. Ta đi bộ lên phố, đâu có xa là bao.

– Hừ, – ông già Huệ giục con gái – cứ gọi xe, Út! Lội bộ lên tới phố Sặc-nè, phố Mặc-má-hồng bở hơi tai rồi còn sức đâu mà đi coi kiểng Tết?

– Mình là dân thợ mà ngồi xe cho người khác kéo, coi bộ kỳ quá, chú Út ạ!

– Dêề – ông già phát bàn tay lên vai anh Ba. – Gì mà câu nệ vậy Ba? Cả tháng, cả năm chúng mình đã làm tôi tớ. Lúc năm cùng, tháng tận này chúng mình lên ngôi ông chủ, bà chủ ngồi xe, dạo ta phố mới vui chớ! – ông già hạ giọng : – Có kẻ còn dám chơi “nhứt dạ đế vương” cơ mà.

Anh Ba đành cười trừ. Ba người cùng bước lên xe ngồi : ông già và anh Ba ngồi trong thùng xe, cô Út Huệ ngồi dưới sà, nơi để chân của hai người ngồi trên. Lần đầu tiên ngồi trên xe kéo, anh Ba cảm thấy ngượng ngập. Ông già dặn :

– Lên tới chợ Bến Thành, Út đi sắm đồ rồi về trước. Còn cha với anh Ba mầy đi dạo xem bông (hoa), xem cây kiểng ở Sặc-nè (89), Mặc-má-hồng (90) đó nghe.

Út Huệ trước lúc nhập vào dòng người bên chợ Bến Thành còn dặn với cha:

– Đưa anh Ba đi coi bông Tết, ba nhớ về sớm kẻo ảnh mệt và con đợi cơm đó, nghe ba…

Anh rất đỗi ngạc nhiên giữa ngày giáp Tết mà nóng nực, mồ hôi như mỡ rán. Mắt anh ngợp trước những “núi” trái cây dọc chợ Bến Thành. Anh không ngờ về mùa đông, ngày Tết mà lại có nhiều dưa hấu như mùa hạ ngoài Bắc. Anh Ba tấm tắc :

– Chà… chà… trái cây cứ như củi lụt ấy. Vào đây cháu mới thấy được sự giàu có cửa đất Lục tỉnh, chú Út ạ.

– Sản vật của Lục tỉnh đưa về đây mới chỉ một phần thôi. Có dịp chú đưa cháu đi thăm miền châu thổ của Cửu Long Giang, cháu sẽ sướng cái mắt, mát cái bụng về một vùng đất đai giàu có của Tổ quốc mình. Tiếc là… tiếc là – ông già giọng bồi hồi – ở trên đời nầy hổng có được sự công bằng, nên chi giữa nơi của cải như núi vẫn có nhiều người phải chạy ăn từng bữa, cháu ạ.

– Dạ, – anh Ba giọng hồi tưởng – cha cháu thường nói cái điều chú vừa nói với các ông quan to mà cháu nghe lỏm hồi nhỏ : “Công bằng viễn lộ hà xứ thị”.

– Quan Phó bảng thân sanh của cháu nói vậy là cháu còn tin ở trên đời còn có công bằng, nhưng đến đó đường quá xa không biết nơi nào mà tìm.

– Cháu cũng nghĩ thế. Dù có xa mấy, chúng ta cũng phải tìm, phải xây dựng nên một xã hội công bằng, chú Út ạ.

– Hì hì… – ông già cười và phát lên vai anh Ba âu yếm. – Những đầu óc nhiều chữ thường tưởng tượng ra các thứ thiên đàng mê hoặc lòng người, cháu ạ. Chú cứ gẫm cái điều càn cạn đã thấy là : Nước lớn nuốt nước bé. Kẻ mạnh ức hiếp người yếu. Giống như bầy cá dưới sông dưới biển, như bầy thú trên rừng trên núi ấy…

Anh Ba định trao đổi thêm với ông già Đờn, nhưng không khí đường phố ngày Tết đã choán lấy anh. Những chậu cảnh với hàng trăm loại cây có dáng điệu dị kỳ và các thứ hoa Tết hút tầm mắt anh không rời nổi chúng…

Ông già Đờn chưa rõ anh Ba thích chơi hoa gì trong dịp Tết. Ông ướm hỏi :

– Cháu có ưa cắm cành mai ở bàn thờ Tết không?

– Tết năm nào nhà cháu cũng có một cành đào phớt cắm lọ để trên bàn thờ và một cành mai để ở án thư, nơi cha cháu khai bút đầu năm, chú ạ.

– Trong nầy hổng có cành đào. Chú cháu mình rước một cành mai về cho vui nhà ngày Tết, nghe cháu.

– Cháu cũng đang cố tìm một cành mai mà đâu thấy, chú?

– Trời… đất… ơi ! – ông già kéo dài giọng nói, chỉ tay về phía hàng hoa ngay trước mặt anh Ba. – Bông mai đây nè, kia kìa, vàng ngợp mắt mà cháu biểu hổng có.

– Cháu muốn tìm thứ mai khác, loại hoa mai vàng này cháu đâu còn lạ, thưa chú?

– Chứ từ nãy giờ cháu nói về loại bông mai nào?

– Dạ.. mai trắng. Ngoài quê cháu, hoa mai trắng chứ thứ mai vàng này thì ở Huế rất nhiều, chú ạ.

– Hóa ra chú cháu mình có lúc trò chuyện với nhau mà cứ như Tây nói với Tàu ấy hề. Hì… hì…

Cả hai người cùng cười. Ông già Đờn mua một cành mai chi chít những nụ chúm chím sắc vàng. Anh Ba đón cành mai từ trên tay ông già và nâng niu đưa về xóm thợ lúc thời gian chao đưa gấp gáp của ngày cuối năm…

Ba ngày Tết, những nỗi buồn về cuộc sống xóm thợ cứ đọng mãi trong tâm trí anh Ba : quanh năm họ ăn đói mặc rách, làm đầu tắt mặt tối dành dụm được đồng tiền, bát gạo thì dồn cả vào mâm cỗ ngày Tết. Làm mâm cỗ cốt để thi thố, còn ăn thì ít mà thiu thối đổ đi không thương tiếc. Thậm chí họ đi vay nợ, nhận khoán việc lĩnh tiền trước để có nhiều tiền chuốc rượu uống như uống nước. Và suốt ngày đêm họ đắm đuối vào canh bạc đỏ đen.

Sáu Đen, Chín Mập chỉ ăn cỗ tối ba mươi ở nhà ông già Đờn, còn suốt mấy ngày Tết, cả hai người vùi đầu trong sòng bạc. Anh Tư Lê thì ăn ít miếng, cùng anh Ba giúp Út Huệ dọn dẹp rồi ra cảng làm bốn tiếng, tiền công được gấp ba lần ngày thường, món tiền anh Tư Lê sẽ gửi thêm về Huế giúp mẹ chống đói giêng hai. Ông già Đờn ghét cái tệ cờ bạc, ông vùi đầu vào ngón đàn để quên mọi đắng cay. Ông chỉ kiêng đàn đêm giao thừa và sáng mồng một. Ông đi mừng tuổi, chúc Tết những người thân buổi chiều mồng một, còn nữa là vừa uống rượu vừa đàn. Ngón đàn say bao nhiêu, ông uống rượu vào nhiều bấy nhiêu và nước mắt lại đổ dài thấm ướt ngực ông.

Cô Út Huệ suốt mấy ngày trong bếp. Mặc dầu cha và các anh thợ “không gia đình” nương náu trong nhà mình ăn chẳng là bao, cô vẫn phải làm cỗ ngày hai lượt cúng mẹ và gia tiên. Những lúc ông già vừa đàn vừa uống rượu vừa khóc, Út Huệ nước mắt hoen trên má, giọng khẩn khoản:

– Năm mới xin ba đừng đờn những buồn, ba đừng khóc mà xui cả năm, ba ơi !

– Cuộc đời này có gì vui mà con ngăn ba đờn bài buồn, đừng khóc, hả con gái cưng của ba?

– Thưa ba, đời đã nhiều khổ đau thì nên “bán buồn mua vui” như lời anh Ba nói hôm mới tới nhà mình ấy ba.

– Ừ ừ Con muốn vậy thì cha đờn và ca cho con nghe câu ví von của anh Ba mầy nói.

Ông vặn lại dây đàn. Lời ca và tiếng đàn dìu nhau theo gió sớm trong ngõ hẻm :Măng…. dang… nấu… cá… ngạnh… nguồn… Đến… đây ta… phải… bán… buồn… mua… vui…

Lời ca, táy đan dứt, ông già nâng ly rượu nhắp từng hớp nhỏ, mắt đẫm lệ nhìn ra ngõ hẻm tối thui. Út Huệ tay nhào bột làm bánh, mắt đăm chiêu, má lúm đồng tiền như dấu chấm phẩy ẩn hiện, gợi dậy trên làn môi hồng một nụ bâng khuâng về câu ca dao của anh Ba mà cha mình đã thuộc làu và ca theo điệu hò Đồng Tháp.

Anh Ba ngồi bên cành mai sắc vàng rục rỡ. Anh xốn xang lòng về ngón đàn của ông già Đờn. Tay anh vẫn lục tìm trong chồng báo cũ, báo mới của Diệp Văn Kỳ đưa anh đọc dịp Tết. Anh hớn hở, mắt lấp lánh niềm vui đọc đi đọc lại mục quảng cáo trong báo : “Hãng tàu Nhà Rồng không chạy đường Sài Gòn – Ma-ni nữa mà chạy đường Sài Gòn – Tua-ran – Hải Phòng – Xanh-ga- po – Cô-lông-bô – Gi-bu-ti – Po Xa-ít – Mác-xây – Boóc- đô – Lơ Ha-vơ-rơ – Đoong-kéc”. Anh cuộn trang báo, cầm trong tay, mắt nhìn xa xăm. Ông già lại lên dây đàn ca tiếp :

Rồng chầu ngoài Huế… Ngựa tế Đồng Nai… Nước sông trong sao lại chảy hoài… Thương người nho sĩ. . . lạc loài… đến đây…

Anh Ba sững sờ về câu ca của ông già Đờn. Anh chạnh lòng bỗng nhớ về cố hương, nhớ ông già Xẩm mù hai mắt đã ca bài vè Đức ông trước mặt Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý lúc tiễn cha của anh vào Huế học thi đại khoa. Lời bài vè ấy lúc này cứ văng vẳng trong tâm trí anh cùng với lời ca của ông già Đờn.

3.2

Tiết xuân mà nắng như dội lửa khắp mặt đất. Bến cảng Nhà Rồng bụi bay la đà như làn khói mỏng. Hơi nóng bốc hầm hập. Người, hàng, xe cộ tấp nập trên bến, dưới tàu. Nhiều dòng người khuân vác hàng từ kho xuống tàu, dài như đàn kiến dời tổ chạy lụt.

Sáu Đen và Chín Mập tiếp tục vác món hàng bốc dở của ngày hôm trước ở sân kho Hai. Ở sân kho Bốn, ông già Đờn lưng trần, đầu quấn khăn rằn, đứng thế chân chèo, một tay nắm đai, một tay đỡ giữa thân bao bì, ông nhún người về trước, lấy đà nâng gọn cả khối hàng nặng lên ngang tầm vai mình. Anh Tư Lê ghé vai đón lấy bao hàng nặng trĩu trên tay ông già, cõng đi xếp lên xe bò. Út Huệ ghé lưng tiếp vào đón lấy bao hàng ở tay cha. Anh Ba như bị tối mặt lại trước cái bao hàng quá lớn đè lên lưng Út Huệ mảnh mai! Anh rất mến phục Út Huệ; từ một cô bé con nhà giàu được cha mẹ nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa, vì gia đình sa sút, thân phận Út Huệ đã trượt theo với số phận của mẹ cha, nhưng Út Huệ đã cùng cha đứng vững dáng Con Người giữa cuộc đời khổ ải.

Đến lượt anh Ba, khoác ngoài tấm bao bì cũ, anh ghé lưng dưới tầm tay của ông già Đờn. Tư Lê mỉm cười khích lệ nhưng không giấu hết vẻ ái ngại cho anh Ba. Ông già Đờn vác bao bì lên vai mình lại đặt xuống đất vỗ vỗ bàn tay lên lưng anh Ba :

– Thiệt tình chú… chú cám cảnh cho cái lưng học trò của cháu?

– Dẫu sao – anh Ba nói – cháu vẫn là con trai, sức dài vai rộng mà chú. Cháu làm tới tới rồi cũng quen “ăn no vác nặng” như anh Tư Lê, anh Sáu Đen, anh Chín Mập, chú Út ạ.

Ông già Đờn lại vác bao tải đầy đặt lên lưng anh Ba, nói :

– Thầy cháu tự làm khổ mình. Thà như cánh nầy, đứa bị cướp ruộng, đứa bị thất cơ lỡ bước phải bỏ quê nhà ra đây chịu cảnh đầu lem đít lọ nầy.

Anh Ba đi hơi liêu xiêu những bước ban đầu. Út Huệ toan chạy lại đỡ giúp anh một tay. Nhưng anh Ba đã giữ được thăng bằng và bước đi vững chãi. Ông già nhìn theo anh Ba, mỉm cười tin tưởng. Tư Lê thở phào nhẹ nhõm. Út Huệ lưng na một khối hàng to hơn sức vóc của mình, đi bên cạnh anh Ba. Mắt cô ánh lên niềm xao xuyến, nhìn thấy những vệt mồ hôi đẫm ướt trán, tràn qua mặt, qua cổ và thấm ra lưng áo anh Ba. Cô càng xót xa thấy từng giọt mồ hôi trên trán nhỏ xuống mu bàn chân anh đang bị rộp lên vì đôi dép “cu-li”.

Trời về chiều, mặt sông Sài Gòn loang loáng vàng. Bụi khói quánh quện nắng chiều màu tro. Đám người như bầy cá quẫy trong dòng nước đục lờ. Cha con ông già Đờn và Tư Lê nhoai người đun chiếc xe bò chất ngất hàng do anh Ba đang tập cầm càng lê lết trước cửa sông hướng ra đại dương mù mịt…

Đêm cuối xuân trôi nhanh qua cảng Nhà Rồng.

Nắng lại xối nóng xuống khắp mọi nơi. Con sông Sài Gòn khác nào giống quái vật đang trườn dưới nắng, mà cửa cảng là mồm của nó đang há hốc đợi nuốt mồi đưa tới.

Một nhóm thợ lực lưỡng, có cả Sáu Đen, Chín Mập đang ken tay vào quay tời trước bến. Mặt họ đanh lạnh và những bắp thịt cánh tay nổi lên như sóng cuộn.

Anh Ba người ướt mồ hôi, lưng cõng kiện hàng cao. Mỗi bước anh đi, bàn chân chòe các ngón ra ngoài đế dép cao su. Đằng sau anh là ông già Đờn, Tư Lê. Đi trước anh là Út Huệ. Nhưng mắt anh vẫn hướng về những con tàu sắp rời bến ra đại dương… Chẳng may cái quai dép móc vào ngón chân trỏ bị tuột, mũi dép gập trái xuống đường, anh bị ngã. Hú vía! Cái thùng hàng trên lưng anh văng ra một bên. Anh nằm sóng soài trên mặt đất. Ông già Đờn hốt hoảng :

– Trời đất ! Ba… Ba… !

Tư Lê, út Huệ đặt vội kiện hàng xuống, chạy đến anh Ba. Tư Lê lại vấp ngã… Tóc Út Huệ sổ xuống, bay loả xoả ra đằng sau. Hai mắt như hai chiếc lá đào non sương đậu long lanh. Cô gọi líu cả lưỡi :

– Anh B… a sao vậy…. Anh Ba!

Ông già giọng bình tĩnh :

– Đừng rối lên Út.

Ông già bế anh Ba vào chỗ bóng mát. Mắt anh hoa đom đóm. Ông già và Tư Lê vội mở khuy áo anh, rồi xoa ngực, nắn bóp tay chân anh. Út Huệ dốc cả chai nước nguội vào tấm khăn rằn đắp lên trán anh Ba. Mái tóc dài từ đầu Út Huệ như dòng suối đổ xuống mặt anh Ba. Ông già cau mày rầy con gái :

– Mày vô ý quá vậy Út. Con gái phải gọn cái tóc cái khăn chớ.

Út Huệ bối rối, phân trần :

– Dà, con đâu còn khăn cột tóc nữa ba?

Anh Ba mở choàng mắt. Bất chợt anh có cảm giác gương mặt Út Huệ như một búp sen từ đầm sen quê nhà hiện đến.

Ông già bảo Huệ :

– Anh Ba mày đỡ đỡ rồi đó, con về trước lo cơm nước, còn mươi thùng hàng tụi tao ở lại hót gọn rồi về sau…

Sương chiều buông xuống từ bên Thủ Thiêm trắng đục mái rừng. Tiếng còi tàu rung rinh sông nước. Đứng lên, chưa hết choáng váng, anh Ba đi còn phải vịn vai Tư Lê trên đường về xóm thợ. Mắt anh vẫn ngoái nhìn đăm đăm về phía những con tàu viễn dương với bao hy vọng xa xăm…

Đêm xóm thợ ngột ngạt. Anh Ba đau người ê ẩm và nóng bức không ngủ được, trằn trọc…Tiếng trẻ con khóc thét khóc như khóc mớ… Tiếng người già ho khù khụ kéo dài từng hơi. Tiếng quạt muỗi phành phạch và giọng chửi đổng về cái nóng bức trời không gió phố không điện : “Nóng thấy mồ mà trời giữ gió để rồi làm bão tố hại người. Còn cái thằng chủ sở điện nó giữ điện để cung phụng cho bọn quan to, cho bọn đầu hói bụng bự rực mỡ ở trên các phố lớn chứ nó đâu có động lòng về cái cảnh sống của đám người ở cái xồm như ổ chuột này!…”.

Anh Ba cảm nhận lời chửi độc ấy không quá đáng. Cái bọn ở biệt thự có vườn cây râm mát, có sân cỏ rộng, không bụi bặm, không tiếng ồn lại còn quạt trần, quạt bàn… Còn đám dân nghèo thì chui rúc, nhận đủ các thứ bẩn thỉu tối tăm…

Anh Ba dậy sớm. Anh uống với ông già Đờn hết ấm trà. Anh Tư Lê, Sáu Đen và Chín Mập không thích uống trà – cả ngày làm ngoài cảng, tối về họ uống một chầu rượu say li bì, ngủ sớm. Những hôm lĩnh lương thì Sáu Đen, Chín Mập lại rủ nhau lăn vào sòng bạc.

Sáng nay, ông già Đờn, Tư Lê, Sáu Đen, Chín Mập tiếp tục ra cảng. Út Huệ nhận tiền của anh em thợ vừa lĩnh lương, cô ở nhà đong gạo và mua sắm một bữa ngon hơn thường ngày.

Anh Ba tranh thủ lúc trong người còn mệt, đi vào phố, tìm đến các ki-ốt (91) báo để đọc những quảng cáo, mục rao vặt và đến những ngã ba, ngã tư, thường gọi là bùng binh, cũng để xem các quảng cáo… Anh sốt ruột, tìm cách đi ra nước ngoài càng sớm càng tốt.

Anh đi phố mà lòng rưng rưng về câu nói với cha của Út Huệ “Con đâu còn khăn cột tóc nữa ba?”. Anh nhẩm lại món tiền dành dụm để lúc đi xa sẽ phải cần đến. Anh ghé vào cửa hiệu tạp hóa, mua một khăn rằn, một cặp khăn mùi soa. Anh thấy lòng mình hé lên một niềm vui nho nhỏ : Út Huệ sẽ có hai vuông khăn để thay đổi buộc tóc và tấm khăn rằn trùm đầu che nắng.

Anh còn mua thêm một bộ dây nhị và cái vĩ. Anh thương ông già Đờn mỗi lần lên dây nhị phải lừa lựa đoạn dây tơ không có nút nối và cái cần rung đã nứt dọc, ông phải lấy sợi đồng thau mảnh bó nén lại. Anh tự nhủ : Mình có quà cho cha con chú già Đờn mà chẳng có chút gì cho số anh em thợ ăn cùng mâm, ngủ cùng giường không đành lòng chút nào. Anh bước khoan thai đến quầy bán rượu mua hai chai Cô-nhắc. Anh cười thầm : Nói như chú Út Đờn cũng có lý : “Cả tháng, cả năm đã làm cu li, vậy thì chúng mình cũng có lúc xài sang như ông chủ, được lắm chứ”.

Trên đường về, anh Ba đi qua nhà sở cảng. Nhiều công nhân đến lĩnh lương đứng rải rác dọc vỉa hè, trong các quán nước. Cha con ông già kéo xe bị rơi bao gạo mà anh gặp hôm mới đến đây cũng đang đứng thẫn thờ ở một góc đường. Người con gái hỏi cha, vẻ thất vọng :

– Họ cúp lương, ta sống bằng gì, hả cha?

Ông già lắc đầu :

– Mẹ chúng nó. Chúng nó cúp lương chứ chẳng cúp được cái đầu này đâu mà sợ. Ta còn đầu, còn tay thì ta không thể chết đói ở trên mảnh đất này đâu, con ạ.

Anh Ba bước đến bên ông già, đặt vào bàn tay ông món tiền :

– Bác cầm tiêu tạm trong lúc gặp khốn khó. Gọi là của ít lòng nhiều, bác ạ.

Ông già cầm lấy tay anh Ba. Người con gái của ông mắt rưng rưng lệ nhìn anh. Ông già bị xúc động mạnh, giọng hơi lạc đi :

– Cậu là ai? Tên gọi…? Ở miền nào đến đây mà tốt bụng vậy?

– Dạ, thưa bác, là dân thợ với nhau thì phải biết thương nhau…

– Ồ! – ông già gật đầu – Là… là dân thợ với nhau… Ồ! Cảm ơn cháu. Cháu đúng là người trẻ mặt mà không non dạ.

Anh cúi chào hai cha con ông già, bước đi vội vã. Cha con ông già đứng tần ngần nhìn theo anh.

Anh Ba đi vào đầu ngõ thì Sáu Đen đi làm về chạy tới ôm choàng lấy anh :

– Trời đất ơi! Anh Ba sắm lễ để tết ai mà sang quá ta?

– Đâu có chuyện đó. Mình mua chút quà biếu cha con chú Út gọi là cái tình bấy lâu nay mình ăn ở trong nhà. Còn đây, – anh giơ hai chai Cô-nhắc lên – chúng mình sẽ nhậu với nhau tối nay, được chứ?

Sáu Đen nét mặt trở nên nghiêm trang, giọng chân thành :

– Anh Ba nè… (anh Ba hơi nghiêng đầu, đón nghe) Thiệt tình từ từ cái ngày anh đến ở với cánh này, kể cả cha con chú Út Đờn đến tên đầu bò là tui đều… đều nể anh như nể ông nội vậy đó.

Anh Ba khoát tay :

– Ấy chết! Đâu có gì mà đẹp lời cho nhau quá. Chúng mình sống với nhau chưa được là bao, nhưng anh em đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong buổi đầu vào đời thợ…

Hai người đi khuất dần vào xóm.

Đêm yên tĩnh. Con đường ngõ hẻm mờ mờ ánh sáng từ ngoài cảng hắt vào. Bóng một vài người đi chậm rãi cất lên mấy tiếng rao rời rạc, nghe xa vắng: Lục… lục… tào… xaá… đêê.

Tẩm…tẩm… quất… tờ… rần… tẩm… quất… tờ rần…

Trong nhà, ông già Đờn đang vừa uống rượu, vừa thay dây đàn. Ngồi quây quần bên ông già là đám thợ trẻ, mỗi người có một kiểu ngồi không ai giống ai. Nhưng mặt người nào cũng có một nét vui giống nhau. Họ uống rượu của anh Ba mua về và nhắm với món thịt bò khô, cá lóc (cá quả) nướng trui quấn rau sống do bàn tay khéo léo của Út Huệ chăm chút.

Ông già Đờn thấm hương men ngà ngà say, ông sửa lại tư thế ngồi, cầm đàn so dây… Giọng ông ấm, trầm :

– Được. Thầy cháu đã lựa được bộ dây và bộ vĩ đàn vừa ý chú lắm. Được. Thầy cháu được đủ điều. – ông nâng ly rượu lên, mái tóc rung rung : – Nào, các bạn thợ trẻ, tụi mình cùng cạn ly rượu “lộc” của một người thợ mà ai cũng coi là bậc “hiền nhân ẩn sĩ”.

– Xin chú Út và anh em đừng bao giờ coi tôi là người ngoài giới thợ thuyền.

– Chúc mừng anh Ba. – Đám thợ trẻ và ông già Đờn cầm ly rượu cùng nói rộn ràng. – Chúc anh Ba của chúng ta vai vác nổi cả sơn hà, chân đi vững giữa đời không vấp ngã… Hề… Hề…

Không khí vui như ngày Tết.

Út Huệ ở trong buồng, ngồi trước ánh đèn, lật qua lật lại những vuông khăn, ngắm từng đường sọc, mép viền. Cô cột gọn tóc sau gáy, trùm tấm khăn rằn lên đầu ngắm vào gương, cười. Cô như bẽn lẽn với người trong gương, gí ngón tay trỏ vào lúm đồng tiền trên má mình nheo mắt tự “chê” mình. Phút chốc cô ấp cả tấm khăn lên ngực, mắt thẫn thờ lắng nghe tiếng tim mình hòa cùng tiếng đàn của cha : … Kéo neo… kéo… neo… tàu chạy… Gạt… nước… mắt… tiễn… đưa…Thương người… người… đi muôn… trùng… sóng… vỗ…

Tối hôm sau. Cơn mưa đầu mùa dữ dội mà mau tạnh. Con đường hẻm nước lênh láng. Bầu trời trong như gương lau bóng loáng khảm đầy ngọc, kim cương.

Ông già Đờn ngậm cái tẩu thuốc, khói ri rĩ nhả ra từng sợi trắng mỏng mảnh. Ông đang vót đũa bằng những thanh tre già.

Anh Ba ngồi đọc sách giọng đều đều cho Tư Lê nghe. Út Huệ ở trong bếp, dọn dẹp luôn tay, tai vẫn lắng đọng từng tiếng mới lạ từ anh Ba truyền đến. Thỉnh thoảng Út Huệ chau mày, khó chịu về cái âm thanh những đồng tiền va vào nhau trong bộ bát đĩa của nhóm đánh bạc ở góc nhà. Sáu Đen và Chín Mập ngồi chen chúc vào đám con bạc. Họ ngồi xổm như cò đậu lúc bị mưa. Mặt người nào cũng chằm chằm hướng vào cái bát úp lên cái đĩa, trong đó có bốn đồng tiền được sơn một mặt trắng bằng vôi. Cứ mỗi lần người “cầm cái” của sòng bạc bưng đĩa bát xóc một chặp, đặt xuống chiếu thì mắt mọi người đều ánh lên sự tính toán, ăn thua, tay không yên : bứt tóc, sờ tai, gãi gáy. Họ móc tiền trong túi ra đặt xuống chiếu. Rồi những tiếng “chẵn”, “lẻ” được xướng lên ỏm tỏi.

Anh Ba ngừng đọc, đang giảng cho Tư Lê nghe một câu trong sách. Bỗng một tiếng “choàng”, bát đĩa bị ném xuống nền nhà vỡ tan làm nhiều mảnh, cả bốn đồng tiền văng đi đâu mất. Lão “cầm cái” văng tục : “Đù… mẹ vào chơi nữa. Đồ con heo! Đồ con heo ráo…”.

Ông già Đờn ngừng tay vót, đảo mắt về phía chiếu bạc. Út Huệ dưới bếp chạy lên, vẻ mặt ngao ngán, quay trở vào. Đám con bạc nắm tay trợn mắt, sừng sộ đứng lên chực ẩu đả. Anh Tư Lê chạy đến giữ lấy tay Chín Mập. Sáu Đen chửi tục :

– Đồ chó ! Đồ ăn gian ! Đồ mặt nạc đóm dày !…

Ông già Đờn nặng giọng :

– Tụi bây hổng còn ra trò lối chi nữa. Đứng là cờ gian bạc lận, táng tận lương tâm…

Nghe tiếng ông già nói, đám con bạc đã khựng lại nhưng mắt họ còn như bốc lửa. Anh Ba đến ngồi vào giữa đám thợ, nói từ tốn :

– Chúng mình cùng cảnh người đói khát với nhau. – Bàn tay anh Ba vỗ vỗ trên vai áo vá Chín Mập. Mặt mọi người dịu xuống, có người gục đầu xuống vòng tay bó gối. Anh Ba vẫn giọng buồn buồn : – Còn có kiếp người nào khổ hơn kiếp đời thợ chúng mình? Ông chủ người Tây, ông chủ người Nam và các thầy đốc, thầy cai đè nén, hành hạ chúng mình. Chúng mình làm việc gò xương sống, vẹo xương sườn, mà còn bị đòn roi, đá đít bạt tai chẳng khác gì thân trâu ngựa. Vậy mà miếng ăn, cái mặc, nơi ở của chúng mình thử hỏi có hơn kiếp con vật là bao nhiêu!

– Hơn con vật được đôi đũa lúc ăn. – Sáu Đen nói chen vào.

Anh Ba nhấn giọng rõ từng tiếng :

– Chúng mình khổ cực vậy đó. Sao lại không thương nhau, đùm bọc lấy nhau mà còn làm khổ lẫn nhau, lao vào nạn cờ bạc, cướp giật nốt của nhau đồng lương khốn nạn?

Một anh thợ đã đứng tuổi, mặt lầm lì:

– Không đánh bạc thì làm cóc gì cho hết những cái buổi tối nầy?

Mọi người quắc mắt giận dữ nhìn anh chàng văng tục. Sáu Đen đứng phắt dậy, giơ nắm đấm, nhưng anh Ba đã kéo tay anh ta ngồi xuống. Sáu Đen chưa hết nóng :

– Tống cổ cái đồ con heo ra khỏi nhà này.

– Sao các cậu cứ ưa nói cục súc với nhau như vậy. – Tư Lê gắt.

Út Huệ từ dưới bếp nhìn lên phía anh Ba, vẻ ngượng ngập. Ông già Đờn giọng khoan thai :

– Từ nãy tao hổng buồn nói với tụi bây vì tao nể anh Ba Nghệ đang ngồi ở đây. Mà tao có nói cũng bằng thừa. Một lời nói của anh Ba là một gói vàng mà tụi bây hổng hiểu chi trọi. Thiệt là “Cầm đờn mà gảy tai trâu. Gảy bao nhiêu lại thêm đau tiếng đờn”.

Anh Ba ôn tồn :

– Tôi nghe anh em nói : không có việc gì làm cho hết những buổi tối, ngày chủ nhật rảnh rỗi, do đó sinh ra đánh bạc, vùi đầu vào nhậu nhẹt. – Anh nhìn từng gương mặt nặng trĩu, lầm lì, nói : – Nếu anh em muốn những cái giờ vô vị ấy trở thành có ý nghĩa, tôi vui lòng dạy chữ cho anh em học.

– Thiệt vậy, anh Ba? .- Sáu Đen vui sướng đứng bật dậy.

Mọi người nhìn anh Ba với những cặp mắt lấp lánh niềm hy vọng, giọng xuýt xoa :

– Chà chà! Được anh Ba chia chữ cho bọn này thì còn gì quý hơn!…

Ông già Đờn cười :

– Phải vậy mới có ý nghĩa là được ở gần với người hiền sĩ chớ! “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” mà.

Út Huệ ngấp ngó trước cửa bếp, hai mắt ánh lên niềm vui thầm kín và hai lúm đồng tiền hiện rõ làm rạng rỡ thêm gương mặt búp sen…

————

Chú thích:

(89) Phố Nguyễn Huệ bây giờ
(90) Đường trước nhà thờ Đức Bà
(91) Quán (bán sách báo)

Hoàng Nhật Minh

Búp sen xanh – Chương III: Phần 2

TUỔI HAI MƯƠI

2.1

Từ những ngày đầu đến Sài Gòn, anh Ba luôn luôn tìm hướng đi ra một phương trời xa khác để thực hiện ước mơ lớn, nhưng anh vẫn canh cánh bên lòng việc đi tìm gặp cha. Anh đinh ninh cha mình đã rời huyện đường Bình Khê vào Sài Gòn từ ngày anh còn dạy học ở Phan Thiết.

Một ngày chủ nhật, anh tìm đến nhà Diệp Văn Kỳ, người bạn chí thân từ tuổi tóc trái đào ở Huế. Diệp Văn Kỳ bàng hoàng khi gặp lại Nguyễn Tất Thành và thốt lên :

– Ô! Ai như… anh Thành? Anh Nguyễn Tất Thành!

– Thành đây. Kỳ đã không nhận được ra mình kia à?

– Trời… đất! – Diệp Văn Kỳ dài giọng. – Nếu hổng có hai con mắt sáng như sao thì đã lầm anh là một cha cu li rồi! Chứ ai đày đọa anh mà dữ vầy?

– Mình. Mình tự nguyện đến với cuộc sống này.

– Không hiểu nổi! Thầy, một bậc đại khoa, bỏ quan trường làm ông lang đi lang thang ở các hiệu thuốc bắc. Anh, một cậu ấm con quan, một học trò của “Thiên đường trường học” Huế, một thầy giáo trường Dục Thanh, tự nguyện làm “cu li” để rồi đi đến đâu?

– Đi đến chân trời mơ ước. – Anh Ba vừa cười vừa nói.

Diệp Văn Kỳ cũng bật cười theo, nhưng vẫn chưa hết ngạc nhiên :

– Cái chân trời mơ ước! Mơ ước của anh để rồi làm một đức Chúa hay đức Phật của thời đại mới hay sao mà anh phải đổi giá tu luyện đắt dữ vậy?

– Làm người trung chính ở giữa cái thế gian này còn chưa ăn nhằm gì huống hồ mơ làm một thứ siêu nhân nào đó vô nghĩa anh ạ.

Qua cái phút bất ngờ, Diệp Văn Kỳ bình tâm lại:

– Anh Tất Thành à. Với tình bạn thiêng liêng, Kỳ hỏi thiệt, thâm tâm anh đã dứt việc học, quyết đi làm nghề thì tôi sẽ lo liệu được nơi làm đáng để anh đua tài chứ không thể chịu cái bề anh đi làm “cu li” vầy được. Nhất là thầy thầy mà biết anh tự đày đọa mình kiểu này, lòng thầy buồn phiền biết chừng nào…

– Không sao đâu, anh Kỳ ạ. Cha tôi đã từng dạy anh em tôi: “Ở đời nghề nào cũng tốt, không có nghề xấu mà có người xấu, có người tốt. Ông quan tham nhũng của dân là kẻ bất nhân. Người lặt phân bón ruộng, người đốt than trên ngàn kiếm sống đều là những người lương thiện”. Tôi muốn được gặp cha, thăm sức khỏe và chuyện trò với cha ít phút, anh ạ.

– Được rồi. Ở đây dùng cơm trưa xong tôi đưa anh đến chỗ thầy ở. Giờ này thầy còn khá bận với đám khách đến xin thầy bắt mạch, cho toa (đơn thuốc).

– Tôi vừa ăn cơm xong. Hôm khác tụi mình sẽ vui “tẩy trần” một bữa với nhau mà.

Kỳ phủi phủi bụi trên vai áo cho anh Ba, giọng trìu mến :

– Hiện thời anh ở đâu vậy, anh Thành?

– Tôi ở xóm thợ, gần Bến Nhà Rồng. Ờ mà… vô đây tôi không còn gọi tên Thành nữa. Gọi là Ba, nghe thuận hơn.

– Phải rồi. Người trong này ưa gọi bằng thứ hơn là gọi tên lót ổ, anh Ba ạ. – Kỳ như chợt nhớ ra : – Ờ nầy, anh là con thứ ba của thầy thì phải gọi là Tư chứ?

– Tôi nhận kết nghĩa anh em với một anh thợ ở Bến Nhà Rồng. Anh là Tư, tôn tôi lên là Ba, anh Hai ạ. – Anh Ba gọi thân mật Diệp Văn Kỳ.

– Hì hì… – Kỳ cười giòn : – Ai đã gặp anh là dính như thép gần đá nam châm vậy. Ngay cái ngày còn chơi trong sân cỏ thành nội Huế, hễ vắng anh là cả buổi chơi ấy tẻ ngắt. Anh còn nhớ có dạo Công tôn nữ Huệ Minh đã ghen tị với tôi vì được anh kết thân hơn không?

Anh Ba cười :

– Cái thời trẻ con ấy sao nhiều thú vị và trôi qua mau ghê. Ngày chúng mình gặp nhau lần đầu, mới đó mà đã mười bốn, mười lăm năm rồi!

– Gần đây – Kỳ hỏi – anh Ba có gặp Công tôn nữ Huệ Minh không?

– Lúc còn nô đùa trên sân, cùng đuổi bắt chuồn chuồn, bắt bướm ngoài vườn nó khác với khi đã là cô gái có bao nhiêu bức tường ngăn cách! Hơn thế, Huệ Minh là hàng công tôn, chúng mình phải biết dừng bước trước những bậc thềm chênh lệch, anh Hai ạ.

Hai người im lặng, cùng hồi tưởng về một thời thơ ấu trong thành nội. Kỳ tâm sự.

– Ba má tôi đã muốn cột tôi vô cái “xiềng” gia thất, anh Ba ơi!

– Chắc hai bác… “nhắm” Hạnh cho anh, phải không?

– Trời đất! Anh Ba tài quá ta!

– Có gì là tài Ngày còn ở kinh đô Huế, mỗi lần tụi này đến chơi đằng nhà anh, hai bác khen Hạnh hết lời. Còn anh thì ba má của Hạnh cưng quá trời mà!

– Anh Ba nè, – Kỳ dè dặt – hoàn cảnh của tôi, việc lập gia đình sớm hay muộn cũng chỉ là theo lẽ thông thường. Còn anh… tôi rất xót xa mỗi bận trông thấy thầy sống vất vưởng một mình. Cha tôi đã nhiều lần mời thầy về dạy học, nhiều người đã nghe danh tiếng của thầy. Nhưng thầy chối từ. Thầy thích đi lang thang đến các hiệu thuốc Phúc Sinh Đường, Tam Thiên Đường, Thiện Phúc Đường… để coi mạch cho các con bệnh. Ai đưa cho thầy bao nhiêu tuỳ lòng. Mà thầy cũng chỉ lấy đủ tiền ăn của ngày hôm đó, còn ai đến sau thầy chỉ coi mạch giùm. Người ta đồn : “Quan Phó bảng Huy sống như chim, nay ăn trái cây ở rừng này, mai ăn ở rừng khác, không để dành của cải cho ngày sau…”. Cảnh tình của thầy như vậy, thiết tưởng anh phải lập gia đình sớm để thầy…

– Chết chửa! Không ngờ, – anh Ba vẻ ngạc nhiên – không ngờ anh Hai mà cũng nghĩ rằng cha tôi đợi con cái lập gia đình để có nơi nương tựa?

-Nè anh Ba! – Kỳ siết chặt tay anh Ba. – Tôi hiểu nhơn cách của thầy, của anh lắm chớ. Địa vị, tiền tài, thầy coi các thứ đó là đồ bỏ đi. Thầy đã từng dạy :

Nhân sinh nhược đại mộng
Thế sự như phù vân
Uy thế bất túc thị
Xảo hiểm đồ tự hại
Giới chi! Giới chi!
(86)

– Sao anh còn khuyên tôi lập gia đình sớm?

– Tôi biết không có một thứ sức mạnh nào ngăn nổi chí hải hồ của anh. Cho nên tôi bàn với anh cái kế lấy vợ để có người thay anh săn sóc cha già thì anh mới yên cái bụng mà lo việc lớn được.

– Thiệt không ngờ… thiệt không ngờ – anh Ba ôm lấy vai Kỳ vừa cười nói, vừa lắc lay – anh xui dại tôi đi làm cái việc dã man ấy.

– Trời… đất… quỷ thần ơi ! Sao lại coi việc lập gia đình là “làm cái việc dã man”, anh Ba?

– Lấy vợ thì phải làm tròn cái nghĩa, cái tình chồng vợ chứ lại bắt người ta thay mình gánh vác mọi việc để mình rảnh chân bay nhảy! Làm như vậy là cột một người con gái vào cái cửa buồng nhà mình. Dã man quá chứ, anh Hai!

– Thì ông già bà già tôi cứ biểu tôi : “Muốn học lên các lớp trên hay đi du học đều được hết. Nhưng phải cưới vợ cho có đôi có lứa đã”. Bà già tôi còn nói : “Con trai có vợ như con thuyền có bến”. Tỉ như :

…Anh lấy em về lo liệu trăm đường
Để anh buôn bán trẩy trương tung hoành.
Cha mẹ già em săn sóc thay anh…

Anh Ba giọng nghiêm, buồn buồn :

– Quan nhiệm về đường hôn nhân của các cụ, ta coi trọng nó thuộc về thời đại của các cụ. Nhưng, chúng mình phải biết chọn lựa cái gì hay thì học, chứ không thể nào lại làm theo cái cũ kỹ của ngàn xưa ấy được.

– Anh Ba đã nói đến vậy, tôi càng chịu cái sự nhìn xa, trông rộng của anh. Vậy ra anh… – Kỳ chùng giọng – anh đi tìm gặp thầy là chỉ cốt để thăm sức khỏe của thầy…

– Cha tôi mong tôi đi xa, làm nên việc ích nước lợi nhà. Người không ưa con cái bằng lòng với cuộc sống nhỏ hẹp, Người càng ghét sự bịn rịn, sự yếu đuối trong tình cảm. Dù vậy, tôi còn ở đây ngày nào là còn tìm đến thăm cha, anh Hai ạ.

– Thầy không ở một chỗ nhất định. Nơi thầy thường lui tới nghỉ ngơi, là chùa và lữ quán (87) Nam Đồng Hương ở đường A-mi-ran Cuốc-bê. Anh đợi lúc chiều tối đến những nơi đó, đừng đến tiệm thuốc bắc gặp thầy, không tiện lắm.

– Tôi cũng nghĩ thế…

2.2

Thành phố lên đèn. Những người không gia đình đủ hạng tuổi, nằm, ngồi trên hè phố ngổn ngang, nhếch nhác. Một vài người giành chỗ tốt đang cãi nhau om sòm. Có người nằm gối đầu lên một khúc gỗ thường kê hàng, chân gác vắt vẻo lên thùng hàng, ca một giọng ca buồn nẫu ruột…

Anh Ba rẽ vào con đường Cuốc-bê. Hai ba cô gái từ trong bóng tối, dưới mái hiên đi ra đón mời : “Em mời thầy Hai… mời thầy Hai vô chỗ em… Xài tốt mà hổng mắc tiền… Đi với em nghe thầy Hai…” Anh Ba ớn xương sống, suýt co chân chạy khỏi đám gái giang hồ. Nhưng thấy có nhiều người đi qua đi lại, anh trấn tĩnh được và lẳng lặng bước đến lữ quán Nam Đồng Hương.

Một ông lão ngồi coi hàng ngay trước cửa thấy anh Ba ăn mặc quần áo đặc sệt dân “cu-li”, liền xua tay :

– Quan Phó bảng tối nay không về đây nghỉ. Chắc chú mày đến mời quan đi coi mạch cho người bệnh hả?

– Dạ, không ạ. Cháu đến thăm sức khỏe của ông Phó bảng Huy thôi ạ.

– Chú mày quen quan Phó bảng à?

– Vâng ạ.

– Tối mai hãy đến nghe. Tao sẽ thưa trước với quan Phó bảng cho. A! Mà tên chú mày là gì?

– Tên cháu là Thành ạ.

– Làm thợ ở hãng nào đó?

– Dạ… cháu làm ở Bến Nhà Rồng ạ.

– Khá heng. Trông người như học trò mà chịu chơi cái nghề phu bốc vác là có chí anh hùng đó chớ.

– Cháu cảm ơn ông, cháu xin đi ạ.

– Rồi… Rồi. Tối mới đến đây gặp quan Phó bảng Huy, heng.

Cả đêm nhớ cha, anh Ba trằn trọc cho tới sáng hôm sau. Anh không đợi tối mới đến lữ quán Nam Đồng Hương tìm cha. Anh nghỉ việc buổi sáng, đi thẳng đến hiệu thuốc bắc Tam Thiên Đường, tại đường Đét-xpa- nhơ (d’Espagne). Anh đi đã khá sớm mà lúc tới nơi, người bệnh đợi xin đơn thuốc trước cửa hiệu thuốc đã đông rồi. Anh Ba đứng khuất trong đám người bệnh, ông Phó bảng Huy mải xem mạch, không thấy được người con trai thứ hiện đã có mặt ở bên ông. Hai mắt anh cứ muốn trào lệ khi nhìn thấy hình hài cha tiều tụy, chiếc áo năm thân sờn vai, vá hai miếng ở cùi chỏ, quần tai tượng (88) chỉ dài quá gối, chiếc khăn rằn cũ vắt qua vai. Ông ngồi ở cái ghế đẩu, bên cạnh là chiếc bàn độc nhỏ để nghiên mực, giấy bút. Ông xem mạch xong quay sang phía bàn viết đơn thuốc; bệnh nhân tự đưa đơn vào quầy hàng cân thuốc, thanh toán tiền với chủ hiệu Tam Thiên Đường.

Anh Ba đợi một lúc lâu lâu, nhân khi người đến khám bệnh đã vãn, anh bước đến bên cha. Ông Phó bảng Huy nhìn lên. Anh Ba xúc động :

– Cha! Cha!

– Thành… Thành đó à! – ông đứng dậy. – Con vô đây từ bao giờ?

-Thưa cha, con mới vô ạ.

Ông chỉ tay về chiếc ghế mà bệnh nhân thường ngồi để ông xem mạch :

– Con ngồi xuống đó !

Anh Ba nhấc ghế chếch sang bên cạnh cha và ngồi xuống. Anh vẫn còn chưa hết xúc động, giọng còn hơi run :

– Bấy lâu sức khỏe của cha… có được…

– Con đừng bận tâm về cha. Cha mong đợi ở con những điều khác chứ không phải mong đợi sự săn sóc của con. – ông hỏi đột ngột : – Hôm nay con đi đâu mà ghé lại đây?

Mắt anh Ba rơm rớm lệ :

– Con đi tìm cha ạ.

– Nước mất, con lo tìm đường cứu nước. Con tìm cha lúc này chẳng có nghĩa lý gì.

Anh Ba hai mắt lấp lánh nỗi đau nhìn mái đầu cha đã ngả màu tiêu muối :

– Thưa cha, con không bao giờ dám sao lãng lời cha dạy, cha ạ.

Anh Ba định nói thêm với cha về dự định những công việc của mình thì một ông già mặc bộ đồ lụa tơ tằm màu mỡ gà rộng thùng thình, chống gậy trúc bước đến, lễ độ thưa :

– Bẩm quan lớn!

Ông Phó bảng ngạc nhiên nói :

– Tôi còn đợi quan tài chứ có còn đâu cái quan lớn, quan bé nữa mà quý ông thưa với bẩm.

Anh Ba đứng lên nhường ghế cho ông khách. Ông Phó bảng chìa tay mời :

– Xin quý ông ngồi tạm. Ông già vẫn giữ lễ phép :

– Bẩm quan! Đã là quan thanh liêm thì dù chỉ ngồi ở ghế quan trường một ngày cũng để lại tiếng thơm trong lòng dân mãi mãi không hề phai. Kẻ tham nhũng thì dù dang ngồi trên nóc nhà quan, dân đã hạ xuống gót giày đi giữa thế gian. Với lòng kính mộ quan Phó bảng cho nên kẻ lẩn thẩn này mới dám nói những lời sỗ sàng ấy.

– Thưa quý ông, – quan Phó bảng Huy sửa lại cổ áo, nói – xin hẹn ông sáng hôm sau tới đây tôi sẽ xem lại mạch và trở đơn, giờ thì tôi đang có chút việc bàn với con trai tôi.

Ông già nhìn anh Ba :

– Ồ! Chào cậu ấm.

– Cháu không dám. Cháu đã chào cụ ban nãy ạ. – Anh Ba đáp lại.

Ông già nói khoan thai :

– Thưa quan Phó bảng, tôi đến yết kiến quan xin được biết nhà để đưa chút lễ bạc lòng thành đến tạ ơn quan đã chữa cho tôi, con gái tôi khỏi bệnh.

– Cảm ơn ông đã có tấm lòng nghĩ đến tôi. Nhưng, xin ông miễn cho kẻ hàn sĩ này cái việc lễ lạt ấy. Nước mất, tôi đâu còn nhà nữa! Cha con tôi sống nay đây mai đó, ông ạ.

Nghe cha nói với ông già, anh Ba hơi cúi đầu, bàn chân anh gí mũi dép xuống đất, hai mắt anh nhiễu lên những tia đom đóm muôn màu.

Ánh nắng xẻ dài đường phố. Bóng cây in xuống bên đường nơi anh Ba đứng.

———–

Chú thích:

(86)Đời người như giấc mộng lớn
Việc đời tựa mây trôi
Uy thế không đủ để cậy
Gian trá là tự hại mình
Răn đấy! Răn đấy!
(87) Quán trọ
(88) Kiểu quần cạp rộng, có hai má như tai voi để thắt thay dây

Hoàng Nhật Minh

Búp sen xanh – Chương III: Phần 1

TUỔI HAI MƯƠI

1.1

Thuyền chở hàng của Tư Lê từ Phan Thiết trở về Sài Gòn lúc đêm khuya. Mặt sông loang loáng bóng đêm, thành phố đèn điện sáng như sao sa. Anh Ba ngỡ ngàng hỏi :

– Đèn để sáng suốt đêm khắp các phố phường hả anh Tư?

– Dà… đèn đường thắp từ chạng vạng đến sáng ngày hôm sau đó, anh Ba.

– Thảo nào mà trên các báo họ không ngớt khoe : “Xứ Nam Kỳ trực trị” của nước Đại Pháp và “Sài Gòn là thành phố văn minh chẳng kém thành phố của các nước trên thế giới”.

– Tôi chưa được ra Hà Nội nên không rõ ở ngoài mở mang cỡ nào, chứ Huế vô đây thì Sài Gòn là thành phố Tây hóa số một, anh Ba ạ. Sớm mai về nhà chú già Đờn, sau đó tôi đưa anh đi coi phố. Giờ anh chợp ngủ lấy một lúc kẻo mệt, nghe anh Ba.

Đêm mùa khô, nằm trên sông nước Sài Gòn, anh Ba cảm thấy mát dịu như nằm trước cửa bể Phan Thiết đêm hè. Anh không có cảm giác một chút nào cái khí hậu mùa đông. Sang tháng mười, ở ngoài xứ Nghệ dịp này đã rét, gió Đông Bắc tràn về. Anh ngẫm về những lời Tư Lê nói : Sài Gòn không có thời tiết bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, mà chỉ có mùa mưa và mùa khô…

Một đêm khô qua đi nhanh chóng. Một Sài Gòn trần trụi, ồn ào bày ra và choán hết tầm mắt anh Ba. Trên lối về nhà ông già Đờn, Tư Lê đưa anh Ba qua bến cảng Nhà Rồng. Một sự xôn xao mới dấy lên trong tâm trí lúc anh Ba nhìn thấy những con tàu viễn dương sừng sững đậu trước cửa sông, nhả khói trắng lên bầu trời. Anh Ba níu lấy bàn tay Tư Lê, dừng lại ngắm những con tàu mà anh cảm thấy như từng dãy phố nổi nối nhau dằng dặc dài. Đằng mũi, sau lái con tàu hai cột buồm cao ngất nghểu, những dây chằng như bộ rễ cây đa cổ thụ cắm xuống đất sâu. Giữa tàu đột khởi lên một hình khối giống như một tòa nhà nhiều tầng mà nóc của nó là cái tháp chuông.

Anh Ba giọng bâng khuâng :

– Loại tàu cá mập này tuồn vào bụng nó vô số là người, là của, anh Tư nhỉ.

Tư Lê chỉ tay khắp cảng :

– Anh Ba coi, mọi sản vật ở xứ mình đều được đưa về đây để tuôn vô cái bao tử (dạ dày) loài cá mập ấy đó.

Anh Ba nhíu cặp lông mày, trước mắt anh hình ảnh những người thợ già thợ trẻ phụ nữ, trẻ em đông như kiến cỏ, quần áo bê bết đất cát, mồ hôi tràn qua mặt, đầm đìa xuống cổ cháy đen, và trên lưng họ những kiện hàng cao chất ngất.

Anh cảm thấy xót xa lúc một ông lão quấn chiếc khăn rằn, bộ râu sém nắng dài xuống ngực, cả đến cặp lông mày cũng bị nắng táp vàng hươm, mắt ông như muốn lồi ra mỗi lần ông gò lưng kéo chiếc xe bò chất đầy những bao bì căng như bụng bò chửa. Một thiếu phụ khoảng ngoài ba mươi tuổi đẩy sau xe ông lão. Vấp phải một đoạn dây xích, bánh xe bị kênh nghiêng, một bao bì trên nóc xe lăn bịch xuống đất, đứt dây khâu, gạo đổ vung ra. Người thiếu phụ la : “Bể bao rồi, ba ơi!” Hai cha con ông lão hót vội gạo vào ban. Anh Ba và Tư Lê cũng chạy đến giúp một tay. Người thiếu phụ má ửng đỏ mắt e thẹn không dám nhìn thẳng hai người lạ giúp đỡ cha con mình. Ông lão vừa chạm bàn tay hót gạo, vừa nói :

– Ơn hai thầy quá. Thầy Hai coi nì… – ông vừa nói vừa chỉ tay về phía con tàu. – Mẹ chúng nó! Gạo xứ mình, chúng nó hết về nước chúng nó.

Một gã cao lớn, cầm gậy song uốn cong cổ hạc, mặt hằm hằm sấn đến, nói giọng Bắc :

– Đồ chó đẻ! Đồ chó đẻ! Chúng mày làm ăn thế này, ông sẽ cúp lương đừng có kêu oan.

Người thiếu phụ phân trần :

– Lỡ ra chớ ai muốn vầy mà thầy Hai la lối dữ vậy.

Tên cai giơ gậy dọa :

– Lỡ lỡ cái tổ cha chúng mày.

Người thiếu phụ lùi lùi, lưng tựa vào xe, đầu đụng phải đống bao, búi tóc bị sổ xuống, dải khăn rằn rơi lòa xoà quanh vai. Ông lão mím chặt môi, tay nắm; nhìn chằm chằm vào mặt tên cai. Anh Ba, Tư Lê cũng phẫn uất đứng sát bên ông lão. Tên cai hạ tay roi xuống, vẻ gờm mặt ông lão. Ông giơ hai cánh tay lực lưỡng ra trước mặt, bắp thịt cuộn lên như sóng lượn, ông gằn từng tiếng:

– Tụi qua (84) có phải chết thì cũng hết nhục, hết cái kiếp làm thân con bò. Các người ức hiếp quá lắm. Con giun xéo lắm phải quằn chớ.

Tên cai nhìn ông lão và liếc mắt qua anh Ba, Tư Lê, vẻ tẽn mặt. Có một tốp thợ khuân vác đang tới. Hắn sợ im lặng bỏ đi.

Anh Ba, Tư Lê giúp cha con ông già cột kín bao gạo chất lên xe rồi mới đi. Hai cha con ông lão vừa nói : “Đa tạ hai thầy” vừa nhìn anh Ba với vẻ ngờ ngợ vì một thanh niên tuấn tú, quần áo sang trọng mà lại “lạc bước” vào bến cảng này.

Anh Ba đi bên cạnh Tư Lê, nói :

– Anh Tư thấy chưa? Phải cứng đầu như ông già thì bọn cậy quyền cậy thế mới chùn tay ăn hiếp, anh Tư ạ.

– Cả đến bọn chủ Tây cũng nể mặt anh em phu cảng Nhà Rồng nầy chứ không dám hống hách như ở những nơi khác, anh Ba ạ.

Ra khỏi bến cảng, đi trên đoạn đường hành lang hình cánh cung, anh Ba băn khoăn hỏi :

– Sao không gọi là cảng Sài Gòn mà lại đặt tên là Bến Nhà Rồng, hả anh Tư?

Tư Lê vỗ vai anh Ba, chi lên nóc ngôi nhà lợp ngói vảy rồng. Trên nóc nhà có hai con rồng chầu mặt trời đắp bằng xi măng. Tư Lê giải thích :

– Đi trên bộ hoặc đi đường thủy, lúc gần vào bến, người ta nhìn thấy ngay ngôi nhà trên nóc có hình hai con rồng. Do vậy mà có tên là Bến Nhà Rồng, anh Ba ạ.

Anh Ba mỉm cười nhìn về Nhà Rồng : một đôi cu gáy từ trên ngọn cây dừa vừa chớp cánh lao xuống đậu lên đầu rồng giữa nóc nhà ám màu thời gian…

Qua những bãi rác sình lầy, con đường vào xóm càng vào sâu càng quanh co, gấp khúc, có nhiều nhánh rẽ hai bên như cái xương cá. Ở đầu một ngã tư, có mấy hàng xén, hàng quà… Đằng sau các cửa tiệm nho nhỏ ấy là những túp lều gối nhau như bát úp. Anh Ba hơi ngỡ ngàng với cái “thế giới hang chuột” này. Anh Tư Lê vui vẻ :

– Cây mận (cây doi) kia rồi. Nhà chú út có cây mận bự làm cột tiêu cho cánh thợ đi về không thể lạc được.

Anh Ba nghiêng nghiêng nhìn vào ngôi nhà nép gọn dưới bóng cây doi. Anh lần nhớ lại lời giới thiệu của Tư Lê về cuộc sống “gà trống nuôi con” của cha con ông già Đờn.

Chẳng mấy ai rõ tên ông già là gì mà chỉ quen gọi bằng tên người con gái út là Huệ. Nghe nói, ông là một người giàu có ở miền châu thổ sông Tiền, vì thua kiện bị phá sản. Vợ chết, hai người con trai cũng bị chết bệnh liên tiếp trong mấy năm. Ông buồn phiền bỏ quê nhà đưa con gái út lên sinh sống ở Bến Nhà Rồng. Vì ông đờn hay, anh em thợ gọi luôn là ông già Đờn. Ông làm phu khuân vác. Cô Út Huệ lo việc cơm nước cho ông và nấu cơm giúp cho một số công nhân không có gia đình. Thỉnh thoảng cô Út Huệ cũng ra cảng nhận việc làm công nhật với cha.

Anh Ba theo Tư Lê bước qua rãnh, rẽ vào cái ngõ hun hút như ống áo. Anh đứng khựng lại lắng nghe tiếng đàn nhị từ trong mái nhà tranh bay ra réo rắt. Tư Lê nói khẽ :

– Ông già Đờn đờn đó anh Ba. Lúc ông già đờn là lúc ruột gan ông bồi hồi, nước mắt thường đọng ngập bờ mi. Gặp lúc đó, đừng chào hỏi chi vì ông đang nhập thần vô cây đờn. Tôi đã thưa chuyện anh với ông và Út Huệ rồi.

Hai người bước vào nhà. Ông già Đờn ngồi xếp bằng trên cái sập gỗ, tay đang nắn nót cung đàn, mắt lờ đờ đảo nhìn và gật đầu đáp lễ anh Ba. Dưới nền nhà trải chiếc chiếu mộc, mấy anh thợ trẻ đang nằm gối đầu lên nhau, lưng trần đen như da chum. Họ đang ngậm trên môi điếu thuốc tổ sâu. Thấy Tư Lê đưa khách về, mặc dầu đã được báo trước, họ vẫn nhìn anh Ba với con mắt lạ lùng. Hai anh thợ ngồi dậy, tựa lưng vào vách, mắt vẫn nhìn anh Ba. Họ ngạc nhiên về một anh da, tóc, mặt mày, chân tay và áo quần thuộc lớp người “ăn trắng mặc trơn” mà lại lạc loài vào xóm thợ này! Nhưng có đôi mắt sáng, nhìn hiền và ấm áp làm cho lòng họ cảm thấy dễ mến và dễ gần. Út Huệ đang thổi cơm dưới bếp lấp ló nhìn lên nhà. Tư Lê đến cửa bếp, nói nhỏ:

– Cô Út cho anh Ba và tôi ăn cơm nghe.

– Thầy Ba, – Út Huệ thì thầm – thầy Ba học thức, kiểng trai quá trời mà… mà vô đây chịu nổi sao, anh Tư?

– Vậy mới là một người hiếm thấy chớ, cô Út.

Anh Ba vừa bắt chuyện với ba anh thợ vừa lắng vào trái tim mình tiếng đàn và lời ca của ông già Đờn : Kéo neo… kéo neo tàu chạy… Gạt nước mắt… nước mắt tiễn đưa… Thương người đi… người đi muôn trùng sóng vỗ….

Ông già buông lời ca, tay đàn, ngồi thừ và nhìn đau đáu ra ngõ hẻm. Ông treo cây đàn lên và ngồi xuống bên anh Ba. Ông đặt bàn tay rám nắng vào vai anh Ba, nói tiếng chắc nịch :

– Ủa! Thầy Ba Nghệ (85) đã về thấu đây ta!

– Dạ, cháu về với anh Tư từ ban nãy mà chú. Vì chú đang say đàn. – Anh Ba nói.

– Anh Ba muốn thưa chuyện với chú – Tư Lê nói – nhưng chú còn dở tay đờn, ảnh chưa dám trò chuyện…

– Ờ, phải rồi. Thầy Ba là người tai mắt nên biết trọng thú vui của người khác. Bấy nhiêu đó đủ để qua đấy tôn kính rồi đó!

– Thưa chú, – anh Ba nói – cháu đã được anh Tư Lê cho biết về tấm lòng chú và cô Út cũng như tình của anh chị em xóm thợ, do đó cháu tìm đường từ ngoài miền Trung vô đây.

Ông già đỡ lời ngay :

– Khỏi… khỏi dài dòng nghe thầy Ba. Thầy Ba đã từng là ơn nhơn (ân nhân) của Tư Lê thì thầy Ba sẽ dám xả thân cứu những người khổ đau khác. Thầy Ba là hạng người “Lục Vân Tiên” rồi.

Ông già Đờn ca luôn một đoạn thơ Lục Vân Tiên :

Vân Tiên ghé lại bên đàng.
Bẻ cây làm gậy nhắm làng xông vô.
Kêu rằng : Bớ đảng hung đồ!
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân…

Dứt khúc ca, ông già Đờn ôm choàng anh Ba vào vòng tay,. mắt ông ánh lên niềm xúc động :

– Khỏi phải bày tỏ gì mà bấy nhiêu câu Lục Vân Tiên đã nói đủ cái lòng của người già này đối với thầy Ba. Thầy Ba về đây với tụi tui. Chật nhà, rộng bụng mà…

– Chú Út ơi! – Anh Ba xúc động – Chú đừng gọi cháu là thầy. Chú hãy coi cháu như anh Tư, như các anh đã ở trong nhà chú.

– Rồi… rồi…, được rồi. Đã nghĩ về nhau như vậy thì già này gọi thầy là anh Ba hoặc gọi là anh Ba Nghệ, đều một nghĩa trọng cả mà. Út… à! – ông già gọi con gái.

Từ dưới bếp, út Huệ thưa dịu dàng :

– Dà… ạ! Ba gọi con có việc chi, thưa ba?

– Con làm cơm lâu vậy?

– Xong rồi thưa ba. Nhưng con đợi ba đờn hết bài đã mà.

– Trời đất! Con nhỏ này hổng sáng ý chi trọi hà. Bữa nầy có anh Ba về, cần ăn cơm sớm để ảnh nghỉ ngơi chút rồi còn đi coi phong kiểng Sài Gòn chớ…

Tiếng ông già chìm đi giữa tiếng nói ồn ồn của anh em thợ.

1.2

Anh Ba đội cái mũ nan to vành và đi đôi dép bằng lốp xe kéo của ông già Đờn. Út Huệ ở trong bếp ngó ra, mỉm cười vì vóc người học trò của anh Ba chẳng ăn nhập với cái thứ dép, mũ “cu li” của ba mình. Ông già và đám thợ trẻ thì khoái chá cười :

– Coi bộ ngon héng!

Anh Ba cười hơi ngượng ngập :

– Ở Sài Gòn có nhiều xưởng máy không hả anh Tư?

– Sài Gòn là đất “Nam Kỳ trực trị”, coi như một tỉnh của nước Pháp, cho nên được tự do nhiều thứ. Vì vậy mà ngành công nghệ ở Sài Gòn đã dựng lên nhiều xưởng máy, nhưng là của người Tây, chứ của người Việt mình chưa có.

– Là những xưởng gì đó anh Tư?

– Tui hổng rành hết Sài Gòn, chỉ quanh quanh miệt sông này, nên biết có xưởng Ba Son, xưởng Xi-mắc, xưởng Pha-xi, xưởng Xít…

– Các xưởng ấy chế tạo những máy móc gì. Anh Tư có biết không?

– Tất cả các xưởng chỉ làm cái việc sửa chữa, chứ đâu chế tạo ra nổi máy móc. Như Ba Son thì sửa chữa tàu nhà binh, xưởng Xi-mắc ở bên kia sông, sửa chữa các tàu loại bự, vượt đại dương. Còn xưởng Pha-xi sửa chữa các tàu loại nhỏ. Riêng cái xưởng Xít chuyên sửa xe hơi.

– Chúng mình xin vào làm thợ ở xưởng Ba Son, có khó lắm không anh Tư?

– Đâu có được, anh Ba. Muốn vô đó phải là lính thợ, hoặc đã học ở trường Bá nghệ được kén chọn làm lính thủy chứ đâu có dễ, anh Ba.

Anh Ba nhìn vào quân cảng, lắc đầu. Hai người thủng thỉnh đi qua các phố trung tâm Sài Gòn. Tư Lê nói nhỏ :

– Vô tiệm giải khát, ăn kem cho mát rồi hẵng đi, anh Ba.

Anh Ba hơi ngỡ ngàng, hỏi :

– Kem là món ăn có đắt lắm không mà chúng mình vào tiệm, hả anh Tư?

– Một thứ giải khát bình dân nhất, anh Ba ạ. Chỉ cần một cắc (hào) thì hai anh em mình ăn đến phát rét lên.

Anh Ba vẫn chưa rõ món kem là loại thức ăn gì mà rẻ vậy, lại ăn nhiều thì “phát rét lên”.

Bước vào cửa hàng giải khát, anh Ba hơi choáng ngợp trước cảnh đông đúc, nhiều người mặc đồ sang trọng xen lẫn với vô số người lao động mình trần, quần đùi chân đất, khăn rằn vắt vai, ngồi cò đậu trên mặt ghế ăn những cốc kem, que kem hơi bốc trắng. Anh đinh ninh món ăn còn bốc hơi này hẳn là nóng sốt. Trong lúc đợi cô hầu bàn đem kem đến, anh Ba hơi ngạc nhiên nhìn lên trần nhà, nói nhỏ :

– Cái máy gió quay tít quá anh Tư nhỉ?

Tư Lê cười :

– Quạt máy đó anh Ba. Còn gọi là quạt trần nữa.

– Ờ! Phải rồi. Tôi đọc sách Pháp thấy tả về những cái quạt trần, quạt bàn, nhưng bây giờ mới nhìn thấy nó. – Anh lại ngước nhìn quạt trần, nói : -Thế này thì văn minh hơn các thứ quạt hầu ở chốn cung đình và ở các nhà quan.

Cô hầu bàn bưng khay kem cốc đến. Anh Ba cũng cảm thấy lạ mắt về bộ áo choàng trắng, mũ trắng, tất tay trắng của người con gái hầu bàn. Anh đưa mắt nhìn cách ăn của Tư Lê. Anh cầm thìa con xúc một miếng, hơi kem bốc lên thơm phức. Anh thụt lưỡi đặt thìa kem xuống, mắt chớp lia lịa.

– Chà! Lạnh cóng cả miệng, anh Tư ơi!

Tư Lê che miệng và cố nén cơn cười bất ngờ.

– Anh cứ ăn đi, chỉ lạnh một miếng đầu. – Tư Lê nói. ăn miếng đầu thì cảm thấy lạnh, còn sau nữa là cái mát thấu khắp người mà, anh Ba.

Anh Ba ăn nhón nhén. Anh gật gật đầu : “Á! Thì ra đây là cờ-rem (crème), một món ăn rất thông thường của người Pháp mà tôi đã gặp trong sách”.

Thưởng thức xong món kem, ra khỏi cửa hàng giải khát anh Ba nói với Tư Lê:

– Đúng là trăm nghe không bằng một thấy, anh Tư ạ. Học và đọc sách mà không được nhìn tận mắt, bắt tận tay thì chỉ mới là biết có một nửa thôi. Cho nên, một số ông quan đại thần đi sang Pháp về nói có thứ đèn chúc ngược xuống mà dầu không đổ ra, người ngồi trên xe hai bánh đạp, lái đi bon bon mà không ngã, vua Tự Đức cho là đi xa về nói láo, khép tội “khi quân” (dối vua) cũng là điều không đáng trách, phải không anh Tư?

– Đời là cái bể. – Tư Lê đáp. – Ai biết hết được mọi việc trên đời đâu, anh Ba.

Hai người lại im lặng đi và quan sát. Bàn chân chưa quen cọ xát với thứ dép lốp xe cao su, anh Ba thỉnh thoảng phải cúi xuống sửa lại dép. Tư Lê đưa anh Ba đến xem những công trình của người Pháp xây dựng. Anh Ba trầm ngâm nhìn tòa nhà thờ Đức Bà và đi qua đi lại khá lâu quanh khu tòa án đồ sộ. Anh Ba và Tư Lê rảo bước đến dinh thống đốc, qua tòa đô chính… Anh hỏi Tư Lê :

– Anh Tư ở Sài Gòn đã lâu, thường đi qua những tòa nhà đồ sộ này, có khi nào anh để bụng coi việc người Pháp họ xây dựng lên những thứ đó với mục đích gì không?

Tư Lê hơi bối rối. Anh ngước nhìn tòa nhà cao như tìm kiếm cái điều anh Ba hỏi nằm đâu trên đó. Anh nói như than vãn :

– Trời… đất… quỷ thần ơi ! Anh Ba hỏi thằng em nầy cái điều tối hệ trọng ấy thì chết chớ trả lời sao nổi – Tư Lê chùng giọng : – Hồi tui mới vô Sài Gòn, cũng đi. xem kiểng phố với chú Út và thằng Sáu Đen. Sáu Đen là cái cha chưởi thề giữa bữa ăn đã bị chú Út rầy hắn một chập hồi mai đó anh Ba.

– Mình nhớ rồi. – Anh Ba nói.

– Anh biết không, – Tư Lê nói – lần đầu tiên Sáu Đen trông thấy tòa thống đốc, ngợp mắt đã thốt lên: “Cha trời! Người Tây họ cất nhà nguy nga vầy, Sài Gòn mình đẹp tuyệt trần rồi”. Chú Út ục luôn một quả đấm vào vai Sáu Đen và mắng liền : “Mầy nói gì mà ngu quá vậy Sáu, họ cất nhà, xây dinh thự là để họ ở mà cai trị, mà đè đầu cỡi cổ dân mình chứ đâu phải để làm đẹp cho thành phố mình”.

Anh Ba nắm chặt tay Tư Lê :

– Anh Tư ơi! Anh nói bấy nhiêu… mà cũng chỉ bấy nhiêu đã đủ. Nói như cụ Nguyễn Du: “Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri”. Chứng ta xem từng ấy công trình mở đầu của người Pháp tại Sài Gòn, ta thấy : Năm 1877 họ xây dựng nhà thờ Đức Bà. Năm 1881 họ xây dựng tòa án. Năm 1885 họ xây dựng dinh thống đốc. Năm 1900 họ xây dựng tòa đô chính. Rõ rằng, người Pháp đến xứ mình, việc xây dựng đầu tiên không phải là những công trình phúc lợi cho dân mà là nhà thờ, nơi gom phần linh hồn, thứ đến là xây tòa án để trừng phạt thể xác dân mình, và xây nơi đầu não của bộ máy cai trị.

– Ờ ờ… – Tư Lê đắc ý – Anh Ba chữ nhiều có khác. Với con mắt còn bỡ ngỡ, anh chỉ nhìn qua một lượt các công trình mà đã đọc thấu tận mưu đồ cửa chánh phủ đối với “xứ Nam Kỳ trực trị” nầy. Thực tình, biết bao người hằng ngày đi qua đi lại nhà thờ, tòa án… nhưng dễ mấy ai đã nhìn nhận ra được cái bề trong của nó, anh Ba?

Trời về chiều. Đường phố càng đông đúc. Các tiệm ăn hội tụ đủ những hạng người. Anh Ba vẫn chưa hết ngỡ ngàng với Sài Gòn : Người Hoa nhiều nhan nhản! Tiệm ăn, tiệm giải khát, hiệu thuốc bắc, hàng tấm, hàng xén, hàng vàng bạc, nhà thầu, khách sạn, nhà trọ và cả những thứ hàng rong đủ các tiếng rao nghe chẳng hiểu nổi. Anh Tư Lê cứ phải làm cái công việc “thông ngôn” lại cho anh Ba trên dọc lối đi qua.

Trên đường về qua đồn Tây, mà người Sài Gòn gọi là bót Ca-ti-na, anh Ba và Tư Lê bàng hoàng nhìn thấy những tên cảnh sát Tây, cảnh sát ta lôi về đồn hai người bị trói cánh khuỷu, máu bê bết từ đầu xuống chân, không còn đi nổi nữa. Anh Ba nghe những người qua đường hỏi nhau :

– Hai người có tội gì mà họ hành hạ ghê gớm vậy?

– Về tội ăn cắp, bị bắt ở chợ Bến Thành.

– Hổng biết có thiệt là ăn cắp không, chỉ nghe hô lên : “Kẻ cắp! Kẻ cắp…” là cả trăm người xúm lại đánh kẻ đó. Rồi mã tà ập tới lập công vậy đó.

Không dám nhìn hai nạn nhân, anh Ba kéo tay Tư Lê quay về xóm thợ. Anh nói nhỏ với Tư Lê, giọng nghẹn ngào: “Kẻ ăn cướp cả giang sơn mình, cướp cả nòi giống mình thì chẳng thấy ai hô hào đứng lên đánh đuổi?”

————

Chú thích:

(84) Đại từ nhân xưng của người lớn tuổi hơn
(85) Cách gọi thân mật : Anh Ba người Nghệ An

Hoàng Nhật Minh

Đảng, Bác Hồ và mùa xuân dân tộc !

(THO) – Mùa xuân năm 1930, ngày 5 Tết Canh Ngọ, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời!

82 năm đã qua, Đảng vĩ đại, anh hùng đã gắn bó với nhân dân làm nên mùa xuân đất nước.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng. Ảnh: Tư liệu

Biết bao mùa xuân đã trôi qua, nhưng một mùa xuân thực sự, một mùa xuân khởi đầu, đặt nền móng cho hạnh phúc của chúng ta hôm nay lại chính là mùa xuân thành lập Đảng.

Nhớ lại thời dựng Đảng, chúng ta càng thấy Đảng ta thật là vĩ đại.

Cuối năm 1929, nhận được liên lạc của Đảng, Bác Hồ đã từ một vùng quê ở Thái Lan, đáp xe lửa đi Băng Cốc, rồi từ đó đi tàu thủy đến Xinh-ga-po. Tại đây người chuyển sang một con tàu khác đi Hồng Công. Các đồng chí Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn đã ra tận cảng biển đón Bác. Và Bác đã quyết định họp hội nghị thành lập Đảng vào đúng dịp Tết Nguyên đán. Ở Trung Quốc cũng như Việt Nam, Tết Nguyên đán là ngày Tết lớn nhất trong năm và thường kéo dài nhiều ngày liền. Đó chính là dịp để những đại biểu tham gia hội nghị có thể đi khỏi đất nước mà không ai để ý. Còn ở Cửu Long thì một cuộc họp mặt như vậy cũng sẽ có nhiều thuận lợi.

Và thế là ngày 3-2-1930, đúng ngày mùng 5 Tết Canh Ngọ, hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp tại Cửu Long (Trung Quốc) dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Đảng ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Ngày 7-2-1930 ngày cuối cùng của hội nghị, một hội nghị có tầm vóc lịch sử như một Đại hội thành lập Đảng, Bác Hồ tổ chức một bữa liên hoan nhỏ ngay tại phòng ở của mình. Khi các đại biểu đã ngồi xung quanh bàn, Người xúc động nói:

“Các đồng chí, hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Lê-nin vĩ đại đã nói, chỉ có Đảng nào có được một lý luận tiền phong mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ, chúng ta đã có một Đảng như thế rồi – Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nhân dân ta từ xưa có truyền thống đấu tranh anh dũng, nhưng suốt những năm ấy, nhân dân ta thiếu người cầm lái sáng suốt. Giờ đây Đảng của chúng ta phải gánh lấy vai trò này và tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

Như vậy là ngay trong những ngày đầu tiên thành lập Đảng, trong lời phát biểu ngắn gọn ấy, Bác đã ba lần nhắc đến nhân dân ta.

Năm 1960, kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại… Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”.

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng là trí tuệ, là phẩm chất của cả dân tộc, kế thừa tinh hoa của hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Sức mạnh của Đảng chính là sự gắn bó máu thịt với nhân dân, là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Và Bác Hồ đã nói: “Nhiệm vụ của Đảng ta có thể nói gọn trong 8 chữ: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Và chính Người là đỉnh cao của đạo đức và văn minh đó. Người là hình ảnh tuyệt đẹp về mối liên hệ thân thiết, gắn bó giữa lãnh tụ với nhân dân và Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên ta phải thường xuyên liên hệ chặt chẽ với nhân dân.

Bác nhấn mạnh: “Đảng phải liên hệ với quần chúng như chân tay ruột thịt… Đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng. Tức là hết lòng ra sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành một khối” (1).

Chưa ở đâu mà tình cảm giữa lãnh tụ với quần chúng lại thân thiết, gần gũi và được kính trọng, tin tưởng như Hồ Chủ tịch với nhân dân ta. Một nhà văn nước ngoài đã viết: “Bác Hồ – cách xưng hô quen thuộc của Việt Nam, chứa đựng cả sự kính trọng sâu sắc và sự ngưỡng mộ của cả một dân tộc đối với một người cha. Không có một từ nào có thể diễn tả được một cách trong sáng và đẹp đẽ như hai tiếng đó!”.

Hồ Chủ tịch nói: Dân là gốc của nước, dân là gốc của cách mạng, do đó dân cũng là người tham gia xây dựng Đảng.

“Gốc có vững cây mới bền

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Người nói thế và suốt đời Người luôn luôn gương mẫu làm đúng, làm hơn cả những điều mình nói. Người luôn luôn đặt đời sống của mình trong đời sống của nhân dân. Trong Di chúc của mình, Người dặn dò:”Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”

Trong bản Di chúc ấy, Bác đã 17 lần nhắc đến chữ “Nhân dân”. Và trong Di chúc của Người những chữ “Nhân dân” Bác đều gạch dưới.

Đồng chí Nguyễn Thọ Chân kể lại, hồi còn làm Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, một lần vào làm việc với Bác, đồng chí đã đề nghị Bác cho xây dựng trụ sở của Trung ương Đảng tại Hà Nội cho có bề thế.

Bác im lặng, rồi trả lời: – Trụ sở bề thế của Đảng ta, phải xây dựng ở trong lòng dân ấy, chú ạ ! (2).

Lại nhớ một lần, Bác đến nói chuyện với cán bộ, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo. Trong câu chuyện, Bác hỏi: – Bác đố các chú, ai to nhất nước ta?

Tất cả trả lời:

– Thưa Bác, là Bác ạ! Bác cười: – Các chú nhầm rồi, các chú còn phong kiến quá. Bác đọc cho các chú nghe nhé: “Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Bác nhấn mạnh hai chữ dân chủ, rồi hỏi lại:

– Ai là chủ ở đây các chú?

– Thưa Bác, dân là chủ ạ. Và Bác kết luận: – Các chú phải luôn nhớ. Dân là người to nhất, nhân dân là lực lượng to lớn nhất! “Gốc có vững, cây mới bền. Xây lầu hạnh phúc trên nền nhân dân”.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự nghiệp đổi mới của nước ta đã được đẩy mạnh trên mọi lĩnh vực. Việt Nam đã hội nhập với thế giới, trong nước thì chính trị xã hội ổn định, kinh tế phát triển, an sinh xã hội được chăm lo, quốc phòng và an ninh được tăng cường, chủ quyền và lãnh thổ được giữ vững. Mùa xuân này, mỗi người Việt Nam trong cuộc sống mới của mình, ai cũng có thể trực tiếp cảm nhận thấy những gì mà Đảng đã đem lại cho gia đình mình, cho đất nước mình và cho mỗi người chúng ta./.

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, trang 231-235.
2) Báo Nhân dân ngày 23-9-1996.

Theo baothanhhoa.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Búp sen xanh – Chương II: Phần 11

THỜI NIÊN THIẾU

Thị xã Phan Thiết tắm nắng hoàng hôn. Cửa biển phơn phớt hồng. Chân trời Tây như đám cháy lớn. Những đám mây ngũ sắc trải đều khắp bầu trời. Từng đàn dang sải cánh bay ngang trời như những mũi tên khổng lồ xỉa về hướng Tây. Những đám trẻ con nô đùa dưới sân, nhìn lên trời bắt chước đàn chim dang, nắm tay nhau nhảy lò cò, hát líu lo :

Dang dang díu díu
Cánh níu níu nhau
Bay thiệt là mau
Qua trời qua bể.

Thầy giáo Thành đi dạo phố một mình, mắt lắng sâu những điều đang thầm nghĩ… Nhìn đám trẻ nhỏ nhảy nhót hát ca, thầy Thành thấy niềm vui của các em lan vào lòng mình dìu dịu. Thầy cố lưu lại niềm vui nho nhỏ ấy trên dọc đường đi dạo ban chiều.

Bên bến sông. Thuyền đậu san sát, gối mũi lên bờ. Có những con thuyền vừa cập bến, hoàng hôn nhuộm thắm cánh buồm. Thầy Thành đưa mắt quan sát từng con thuyền từ các phương xa tới ăn nước mắm Phan Thiết Thuyền từ Sài Gòn, Gia Định, Sa Đéc, An Giang, Huế, Hà Nội… cập bến. Thầy Thành dừng bước trước mũi những con thuyền từ Sài Gòn, Gia Định, Sa Đéc, An Giang, Huế, Hà Nội… cập bến.

Thầy Thành dừng bước trước mũi những con thuyền từ Sài Gòn ra. Trên thuyền vắng vẻ, mọi người đã đi chơi phố, chỉ còn lại một người gác thuyền. Thầy Thành dạo bước dọc theo bờ sông, nhưng mắt vẫn đoái trông về những con thuyền đã trải qua muôn trùng sóng nước vừa ghé bến nghỉ ngơi.

Người gác thuyền nhìn lên bờ thấy thầy giáo Thành thì ngờ ngợ như đã được gặp ở đâu rồi. Anh ta nháy lên bờ, chạy theo thầy Thành:

– Thưa… thưa thầy thầy ký !

Thầy Thành ngoái về sau, dừng bước :

– Anh gọi ai?

– Thưa thầy ký… tôi trông thầy quen lắm, hình như đã được gặp thầy ở một chỗ mô rồi.

– Tôi dạy học ở đây. Tôi không phải là thầy ký, thầy thông.

– Dạ… dạ, thưa thầy giáo, thầy dạy trường Dục Thanh ạ? Ồ! Quý hóa quá. Thầy dạy học ở trường của các nhà hằng tâm hằng sản.

– Anh gọi tôi có chuyện gì không?

– Dạ… bẩm thầy…

– Ấy chết! – Thầy Thành đỡ lời. – Anh đừng thưa bẩm, tôi với anh đâu có khác gì nhau.

– Thưa thầy giáo, tui là phu khuân vác bến cảng Nhà Rồng. Thỉnh thoảng mới đi một chuyến ra đây ăn nước mắm. Tôi nhìn thầy rất quen mà chưa nhớ ra được.

Hai người bước dọc bờ sông. Trăng rằm ửng lên màu hoa mướp. Dòng sông loang loáng ánh bạc. Người phu thuyền thỉnh thoảng nhìn thầy Thành như để tìm kiếm nhớ lại một kỷ niệm xa xôi. Anh dè dặt hỏi :

– Thầy có ra Huế lần mô không?

– Tôi đã học ở Huế.

– Rứa thì – người phu thuyền xoa xoa hai bàn tay – thầy học ở Huế năm mô hề?

– Tôi ở Huế khá lâu. Tôi mới xa Huế cuối 1908 vô đây.

Người phu thuyền dừng bước, hai tay ôm chầm lấy cánh tay thầy giáo Thành :

– Thầy giáo ơi! Đúng là đây rồi. Tui đã không lầm. Thầy là người đã cứu tui lúc bị bọn lính Tây đánh dập đầu. – Anh vén tóc: – Đây nì, vết sẹo ở góc trán ni, tôi quên răng được người học trò đã xé áo của mình băng bó cứu tui… Đúng thầy là ân nhân của tui.

Thầy Thành đã nhớ ra người bị khủng bố trong cuộc xuống đường đấu tranh ở Huế hiện đang đi bên cạnh, nhưng thầy vẫn giữ thái độ bình thản.

Thầy nói :

– Gặp cảnh ấy, với bất cứ ai còn nhớ nghĩa đồng bào thì đều xắn tay vào cùng chia sẻ. Cho nên, anh đừng coi người đã làm việc đó là ân nhân của mình…

– Thầy là người quân tử “thi ân bất cầu báo”. Phần tui người được cứu giúp thì phải biết nhớ ơn, nhớ cả đời mình. – Anh chân thành và khẩn khoản: – May mắn cho tôi được gặp lại thầy tại chỗ ni. Xin mời thầy quá bộ xuống thuyền tui để được hầu chuyện với thầy cho thỏa cái bụng của tui. Hiện thời dưới thuyền không có ai cả.

Thầy Thành bấy lâu ở Phan Thiết mà lòng đang ấp ủ một dịp đi thẳng vào Sài Gòn. Đây là cơ hội hiếm có. Thầy vui vẻ xuống thuyền và thân mật dặn :

– Tôi đã dự định đi vô Sài Gòn, rất muốn biết hiện tình trong đó ra sao. Nhưng anh đừng vội nói với ai việc tôi sẽ đi vô trỏng nhá.

– Thầy giáo cứ vững tin ở cái bụng tui. – Anh chỉ tay vào ngực mình. – Tư Lê ni đã một lần đổ máu bên cầu Tràng Tiền, thầy là đấng cứu khổ cứu nạn của tui từ lúc đó…

Hai người ngồi trên sạp ở khoang lái. Mũi thuyền vẫn gối lên bờ sông. Bóng cây in xuống dòng sông vàng ngời ngợi. Tư Lê lấy ra một chai rượu và hai chiếc chén con, cầm trên tay chén rượu sóng sánh ánh trăng, giọng xúc động :

– Thầy giáo ạ Cái phận tui khổ nhục từ tấm bé. Mệ cha nghèo, có được ít sào ruộng, lệnh quan trên xuống trưng mua để xây công sở chi đó, họ cho được một ít tiền. Cha tui đưa vợ con ra kinh thành kiếm sống. Chưa tìm được việc làm, cha tui ngộ bệnh chết. Mệ tui với hai bàn tay trắng, lại một nách hai con, sống vất vưởng ở giữa nơi kẻ chợ… Tui phải đi mần mướn từ lúc mới mười bốn tuổi. Hôm tui theo những người đi đòi bỏ xâu bỏ thuế ở Huế là vừa tròn mười tám tuổi thôi. Và sau lần bị khủng bố ấy, tui phải trốn vô tận Sài Gòn để kiếm ăn và tránh bọn cò tầm nã. Mệ và em gái tui ở lại Huế, thầy ạ…

Thầy Thành đặt bàn tay trên miệng chén rượu, đầu hơi cúi, tiếng nói buồn bã:

– Dưới cái gầm trời nước Nam mình sao toàn là cảnh đau khổ…

– Thầy giáo ơi ! Ông trời cũng run rủi cho tui được gặp thầy. “Một lời thành bạn tương tri, một ngày nên nghĩa xướng tùy trăm năm”. Vậy xin thầy uống với tui một ly rượu lạt mừng cho cái phận tui còn có phước.

Thầy Thành nâng chén rượu, nói :

– Tôi không biết uống rượu. Gặp anh, quý mến tình anh, tôi uống với anh chén rượu dưới trăng đêm nay. – Thầy Thành đặt chén rượu xuống, tựa tay lên be thuyền, nói chậm rãi : – Anh Tư đã nói đến tình bạn tương tri, vậy tôi xin nói thật điều tôi đang ấp ủ.

– Trời đất! – Tư Lê thốt lên. – Thầy giáo hãy tin Tư Lê ni mà!

– Tôi tin nên mới ngỏ ý với anh là : buổi gặp nhau này tôi muốn kết bạn với anh và sẽ cùng anh vô cảng Nhà Rồng làm thợ.

– Trời trời! – Tư Lê nhổm người như muốn nhảy lên. Nhưng anh lại sững sờ : – Thầy là người có học thức rộng, làm nghề sang trọng, nhàn hạ, được mọi người trọng vọng, tội chi mà dấn thân vô đám cu li bầy tui?

– Tôi nghĩ là mình không thể nào tìm riêng cho mình một đời sống vương giả, trong lúc người dân xứ mình đang sống lam lũ, tối như đêm dày như đất, roi quan người ta trút xuống đầu, gậy quan người Tây nện xuống lưng và còn hàng trăm thứ áp bức, đè nén khác chồng chất lên thân họ.

– Trời… ! – Tư Lê ôm chầm lấy thầy giáo Thành. – Tui xin rước thầy về với cánh thợ thuyền này! Cánh thợ xóm tui chơi được, thầy giáo ạ. – Anh nâng chén rượu vàng trăng : – Thầy ít uống thì cạn với tui ly này nữa, ta mừng cho tình đời thợ của ta bắt đầu…

– Từ giờ khắc này anh đừng gọi tôi là thầy giáo mà gọi tôi bằng tên thôi. Tên tôi là Thành, Nguyễn Tất Thành.

– Thầy đã cho phép vậy, tui sướng cái bụng quá. Nhưng thầy vốn là bậc đàn anh của tui.

Thầy Thành lắc đầu :

– Là bạn.

Tư Lê vẫn sôi nổi :

– Tui là thứ tư, muốn được gọi thầy là anh Ba. Anh Ba của tui , anh Ba của xóm thợ nay mai…

– Tôi nhận cái tên mà anh đã đặt cho. Nhưng tôi vẫn là bạn ngang hàng với anh chứ đừng xếp sắp ngôi thứ kẻ trên người dưới nó kỳ lắm.

Tư Lê giọng xúc động :

– “Một khi lòng đến với lòng, dù chênh dù lệch vẫn không nề hà”, anh Ba ạ…

Trăng đã ghé về Tây. Những người đi chơi phố đã lác đác trở về thuyền. Tư Lê tiễn anh Ba lên bờ. Trăng in bóng anh Ba thấp thoáng xa dần.

*****

Tiếng trống trường Dục Thanh ngân trong sương sớm. Chim hải âu sải cánh trên cửa bể mù xa.

Học trò hăm hở vào các lớp. Từ trong phòng “từ hàn”, thầy Hiệu trưởng Nguyễn Quý Anh ngạc nhiên hỏi :

– Thầy Thành bữa nay đến muộn? Lạ quá! Chắc thầy mệt.

Một thầy giáo đỡ lời :

– Chắc là thầy có việc chi đó chứ chiều qua thầy vừa đến chơi, thăm hỏi gia đình các ông trong hội đồng quản trị công ty kia mà?

– Phải rồi. – Nguyễn Quý Anh nói. – Bữa qua, thầy Thành cũng chơi khá lâu ở bên nhà tôi lúc chập chiều. Thầy còn bàn với tôi việc lập thư viện của trường để học trò có nhiều sách đọc. Sau đó thầy sang bác Lội vừa đi công cán ở Mũi Né về.

Các thầy giáo đều đến đông đủ trong phòng thầy Hiệu trưởng, ai cũng ngỡ ngàng trước việc vắng thầy Thành.

Học trò ở các lớp cũng bắt đầu xôn xao :

– Thầy Thành đi đâu từ đêm qua?

– Thầy Thành bị ốm chắc?

– Thầy Thành gặp chuyện chi không lành?

Vừa lúc đó, ông Hồ Tá Bang đến, vẻ mặt buồn buồn. Ông đi thẳng vào phòng thầy Nguyễn Quý Anh. Các thầy giáo đứng xúm xít quanh ông, dọc hành lang; ngoài sân cỏ, học trò tụm năm tụm ba nhìn nhau, vẻ mặt em nào cũng ngơ ngẩn.

Ông Hồ Tá Bang nói thong thả :

– Mới tức thời tôi được tin người nhà cho hay, sáng nay thầy Thành không đến phòng trà dùng trà và ăn điểm tâm. Tôi đinh ninh thầy Hiệu trưởng và.các thầy đã biết được thầy Thành có việc phải đi?

Thầy Của băn khoăn nói :

– Gần đây tôi thấy thầy Thành tư lự nhiều, thầy thường đàm đạo hiện tình đất nước với các ông Nguyễn Hiệt Chi, Trần Lệ Chất. Tôi thỉnh thoảng cũng dự nghe.

– Tôi cũng ngờ ngợ cái điều mà thầy Của nhận xét : thầy Thành gần đây có một tâm sự khác với lúc thầy mới đến trường. Lúc nào thầy có chút thì giờ là bàn đến chuyện : có con đường nào cứu được, nước nhà thoát khỏi vòng nô lệ?

Ông Hồ Tá Bang định nói thêm điều gì thì ông già Tám, người chăm lo cơm nước cho thầy Thành, cầm hai phong thư chạy đến, vẻ mặt ngơ ngác :

– Các thầy ơi! Thầy Thành để thư lại trong phòng đây ạ. Mọi người dồn cả về phía ông già Tám.

– Thầy Thành để thư ở chỗ nào? – Thầy Hiệu trưởng hỏi.

– Thưa… tui lật gối lên thấy hai phong thư, tui không biết chữ, nhưng dám chắc là thư thầy Thành để lại tui cầm chạy vội tôi đây…

Thầy Hiệu trưởng đọc to lá thư của thầy Thành gửi lại Ban bảo trợ trường và các thầy giáo của trường. Mọi người ngồi lặng nghe. Thầy Hiệu trưởng Nguyễn Quý Anh nói :

– Việc thầy Nguyễn Tất Thành rời trường Dục Thanh ra đi theo tiếng gọi của,lý tưởng, đó là điều vui lớn chứ chẳng có gì để chúng ta phải băn khoăn.

Ông Hồ Tá Bang nói :

– Cái chậu thủy tinh nuôi được con cá vàng, không thể nuôi được giống cá côn. Chiếc lồng son nuôi chim họa mi, chim hoàng yến, không thể nuôi được chim đại bàng. Trường Dục Thanh của chúng ta không thể là nơi luyện chí anh hùng của thầy Nguyễn Tất Thành. Tôi đã cầm chắc cái điều ấy ngay từ những ngày đầu cậu ấm Thành bước chân tới đây…

– Để các trò khỏi phải chờ sốt ruột, tôi muốn mời Hồ tiên sinh công bố phong thư thầy Thành để lại cho học trò.

Tiếp lời thầy Hiệu trưởng, mọi người dồn mắt về ông Hồ Tá Bang.

– Phải rồi. Mời tiên sinh, mời tiên sinh tuyên độc (đọc) cho các trò nghe…

Học sinh từ các lớp dã xếp hàng tề chỉnh trên sân trường. Ông Hồ Tá Bang đứng trên thềm cao, phía sau ông là các thầy giáo. Ông nói :

– Các trò nhớ bình tâm, tĩnh trí để nghe cho rõ rành những lời thầy Nguyễn Tất Thành để lại cho các trò trước lúc ra đi.

Mắt các em mở to chớp chớp, đợi chờ. Giọng ông Hồ Tá Bang sáng và ấm :

Các trò thân yêu! Thầy biết là các trò rất yêu mến thầy. Nhưng thầy không thể ở lại trường Dục Thanh dài hơn nữa, dạy thêm cho các trò những bài học, kể thêm những câu chuyện cổ tích, chuyện đời xưa cho các trò nghe. Thầy phải đi, đi rất xa. Ước mơ một ngày mai nước nhà độc lập tự do kêu gọi thầy dấn bước ra đi. Cho nên thầy để lại lời từ giã mà không tiện gặp đầy đủ các em trước lúc lên đường (Trong hàng ngũ các em có nhiều tiếng thút thít. Ông Hồ Tá Bang giọng đọc cũng nghẹn ngào). Thầy ra đi nhưng lòng vẫn hằng mong các em là những trò giỏi của trường, con ngoan của gia đình, ra đường biết kính người già, nhường em nhỏ, yêu quý mọi người…

Các trò thương mến, thầy đi xa, lòng vẫn nhớ, vẫn gần các trò. Thầy đã không kịp mua sách, thầy để lại hai đồng bạc góp vào quỹ thư viện trường Dục Thanh của chúng ta.

Chúc các trò tấn tới!

Hồn nước gọi chúng ta lên phía trước!

Ngày… tháng 10 năm 1910
Nguyễn Tất Thành

Ông Hồ Tá Bang và các thầy giáo bồi hồi nhìn học trò. Học trò mắt ướt nhìn ngẩn ngơ bốn phía kiếm tìm…

Những áng mây nhuộm nắng ban mai bay ra biển xa xăm.

Hoàng Nhật Minh

Búp sen xanh – Chương II: Phần 10

THỜI NIÊN THIẾU

10.1

Dấu chân Nguyễn Tất Thành in xuống đất cực Nam Trung Bộ. Dưới ánh nắng thiêu, bóng anh nghiêng nghiêng bên bóng những tháp Chàm trần trụi.

Trên đường đi vào, tình cờ Thành gặp người bạn cũ, Phạm Gia Cần từ Bình Thuận trở về Nghệ An. Thành viết vội thư gửi về quê cho chị Thanh và anh cả Khiêm. Anh kể khá tỉ mỉ những chuyện xảy ra trên dọc đường vào của mình. Anh miêu tả về cuộc sống cô đơn và sự chán chường việc quan của cha. Và Thành tâm sự trong thư “…Em đã nhận một chân dạy học tại trường Dục Thanh ở Phan Thiết. Trường này có các lớp tư, lớp ba, lớp nhì và lớp nhất. Học trò được học ba thứ chữ quốc ngữ, chữ Tây, chữ nho. Các môn sử ký, địa dư, cách trí, toán pháp, toán đố… đều được soạn dạy theo mục đích của trường mở mang tri thức cho học trò, đào luyện họ thành người ích nước, lợi nhà… Em nhận dạy chữ Tây cho lớp nhì, dạy sử ký, địa dư cho lớp nhất. Em được nhận vô dạy trường này là có sự giúp đỡ của ông Hồ Tá Bang, bạn thân của cha. Ông là tổng lý công ty Liên Thành thương quán chuyên sản xuất nước mắm. Công ty này là do các ông Trần Quý Cáp, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cẩn… kêu gọi các nhà hằng tâm hằng sản góp vốn kinh doanh để xây đắp cho công cuộc mở mang dân trí, dân sinh. Các cụ Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh, Hồ Tá Bang, Nguyễn Hiệt Chi, Trần Lệ Chất, Ngô Văn Nhượng là sáng lập viên Liên Thành. Trường Dục Thanh do công ty Liên Thành thương quán bảo trợ…”. Cuối thư, Thành dặn chị gái và anh trai : ” Trường Dục Thanh là một cung trên con đường em đi… Em sẽ ở lại đây một thời gian để rồi đi tiếp vô Sài Gòn…”.

*****

Cửa biển Phan Thiết hình cánh cung. Ban mai vắng lặng. Những con dã tràng kiên nhẫn xe cát. Sương mù bay lang thang từ xa khơi vào các xóm dân chài. Một vài con thuyền, bè mảng già nua nằm trơ trên bãi cát. Nhìn biển cả, thầy Thành bồi hồi nhớ về kỷ niệm cùng anh Khiêm theo cha mẹ vào kinh đô Huế, lúc lên đỉnh đèo Ngang, lần đầu thấy biển mà tưởng là cái ao. Giờ đây anh đã lớn khôn lại thấy biển mênh mông quá, muốn đi xa, đi tìm chân lý, tìm lẽ sống công bằng, nhưng vượt biển cách nào đây?

Anh bâng khuâng trước cảnh biển trời hùng vĩ. Bỗng tiếng trống trường từ trong phố âm vang, ngân dài theo tiếng sóng. Anh dời gót, bước về phía tiếng trống gọi. Từng dấu chân anh in mịn màng trên cát trắng phau.

Giữa khu vườn rộng có một dãy nhà dài, chia nhiều ngăn, lớp ngói “vảy rồng”. Bốn phía nhà không thưng che. Trước khi dùng làm trường học, đây thường gọi là nhà “thảo bạt”. Trước lối vào “thảo bạt”, một cái cổng cao, vững chãi, trên đó đặt tấm biển dày và dài suốt trên hai trụ đứng, khắc chữ quốc ngữ : Trường Dục Thanh. Hai bên khắc tên trường bằng hai thứ chữ : chữ Hán và chữ Pháp.

Ngay trước trường có một cái ao khá rộng. Cây dừa cổ thụ, cành vươn dài ra giữa ao. Từng chùm rễ trên cành rủ xuống ao như bộ râu dài phủ phê… Gốc cây dừa sù sì ngay cạnh bến đá xây nhiều bậc. Học trò thường xuống ao rửa chân trước lúc vào cổng trường.

Thầy giáo Nguyễn Tất Thành bận bộ dài trắng, cổ đứng, đi guốc gỗ mộc, ôm cặp da bò màu vàng cam, bước khoan thai vào lớp. Cả lớp hóc đón thầy với một không khí ấm cúng, trật tự và lễ phép. Thầy Thành nở một nụ cười tươi, nhìn các em âu yếm, nói :

– Thầy chúc các trò ngoan, học giỏi.

Cả lớp đáp lại :

– Chúng con vâng lời thầy…

Cả lớp hướng mắt về thầy và thầy Thành giọng ấm áp điểm danh. Sau đó thầy viết lên góc bảng đen: Sĩ số : 38. Hiện diện : 38. Khiếm diện : 0. Thầy từ trên bục đi xuống. Đến cạnh em Lê Trung Liệt, thầy ân cần hỏi :

– Bữa nay ở nhà chắc có chuyện chi… Thầy thấy trò không được vui?

– Dạ, thưa thầy, má con bệnh nặng. Đêm qua má con trở bệnh. Con lo má con không qua khỏi ! Mà… ba con lại đang đi trẩy nước mắm, đi xa lắm.

Thầy Thành chớp chớp mắt nhớ về một thời thơ ấu của mình ở thành nội Huế. Giọng thầy buồn buồn :

– Nhà có đủ tiền thuốc thang cho má không?

– Thưa thầy má con bệnh nặng, kéo dài, con nghe mấy anh chị của con biểu : “Hết kiệt vốn liếng trong nhà rồi”. Sáng nay anh trai của con đang đi cầm đồ để có tiền chạy chữa cho má con, thưa thầy…

– Tan học, trò đưa thầy về thăm má của trò. Thầy vừa được lĩnh tiền giảng phí. (Em Liệt xúc động bật lên tiếng khóc). Trò đừng buồn phiền – Thầy Thành an ủi – Thầy đã từng nhận được tình thương của nhiều người chia sẻ. Thầy được chia sẻ với em chút tình ngày hôm nay là sự nhớ ơn của thầy đối với những người đã. chia sẻ với thầy lúc tối lửa tắt đèn.

Thầy Thành đưa mắt nhìn khắp lớp :

– Sau buổi học, có trò nào muốn đến thăm mẹ của trò Liệt không?

Cả lớp đồng thanh :

– Thưa thầy, có ạ.

Thầy Thành lên bục, vẻ mặt vẫn còn phảng phất buồn. Thầy nói :

– Hôm nay chúng ta học bài sử ký : Hùng Vương dựng nước, đời Hồng Bàng. – Thầy cầm viên phấn viết lên bảng đen đầu đề bài lịch sử. Nét chữ của thầy thanh như dáng người thầy. – Hồng Bàng là thời kỳ mở đầu của mười tám đời vua Hùng. Công lớn nhất của các vua Hùng là dựng nước.

Các em lắng cả tâm trí theo dòng ánh sáng của thầy giáo Thành đang truyền bá. Giọng thầy giảng bài ấm và âm vang : “truyện tích “Con Rồng cháu Tiên” là sự thể hiện niềm tự hào về giống nòi người Việt Nam của tổ tiên ta”.

Trong khi giảng bài, thầy thường hỏi :

– Thầy nói tiếng Nghệ, chưa sửa hết được thổ âm, thổ ngữ, các trò nghe có được rõ không?

– Thưa thầy rõ ạ.

– Các trò có hiểu được những điều thầy giảng không?

– Chúng con hiểu được ạ.

Một em học sinh lớn tuổi nhất lớp đứng lên xin phép :

– Thưa thầy con xin thầy được phép hỏi ạ.

– Trò mạnh dạn hỏi vậy là tốt.

– Thưa thầy, tích Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ đẻ một bọc trứng, nở ra trăm con, một nửa theo cha xuống bể, một nửa theo mẹ lên ngàn, chuyện hoang đường ấy có nghĩa chi, thưa thầy?

Thầy Thành xuống bực, đi qua đi lại trước lớp, mắt mơ màng, giọng tha thiết :

– Các truyền thuyết thường tưởng tượng hoang đường vì nó bắt nguồn từ trong đời sống xã hội con người thời còn hoang sơ, những truyện nào cũng đều có ý nghĩa giáo dục. Cái bọc ấy chỉnh là lòng mẹ. Chung một lòng mẹ, nghĩa là cùng một nòi giống. Vì vậy mà dân ta có hai tiếng nghe rất thiêng liêng, đó là – thầy Thành viết chữ hoa – Đồng Bào. Có nghĩa là cùng bọc, cùng một dòng máu.

Thầy Thành lại hỏi :

– Các trò rõ chưa?

– Dạ, rõ rồi ạ.

– Còn sự tích một nửa số người đi lên ngàn, một nửa số người đi xuống bể, nó nói lên người Việt mình đã trải bao mưa nắng, người đi phương này, kẻ đi nơi kia để khai phá, mở mang bờ cõi, dựng xây đất nước. Nước Việt Nam ta được như ngày nay ta đừng quên công !ao của bao đời đã đổ mồ hôi và máu. Người ta thường nói : “Tình Tổ quốc, nghĩa đồng bào” là từ gốc tích ấy. – Giọng thầy đọc trầm bổng thiết tha :

Sông sâu nước chảy nặng dòng.
Lòng ta có khác chi lòng mình đâu.
Dầu Nam, dầu Bắc mặc dầu,
Cùng chung Tổ quốc, cùng sầu Nước Non.

Cả lớp nhất không một em nào động tay, động chân, lắng hồn đón nhận từng lời thầy như đêm dày được ánh sáng soi vào.

Cuối bài, thầy dặn :

-Các trò ạ! Chữ là mắt. Người không có chữ coi như bị mù vậy. Hồi còn nhỏ, thầy thường được nghe cha, mẹ, ông bà ngoại của thầy nói về cái chữ tối hệ trọng đến vậy. Mà nó hệ trọng thật. Không có chữ, con người ta bé nhỏ trước tất cả dưới gầm trời này, và người không có chữ sẽ mãi mãi là vật sai khiến, vật hy sinh của bọn thống trị. Cho nên, các trò được ngồi học là phải tự hỏi mình : Học chữ để nên người, giúp dân cứu nước hay để được vinh thân phì gia?

Trống ra chơi điểm từng tiếng. Bóng nắng xao động theo chân của đám học trò chạy nhảy tung tăng trên sân trường.

Nắng trưa trải dài trên con đường xanh xa.

Thầy giáo Nguyễn Tất Thành từ nhà em Lê Trung Liệt đi ra phố. Đám học trò theo thầy tới thăm mẹ bạn Liệt đã tản về các ngả đường. Thầy Thành đi về phía bờ sông Cà Ty gần gần chợ. Một tiếng đàn bầu của người hát rong cất lên ai oán. Thầy Thành khựng lại. Không định dừng lại nghe đàn nhưng thấy cái thau đựng tiền của người hát rong chưa có một đồng nào, thầy Thành lần trong túi lấy ít tiền còn lại biếu người hát rong. Thấy ông giáo trẻ cho tiền người hát rong, mấy người luống tuổi đang đứng nghe và cả người đi ngang qua lần lượt bỏ vào thau những đồng tiền kẽm, đồng hào trắng… Nhìn vào thau đã có cái ăn cầm hơi cho người mù hát rong, thầy Thành cảm thấy lòng mình âm ấm và bước đi nhẹ gót chân hơn. Nhưng dòng suy nghĩ của thầy trĩu nặng về hình ảnh ông Xẩm ở quê nhà. Và những năm tháng lớn lên, thầy nghiệm thấy điều ông Xẩm nói càng có lý : “Mắt mù không đáng sợ bằng mắt sáng mà tim mù”. Bởi lẽ, người ta bị mù mắt thì khổ trăm đường, ai cũng có thể ăn hiếp được. Nhưng kẻ mắt sáng mà tim mù thì sẽ đem lại những tai họa ghê gớm cho bao người và ở trên đời này, cái bọn mắt sáng mà tim mù đâu có ít?

10.2

Lại một mùa hè nữa đến với thầy giáo Nguyễn Tất Thành Nước da của thầy đã nhuốm nắng miền cực Nam Trung Bộ.

Một buổi trưa. Thầy giáo Thành ngồi đọc sách. Tiếng chim ngoài vườn xanh um tùm vọng vào. Lòng bồn chồn, ngồi không yên, thầy cầm trên tay cuốn sách, dạo bước quanh “Ngoạ du sào” (83). Nhìn qua bên kia vườn cụ Nguyễn Thông, thầy thấy một em bé đang trèo khế hái trộm quả, một em đứng dưới “canh gác”. Thầy chau mày, mỉm cười : Trò Tây và trò Phùng rồi. Hai trò to đầu này chẳng chịu ngủ trưa, lẻn đi hái trộm khế. Bà ấm Lội biết được thì rầy to!

Thầy Thành gập cuốn sách lại, khoan thai đi sang vườn khế. Từ Trường Phùng thấy thầy giáo Thành vội vàng đưa ngón tay lên miệng định “báo động” cho Nguyễn Thành Tây đang ở trên cây, nhưng thầy Thành đã khoát tay ngăn lại. Phùng đứng khép nép vào gốc cây, sợ hãi. Thầy Thành đến gần, nói nhỏ nhẹ :

– Bạn Thành Tây của trò đang ở trên cao, trò đừng làm vậy mà bạn ấy hốt hoảng nhảy đại xuống lỡ gãy chân gãy tay, rõ chứ trò?

– Dà… ạ. Từ Trường Phùng đã hết sợ hãi vì thầy Thành không mắng một lời nào. Thầy còn dặn : “Ráng đợi cho trò Tây xuống đất rồi hãy đến”.

Nguyễn Thành Tây từ trên cành cao bước xuống với hai túi áo đựng khế đầy căng. Vừa đặt chân xuống đất, trò Tây đã thấy thầy giáo Thành đi tới, chân em đứng không vững, mặt tái mét, mắt nhắm chờ mấy cái bợp tai của thầy. Song, một tiếng nói ấm áp :

– Trò ngồi xuống chỗ có bóng mát kẻo mỏi chân.

Nguyễn Thành Tây thở phào nhẹ nhõm, hai mắt em mở to, nhìn thầy giáo Thành e ấp một niềm cảm kích, biết ơn.

Thầy Thành ngồi giữa hai người học trò bên gốc cây khế. Thầy ôn tồn hỏi :

– Trò Phùng hay trò Tây bày ra chuyện đi lấy trộm khế?

-Dạ thưa thầy, con ạ.

– Dạ, thưa thầy cả con nữa ạ.

– Thầy biết việc này là cả hai trò rồi, nhưng thầy muốn hỏi rõ trò nào đã nêu ra trước?

– Thưa thầy con ạ. Chính con đã rủ bạn Phùng ạ.

Thầy Thành đặt tay lên vai Nguyễn Thành Tây, nét cười thoáng trên môi, thầy nhìn tập sách cuộn tròn cặp trong nách Tây hỏi thân mật :

– Trò có cuốn sách chi đó mà lại cuộn tổ sâu vô nách vậy?

Tây lấy cuốn sách từ nách ra, hơi luống cuống.

Phùng nhìn Tây nháy mắt, cười. Tây nói :

– Thưa thầy sách thơ Lục Vân Tiên ạ.

– Trò đã đọc được tới đâu rồi?

– Thưa thầy con vừa mới đọc được ít thôi ạ.

– Đọc đến dòng nào chỉ thầy coi.

– Đây ạ. “Trai thì trung hiếu làm đầu”.

– Trò có hiểu nội dung câu thơ này không?

– Con hiểu được phần nào ạ.

– Trò nói cho thầy và bạn Phùng nghe điều trò hiểu đi nào.

– Dạ. “Trung hiếu làm đầu” có nghĩa là trung thành với vua, hiếu thảo với cha mẹ.

Thầy Thành quay hỏi Phùng :

– Trò thấy bạn Tây giải thích vậy đã đúng chưa?

– Thưa thầy, con cũng hiểu như bạn Tây ạ.

– Các trò hiểu chữ trung, chữ hiếu như vậy là đúng, nhưng còn cạn, còn hẹp. Ta phải hiểu rộng hơn. Ấy là lòng trung thành với Tổ quốc, lòng hiếu thảo với cha mẹ, với đồng bào… Bởi vì mỗi người chứng ta sống trong một rường mối liên quan từ trong gia đình ra tới họ hàng, làng nước. Các trò phải ôn lại bài học “vua Hùng dựng nước” mà thầy đã giảng ở lớp. – Thầy Thành nhìn vào hai túi áo Nguyễn Thành Tây đựng đầy khế.

– Hai trò rủ nhau đi lấy trộm khế là phạm lỗi gì?

Cả hai em mặt đỏ bừng, đáp :

– Chúng con lấy trộm của người khác là không hiếu thảo với đồng bào ạ.

– Biết việc làm sai, phạm lỗi thì nên xử trí thế nào?

-Thưa thầy từ nay chúng con không bao giờ làm như vậy nữa ạ.

– Phạm lỗi, dám nhận lỗi và sửa chữa lỗi lầm là một nhân cách, là biết đạo làm người. Giờ thì thầy đưa hai trò đến nhận lỗi gia đình thầy ấm Lội. Mặc dầu không một ai trong nhà thầy ấm Lội biết việc này, nhưng ta có lỗi lương tâm ta thúc giục ta sửa lỗi.

Nguyễn Thành Tây bưng một mũ khế, cả ba thầy trò đi dưới vườn cây mát rượi tiếng ve sầu. Thấy hai cậu học trò mặt buồn xỉu, thầy Thành động viên :

– Các trò có thích chơi ve sầu không?

– Chúng con thích ve sầu lắm, thầy ạ.

– Các trò thấy ở ve sầu có tính gì đặc biệt nào?

Nguyễn Thành Tây giọng nghịch ngợm :

– Thưa thầy giống ve sầu chống đối việc bắt nó bằng cách đái một bãi vào tay ạ.

Cả ba thầy trò cười thoải mái. Từ Trường Phùng nhận xét :

– Thưa thầy, ve sầu có đặc tính kêu dai suốt cả mùa hè ạ.

Thầy Thành tươi cười :

– Các trò có con mắt quan sát, tốt lắm. Riêng thầy thấy giống ve sầu còn có một tính riêng biệt, rất là thú vị đó là tính hay “xấu hổ”, cứ úp mặt vào thân cây mà than vãn cả mùa hè .

Tiếng cười khúc khích của ba thầy trò Nguyễn Tất Thành hòa vào âm thanh ve sầu bồng bềnh theo gió xanh sắc biển xa…

10.3

Cơn mưa đầu mùa đến miền cực Nam bất chợt, ngắn ngủi. Đất khát. Nước mưa ít như nước đái ve sầu, chẳng thấm tháp gì.

Các thầy giáo và học trò trường Dục Thanh phải gò lưng khiêng nước ao tưới cho hàng cây trồng quanh sân, vườn trường. Các ông Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh, Hồ Tá Bang, Nguyễn Hiệt Chi, Trần Lệ Chất, Ngô Văn Nhượng, sáu vị sáng lập công ty Liên Thành và “Hội đồng bảo trợ” trường Dục Thanh đến thăm một buổi “lao động chấn hưng trường ốc”. Cả sáu ông đều ngạc nhiên : thầy giáo Nguyễn Tất Thành, con trai quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy, mà gánh nước đi dẻo như người gánh cá tươi chạy chợ trưa vậy. Những cô gái con các nhà có chân trong công ty Liên Thành cùng “nhìn trộm” thầy giáo Thành gánh nước tưới cây. Bà Hồ Tá Bang với con mắt người mẹ hằng kén rể thì nhìn thầy Thành “người mảnh khảnh, da trắng, môi đỏ như gái cấm cung, ăn không gắp nặng đũa mà gánh gồng chất nặng đầy vai! Lại còn trí khôn trước tuổi”…

Từ ngoài vườn trường về, thầy giáo Thành ngồi nghỉ bên thềm, hai mắt mơ màng dõi theo đàn bồ câu đang bịn rịn trên sân, bóng cây in xuống sân như mảnh gấm hoa đen. Thầy lại bồi hồi nhớ về một buổi sáng tiễn cha từ Huế đi Bình Khê, đàn bồ câu và những bóng cây trên sân lưu luyến theo người… Ông già đầu bếp rón rén đến bên thầy :

– Mời thầy vô nhà xơi cơm ạ.

– Cảm ơn chú Tám.

Thầy Thành ngồi vào bàn ăn. Ông già đầu bếp nhấc chiếc lồng bàn đưa xuống nhà dưới. Trước mặt thầy, chiếc mâm thau bóng loáng, đôi đũa son, cái bát kiểu đặt bên những món ăn thanh đạm : đĩa cá kho, tôm rim mặn với thịt và bát canh rau. Thầy Thành vừa xới cơm vào bát, ông già đầu bếp bước vào :

– Thưa, có người lạ đến tìm thầy ạ.

Hai mắt thầy Thành ánh lên vẻ ngạc nhiên:

– Nhờ chú Tám mời ông vô giùm cho, được chứ chú Tám?

– Hay là thầy… – ông già Tám ngập ngừng nói – thầy cứ việc cơm nước đàng hoàng, tôi sẽ mời ông ta vô nhà dưới ngồi đợi ạ.

– Chắc ông ta từ xa đến… để người ta đợi mình lâu, không nỡ, chú Tám ạ.

Một người quần áo vá chằm, làm cái nón che đằng trước đầu gối, rón ra rón rén đi theo ông già Tám. Thầy Thành từ trong nhà bước ra, đon đả hỏi :

– Mời ông vô. Ghế đây, mời ông ngồi tự nhiên.

Ông khách thở phào nhẹ nhõm khi thấy người thầy giáo trẻ măng, con quan mà cư xử với ông niềm nở, quý mến chứ không coi khinh ông rách rưới thất thểu đi kiếm ăn. ông ngồi xuống mép ghế. Thầy Thành hỏi :

– Ông từ đâu đến và có việc chi cần gặp tôi ạ?

– Bẩm cậu ấm…

– Xin ông đừng bẩm, – thầy Thành nói – ông cứ nói bình thường. Tôi chỉ bằng tuổi em út của ông thôi.

– Thưa cậu ấm, con từ ngoài huyện Bình Khê vô đây. Có thư của quan huyện gửi đến cậu ấm đây ạ.

Thầy giáo Thành đỡ phong thư, nhác thấy hai bàn tay ông khách quặt quẹo, nhưng không tiện hỏi, môi hơi mím lại kìm sự xúc động. Thầy nói :

– Ông từ xa đến đây, gặp bữa, xin mời ông cùng xơi cơm với tôi.

– Dạ, bẩm cậu ấm, cậu nhân đức quá!

Thầy Thành đi xuống nhà dưới, lúc trở lên có cả ông già Tám mang lên theo đũa bát, mấy món ăn thêm. Ông khách vẫn còn sợ sệt, con mắt đói khát nhưng không dám gắp mạnh dạn. Thầy Thành vừa gắp lên bát cho khách vừa phân trần :

– Ông cứ ăn tự nhiên. Ăn nhiều thức ăn. Ở Phan Thiết đây chẳng thiếu cá tôm đâu. Tôi vốn ăn ít đã thành thói quen rồi. Ông đừng vì tôi ăn ít mà e ngại…

Sau bữa cơm, ông khách ngồi uống nước ở bàn trà. Thầy Thành tựa tràng kỷ xem thư của cha gửi đến. Dáng thầy ngồi đọc thư cha rất kính cẩn, hai nét mày luôn chuyển động và lá thư trăn trở trên.bàn tay. Thầy lại cầm phong thư của cha gửi ông Hồ Tá Bang :”Hàn sĩ Nguyễn Sinh Huy kính thư Hồ Tá Bang tiên sinh”.

Thầy Thành bước đến bàn trà, giọng chân thành :

– Tôi sẽ trao thư của cha tôi tận tay ông Hồ Tá Bang. Tôi cũng sẽ thưa chuyện giúp ông với ông Hồ để ông được vào làm công trong công ty Liên Thành như cha tôi dặn trong thư.

– Bẩm cậu! – Người khách cảm động nói líu cả lưỡi. – Phúc phận cho nhà con rồi! – ông chìa hai bàn tay tật nguyền : – Cậu ấm coi, kiếp làm người của con vầy đây!

– Bàn tay ông sao vậy?

– Bẩm cậu ấm, – ông vẫn quen thưa bẩm – vì con không có tiền nộp thuế. Đám hào lý ở xã con tịch thu bò cày của con. Con chống cự, bị họ bắt giam và họ lấy giẻ tẩm dầu lạc quấn vào hai bàn tay con rồi châm lửa đốt mới nên nông nỗi này.

Thầy giáo Thành hai tay ôm lấy đầu, mắt như có màng mây che tối lại, bàn chân thầy xê dịch trên nền nhà. Tiếng ông khách kể như những giọt nước mắt nhỏ xuống đều đều :

– Bọn hào lý áp giải con lên huyện và vu cho con “tội đào ngạch, khoét vách ăn trộm của nhà giàu, bị người ta bắt và chịu hình phạt tẩm dầu đất đôi bàn tay đạo tặc”. Nhưng, quan tri huyện Nguyễn Sinh Huy đã như một ngọn đèn trời soi tỏ được nỗi oan khốc của con. Quan đã cấp cho con một tờ phóng thích : “vô tội bất can miễn chấp”. Con về nhà được ít lâu thì vợ và hai đứa con đều chết trọi! Con định đi sang làng khác kiếm sống nhưng hào lý không cấp thẻ thuế thân cho con. Con lại đánh đàng lên quan huyện xin được quan che chở. Thiệt là phước bảy đời để lại cho con. Quan lớn không một tí ngần ngại chi, quan viết thư đưa cho con, cho con tiền ăn đường và dặn : “Anh cầm thư này đi vô Phan Thiết. Con trai tôi đang dạy học ở trường Dục Thanh. Anh phải đi thật xa như vậy mới có thể yên thân được. Vì tôi sẽ không còn ngồi ghế tri huyện này nữa mô”. Quan còn nói : “Làm quan theo thời thì mất phúc đức to. Tôi sẽ đi cắt thuốc chữa bệnh giúp dân là phải hơn cả… “

Thầy giáo Thành vuốt lại mái tóc, đứng dậy, nói :

– Mời ông, ta sang văn phòng của công ty Liên Thành. Ông Hồ Tá Bang giờ này thường ở bên đó.

Hai người bước ra sân. Sương chiều ngoài cửa bể như những tấm lụa trắng và phơn phót hồng bay vào thành phố hoàng hôn…

10.4

Một ngày chủ nhật.

Nước thủy triều ròng kiệt. Cửa bể Phan Thiết trải một màu nâu bầm. Bãi biển lùi rộng ra xa. Từng đàn chim biển lên phơi nắng, xòe những đôi cánh trắng phau giữa thềm cát mịn màng. Những con còng, dã tràng lên dày như mắt sàng.

Thầy giáo Nguyễn Tất Thành đưa học trò đi chơi biển, học tập ngoài trời. Thầy mặc áo sơ-mi cộc tay, quần soóc đều màu trắng, đội mũ cốt bần lợp vải quét phấn trắng, chân đi giày băng-túp. Đám học trò con trai cùng mặc đồng phục như thầy giáo. Hai cô nữ sinh mặc áo dài màu trắng…

Ra khỏi phố, thầy trò leo lên những động cát. Trèo lên được hai ba bước lại tuột xuống một bước. Nhiều em lên được ngọn động, níu tay nhau ngồi bệt xuống, cát chuồi tuột xuống chân dốc, các em cười khoái chá. Hai cô nữ sinh thì mải mê tìm các vỏ sò vỏ ốc có hình thù và màu sắc vân dạng kỳ thú…

Thầy Thành bâng khuâng nhìn. biển nước ròng, bờ xa nắng trải những cồn cát, nương dâu liền một dải chân trời. Thầy cảm nhận những cánh buồm mọc thẳng trên nền biển xanh có sức kêu gọi con người đứng dậy mà đi tới. Thầy gọi học trò đến ngồi xưng quanh trên động cát có bóng cây cổ thụ. Thầy hỏi :

– Các trò có biết tại sao người dân chài lại trồng các loại cây cao to, có rễ sâu, tán rộng trên bờ biển không?

– Thưa thầy, để có bóng mát họ ngồi chơi như thầy trò ta đang ngồi ạ. Một em khác nói :

– Họ trồng cây to trước cửa bể để lấy gỗ đóng thuyền, làm chèo, làm lái ạ…

Thầy Thành cười. Các em nhìn nhau cười khúc khích. Thầy ôn tồn nói :

– Các trò nói có phần đúng. Nhưng các trò phải hiểu là loại gỗ dùng đóng thuyền, làm chèo, làm lái phải là loại gỗ ít ngấm nước, nhẹ mà dẻo mới được. Còn những cây người ta trồng trước cửa bể là cốt để làm “cột tiêu” cho thuyền bè lúc trở về bến.

Thầy chỉ tay ra phía xa khơi :

– Các trò có thích những cánh buồm đi khơi kia không?

Trò Nguyễn Thành Tây vẻ nghịch ngợm :

– Thưa thầy, nhường hai bạn “quần thoa” vốn có nhiều cao kiến nói về cảm tưởng cánh buồm trên biển ạ.

Hai cô nữ sinh mặt đỏ dừ, tay cầm con ốc chông vẽ vẽ trên cát. Đám con trai cười, nháy nháy mắt nhau. Thầy Thành gõ gõ lên đầu em Tây :

– Lại trêu chọc bạn, thầy sẽ phạt ngồi nhà như lần đi chơi núi mới rồi đó nghe.

Nguyễn Thành Tây cười tủm tỉm. Cả đám học trò đua nhau nói những cảm nghĩ của mình về cánh buồm trên biển cả. Có em đã tưởng tượng :

– Thưa thầy con thấy biển là một trang vở lớn mà buồm là chữ “A”.

Một em khác nói tranh :

– Cánh buồm là dấu than (!) trên trang vở biển nữa, thưa thầy…

Thầy Thành cười :

– Các trò ạ, người ta ví :

Chí làm trai tựa cánh buồm biển cả,
Tấm lòng già như cây lớn quê hương

Nghe thầy Thành đọc hai câu thơ, các em hết nhìn ra biển lại ngước trông lên ngọn cây. Thầy nói, vẻ đầy tin tưởng :

– Thầy vừa qua tuổi thiếu niên, thầy đọc cho các trò nghe một bài thơ mà thầy đã thuộc cách đây vài năm.
Có em hỏi :
– Chúng em chép vào các-nê (sổ tay) có được không, thưa thầy?

– Được. – Thầy đọc chầm chậm :

Hú hồn thiếu niên
Ngồi ngẫm chuyện năm châu trên trái đất,
Sóng văn minh dồn dập nổi phong trào.
Kìa như ai người thì khôn, sức thì mạnh, đất thì rộng, của thì nhiều,
Trời há lẽ riêng chi một cõi!
Sao ta cứ dã man quen thói,
Khom thân nô mà luồn cúi dưới cường quyền?
Hú ba hồn các chú thiếu niên!…

Một ông lão vai vắt tấm lưới từ trong xóm chài đi ra, theo sau ông là đám trẻ con không áo, không quần, lấm lem đất cát.

Thầy Thành nói nhỏ với các em :

– Lúc khác thầy sẽ đọc tiếp cho các trò nghe những bài thơ, bài ca mới mà thầy đã thuộc. Giờ thầy trò mình đến bắt chuyện với ngư dân, họ sẽ kể cho nghe vô số chuyện lạ trên bể…

Nhìn thấy thầy Thành, ông lão giơ tay quá đầu, nói oang oang :

– Ồ! ồ! Thầy giáo ở trong phố. Chào thầy.

– Cháu chào cụ. Hôm nay biển lặng mà cụ nghỉ nhà, hả cụ?

– Ờ… Ờ… Đáng lẽ đã ở ngoài khơi, biển bữa nầy lặng như ao. Nhưng vàng lưới bọn tui bị mập và cá nóc nó cắn, nhiều tấm rách quá trời, phải nghỉ đến mấy ngày vá víu đã thầy giáo ạ.

Mấy đứa trẻ đứng đằng xa nhìn đám học trò áo quần trắng đẹp, vẻ thèm khát, không dám đến gần.

Thầy Thành hỏi ông lão :

– Cháu định đưa học trò vô xóm để các cụ, các ông nói cho nghe những chuyến đi khơi, về lộng, tháo động vượt bão ạ.

– Trong xóm bữa nầy hổng có ai ở nhà đâu. Những ông cùng thuyền với tui cũng đang đi mỗi người một việc. Chỉ còn tui vừa vá lưới, vừa ra coi thuyền, chờ nước ròng đưa thuyền xuống theo. – ông nhìn ra phía xa, nói : – Để hôm biển động, mời thầy đến xóm chài bầy tui, muốn nghe mấy cũng được. Chuyện đi biển kể mấy ngày, mấy tháng cũng chẳng hết, thầy ạ.

Ông già đi thủng thỉnh xuống thuyền. Thầy Thành dẫn đám học trò đi lại chỗ mấy đứa bé trần trùng trục ngồi bệt dưới cát. Thấy người lạ, mấy đứa nhỏ sợ, vùng ra khỏi cát, chạy lùi từng bước, có hai em nhỏ tuổi nhất đứng im nhìn… Thầy Thành cười, nói:

– Chẳng ai làm gì các em đâu mà các em sợ. Các em đến đây, thầy và các anh, các chị cho kẹo.

Mấy em lớn máy máy bàn tay mềm mại, đám trẻ trở lại gần bên thầy Thành và các anh chị học sinh… Thầy Thành đưa gói kẹo cho hai nữ sinh phát cho các em. Thầy đứng nhìn mấy em gầy ốm bé nhỏ nhất trong đám trẻ. Thầy hỏi :

– Em bé này chắc nhà đói lắm, phải không?

– Thưa nhà nó đói, đói dữ, má nó vừa mới chết ạ.

Thầy Thành sập mi mắt xuống, lông mày rung rung. Thầy ngồi thụp xuống, bế xốc em bé lên vai. Nó hơi hốt, hai chân chuồi chuồi, lấm cả vạt áo trắng trước ngực áo thầy. Thầy dỗ dành :

– Về nhà em… thầy sẽ cho em nhiều kẹo mà.

Thầy Thành bế em bé mồ côi cùng với các em học trò đi theo đám trẻ về xóm chài.

Khi qua giếng thơi, thầy đặt em bé mồ côi xuống. Mượn được một số gàu, thầy và trò múc nước tắm cho đám trẻ. Hai nữ sinh cuốn gọn tà áo dài quanh người, múc nước giội cho em bé nhất. Thầy Thành vừa kỳ cọ cho các em, vừa dặn :

– Ngày ngày các em phải tắm cho sạch. Ăn uống đã khổ, người lại bẩn thỉu thì không lớn, không khỏe mạnh được. Ba má bận đi làm chài, đánh lưới thì em lớn tắm cho em nhỏ. Ở cùng xóm phải giúp đỡ nhau…

Một số bà con trong xóm thấy chuyện lạ chạy ra, nói bô lô ba la một chập : “Trời đất! Trời đất!… Mấy thầy, mấy cậu, mấy cô tốt bụng… tốt bụng quá lận. Có đời thuở mô người trên tỉnh sang trọng lại xuống cái xóm mường nước mặn này… Cho con nít kẹo,tắm gội cho chúng nữa nhớ! Hiếm thấy! Hiếm thấy trên trần gian đó nghe…”

Bà cụ già móm mém nhìn những vết lấm lem trên áo thầy Thành cụ cười một nụ cười héo hắt chỉ còn lợi. Cụ cầm một miếng trầu, đặt vào thành giếng, trở sống dao dần dần. Thầy Thành đỡ lấy tay cụ :

– Để cháu nhai giùm cụ, giã kiểu này đã không mềm mà ăn lại lạt lẽo.

Bà cụ ngạc nhiên, hai mắt nhìn thầy Thành chằm chằm :

– Răng thầy trắng ngọc, trắng ngà mà thầy rành cả việc nhai trầu?

– Cháu thường nhai trầu cho bà ngoại của cháu, cụ ạ.

– Thầy thương trẻ quý già. Lạ lùng lắm! Ước chi ông quan đầu triều, đức vua đầu nước có lòng thương người như thầy thì cánh dân đen bầy tui được mát mặt đôi ba phần!

Thầy Thành chắp tay xá xá bà cụ và những người xóm chài. Trên đường về, thầy Thành nói với học trò :

– Các trò thấy đó, bà cụ sống trên cửa bể nầy đã rụng hết răng mà cũng không sắm nổi chiếc cối giã trầu. Cảnh dân mình khổ vậy đó. Thầy đi từ ngoài xứ Nghệ vô đây, nơi nào thầy cũng thấy người dân sống lầm than, tối tăm, nhục nhằn! Thầy nghĩ là chúng ta học cái chữ để biết được điều hay lẽ phải trên đời và theo thầy, trước hết là học để biết và làm được những việc ích nước lợi dân…

Từ trong xóm chài cất lên tiếng võng đưa và tiếng ru con:

Sớm Nam rồi đến chiều nồm,
Anh đi để lại biển buồn cho em…

————
Chú thích:

(83) Ngôi nhà của nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông. Nhà thơ ví cái nhà của mình như tổ chim yến là nơi nằm chơi, ngâm thơ bình văm với các bạn đồng chí đồng tâm.

Hoàng Nhật Minh

Búp sen xanh – Chương II: Phần 9

THỜI NIÊN THIẾU

9.1

Nắng. Một thứ nắng như từ biển dâng lên, tràn đầy.

Gió. Một loại gió nóng từ bên kia Trường Sơn tràn xuống, dữ dội.

Nóng. Cái nóng như lửa bốc vây hãm cả bốn phía kinh đô. Mặt trời như một cái vung lửa úp xuống Huế. Huế ngột ngạt!

Nguyễn Tất Thành sải bước trên đường phố nóng ran. Những chiếc lá rơi, gió cuốn trên đường thăm thẳm. Anh thấy bầu trời Huế… mặt đất Huế… thành quách… cung điện… đền đài Huế quay tít trong đám lá bụi mịt mù. Anh cũng cảm thấy mình đang như một chiếc lá rời khỏi cành cây bay trong gió cuốn.

Thành rời khỏi Huế, anh đi theo một nhóm người Quảng Ngãi ra bán kẹo mạch nha và mua kẹo mè xửng đưa về Quảng Ngãi bán. Nhóm lái kẹo này có chiếc xe ngựa. Thùng xe rộng, có ngăn chở hàng, ngăn để đồ nấu ăn, đựng lương thực dự trữ đi đường dài, và có bốn, năm chỗ nằm. Họ đi buôn đường xa, qua nhiều núi đèo hiểm trở nên có cả khí giới chống cướp đường, chống hổ báo. Thành bắt quen được nhóm lái kẹo từ năm trước, họ chở kẹo mạch nha ra Huế bị đồn thuế Đông Ba ức hiếp, tịch thu kẹo của họ. Họ nhờ nhà trọ Đông Ba tìm giúp người làm đơn kiện bọn đồn thuế. Thường ngày Thành đi chợ mua gạo, mua thức ăn. Bà chủ nhà trọ Đông Ba thấy một cậu con trai khôi ngô mà phải đi chợ, làm bếp, bà để ý tìm hiểu, đã biết được Thành là con trai quan thừa biện Bộ Lễ Nguyễn Sinh Huy, sống cảnh “gà trống nuôi con”. Do vậy bà chủ nhà trọ Đông Ba đã nhờ anh làm đơn giúp cho nhóm lái kẹo mạch nha. Hôm công việc xong xuôi, nhóm lái kẹo đã biện một cái lễ nhờ bà chủ trọ đưa đến nhà Thành để tạ. Thành đã từ chối. Họ nài nỉ mãi, anh đành lấy một bát kẹo mạch nha và một ít đường phèn. Đức tính cao thượng ấy của anh đã in sâu trong tình cảm nhóm lái kẹo mạch nha. Lúc anh ngỏ lời xin được đi nhờ vào miền trong, họ đón mời anh với một niềm vui “được dịp trả nghĩa cũ”.

Con đường từ Huế vào xứ Quảng như một sợi dây vắt vẻo qua những núi non khuất khúc, điệp điệp trùng trùng. Con ngựa ô bờm đen mượt, đuôi dài phu phê, dáng thon thon kéo cỗ xe chạy xăm xăm theo theo tay cương của người xà ích. Thành được nhường một chỗ ngồi thoải mái nhất. Anh có thể nhìn xa lên phía trước, nhìn sang bên đường qua ô cửa sổ nhỏ. Lúc nào mỏi, anh có thể nằm duỗi thoải mái ngang lòng thùng xe. Anh không dám ngồi ở vị trí tốt này. Nhưng cả ba ông lái mạch nha đều nhường :

– Cậu ấm đi vô xứ Quảng lần đầu, cần ngồi chỗ nớ mới dễ nhìn được phong cảnh sơn thủy hữu tình.

Ông xà ích vui vẻ giới thiệu :

– Từ đây vô Quảng Nghĩa (77) có nhiều cảnh đẹp. Chỉ tính đến Cửa Hàn cũng đã có cảnh đẹp Lăng Cô đèo Hải Vân, bến Nam Ô… Cậu ấm đã có chữ trong mắt thì nhìn cái đẹp một hóa đẹp hai, đẹp ba, bốn lần.

Thành tránh lời đề cao về mình, anh khiêm tốn :

– Mỗi một cuộc đi xa là một dịp học hỏi được những điều bổ ích, các bác ạ.

– Đúng. Đúng. – ông xà ích vẻ ăn ý nói – Cậu ấm nói đúng.

Đi một đoạn đàng, học một sàng khôn mà! Cuộc hành trình ngày đầu tiên qua được Lăng Cô. Người xà ích lái ngựa rẽ vào một làng nhỏ dưới chân đèo. Mọi người xúm vào việc cơm nước trước khi trời tối. Ông xà ích cho ngựa ăn thóc, uống nước. Thành lấy liềm, sọt đi cắt cỏ cho ngựa Cả nhóm lái kẹo ngạc nhiên :

– Ơ! Cậu ấm… sao cậu ấm lại đi làm cái việc…

Ông xà ích giằng lấy cái liềm trên tay Thành. Thành phải nói rõ ràng :

– Tuy là học trò, con nhà quan, nhưng từ lúc còn bé, ở nhà với bà ngoại, tôi đã quen những việc như thế này.

– Quý hóa quá! Quý hóa quá trời! – Những người lái kẹo xuýt xoa tấm tắc. – Nhà quan nào cũng như nhà cậu thì cánh dân đen hẳn là đỡ khổ đôi ba phần!

Qua một đêm ngủ bên đèo Mây, Tất Thành thấy sảng khoái như ở quê nhà. Ngồi trên xe ngựa lắc lư gập ghềnh mà đầu óc anh vẫn chưa hết bâng khuâng về giấc mơ về quê nhà đêm qua. Hình ảnh những người thân ở quê nhà bịn rịn trong tâm hồn anh…

Con ngựa ô kéo cỗ xe lên đèo Hải Vân, chân choãi về sau, toàn thân rướn lên phía trước, cái đầu lắc lư, bộ bờm đen mượt phập phồng, cổ dâm dấp mồ hôi. Thành thương con ngựa kéo nặng :

– Có lẽ ta xuống bớt, đẩy xe đỡ cho ngựa một chút.

– Khỏi – ông xà ích nói. – Sức ngựa ô khỏe, dai lắm. Kéo chừng này chả thấm tháp gì với sức của nó. Vì lên dốc, nó phải ráng sức chút xíu ạ.

Gặp phải buổi trời mù, đèo Hải Vân chìm trong mây trắng. Đi trên đèo, chỉ nghe tiếng sóng biển hòa với tiếng gió hú. Mấy bác Mấy bác lái kẹo băn khoăn :

– Tiếc quá, gặp phải hôm trời xấu, cậu ấm không được nhìn thấy mặt biển như lụa, ngọn đèo như tháp đồng đen, mây gấm, nắng tơ… Hùng vĩ và thơ mộng lắm, cậu ấm ạ.

Thành đưa mắt ra xa, toàn một màu trắng bồng bềnh. Đầu con ngựa như một mũi thuyền rẽ màn mây trắng đi vào cõi thần tiên. Anh bắt đầu cảm thấy lý thú như một chàng hiệp sĩ “chẳng quản gì da ngựa bọc thân”.

Bỗng ngựa hí, nhảy chồm lên, chân đá vào càng xe! Cỗ xe bị đổ về phía sau. Người, đồ đạc trên xe lăn cù cù, ngựa hí vài tiếng yếu đuối, vùng vẫy… Tiếng hổ gầm. Mọi người đã hết bàng hoàng, choàng dậy. Ông xà ích kêu thất thanh :

– Ôi! Trời đất ơi! Hổ vồ ngựa! Ngựa bị hổ móc cổ rồi.

Mọi người xúm đến quanh con ngựa. Con ngựa đã quỵ xuống, máu đang chảy lênh láng nóng hôi hổi, vết thương ở cổ toang hoác, cuống họng bị đứt lùa thùa, bộ bờm đen mượt phủ kín mắt như đang ngủ.

Ông xà ích khóc :

– Khổ thân con ngựa quý của tôi, vì vướng càng xe mà bị cọp vồ trộm mới nên cơ sự này! Nếu nó rộng chân thì một cọp chứ mười cọp cũng khó nhổ được một cái lông đuôi của nó. Ôi! Nó kết bạn với tôi đã gần mười năm rồi. Nó về nhà tôi lúc chưa mọc răng kia mà.

Ông cầm con mác cán dài đi theo vết máu mảng cổ ngựa bị hổ tha. Ai cũng ứa nước mắt, vỗ vỗ bàn tay lên mình ngựa còn đẫm mồ hôi. Tất Thành ngồi bên đầu ngựa vuốt mắt cho nó và vuốt bộ bờm mát rượi bàn tay.

Ông xà ích quay về, cắm phập cái mác xuống bên mình ngựa, tay chống nạnh.

– Tôi mà gặp được thì thằng cọp chết tươi hoặc tôi chết chứ chẳng chịu vầy đâu! Hu… hu…hu… – ông ôm mặt khóc to.

Anh em lái kẹo an ủi :

– Gặp xui (rủi) vầy rồi thì ta liệu việc để còn đi thấu Cửa Hàn kẻo tối trên đèo mất.

Ông xà ích tìm được một trảng cỏ bên thung lũng. Chỉ có một cái cuốc và mấy cái lưỡi mác, họ chuyền tay nhau đào bới. Thành cởi áo ngoài, xắn quần quá gối khuân đá, hót đất lên. Đào được một cái hố dài, sâu để lọt vừa thi hài ngựa, ông xà ích lồng sợi dây thừng ngang mình ngựa, mọi người xúm vào cùng kéo. Ông xà ích nước mắt ngắn nước mắt dài, nhờ Thành :

– Cậu ấm vần những hòn đá ra xa và chặn bằng các gốc cây để ông Mã đỡ xây xát, đỡ đau.

Ông xà ích e cậu ấm Thành chưa thông cảm về cách gọi tôn kính của ông, ông phân trần :

– Cậu ấm ơi, cái giống ngựa lúc còn sống thì làm thân tôi tớ cho người, khi chết hóa thành thần Mã, chầu nơi đền đài thờ vương, thờ đế.

– Cháu có hiểu phần nào cái điều ấy, chú ạ.

Ngôi mộ con ngựa được vun cao và xếp đá xung quanh. Ông xà ích quỳ trước mộ, khấn :

– Thưa ông Mã! Người xưa dạy : “Con trâu là đầu cơ nghiệp. Con ngựa là vựa tiền”. Lúc ông còn sống, ông đã gò lưng làm lụng nuôi cả nhà tôi. Chẳng may ông bị lâm nạn giữa truông, giữa đèo nên chứng tôi mai táng ông quá sơ sài xin vong linh ông mở lượng hải hà cho chúng tôi được phần nhờ. Xin hứa với ông chuyến đi kinh đô tối chứng tôi sẽ có lễ bạc lòng thành tạ trước mộ ông.

Nguyễn Tất Thành cùng đứng với các ông lái kẹo một hàng ngang trước mộ “ông Mã”, vái năm vái. Anh nao nao như lúc đứng trước ngôi mộ người thân. Mọi người xếp sắp lại đồ đoàn vào xe. Trời đã trưa. Sương tan. Mây trắng trôi trên đỉnh núi. Biển trải xanh xa dưới chân đèo thăm thẳm. Thành cảm thấy ngơ ngác trước biển cả núi cao này.

Ông xà ích giọng cứng rắn :

– Từ đây đến Liên Chiểu không còn xa nữa. Từ Liên Chiểu đến Nam Ô độ một dặm và về Cửa Hàn còn hơn hai dặm nữa. Về thấu tỉnh lỵ Quảng Nghĩa còn những ba mươi tám dặm kia.

– Chúng ta xếp đặt cách đi sao cho tiện bây giờ? – Một ông lái kẹo hỏi.

Ông xà ích nói :

-Một người cầm càng, hai người đẩy xe, hai người nữa ngồi trên xe, rồi lại thay nhau người đẩy, người nghỉ. Riêng cậu ấm Thành cứ nghỉ ở trên xe. Vô tới Cửa Hàn ta tìm xe quen để gởi cậu đi nhờ về Quảng Nghĩa.

– Các chú ơi! – Thành nói – Các chú đã nhận ghép cháu vào cùng một chuyến đi đường dài ngày. Mọi việc may, rủi xảy ra dọc đường, cháu cũng được chia phần, cùng gánh chịu như mấy chú vậy.

– Cậu ấm có cái bụng tốt ấy, bầy tui biết – ông xà ích nói. – Bầy tui thương chú học trò, tay yếu chân mềm mà làm cái việc đào đất cất gỗ, tội nghiệp quá ta!

– Cháu đã chịu đựng những nỗi khổ quen rồi, các chú ạ…

– Vậy thì – mấy mấy ông lái hồ hởi nói – ta đi nào ! Đi !…

Thành hai chân choãi ra sau, người vươn lên trước, tay đun xe bước đi giữa âm vang biển cả và gió hú đèo Mây.

9.2

Vào thấu thị xã Quảng Ngãi, Tất Thành ở lại đây mấy ngày vì thấm mệt qua chuyến đi đường dài. Những người lái kẹo mạch nha rất kính nể vốn học và mến tính siêng năng, đức hiền từ của Tất Thành, đã tha thiết mời anh ở lại dạy cho các con, cháu của họ học. Anh từ chối : “Cháu còn ít tuổi, cần phải đi đây đi đó để lượm lặt những điều hay lẽ phải thành cái vốn, lúc đó có đi dạy học hay làm việc gì mới thật sự có ích, các chú ạ”.

Những ngày lưu lại thị xã Quảng Ngãi cũng như đi qua Quảng Nam, Nguyễn Tất Thành nghe được nhiều tiếng dân kêu than. Lời nguyền rủa thực dân Pháp, oán thán bọn tay sai buôn dân bán nước, chẳng những Thành nghe được khá nhiều mà anh còn nghe được những tiếng dân ngợi ca, thương tiếc các ông nghè, ông cử ông tú ông đồ đã bị chém giết, tù đày vì nghĩa lớn. Tại Quảng Ngãi người ta bàn tán nhiều nhất là vụ dân nổi dậy đốt nhà tên đại việt gian Nguyễn Thân. Khắp các ngả đường, nơi chợ búa, trong quán trọ, cửa hàng nước… họ kể về lòng thương dân, tinh thần tiết tháo của quan Trần Văn Phổ (cha Trần Phú) làm tri huyện Đức Phổ. Ông không chịu hợp tác với tên công sứ Đô-đê đàn áp nhân dân nổi dậy chống sưu cao thuế nặng. Nó hứa sẽ thăng chức tri phủ cho ông. Nhưng ông đã mắng vào mặt tên Đô-đê. Nó dọa sẽ cách chức ông nếu ông không mộ phu, đưa lính đi theo nó về các làng trong huyện “làm nhiệm vụ”. Ông đã chống lại và đã thắt cổ tự tử tại công đường. Vợ ông là bà Hoàng Thị Cát đã bồng bế các con đến cửa Tây thị xã Quảng Ngãi, dựng quán bán nước chè kiếm sống…

Rời Quảng Ngãi, Thành đi vào Bình Định. Anh đi với phường tuồng Vinh Thanh huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, quê của quan thượng thư Đào Tấn. Phường được mời ra diễn tại thị xã Quảng Ngãi và giúp cho phường tuồng ở đây dựng vở “Hoàng Phi Hổ quá quan” của Đào Tấn.

Thành đến xem đoàn tuồng ở quê quan Đào Tấn diễn vở của Đào Tấn với một tình cảm sâu nặng, thầm kín. Anh ngồi xem tuồng, nhưng trong đầu anh thỉnh thoảng lại xuất hiện những hình ảnh quan Đào Tấn
cùng đàm đạo với cha mình trong căn nhà nho nhỏ ở thành nội, kinh đô Huế.

Đêm hát đã tan, Nguyễn Tất Thành dùng dằng không dứt ra về được. Người di xem hát về đã vãn, phường tuồng đã thay áo xong, anh ngẫm nghĩ một lúc rồi mạnh dạn đến gặp ông trùm phường :

– Thưa ông, cháu xin gặp người vừa sắm vai Hoàng Phi Hổ ạ.

Ông trùm phường nhìn Thành ngờ vực :

– Cậu gặp có việc gì?

– Thưa ông, cháu từ ngoài xứ Nghệ vô đây. Cháu thường được nghe các bậc cha chú ca tụng tuồng Bình Định. Nay cháu được xem phường tuồng của quê hương quan Đào Tấn, quả là “danh bất hư truyền”. (78)

Ông trùm phường vẻ cảm động :

– Đa tạ về những lời phẩm bình của cậu.

– Riêng có một chỗ trong vai Hoàng Phi Hổ, cháu muốn nói ra điều trộm nghĩ của cháu mà e có sự thất thố khác nào “đánh trống qua nhà sấm”.

– Cậu đã từ xứ Nghệ vô đây, lại có lòng hạ cố tới coi phường chúng tôi hát mà còn cho lời châu ngọc nữa thì đó là ơn tri ngộ, chứng tôi ghi nhớ mãi.

– Được như vậy thưa ông, cháu mạnh dạn xin tỏ bày : Người đóng vai Hoàng Phi Hổ cũng như tất cả các vai trong vở tuồng đều giỏi bộ, hát hay. Cháu được nghe cha cháu thường đàm đạo với bạn : Diễn tuồng mà chỉ có hát hay, điệu bộ kém và ngược lại, thì chẳng khác chi người bán thân bất toại (79). Bởi vì diễn tuồng là công việc chạm trổ hình ảnh người đời ở trên sân khấu, làm rõ từng cử chỉ, phong độ, tánh cách, lời ăn tiếng nói của nhân vật. Lại còn phải trạm trổ cái hồn văn của người viết vở diễn trong từng câu, từng lời với bao nhiêu thần sắc : hỉ, nộ, lạc, ai, ái, ố, dục (80), tức là bảy cái tính ở trong con người ta. Cháu thấy phường hát của ông đã thành đạt được những điều ấy. Người đóng đạt nhất là vai Hoàng Phi Hổ. Nhưng, vai Hoàng Phi Hổ còn gượng một chỗ khá quan hệ, đó là điệu cười chưa thật đúng tâm trạng nhân vật. (Ông trùm phường tuồng ngước nhìn Tất Thành, mắt lấp lánh niềm vui thán phục). Cháu cho là – Tất Thành nói – việc chạm trổ tính cách nhân vật Hoàng Phi Hổ là điều không dễ, mà khó nhất là lúc ông ta cười, một cái cười đẫm nước mắt. Vì Hoàng Phi Hổ là người đã nhiều phen vào sinh ra tử, dốc hết tâm sức thờ vua, nguyện suất đời trọn đạo trung quân. Nào ngờ vua Trụ lại làm nhục vợ mình. Cái khó xử cho Hoàng Phi Hổ là có dám chống lại vua để bảo vệ danh dự vợ chồng mình không? Mà chống lại vua là chống một niềm tin, một cơ đồ mình đã đổ máu hy sinh vì nó, và như vậy liệu có mang tiếng với thiên hạ, mình là kẻ phán phúc không? Hoàng Phi Hổ với tâm trạng ấy cho nên hát lên hai tiếng “phản Trụ” rồi cười, Hoàng Phi Hổ cười ai? Phải thấy Hoàng Phi Hổ cười cả cái chế độ nhà Trụ, một chế độ đã dày công xây đắp vững bền từ mấy đời nay sụp đổ chỉ vì một sắc đẹp, vì một người đàn bà. Hoàng Phi Hổ còn cười mình đã mù quáng, hy sinh cả đời mình một cách vô nghĩa! Theo cháu, người sắm vai Hoàng Phi Hổ phải tạo nên một tiếng cười lột tả được cái tâm trạng này.

Ông trùm phường tuồng ôm choàng lấy vai Nguyễn Tất Thành lắc lắc :

– Đúng cậu là… Cậu là thầy tuồng rồi!

– Không dám. – Tất Thành đáp. – Thưa ông, cháu chỉ là người khán giả nhỏ thôi ạ.

Ông trùm phường tuồng lại vỗ vai thân mật :

– Xin cậu cho biết quý danh?

– Dạ, cháu là Nguyễn Tất Thành ạ.

– Cậu còn trẻ mà đã tinh tường nghệ thuật tuồng khiến tôi phải sửng sốt. – Giọng ông bồi hồi : – Lúc sinh thời thầy tuồng của chúng tôi, quan Đào Tấn thường nói với chúng tôi : “Người xứ Nghệ rất mê tuồng và thưởng thức rất tinh tường”. Thầy còn nhắc tên những người bạn của thầy như quan đốc học Đặng Nguyên Cẩn, quan Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, ông giải nguyên Phan Bội Châu…

– Thưa ông cha cháu là Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ạ.

– Ồ! Trời đất! Cậu… là con quan Phó bảng Sắc! Hèn chi! Hiện thời quan Phó bảng đang ngồi ghế tri huyện tại Bình Khê, trong tỉnh chúng tôi.

– Dạ. Cháu vô thăm cha cháu đây ạ.

– Ô chà chà, còn chi bằng. Chúng tôi mời cậu ấm cùng đi vô với phường chúng tôi. Được vậy thì vinh hạnh cho chúng tôi lắm lắm.

*****

Thành bước vào cửa huyện đường Bình Khê lúc chiều tà. Quan huyện Nguyễn Sinh Huy và vài người lính lệ đang làm vườn. Người lính nhìn thấy khách lạ nói :

– Bẩm quan, có thư sinh nào… trông lạ kia ạ?

Quan huyện Huy nhìn lên, ngạc nhiên :

– À! – Ông nghiêm nét mặt, nói với anh trong lúc đi về phía Thành – Người con thứ của ta.

Thành chắp tay :

– Con chào cha. Cha có được khỏe không, thưa cha?

– Ừ, rất khỏe.

Mấy người lính chạy đến :

– Kính chào cậu ấm!

– Xin chào cậu ấm đến thăm quan lớn!

Tất Thành đáp lại rất lễ phép với những người lính hầu của cha mình.

Đám lính xuống nhà bếp lo cơm nước. Quan huyện Huy dẫn con về phòng riêng của mình. Ông ngồi đối diện với con ở ghế tràng kỷ. Ông hỏi lạnh lùng :

– Con đi đâu mà qua đây?

– Dạ, con đến với cha ạ.

– Anh đến với tôi để làm gì?

– Con đến thăm cha để rồi… con đi…

Nét mặt ông đã ấm lại và thoáng cười tươi :

– Được. Cha tưởng con đi theo cha thì đáng buồn. Con phải tự tìm ra cho mình một hướng đi, một con đường. Đời cha không có con đường, chỉ có một ngõ cụt. Cha đã không làm được điều mình hằng ước nguyện : vì Tổ quốc mà ngã giữa trận tiền, vì công bằng mà rơi đầu trước đám cường quyền bạo ngược. Cha đành chịu phận : chí đoản, hận trường(81).

– Nhớ lời cha dặn con hồi năm ngoái, nay con định đến Phan Thiết, trao phong thư của cha tới ông Hồ Tá Bang. Con sẽ xin được dạy học ở trường Dục Thanh một thời gian, cha ạ.

– Phải. Con cứ mạnh dạn làm, một khi lòng đã quyết. Con đã đến tuổi tráng niên rồi. Nhớ là : “Kỳ ấu giả duy phụ mẫu sở hữu chi thân, kỳ tráng giả duy quốc gia sở hữu chi thân, kỳ lão giả duy hậu thế sở quan trọng chi thân” (82).

Hai cha con cùng sưởi ấm cho nhau trong đêm trên đất Tây Sơn, quê hương người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ.

Sáng hôm sau, ông Sắc ra huyện đường xử một vụ kiện đã kéo dài cả ngày hôm qua vẫn chưa xong. Anh Thành nhờ một anh lính huyện, người ấp Tây Sơn đưa đi thăm miền đất tụ nghĩa “áo vải cờ đào”. Lúc trở về mặt trời đã tròn bóng. Thành thấy gương mặt cha đanh như thép lạnh. Anh chưa rõ nguyên do mà lòng cứ thổn thức với nỗi cô đơn của cha.

Anh lính lệ bưng cơm lên và lễ phép mời hai cha con quan huyện :

– Bẩm quan lớn và cậu ấm mời cơm ạ!

Thành để cha ngồi vào bàn ăn trước. Anh ngạc nhiên thấy cha tự tay mở lồng bàn và nghiêm giọng như hỏi cung phạm nhân :

– Món tôm he bữa qua còn khá nhiều sao không…

Anh lính lúng túng thưa :

– Bẩm quan lớn! Con sơ ý đậy không kỹ để mèo ăn hết cả rồi ạ.

Ông huyện Sắc đặt mạnh tay gần như ném cái lồng bàn xuống phản ngồi, hỏi :

– Mèo ăn vụng thì hết một con hai con, sao lại hết nhẵn từng ấy con tôm he to gần bằng cổ tay?

Mắt Thành tối sầm lại! Anh thầm nghĩ : Từ ngày còn sống dưới nách cha chưa bao giờ thấy cha để ý đến miếng ăn, sao bây giờ…? Chẳng lẽ cái “quan tham ô lại” cũng nhiễm vào cha mình?

Anh lính hầu mặt xanh như lá, nói líu cả lưỡi :

– Bẩm quan lớn! Có đèn trời soi xét cho con. Chỉ có mèo ăn thôi ạ!

Ông huyện Sắc đập mạnh tay xuống bàn, quát :

– Ta sẽ tra cứu đến nơi. Anh ăn tôm mà đổ cho mèo thì trục hồi bản quán ngay.

Người lính hầu quỳ xuống đất khấu đầu, tay vái :

– Bẩm quan lớn! Con ăn tôm ạ. Xin quan lớn rộng lượng hải hà cho con!

Thành hai tay ôm mặt quay đi. Nhưng ông Sắc đã cúi xuống nâng anh lính hầu đứng dậy, giọng ông thấm nước mắt :

– Tôi xin lỗi. Tôi xin lỗi anh. Mèo không ăn mất tôm, anh cũng không ăn mất tôm đâu. Đĩa tôm he vẫn còn nguyên vẹn tôi đang giấu ở tủ hồ sơ. Tôi thử anh để mà nghiệm ra việc xử vụ án suốt hai ngày mà bị can vẫn chưa chịu nhận “tội”. Lúc tôi phải dùng bàn tay đập bàn hăm dọa, truy bức thì bị can liền “thú tội”! Tôi e rằng họ bị oan!

Ông quay lại nói với Thành, giọng xúc động :

– Làm quan dẫu có giữ mình trong sạch cũng không tránh được hết lỗi lầm. Chỉ một lần gieo oan thì cũng phải ba đời mình chịu oán. Sẽ thất đức con ạ. Thôi… đi đi… con! Nước mất con đi tìm nước… Sớm muộn rồi cha cũng sẽ là nạn nhân chứ không thể là kẻ sát nhân trên cái ghế quan trường này!…

————

Chú thích:

(77) Quảng Ngãi
(78) Tiếng đồn không sai
(79) Bại liệt mất một nửa người không hoạt động được
(80) Mừng, giận, vui, buồn, yêu, ghét, ham muốn
(81) Chí nhỏ hận dài
(82) Đại ý : Lúc ta còn thơ ấu thì thuộc quyền cha mẹ, lúc ta lớn lên thuộc về đất nước, lúc về già lại phải dành cho lớp người sau là quan trọng nhất.

Hoàng Nhật Minh

Búp sen xanh – Chương II: Phần 8

THỜI NIÊN THIẾU

Cuộc nổi dậy của người Thừa Thiên – Huế kéo dài đến ngày thứ tư thì bị dập tắt.

Nguyễn Tất Thành bị cảnh sát săn đuổi. Anh phải sống ẩn náu trong nhà một vài bạn học mà cảnh sát và nhà trường không để ý tới. Thành được anh Đạt và một số bạn hằng ngày đem cho những tin tức mới ở trường, Tòa khâm sứ cho người sang trường Quốc học khiển trách về vụ học sinh đã tham gia biểu tình chống “nhà nước bảo hộ”. Tòa khâm còn ban bố lệnh : “Những trò nào chỉ là a tòng, vì bị rủ rê mà nhập đoàn nhập ngũ đi reo thì phải làm giấy tự thú với Hiệu trưởng mới được học tiếp. Những trò nào đứng ra hô hào dân chúng và học trò tham gia bạo loạn thì phải đuổi khỏi trường ngay”.

Thầy Lê Văn Miến và một số thầy người Việt phản đối việc đuổi và bắt học trò làm giấy đầu thú. Viên khâm sứ nguyên có biết thầy Miến tại Pa-ri, đã nhiều lần mời thầy sang tòa khâm chơi, nhưng thầy từ chối. Thậm chí mỗi lần y đến trường Quốc học, cố ý để gặp thầy Lê Văn Miến, ông đều tránh mặt y. Lần này, đề lấy lòng thầy Miến, y đã “miễn tội” cho những học sinh tham gia vụ biểu tình chống bắt phu giảm sưu thuế của bà con nông dân Thừa Thiên – Huế. Nhưng, Nguyễn Tất Thành vẫn phải làm “tờ thư” nộp cho Hiệu trưởng và đi theo Hiệu trưởng đến tòa khâm để cam đoan từ nay về sau không được làm việc gì gây tổn hại đến “sự nghiệp của nhà nước bảo hộ”.

Đạt đưa thầy Lê Văn Miến đến gặp Thành. Thầy Miến chân thành nói :

– Trước ngày đi Bình Khê nhận chức, quan Phó bảng có dặn thầy : “… hãy vì tình bằng hữu giúp tôi trong việc chăm sóc các cháu Đạt, cháu Thành, đặc biệt là cháu Thành học tới thành chung”. Nếu quan Phó bảng không gửi gắm thì thầy vẫn làm phận sự ấy với hai trò. Thầy rất quý cái tâm, cái chí sáng của trò. Thầy muốn trò. chịu nhẫn nhục để học cho tới bằng thành chung rồi trò sẽ tự quyết con đường sống của mình…

– Thưa thầy, – Thành nói từ tốn – con không lỗi đạo thầy trò. Vừa qua, con hành động đúng. Con đã có năm ba chữ, biết suy nghĩ, con sang tuổi mười tám rồi, con không thể thờ ơ trước việc đồng bào mình bị chà đạp, phải đứng dậy đòi được quyền sống. Con biết ơn thầy muốn giúp con được tiếp tục học đến đầu đến đũa ở cái trường này. Nhưng, thưa thầy, con cam chịu bị đuổi ra khỏi trường chứ không thể tự trói mình nộp mạng cho tòa khâm!

– Thưa thầy – Đạt nói – vừa rồi Công tôn nữ Huệ Minh gặp con cho biết : mệ đã gặp vợ ông khâm sứ, nhờ xin cho Thành được trở lại tiếp tục học, do vậy mà tòa khâm mới có cái “đặc ân” gửi sang trường…

– À! – Thầy giáo Miến hơi cúi xuống, vẻ ngạc nhiên. – Thì ra đằng sau cái việc tòa khâm cho trò Nguyễn Tất Thành được trở lại trường học còn có…

– Thưa thầy – giọng Thành đanh lại – lão khâm sứ đã dám chìa bản “đầu thú” viết sẵn ra trước mặt đức vua Thành Thái giữa lúc vua bước ra khỏi hoàng cưng lên đường đi đày. Đức vua đã ném cái tờ giấy nhục nhã ấy xuống đất ngẩng cao đầu : “Muôn dân nô lệ từng đàn, vui chi bệ ngọc ngai vàng riêng ta?…”. Thưa thầy, vua ung dung đi đày, không quay trở lại ngồi trên ngai vàng nô lệ. Cái ghế học trò! Con yêu nó như yêu cái thềm nhà in dấu vết con tập bò, tập đi. Nhưng con không thể chịu nhục ôm cái ghế để có mảnh bằng thành chung. Thầy hiểu cho lòng con…

– Tất Thành! Con đừng nói thêm một lời nào nữa! – Thầy Lê Văn Miến hai bàn tay bưng lấy mặt nói. – Con hãy đi… đi theo tiếng gọi của lòng con…Thầy và vị thân sinh của con…

Thầy giáo Lê Văn Miến nghẹn ngào nuốt trở vào những lời ông chưa kịp nói ra. Ông từ biệt Nguyễn Tất Thành, người học trò đã để lại trong tâm trí ông cái ấn tượng như con số 1 đứng ở đầu hàng số dài vô tận…

*****

Thầy giáo Miến đi rồi, Thành càng bâng khuâng về lời thầy nói lúc đầu : “Thầy đã ở tại thủ đô nước Pháp. Quả là một cường quốc bậc nhất hoàn cầu. Nước Việt Nam là hàng nhược tiểu, thua kém họ nhiều lắm. Các bậc tiền nhân, các nhà có khoa bảng đã dám đứng ra chống người Pháp, rất đáng kính phục, nhưng chỉ là lấy gậy chọc trời. Rốt cuộc, hết thất bại này đến thất bại khác. Lớp người tai mắt như Trần Cao Vân, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Nguyễn Hàm, Nguyễn Thành, Nguyễn Văn Ngôn, Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân, Phạm Văn Ngôn… đều bị gông cổ đày đi biệt xứ. Quan nghè Trần Quý Cáp bị chặt đầu, mất xác. Phan Bội Châu và những đồng chí của ông hiện đang sống lênh đênh, phiêu bạt trên đất Phù Tang, đất Tàu…”

Tất Thành băn khoăn : Ông Phan Bội Châu coi Nhật là cường quốc của châu Á, chọn Nhật làm chỗ dựa để đuổi người Pháp, giành độc lập cho nước nhà. Nhưng nghe nói Nhật đang bắt đầu trở mặt với ông Phan, thân thiện với Pháp. Thầy giáo Lê Văn Miến đi Pháp về thấy Pháp là nước hùng mạnh, thấy nước nhà nhỏ yếu tuyệt vọng Thầy đã coi việc ta mất nước cho Pháp gần như một định luật, không còn phương cứu nữa…

Đạt đi tiễn thầy Miến rồi về quán trọ Ao Hồ, lúc trở lại vẫn thấy Thành ngồi trầm ngâm như pho tượng, anh an ủi em :

– Nếu không còn ở lại Huế nổi thì em vô Bình Khê với cha, hoặc em về Nghệ An với chị Thanh. Em nghĩ ngợi nhiều có ích gì?

– Không nghĩ sao được anh? Bao nhiêu người tai mắt của đất nước lần lượt bị giết, bị hạ ngục, hoặc đày đi Côn Lôn, Lao Bảo… Còn nữa thì lại nuốt hận, coi việc nước mình mất cho Pháp là điều không tránh khỏi.

– Thầy Miến nói cũng có phần nào đúng chứ em?

– Anh biểu có phần đúng là những phần nào?

– Chúng mình đi đến đâu cũng thấy người Pháp họ đến nắm quyền cai trị, cai trị từ vua cai trị xuống. Chúng mình học, đọc sách, thấy nước Pháp họ văn minh, thứ gì họ cũng hơn hẳn nước mình. Nước lớn ức hiếp nước bé, kẻ mạnh bắt nạt người yếu, thời nào cũng vẫn có chuyện đó, em ạ.

– Điều anh nói đó là hoàn toàn đứng. Nhưng, em thấy nếu cuộc đời chì quay có một chiều : lớn thắng bé, mạnh được yếu, thì nhân loại từ xưa tới nay chi có lăn theo cái trật tự ấy. Trái lại, dân tộc ta nhỏ mà đã thắng nhà Hán, thắng nhà Tống, thắng nhà Nguyên, thắng nhà Minh, thắng nhà Thanh. Tổ tiên đã dám đánh thắng kẻ thù dân tộc lớn mạnh hơn mình gấp bao nhiêu lần, lẽ nào ngày nay lại không có ai dám dương đầu với quân Pháp cường bạo?

Đạt ngồi lặng nhìn hai bàn chân em luôn luôn xê dịch trên nền nhà. Anh hỏi em một cách đột ngột:

– Em định thế nào?

– Em rời khỏi Huế ngay hôm nay.

– Em đi đâu?

– Em đi lần vô miền trong.

– Để làm gì?

– Em còn muốn đi xa nữa. Đi để biết, để học, để rồi làm được một việc gì có ích cho dân mình, nước mình…

– Em đã nghĩ kỹ chưa?

– Từ lâu em đã tìm, đã lựa chọn cho mình một hướng đi, anh ạ.

– Em đã quyết thì hành. Anh học hết niên khóa này, anh cũng sẽ chọn một hướng sống hợp với mình…

Hai anh em nhìn nhau. Mắt ướt! Ngoài vườn khuya, tiếng chim rời rạc vọng vào như từng giọt lệ rơi : quốc… quốc…

Hoàng Nhật Minh

Búp sen xanh – Chương II: Phần 7

THỜI NIÊN THIẾU

7.1

Nguyễn Tất Đạt từ Nghệ An trở vào Huế. Đạt bàng hoàng trước cảnh nhà : cha đã đi khỏi kinh đô Huế, em trai Nguyễn Tất Thành bị cảm sốt từ hôm tiễn cha đi, nằm mê man. Những người bạn thân nhất của Thành là Diệp Văn Kỳ, Lê Thị Hạnh đã về Sài Gòn, Công tôn nữ Huệ Minh đã về nhà chồng, Thành nhờ có một số bạn học mới giúp thuốc thang và cháo lão… Tất Đạt chạy thầy, chạy thuốc tiếp cho em. Anh sang tận bên An Cựu mời thầy lang nổi tiếng về nuôi tại nhà trong những ngày em bệnh nặng. Khi được biết rõ bệnh nhân là con trai thứ quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy, thầy lang đã không lấy tiền bắt mạch kê đơn và cũng từ chối cả việc cơm nước.

Thành khỏi bệnh, hai anh em trả nhà cho chủ đến ở trọ tại quán Ao Hồ (đường Mạc Đĩnh Chi bây giờ). Trường Quốc học có mặt học sinh mười hai tỉnh của xứ Trung Kỳ, nhưng học trò Nghệ Tĩnh, Quảng Nam là đông nhất. Do đó, có hai quán trọ dành riêng cho học trò xứ Nghệ và học trò xứ Quảng. Hai anh em Thành trọ chung một buồng hạng ít tiền nhất, tự giặt lấy quần áo, ăn cơm “bình dân”.

Thầy Lê Văn Miến ghé thăm nơi ăn, chỗ ở của học trò Nghệ, đồng hương với thầy. Thầy Miến băn khoăn nói với anh em Thành :

– Trước ngày quan Phó bảng đi Bình Khê nhận chức tri huyện; thầy có bàn việc đón hai trò đến nhà thầy ở. Nhà thầy rộng, có nơi ngồi học riêng biệt. Thầy không sống bằng cao lương mỹ vị. Nhưng nhìn bữa ăn của hai trò, thầy không cầm lòng nổi. Hai trò về nhà thầy ở. Nhà thầy có một khu vườn xanh, cả ngày không lúc nào vắng tiếng chim, có những chậu cảnh, các loại hoa quý, Thầy biết trò Thành yêu cảnh trí và thích hội họa. Thầy sẽ dạy cho trò học thêm môn vẽ.

– Thưa thầy, – Thành lễ phép nói – con và anh con rất biết tấm lòng vàng của thầy. Và chúng con khi được ở bên thầy việc học của chứng con càng tấn tới. Nhưng thưa thầy chúng con cũng muốn sống tự lực, để khi gặp phải cảnh ngộ nào chúng con vẫn giữ được nếp nhà.

Thành nhìn bộ quần áo của thầy, giọng xúc động :

– Thầy là gương sáng về cốt cách người Nam để chúng con noi theo : thầy đã từng du học ở bên Tây, ăn cơm Tây, nói tiếng Tây, nhưng không hề thấy thầy đã bị trừ đi một phần nào cái cốt cách dân tộc. Nhưng chúng con thấy một số thầy người Nam mà cách nồi, cử chỉ, ăn mặc lại hoàn toàn như người Tây. Trong khi đó có những thầy người Tây lại ra công học tiếng Việt Nam, mặc y phục Việt Nam, đặt tên Việt Nam và tập ăn các thứ mắm, ăn trầu thuốc nữa…

Thầy Lê Văn Miến cầm lấy bàn tay thon thon của Tất Thành, giọng ông nói ấm áp :

– Tục ngữ có câu: “Đã khôn từ trứng khôn ra, đã dại đến già vẫn dại”. Tiền đồ của dân tộc phải trông đợi ở lớp người trẻ. Lớp người như thầy thật vô dụng…

Nguyễn Tất Thành hơi bối rối :

– Thưa thầy không có lớp các thầy những người như thầy, thì đâu có lớp chúng con?…

Hai thầy trò cùng nhau đi khoan thai tới quán sách cụ Lừa…

*****

Nguyễn Tất Thành ngồi trong lớp nhìn lên bảng đen :

Giờ học lịch sử cuộc cách mạng Pháp 1789.

Ông giáo người Pháp Gơ-ri-phông (Griffon) bước vào. Cả lớp đứng dậy đều răm rắp. Ông ta bước lên bục giảng, đưa mắt “điểm danh” từng dãy bàn. Ông nói giọng thổ : “Các trò ngồi xuống. Hôm nay chúng ta học phần : Nguyên nhân nổ ra cuộc cách mạng 1789”.

Giáo sư Gơ-ri-phông bước xuống bục, đi xuống đi lên giữa những dãy ghế học trò đang chăm chú chép bài. Tai nghe, tay chép lia lịa mà lòng Thành ngổn ngang với bao vấn đề của bài học lịch sử.

“Nhà vua chỉ nhận tước phong của Thượng đế và có có trách nhiệm trước Thượng đế. Quyền của nhà vua không có giới hạn. Nhà vua có toàn quyền đối với tính mệnh và tài sản của dân.

“Dân không có quyền mà có bổn phận vâng lệnh vua. Báo chí, sách vở không được in ra nếu chưa được kiểm duyệt. Nhà vua có quyền lấy tài sản của dân bằng mệnh lệnh tịch thu. Nhà vua muốn bắt giam người nào chỉ cần một tờ lệnh.

“Nhà vua sống trong cung điện ở Véc-xay (Versailles). Có từ một vạn bảy ngàn đến một vạn tám ngàn quần thần mà số phục dịch vua và vợ con vua là một ngàn người. Mỗi năm nhà vua tiêu tốn cho mình là 50 triệu bảng (73), chiếm một phần mười lợi tức nhà nước.

“Nước Pháp thời trước cuộc đại cách mạng 1789 có trên hai mươi sáu triệu dân, chia thành ba giai cấp : giáo hội, quý tộc, thứ dân. “Giáo hội là giai cấp đứng hàng đầu trong cả nước. Giai cấp này có độ một trăm ba mươi ngàn giáo sĩ được tổ chức thành một đoàn thể chặt chẽ. Nhà vua công nhận cho giáo hội quyền thu thuế nhận mọi bổng lộc, có tòa án riêng. Giáo hội chiếm một phần mười diện tích ruộng đất trong toàn nước Pháp, có nhiều lâu đài, biệt thự cho thuê ở khắp các thành phố lớn.

“Giai cấp quý tộc được ưu đãi thứ hai sau giáo hội. Quý tộc gồm hai hạng : quý tộc dòng giống, thuộc dòng dõi chính thống; quý tộc hàm là hạng bỏ tiền mua từ những đời cha, ông trước.

“Quyền lợi của đám quý tộc : mặc sắc phục riêng, ngồi ở hàng danh dự lúc vào nhà thờ, nơi yến tiệc; miễn để quân đội trưng dụng nhà, hưởng đặc quyền trước pháp luật, chỉ bị xử trước quốc hội mà thôi. Quý tộc còn được các quyền : sử dụng đất đai, quyền thu thuế quyền săn bắn, quyền xử án, bắt phu, ưu tiên qua cầu đi đường.

“Giai cấp thứ dân gồm những người công chức nhỏ, sĩ quan cấp thấp, bác sĩ, kỹ sư, nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ, luật sư, thương gia, kỹ nghệ gia, thợ thuyền, dân cày”…

Chép xong bài, cả lớp đặt bút xuống bàn, tháo ống áo lót cánh tay viết ra, ngồi nghe thầy giảng. Thành nhìn chăm chăm ông giáo Gơ-ri-phông mà anh không nghe rõ thầy giáo nói những gì. Trước mắt anh là một nước Pháp có cụ Vi-ta-li nhân từ thương yêu đùm bọc bé Rê-mi. Có Giăng Van-giăng đau khổ mà độ lượng, trọng lời hứa, nuôi nấng Cô-dét suốt đời ông. Có những người mẹ như má Bác-bơ-ranh, như Phăng-tin. Có gia đình bác trồng hoa A-canh, ai cũng tốt bụng. Có anh sinh viên Ma-ri-uýt hăng hái cách mạng, có em thiếu niên Ga-vơ-rốt dũng cảm. Và nước Pháp đầy rẫy những tên mật thám Gia-ve, những thằng người như Đơ-rit- xcôn, Tê-nác-đi-ê nham hiểm, đểu cáng (74).

Càng nghe thầy giảng, dòng suy nghĩ của anh càng dài. Những câu hỏi lớn nối tiếp hiện ra theo các nhân vật mà anh đã gặp trong những trang sách thuê đọc ở quán sách cụ Lừa. Lòng anh càng trăn trở về một câu hỏi : Nước Pháp đã sinh ra được những nhà tư tưởng như Mông-tét-ki-ơ (Montesquieu), Rút-xô (Rousseau), Vôn-te (Voltaire) và Công-đoóc-xê (Condorcet)… Họ đã đề xướng ra Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Họ đã đấu tranh đòi quyền cơ bản của con người – Nhân quyền. Vậy mà ở đất nước Nam này lù lù cái ông Tây từ đâu đến chân lấm đầy máu của con người?

Thành chợt tỉnh, trước mặt vẫn là ông giáo người Tây Gơ-ri-phông đang thao thao bất tuyệt :

– Các trò về học thuộc bài. Học lịch sử là phải học thuộc tất cả những chi tiết trong từng sự kiện, từng thời đại từng ông vua, vị tướng. Các trò phải noi gương trò Nguyễn Văn Thơ, Hồ Đắc Ưng (75) hiện học ở lớp trên các trò. Trò Thơ đã nhớ tất cả năm sinh, ngày chết của các vua, các tướng, các danh nhân người Pháp và các biến cố trên thế giới. Còn trò Hồ Đắc Ưng lại có bộ óc biệt tài, đã nhớ hết tên các con sông, các dãy núi của nước Pháp. Trò Ưng còn thuộc làu làu tên nước, tên thủ đô, thành phố lớn của các quốc gia trên khắp hoàn cầu…

Tan buổi học, cả lớp ùa ra sân. Thành nhìn quanh các phía không thấy anh Đạt. Thành bước dọc theo lối cỏ mịn, gương mặt anh trầm tư. Võ Liêm Sơn, Lê Đình Thám, Võ Chuẩn, Lê Thanh Cảnh ở phía sau chạy ùa lên cùng đi ngang hàng với Thành, cười đùa tíu tít…

Bất chợt Sơn hỏi Thành :

– Thầy Gơ-ri-phông đưa cậu ấm Thơ, cậu ấm Ưng lên tận mây xanh, Thành thấy sao?

Thành nhìn Chuẩn và Cảnh :

– Xin nhường để bạn Chuẩn và bạn Cảnh là hai bộ máy nhớ nhất lớp của chúng mình cho cảm tưởng trước.

Chuẩn mỉm cười. Cảnh ít tuổi nhất nhóm nhanh nhảu nói :

– Học thuộc tên các vua, tên sông, tên núi, tên các kinh đô, thành phố lớn có khó chi. Thầy nêu gương hai người trên lớp đàn anh là mẹo của thầy để chúng ta phải học thuộc bài…

Thành mặt buồn buồn, lơ đãng :

– Các anh ấy đã học lên được lớp cao, thuộc lòng được nhiều pho sử ký, pho địa dư của nước Pháp. Biết nhiều càng quý, không sợ thừa. Tiếc là hai anh ấy lại quên mất lịch sử nước nhà, chẳng nhớ nổi tên các con sông, các trái núi ở quê hương mình!

Lê Đình Thám nói :

– Có lần chính hai anh đến chơi ở nhà bác tôi. Ông bác họ tôi rặt lấy sức nhớ sử sách ở bên Pháp của hai anh ra so bì với đám con cháu trong nhà. Bỗng anh Thơ thấy trên án thư cuốn sách “Hồng Nghĩa giác tư y thư” của Tuệ Tĩnh, liền hỏi :

– Sách thuốc của Tàu phải không thưa bác?

– Cháu coi lại tên tác giả và đọc lời tựa thì biết.

Bác tôi thấy anh Thơ lúng túng, lật giở pho sách trên tay một lúc khá lâu mà vẫn chưa phân rõ được là sách ta hay sách Tàu. Thấy vậy, bác tôi phải dẫn giải rạch ròi :

– Tuệ Tĩnh là nhà đại danh y của nước ta. Ngài là người đầu tiên đặt nền móng y học Việt Nam với phương sách : “Thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt”. Pho sách “Hồng Nghĩa giác tư y thư” của ngài có nghĩa là pho sách thuốc giác tư của vị danh y. Hồng Nghĩa tức là quê của Tuệ Tĩnh, làng Nghĩa Phú, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương. Còn chữ giác tư là gốc của câu : “dĩ tư đạo lý giác tư dân” nghĩa là lấy đạo lý này mà giác ngộ cho dân. Như vậy là nhà đại danh y Tuệ Tĩnh đặt tên sách với ý chỉ dẫn cho người làm thuốc nước mình một phương hướng trị bệnh cứu dân…

Thành và mấy bạn học cùng lớp vừa đi vừa say sưa nghe Thám kể chuyện. Đi quá lối rẽ về Ao Hồ, Thành chia tay các bạn, trở về quán trọ. Trong tâm trí anh vẫn sừng sững một câu hỏi : Những nhà cách mạng Pháp (1789) đã dấy động dân chúng Pháp đánh đổ bọn thống trị tàn bạo, đặc quyền đặc lợi, giải phóng con người xác lập quyền cơ bản của con người mà quyền Tự do là trên hết, sao dân chúng Pháp vẫn còn “Những kẻ khốn nạn”, những kẻ “Không gia đình”? Anh tâm niệm : Điều cha mình nói chí phải : Công bằng viễn lộ hà xứ thị?

7.2

Lá cờ Tây ba sắc ngạo nghễ trên nóc tòa khâm, phủ bóng đen xuống gương mặt kinh đô Huế u buồn. Những đoàn người quần áo nâu sồng và màu sắc thanh nhã, lũ lượt tay bưng lễ vật đổ về các chùa lớn, chùa nhỏ dự lễ Phật sinh. Trên các ngả đường của kinh thành, những thầy bói, thầy tướng số và người hành khất, người bán hoa sen, hoa huệ, hương ràng càng đông nườm nượp.

Trên đường về chùa hành lễ, người dân Huế vừa nói chuyện cúng bái, kinh kệ, vừa kháo nhau về chuyện sưu cao thuế nặng : thuế ruộng đang thu bằng thóc, mỗi mẫu quy ra tiền là bảy quan ba đã tăng lên mười quan, thuế thân (thuế đinh) từ hai hào tăng lên hai đồng bốn hào một người. Chính phủ “bảo hộ” và Nam triều còn ban hành hàng loạt các thứ thuế mới : thuế chợ, thuế đò, thuế muối, thuế hàng chuyến, thuế hàng hóa… Lại còn cái nạn đi phu, đi lính, đôn người dân vào con đường khốn quẫn, không còn lối sống.

Bà con nông dân huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam đã đứng lên rồi. Họ bao vây huyện đường đòi bỏ sưu, giảm thuế bỏ lệnh bắt xâu… Họ còn kéo lên tận tòa công sứ Quảng Nam đòi quyền lợi, đòi thả những đại biểu của họ bị bắt giam. Cuộc đấu tranh đang ngày càng lan rộng như đám cháy rừng.

Nguyễn Tất Thành nghĩ học nhân ngày Phật sinh. Thành đi chùa xem lễ, anh nghe được nhiều tiếng kêu than của bà con đang sống trong tình cảnh bị “vạc thịt đẽo xương”…

Một sáng tháng tư năm 1908 (76). Cũng như mọi sáng, Thành cắp sách đến trường. Thành ngơ ngác : từng đoàn người chân đất, áo rách, nón mê, tay không tấc sắt từ Công Lương, An Hòa, An Cựu và Kim Luông, Bao Vinh kéo đến trước tòa khâm. Thành vội vàng đưa cặp sách cho anh :

– Anh đưa đi gửi để em chạy đi gọi một số bạn nữa đến thông ngôn giúp cho bà con…

Thành chạy về phía gần chợ Cống gặp Lê Thanh Cảnh, Nguyễn Hương Bính, Bửu Bành, Phan Văn Phúc. Thành vừa thở, vừa nói :

– Các bạn ơi… đồng bào đi xin xâu, chứng mình đi theo ủng hộ họ, thông ngôn giúp họ… Mau đi nào?

Cả tốp học trò chạy theo Tất Thành nhập vào dòng người như một con sông mùa nước lũ. Thành cầm cái nón lật ngửa lên, nói lớn :

– Số người nghèo khổ như vành nón, số giàu sang quyền quý như chóp nón. Đồng bào ơi, chứng ta phải lật ngược cái tình trạng hiện tại…

Tất Thành và cả nhóm học sinh Quốc học đi trong đội ngũ những người đấu tranh đòi quyền sống. Họ vừa đi vừa reo, hô : “Bỏ sưu, giảm thuế, chấm dứt bắt xâu!”. Một số người trong đám biểu tình cầm kéo, cầm lược nhìn những thanh niên trai tráng và các ông ở tuổi trung niên, ai để tóc búi đụm củ hành liền bị họ kéo vào vệ đường húi ngắn tóc kiểu mai cua. Đồng bào gọi là “cúp tóc Duy Tân”. Thành với nhóm bạn học cùng trường chạy lên phía trước, đã thấy Sơn, Thám cùng với anh Đạt đang đi trong dòng người. Phan Khải đang đứng trong ngõ, khuất sau dãy bờ xanh xén bằng bặn, lấp ló nhìn ra dòng người đi cuồn cuộn… Tất Thành chạy rẽ vào ngõ, gọi :

– Anh Khải! Sao anh…? Anh mà không ra giúp đồng bào đòi bỏ xâu, giảm thuế à?

– Từ nãy giờ mình chưa rõ họ làm cái chuyện chi đây?

– Họ đòi được có quyền sống! Anh là cháu ngoại quan tổng đốc Hoàng Diệu mà đứng ngoài nhìn thế cuộc à?

Phan Khải mạnh dạn hơn, bước sải chân qua hàng rào, nhập vào dòng người chân đất, đầu trần, thẳng bước… Những dòng người đã tụ hội trước tòa khâm, nối dài ra tận cầu Tràng Tiền, nghẽn cả lối đi. Lính khố xanh dàn hàng rào trước bể người. Tên khâm sứ tránh mặt. Tên Đơ La-xuýt ngồi trên yên ngựa chiến đốc thúc quân lính cố đẩy lùi làn sóng người đang ập tới. Thành và nhóm học sinh Quốc học đứng ở hàng đầu của đám biểu tình nhìn rõ mặt tên thực dân. Hồi năm ngoái hắn diễu ngựa trước hàng rào lính trong buổi sáng bắt vua Thành Thái đi đày. Tim anh đau nhói. Anh và các bạn dùng tiếng Pháp cùng hô lên những điều đồng bào đòi : bỏ xâu, giảm thuế, cần tự do, cần cơm áo, cần sống yên ổn trên quê hương xứ sở.

Đơ La-xuýt ghìm cương, con ngựa chồm hai vó trước lên hí dài theo tiếng gầm của chủ nó… Cả đám lính giơ gậy tre quật túi bụi xuống đám học sinh Quốc học. Tức nước vỡ bờ! Cả một khối lực lượng quần chúng như ngọn sóng thần ập xuống quân thù…

Đám lính khố xanh chạy dạt dùa tẩu tán. Tên Đơ La-xuýt thúc ngựa quay vào. Lập tức giám binh gọi lính Tây, lính khố đỏ từ đồn Mang Cá lên.

Súng nổ! Đạn xẹt qua đầu. Người người tán loạn… Súng nổ ran kinh thành. Người dân Huế ngã xuống!

Tất Thành và các bạn anh chạy về phía trường Quốc học. Anh vẫn nghe tiếng : “Đồng bào tiếp tục kéo vô thành! Chết đạn còn hơn sống kiếp ngựa trâu. Tiến vô, đồng bào ơi!”.

Giữa biển người ào ạt, Thành thấy một người trạc tuổi anh ôm đầu máu chạy được một đoạn rồi ngã gục xuống vệ đường Chẳng bù suy tính, Thành cởi ngay áo ra, xé, lau máu trên mặt cho nạn nhân. Một vết thương dài quá ngón tay trên góc trán bên trái. Thành lấy manh áo của mình băng bó lại. Một số bà con đã xúm lại. Sơn cũng vừa chạy tới. Thành giục luôn :

– Sơn khiêng một tay anh ấy vô nhà gần đây gửi tạm…

Nạn nhân mở choàng mắt nhìn Thành. Anh ta lại nhắm nghiền mắt, lịm đi. Vừa lúc đó có người chạy tới :

– Người làng tui đó. Đội ơn các cậu đã cứu nạn cứu khổ cho anh nớ… Cứu một người phúc đẳng hà sa!…

Thành và Sơn chạy về tới quán cụ Lừa. Đạt và một số khá đông học sinh các lớp đang bàn tán… Thấy em đã trở lại, Đạt vừa mừng vừa lo lắng, nói :

– Thành à! Cò Tây chúng nó đã nhận ra em đi hàng đầu cùng đám học trò đi hô hào “cúp tóc Duy Tân”, làm reo, nổi loạn. Bọn lính tập, cò Tây vừa đến quán trọ Ao Hồ đón bắt em đó!

Thành nhíu mày mỉm cười.

– Cò Tây, lính tập cùng đã mò tới cổng trường nữa. – Một học sinh năm thứ ba trung học nói.

Những cặp mắt học trò nhìn nhau ngơ ngác…

Hoàng hôn buông xuống kinh thành. Gió hú dài trên sông Hương hun hút.

———-

Chú thích:

(73) Đồng bảng Anh chiếm vị trí chi phối tiền tệ trên thị trường châu Âu hồi bấy giờ.
(74) Mộ số nhân vật trong tiểu thuyết Pháp : “Những người khốn khổ” của Vích-to Huy-gô và “Không gia đình” của Ec-to Ma-lô.
(75) Nguyễn Văn Thơ, Hồ Đắc Ứng tốt nghiệp bằng thành chung quốc học Huế năm 1909. Về sau Thơ làm Tuần phủ Quảng Trị, Quảng Bình; Ứng làm Tổng đốc Thanh Hóa.
(76) Sách “Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ”, NXB Sự thật 1980, trang 53 ghi : tối 9 tháng 5. Theo sự nhớ của cụ Nguyễn Sinh Khiêm và sách “Lịch sử các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam” của Võ Nguyên Giáp, NXB Sự thật 1958, trang 62 ghi : Từ ngày 9 đến 13-4-1908.

Hoàng Nhật Minh

Búp sen xanh – Chương II: Phần 6

THỜI NIÊN THIẾU

Nỗi đau buồn về sự kiện vua bị đi đày chưa nguôi trong lòng thì Nguyễn Sinh Huy lại bị buộc thôi giữ chức thừa biện Bộ Lễ, bổ nhiệm tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. Một số quan cận thần dưới triều vua Thành Thái cũng bị hạ. Một số khác đã xin từ quan. Đang khi trăn trở : đi Bình Khê làm quan hay đi dạy học, làm thuốc, thì Phó bảng Nguyễn Sinh Huy nhận được thư của bạn, quan đốc học Đặng Nguyên Cẩn báo tin : Vương Thúc Quý trên đường xuất dương đã ngộ bệnh và từ trần ngày mồng 10 tháng 6 năm Đinh Mùi (19-7-1907).

Nhân lúc đang nghỉ hè, Nguyễn Tất Thành xin phép cha được về phúng viếng thầy Quý và thăm chị Thanh… Nhưng, ông Phó bảng cho Nguyễn Tất Đạt, con trai trưởng, về quê làm phần việc hiếu nghĩa ấy.

Đạt lên đường về Nghệ An được mấy hôm thì ông Phó bảng phải vào triều nhận lệnh đi Bình Khê. Trở về đến nhà, ông gọi ngay con :

– Thành! Đang làm gì đó con?

Thành đứng lên :

– Cha đã về! Con… mới mượn được bộ sách “Những kẻ khốn nạn” (71), con đã đọc, hay tuyệt cha ạ.

Quan Phó bảng Huy cởi khăn áo treo trên móc, giọng ông chua chát :

– Những người khốn nạn! Khốn nạn! Con đọc được sách Tây, con có thật tin là ở bên Pháp còn nhiều người khốn nạn thật không?

– Qua những trang sách, con thấy ở bên Tây có vô số những người khốn nạn, cha ạ. Vẫn cái bất công “kẻ ăn không hết, người lần không ra”. Con người bị đày đọa kinh khủng.

– Vậy mà họ lại bảo người Pháp có sứ mệnh sang đây khai hóa cho người nước Nam.

– Con dọn cơm, thưa cha.

– Cha chưa muốn ăn. Con đói thì ăn trước đi.

– Con cũng chưa thấy đói. Sáng nay chúng con đi tiễn bạn Diệp Văn Kỳ về Sài Gòn, bác Diệp Văn Cương đã dọn cỗ, toàn những món ăn Huế, ép chúng con ăn bằng được. Bác ấy bảo : “Mời các cháu cùng dự với gia đình bác một bữa cơm rặt món ăn Huế để nhớ, vì chưa biết có dịp trở lại Huế một lần nào nữa không… “

– Cha… sớm mai cha cũng đi Bình Khê rồi con ạ.

Thành nhìn cha, vẻ bối rối :

– Mai… sớm mai cha đã…

– Cha không thể trì hoãn thêm nữa. Đi cho xong chuyện…

Hai cha con im lặng hồi lâu. Tất Thành đặt giỏ nước lên phản và rót mời cha. Quan Phó bảng nâng chén nước, một làn hơi mỏng tỏa trước mặt, ông nói nhỏ :

– Mai con thức dậy sớm, ra chợ mua sắm một vài thứ làm mâm cơm đạm bạc, thắp hương tưởng nhớ mẹ con. Khoảng trưa trưa cha đi. Cha sang đò thăm một người bạn, hôm sau cha đi thẳng…

– Cha đi một chắc (một mình) răng được cha?

– Cha đã dặn dò các con về việc học, việc nhà từ bữa trước. Một mình cha vô Bình Khê xem sao!- Tiếng ông nói hạ thấp dần : – Dân… Làm người dân là nguyện ước của cha…

                                                                                     ******

Bóng cây in xuống vuông sân như bông hoa đen xòe rộng cánh. Những con bồ câu rỉa lông phơi nắng ở một góc sân. Mấy khóm hoa râm bụt lập lòe lửa đỏ bên bờ giậu xanh…

Quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy mặc áo, đội khăn xong với lấy cái ô treo ở xà nhà :

– Ta đi con!

Nguyễn Tất Thành nâng cái khăn gói bằng vải tây điều khoác vào vai. Anh nhìn cha với đôi mắt băn khoăn. Quan Phó bảng quay nhìn bàn thờ vợ lần cuối. Làn khói hương vẫn bay lang thang khắp nhà tĩnh lặng ông hơi cúi đầu bước ra sân. Thành hạ thấp rèm cửa. Căn nhà kín mít im lìm. Đàn chim bồ câu rời khỏi góc sân chạy lúp xúp, bay là là theo bịn rịn bên chân cha con ông Phó bảng. Ông dừng lại:

– Chim đòi ăn đó. Con vô lấy thóc cho chim ăn.

Thành rê những nắm thóc xuống sân. Đàn chim xúm xít dưới bàn tay anh. Quan Phó bảng giương cánh ô lên, bóng ô đổ dài, lúng liếng trên mặt sân.

Quan Phó bảng đi trước . Thành mang khăn gói của cha đi sau. Hai cha con lặng lẽ bước về hướng sông Hương. Gần tới bến đò, Thành sải bước đi gần bên cha :

– Con sang đò với cha, cha nhá?

Quan Phó bảng nhìn con :

– Một mình cha đi thôi.

Gió dưới sông càng thổi mạnh, cái ô như muốn tuột ra khỏi tay quan Phó bảng. Tà áo, ống quần của hai cha con bay lùa cả về phía sau. Đôi chân Nguyễn Tất Thành sải dài chắc nịch rướn lên gió ngược.

Bến đò rộng thênh thang. Mặt sông mênh mông. Khách đợi đò đứng rải rác từng nhóm. Hai cha con quan Phó bảng dạo bước dọc ven sông. Thành nói, gió phả nhập nhòa giọng điệu :

– Như con đã thưa với cha hôm nọ, học hết niên khóa này con sẽ đi vô miền trong. Con băn khoăn… lúc ấy con muốn tìm đến gặp cha thì…

Quan Phó bảng chau mày. Chân ông bước hơi ngập ngừng, cái ô trên đầu ông chan đảo mạnh. ông nói, giọng cứng rắn:

– Cha đã kính thư vào ông Hồ Tá Bang tổng lý (72) công ty Liên Thành. Nếu lập được trường học Dục Thanh tại Phan Thiết, có thể cha tới dạy chữ nho, con nhận một chân dạy chữ mới. Nhược bằng cha không đến đó, con càng phải cứng rắn tìm cho mình một hướng dung thân, nuôi chí lớn..

Quan Phó bảng nét mặt tươi sáng, nhìn xuống sông, con đò đang từ từ cập bến. Ông đặt bàn tay lên vai con :

– Anh Đạt của con ở ngoài quê vào, con nói lại với anh con những điều cha dặn. Với con, cha mong đợi rất nhiều . Cha đi nhá.

Thành đưa hai tay nâng khăn gói trao cho cha. ông Huy giơ cao cái ô. Chân ông bước xiêu xiêu, bóng đổ về phía sau và ngắn dần. Ông đi giữa đám hành khách chen chúc xuống đò. Thỉnh thoảng ông ngoái đầu lại nhìn con…

Thành xòe bàn tay che nắng nhìn theo cha. Con đò rời bến, mũi con đò như lưỡi gươm chẻ ngang dòng sông loang loáng xanh. Cái ô quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy như một cái nấm nhòa vào nắng quáng.

————-

Chú thích:

(71) Đúng ra phải dịch là “Những người khốn khổ” (tác phẩm của nhà văn hào Pháp Vích-to Huy-gô).
(72) Sau này gọi là Tổng giám đốc.

Hoàng Nhật Minh

Búp sen xanh – Chương II: Phần 5

THỜI NIÊN THIẾU

Mùa hè năm ấy, Thành thường rủ một số bạn học đi thăm lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn, thăm ngàn thông núi Ngự, thăm các chùa Diệu Đế, Thúy Vân, Báo Quốc, Trúc Lâm, Tây Thiên, Thiên Mụ, tháp Phước Duyên…

Hôm đến chùa Thiên Mụ, ngồi bên tháp Phước Duyên soi bóng xuống dòng sông Hương, Võ Liêm Sơn thắc mắc :

– Chẳng biết có phật, có thần không mà ông cha mình dựng lên những chùa chiền, những đền đài cho tốn của, tốn công hề?

Một cuộc tranh luận khá sôi nổi kéo dài hồi lâu. Thành ngồi im lặng, mắt luôn luôn hướng lên ngọn tháp Phước Duyên cổ kính, vẻ khâm phục nghệ thuật kiến trúc của đầu thế kỷ mười bảy. Sơn “cù” Thành :

– Bữa ni ông Thành đi tu thực sự nên “mũ ni che tai”, không bình phẩm một lời mô với tụi mình!

– Sơn bắt đúng mạch Thành… Đúng lắm… Đúng lắm – Cả đám bạn nhao nhao vừa nói vừa ôm cổ Thành lay lay : – Đi tu hả? Thành đi tu thiệt hả?

Thành cười tủm tỉm :

– Mình, mình vẫn chăm chú nghe những lời hùng biện của các bạn đó chứ.

– Nghe sao mà ngồi im?

– Mình không để tâm nhiều lắm đến việc có hay không có thần phật. Mình mới cảm thấy : Nếu mặt đất này mà không có lấy một ngôi chùa, một tòa đền, một lâu đài thành quách thì tâm hồn con người sẽ cằn cỗi, nghèo nàn, sống không có kỷ niệm, không còn biết nhớ cội nhớ nguồn…. Mình cho là có đền, có chùa, có phong tục thờ tự để hướng con người về cõi thiện, ngăn chặn bớt tính ác của con người. Chính vì vậy mà con người cần phải có văn hóa.

Tan buổi viếng chùa Thiên Mụ, Thành về nhà thấy cha ngồi một mình trước bình hương, khói hương tỏa dài qua đầu cha. Thành đi rón rén tới bên cha, anh ngồi xuống mé giường, giọng sửng sốt :

– Cha… ơi! Chẳng hay… có chuyện chi hệ trọng?

Ông Huy nâng bàn tay lên khoát con lui ra. Biết ý cha, Thành đứng lên, đi xuống nhà bếp tìm anh Đạt. Không thấy anh, Thành đi ra sau vườn, nơi hai anh em thường ngồi mát dưới bóng cây đọc truyện. Đạt đang ngồi tựa lưng vào gốc cây hòe, tay cầm cuốn “Công ước xã hội” bằng tiếng Pháp, chăm chú đọc lúc Thành đến gần mới biết :

– Về khi mô rứa, Thành?

– Em vừa mới về. -Thành ngồi xuống bên anh. – Cha đang có chuyện chi buồn phiền dữ, em hỏi, cha nỏ nói chi cả?

– Cha ở Bộ về từ lúc giờ thìn và cha thắp nhang ngồi lặng thinh. Anh chả dám hỏi han chi cả.

– Cha không ăn cơm trưa, anh? – Không. Cha chỉ uống nước lão mai. (69)

Hai anh em ngồi thẫn thờ nhìn về cổ thành. Nắng quái chiều hôm trắng nhợt vắt đài trên lầu Ngũ phụng như một dải băng tang.

Bỗng tiếng trống ngũ liên nổi lên. Tiếng kèn Tây cũng lu loe từ các trại lính khố xanh, khố đỏ… Tiếng vọi đồng run run kéo dài : “Hoàng triều có biến, nghiêm lịnh toàn thành : Thần dân ở tại nhà, không ai được ra đường từ giờ dậu (độ 6 giờ chiều) qua giờ thìn (độ 8 giờ sáng). Ai trái lệnh sẽ bị nghiêm trị…”

Thành chạy theo anh Đạt về nhà. Đạt thấy cha vẫn ngồi nguyên như cũ, không dám xáp gần cha. Anh đi thẳng vàn bếp lo bữa ăn tối. Thành sà vào bên cha, hai tay anh ôm lấy đầu gối cha :

– Cha ơi! Cha ơi! Hoàng triều có biến! Cha có nghe vọi đồng gọi không, cha?

Quan thừa biện Huy giọng buồn buồn :

– Gọi anh con lên đây.

Hai anh em Thành ngồi cạnh cha. Quan thừa biện Huy nói, vẻ đau xót :

– Đức vua mưu việc đánh đổ ách thống trị của người Tây. Công việc đang tiến hành thì bị lộ.

Đức vua đã bị hạ ngục. Ba cha con cúi đầu trước dòng khói hương nghi ngút.

– Phen ni người Pháp họ mượn cớ để xóa hẳn ngôi vua ở nước Nam mình mất, phải không cha? – Đạt hỏi.

– Họ bỏ những ông vua cứng đầu, dám chống lại họ chứ chẳng bao giờ họ bỏ ngôi vua ở nước Nam mình, con ạ.

Thành ngẩng đầu, nhìn cha, nói : – Ra vậy, đức vua Thành Thái của chúng ta đâu phải…

– Lâu nay, cha thầm nghĩ: Thành Thái là một ông vua cam chịu sống hèn trên chiếc ngai vàng hư vị. Cha đã lầm nghĩ, các con ạ! – Giọng ông càng trở nên bùi ngùi: – Đức vua hằng ngày giả vờ lơ đễnh với mọi việc trước đất trời này. Ngài giấu kín chí lớn của ngài bằng cách ham đọc sách Pháp, tập lái ô tô, lái thuyền máy. Đức vua còn cắt tóc ngắn làm gương cho cả hoàng tộc bỏ đụm tóc. Người Tây cũng đã sợ cả cái lý tưởng cấp tiến ấy của đức vua.

– Người Pháp truất phế đức vua về “cái tội” ấy, thưa cha? – Thành hỏi.

– Bọn Trương Như Cương đã tố cáo với lão khâm sứ là : Đức Thành Thái từ lâu bí mật liên lạc với những nhà hoạt động trong tổ chức Duy Tân Hội và đang tìm cách trốn sang Nhật…

Ba cha con ông Nguyễn Sinh Huy như ba pho tượng im lìm giữa đêm hè kinh thành Huế.

******

Sáng ngày hai mươi mốt tháng sáu, năm Đinh Mùi (30-7-1907) dòng sông Hương như một khúc ruột quặn đau.

Mây của cơn giông từ đêm hôm trước đang tụ đọng từng khối đen đè nặng bầu trời kinh đô Huế!

Chim không bay về!

Hoa vườn Thượng uyển ủ rũ!

Mặt người dân kinh đô nặng trĩu căm hờn, ánh lên trong mắt niềm thương nhớ đức vua. Mỗi nhà một nhang án, hương nghi ngút, đặt trước sân, đầu ngõ, và mọi người quần áo chỉnh tề tiễn biệt đức vua Thành Thái!

Lệnh của tòa khâm : “Lính cấm trại, quan, viên chức túc trực tại triều”. Quan thừa biện Nguyễn Sinh Huy mặc triều phục vào Bộ Lễ từ sáng tinh mơ. Trước lúc vào triều, ông đốt một nén hương vòng, đặt lên án thư giữa sân, vái năm vái.

Thành cùng với anh Đạt nhập vào đám đông dân chúng. Từ cửa Đông Ba qua các ngả đường quanh Hoàng thành, dân lập bàn thờ hai dãy san sát.

Trên các ngả đường đều có lính gác. Tại cửa Đông Ba, Thượng Tứ, Ngọ Môn, lính Tây lính ta đứng hai hàng. Tên Đờ La-xuýt chễm chệ trên lưng con ngựa chiến, ghìm cương cho ngựa đi nước xăm, dẫn đầu một đơn vị lính kỵ binh lướt qua lướt lại dọc đường thành…

Từ bên hữu ngạn sông Hương, tên khâm sứ Lê-véc- cơ ngồi trong chiếc xe hơi hình thù như con bọ hung, qua cầu Thành Thái. Trên lầu Ngũ Phụng, tiếng vọi đồng cất lên : “Thần dân giữ trong nghiêm lịnh. Giờ đức vua lên đường biệt xứ bắt đầu”.

Mọi người đứng tại chỗ, cúi đầu xuống. Nguyễn Tất Thành đứng nghiêm trang nhìn lên phía Ngọ Môn. Lòng anh đau thắt. Bên tai anh những tiếng khóc nức nở. Nhiều cụ già quỳ thấp xuống hai bên đường. Anh nhìn thấp thoáng đức vua chân đi giày hở gót, mặc thường phục. Theo sau đức vua là các quan cùng triều. Tên khâm sứ Lê-véc-cơ bước tới. Đức vua dừng bước. Tên sĩ quan cận vệ của hắn tiến đến bên vua. Hắn nói và hai tay làm điệu bộ – vì xa, Tết Thành không nghe tiếng tên khâm sứ nói những gì. Một tên sĩ quan cận vệ hai tay nâng ra trước mặt vua Thành Thái trang giấy khổ rộng và bút nghiên. Đức vua cầm ném xuống đất chửi vào mặt tên Lê-véc-cơ, rỗi sải bước qua mặt nó, đi lên phía trước… Dân chúng chắp tay vái theo vua Thành Thái…

Cơn mưa chiều ập xuống kinh thành. Gió! Gió! Gió nổi từng cơn! Từng cơn gió xe mưa trong trời xa mù mịt!

Ba cha con quan thừa biện ngồi trong nhà nhìn mưa. Thành hỏi cha :

– Chúng con đứng đằng xa, chẳng rõ lão khâm sứ nói những gì mà đức vua đã không nén nổi giận?

– Họ đã làm theo lệnh ông toàn quyền Bô (Beau); mua chuộc và cưỡng ép đức vua phải tuyên cáo với quốc dân về tội âm mưu chống lại nước Đại Pháp. Nếu đức vua chịu theo điều kiện ấy thì mới được trở lại nguyên vị. Nếu không thì bị đày đi biệt xứ qua bể châu Phi. (70)

– Hừ! Người Pháp, người Pháp – Đạt kéo dài giọng – giở cái trò bần tiện quá!

Thành hỏi thêm cha :

– Đức vua Thành Thái đã cự tuyệt cái điều kiện hèn hạ ấy mà lúc lên đường đi đày biệt xứ, lão khâm sứ vẫn còn đón đường ép đức vua thì thật là dơ, phải không cha?

– Cái kế ấy thâm độc lắm chứ con. Họ chọn lúc bắt đầu cất bước ra đi, mà là đi đày. Đó là lúc dễ mềm yếu nhất dễ bỏ nhân cách cao thượng, tiết tháo, để chọn lấy sự sống an nhàn, chịu tiếng hèn hạ. Do đó viên khâm sứ đã viết sẵn lời tuyên cáo đưa cho đức vua ký. Đức vua đã nổi giận. Đức vua ném giấy bút xuống đất, mắt đức vua long lanh, ngài nói với thần dân:

Muôn dân nô lệ từng đàn,
Vui chi bệ ngọc ngai vàng riêng ta?
Hỡi ôi mất nước tan nhà,
Cừu thù quốc sỉ ấy là nợ chung.

Cơn mưa chiều kéo dài. Tiếng mưa âm vang như những tiếng nức nở của đất trời!

————

Chú thích:

(69) Gỗ cây mai già đun sôi để nguội
(70) Thực dân Pháp đưa vua Thành Thái vào giam tại Ô Cấp (Vũng Tàu). Mãi đến năm 1915 chúng mới bí mật đưa ông sang đảo Rê-uy-ni-ông (Réunion). Ngày 3-5-1916 chúng lại đày vua Duy Tân, con vua Thành Thái, sang một chỗ với cha.

Hoàng Nhật Minh

Búp sen xanh – Chương II: Phần 4

THỜI NIÊN THIẾU

Trời nhá nhem tối. Trong nhà đã tỏ ánh đèn, đĩa dầu hai bấc le lói tỏa sáng. Phảng phất mùi hương và hoa huệ. Mâm cơm cúng xong đặt dưới bộ phản kê sát phía trước bàn thờ. Quan Phó bảng Huy ngồi tựa lưng vào mép bàn thờ và bắt đầu nâng ly rượu lên :

– Đạt vào ăn cơm, con! Bữa nay giỗ mẹ các con, cha cho phép con uống chén rượu cho ấm bụng.

– Con mời cha. Con đợi em Thành lên, cha ạ.

– Anh mời rượu với cha, – Thành nói với từ dưới bếp – em lên ngay mà. Nước sấp sôi rồi, anh cả ạ.

Thành đặt ấm giỏ nước lên bàn. Mùi chè mạn sen thơm quyện với hương hoa huệ gợi hương vị thanh khiết khắp nhà.

Ba cha con quan Phó bảng ngồi quanh mâm cơm thành thế chân kiềng trên phản. Gió se se lạnh lướt qua rèm rót cái giá rét vào nhà. Một tiếng “e hèm”‘ ngoài sân.

– Có người… cha ạ! – Thành ngừng tay đũa nói.

Ông Phó bảng Huy đặt bát cơm xuống mâm :

– Thành ra coi ai ở ngoài nớ con!

Thành cầm đèn, bàn tay trái khum lại che gió. Đạt giúp em nâng cánh rèm lên. Bóng người từ giữa sân tối bước vào, lên tiếng :

– A! Cháu Thành! Cha cháu có nhà chứ?

Thành nâng tay đèn quá đầu ngó ra :

– Ơ! Chú… chú Đặng… Chú… Đặng Thái Thân!

– Nói nhỏ thôi cháu. -ông Đặng Thái Thân nhắc Thành.

Hai người bước vào nhà. Ông Phó bảng Huy đã đứng dậy đợi khách. Đạt đứng bên cha. Chủ khách chào nhau tíu tít. Ông Phó bảng chân thành mời :

– Tiện bữa, mời tiên sinh ngồi vào uống với cha con tôi chén rượu lạt. Hôm nay là ngày giỗ mẹ của các cháu.

– Thưa quan bác, tôi đã cơm nước ở nhà một chiến hữu (bạn chiến đấu). Xin mời quan bác và hai cháu cứ việc ẩm thực (ăn uống) tự nhiên. Còn tôi nhân được hạnh ngộ (gặp gỡ may mắn) ngày giỗ của bác gái thì xin được cùng quan bác và hai cháu uống chén rượu lấy khước ạ.

Bữa cơm tối xong, Đạt và Thành thu mâm bát xuống bếp. Trong lúc hai anh em chia nhau rửa bát, quét dọn thì quan Phó bảng Huy cùng ông Đặng Thái Thân uống chè bàn luận… Ông Thân đọc cho quan Phó bảng nghe một số bài thơ của Phan Bội Châu vừa gửi về nước.

Đặng Thái Thân giọng thận trọng :

– Phan tiên sinh lại vừa cử đồng chí về nước tiếp tục đón người sang Nhật. Phan tiên sinh có dặn tôi chú trọng yết kiến quan bác và xin cho cháu Nguyễn Tất Thành xuất dương. Chỗ tôi biết, Phan tiên sinh và thúc phụ tôi (chú ruột – Đặng Tử Kính) đã lưu tâm về cậu ấm Côn từ hồi còn học với thầy Vương Thúc Quý… Một thiên tư hiếm có.

– Đa tạ lòng ái mộ cháu Tất Thành của chư huynh. Vốn dĩ tôi không ép buộc các con làm một việc gì theo ý mình mà lại trái với lòng con. Trừ phi các cháu làm điều càn rỡ thì tôi buộc phải ngăn cấm. Giờ đây, cháu Thành đã ở tuổi lý tính. Mà việc xuất ngoại là để rồi mưu nghiệp lớn, cứu nước cứu nòi. Rất trọng đại. Tôi hoàn toàn để tự ý cháu lựa chọn.

Hai người ngồi trầm ngâm, khói hương trầm mỏng nhẹ như làn mây nhỏ lan toả trong nhà. Một lát sau, tiếng ông Phó bảng thủng thỉnh :

– Thành… đâu?

– Dạ. Thưa cha con đang dở tay làm món ăn sáng mai để cha ở nhà tiếp chú, vì mai anh em con có giờ học sớm ạ.

– Con để anh Đạt làm cho. – ông giục : – Lên đây ngay con!

Thành đứng lễ phép trước cha và ông Đặng Thái Thân.

– Cho phép con ngồi xuống gần chú Đặng. – ông Phó bảng lại nhìn về phía ông Đặng Thái Thân : – Để cháu nó được tự nhiên, thư thái hầu chuyện hiền huynh, tôi vô phía trong sửa soạn mấy việc cho ngày mai. Tôi với hiền huynh sẽ còn dạ đàm (bàn luận trong ban đêm) suốt sáng mà…

Ông Phó bảng đi khuất vào sau cửa. Đặng Thái Thân một tay chống cằm, một tay vừa vẽ vẽ trên mặt bàn, nói giọng Nghi Lộc, chậm rãi, nhỏ nhẹ :

– Chú nghe tin cháu học giỏi, chú mừng lắm.

– Cháu còn phải cố gắng nhiều chứ các bạn cháu có bạn giỏi tuyệt trần, chú ạ.

– Nghe chị Thanh nói đã gửi thư cho cháu?

– Dạ.

– Cháu tuy chưa tới tuổi thành niên mà đã sớm có tâm huyết. Cháu lại là một thiếu niên tuấn tú, thiên tư. Lĩnh ý ông giải San, chú muốn bàn việc gửi cháu sang Nhật học. Hiện đã có một số thanh niên đang học ở bên đó. Nước Nhật ngày nay tân tiến và hùng mạnh lắm. Người Nhật họ đã hứa sẵn sàng giúp Việt Nam mình đánh đuổi giặc Tây dương…

Thành hơi cúi, một mảng tóc đổ xuống che gần hết nửa vầng trán và đuôi con mắt bên trái, đường ngôi rẽ bên phải mới hình thành rõ nét ngay thẳng. Giọng nói của Thành hơi rưng rưng:

– Chú… ơi! Cháu hãy còn ở cái tuổi trẻ thơ mà các chú đã tin, đã định giao phó cho cháu công việc tối hệ trọng!

– Trong lịch sử nước nhà, ta thường thấy : Mỗi khi Tổ quốc thăng trầm thì xuất hiện vô số những tấm gương tuổi nhỏ chí lớn. Cháu ạ! Tổ quốc gọi mọi người con mang dòng máu đỏ, sắc da vàng : Cứu Nước! Cứu Nước! Hãy cứu Nước!

Nguyễn Tất Thành nhón hai bàn chân lên. Anh muốn đứng bật dậy. Mắt anh rơm rớm ướt.

– Chú! Chú ơi ! Cháu đang như con chim chưa đủ !ông cánh. Trời đang bão lớn, bay hướng nào đây?

– Ông giải San đã chỉ cho chúng ta hướng đi tới : nước Nhật hùng cường.

– Tại sao mưu việc đánh giặc Tây mà lại trông vào nước Nhật, thưa chú?

– Nước Nhật vừa đánh bại nước Nga sa hoàng. Nhật đã trở thành một cường quốc hùng mạnh nhất châu Á. Các đế quốc châu Âu không dám nhòm ngó tới dải đất Phù Tang, cháu ạ. Và ta với Nhật là hai nước ở gần nhau, cùng giống da vàng, họ sẽ hết lòng giúp ta đánh đuổi quân bạch quỷ.

– Cháu xin phép chú được nói ra sự cạn nghĩ của cháu.

– Cháu cứ mạnh dạn. – Đặng Thái Thân vẻ cởi mở.

– Cháu nghĩ rằng : nước ta và nước Tàu ở gần nhau như hai nhà liền vách, chung sân, lại cùng giống da vàng viết chung một thứ chữ Hán. Vậy mà nước Tàu đã bao phen thống trị nước ta, mưu toan diệt nòi người Nam. Rồi – Tất Thành nói thấp giọng – ngay cả Nhật cũng đã chiếm nước Cao Ly (Triều Tiên) làm thuộc địa. Vậy thì người Nhật họ thương gì người Nam ta! Không khéo ta lại đi làm cái chuyện : đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau? (Đặng Thái Thân hơi bối rối) – Nguyễn Tất Thành vẫn thủ thỉ nói : – Mới rồi, có hai nhà ở gần nhà cháu, cùng chung một ngõ đi ra. Vậy mà nhà nọ lợi dụng đêm mưa to đã đào ngạch chui vô buồng nhà kia lấy trộm của. Vậy thì sự thương nhau, giúp đỡ nhau… không thể căn cứ vào lý do địa lý hay màu da được đâu chú ơi!

Ông Đặng Thái Thân hai mắt chớp chớp liền liền, ngón tay trỏ vẽ những vạch dài, những đường nét rối mù trên mặt bàn… ông nói, giọng phân vân :

– Ờ! Ờ! Những điều cháu vừa nói với chú nó rất gần mà ít ai nghĩ đến. Cháu có cái nhìn xa hơn lớp cha anh. Nhưng cháu ơi, ta không dựa vào người Nhật chẳng lẽ lại dựa vào người Pháp để đánh đổ ngai vàng, xóa bỏ hệ thống vua quan, nới rộng dân quyền, chấn hưng kinh tế, nâng cao dân sinh, dân trí như Phan Tây Hồ (Phan Chu Trinh) chủ trương?

– Nới rộng dân quyền, mở mang kinh tế, nâng cao dân sinh, dân trí là mơ ước của mọi người từ bao đời nay. Nhưng dựa vào người Pháp để mà thực hiện mơ ước ấy là điều phi lý, cháu nghĩ cũng chẳng khác gì “cầu quỷ sứ về khử thần trùng” Ai lại nhờ kẻ cỡi (cưỡi) cổ dân mình để giải thoát cho dân mình.

– Thế theo cháu…?

Nguyễn Tất Thành vò đầu :

– Thưa chú, tìm con đường cứu nước cứu dân là tối trọng Phải thận trọng, phải nghĩ kỹ, tính đến nước đến cái. Bởi : “Nhất thất túc thành thiên cổ hận, tái hồi đầu thị bách niên thân”. (68)

– Nghĩ, tìm phương cứu nước phải thận trọng như cháu nói là rất đúng. Nhưng, thời cư đang thuận lợi cho ta là người Nhật họ đang có thiện cảm với ta, ta tranh thủ sự giúp đỡ của họ, cháu ạ.

– Thưa chú, sự hiểu biết của cháu còn ít, còn non nót, vốn chữ học, đọc sách chưa được là bao, nhưng cháu trộm nghĩ Tây dương hiện là cừu địch của dân ta, nước ta. Muốn đánh đuổi được kẻ địch ấy thì phải biết rõ chúng. Người xưa nói: Biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng. Cháu cho là việc sang Nhật để mưu sự đuổi Tây chưa chắc đã phải sách.

– Nói như cháu, rất có lý. Nhưng… nhưng lẽ nào chúng ta lại dựa vào Pháp mà biết Pháp để rồi diệt được giặc Pháp?

– Chú ơi! Cháu đã đọc truyện “Không gia đình”. Sách của người Pháp viết về những người Pháp nghèo khổ sống vô gia cư, chết vô địa táng. Hiện giờ cháu đang lần mò đọc sách của ông Mông-tét-xki-ơ (Montesquieu) và đọc sách của ông Rút-xô (Rousseau) mà các chú thường gọi là Mạnh Đức Tư Cưu và Lư Thoa. Quán sách ông Lừa ở bên cạnh trường Quốc học của cháu có rất nhiều loại sách tân tiến. Cháu thường thuê về đọc. Cháu đang tìm hiểu xã hội Pháp qua đường sách báo, chú ạ.

Ông Đặng Thái Thân mắt lấp lánh ánh sáng cảm động nhìn như soi lên đường ngôi mới hình thành trên đầu Nguyễn Tất Thành. Ông chuyên nước trà nóng vào chén rồi bưng chén trà ấm đặt vào bàn tay Tất Thành, giọng ân cần và tha thiết :

– Cháu uống với chú một chén trà để nhớ mãi cái đêm kỷ niệm này. Dù cháu không cùng đi một con đường với chứ, nhưng chú vẫn tìm thấy ở cháu một đồng chí đồng tâm. Vì, chú cháu mình đều cùng một trái tim : Yêu nước.

Tất Thành ôm chặt bàn tay ông Đặng Thái Thân trong lòng hai bàn tay mình :

– Chú hiểu được cháu. Người hiểu được mình là thầy mình. Chú là bậc thầy của cháu. Cháu rất buồn nếu các cha chú coi thường lớp người trẻ là “nhóc con” hoặc “miệng còn hơi sữa mà bàn chuyện quốc gia”!

– Cháu Tất Thành! Chú phải đi ngay đêm nay. Chú không thể ở lại dạ đàm với cha cháu được. Cháu nói với cha cháu : thứ lỗi cho chú. Điều cuối cùng chú cháu mình hẹn nhau : Cứu Nước! Cứu Nước! Cứu Nước!

Nguyễn Tất Thành nâng tấm rèm lên. Ông Đặng Thái Thân lách người qua cửa lặn vào đêm tối mịt mù.

————
Chú thích:

(68) Đại ý : Sai một bước, ôm hận suốt đời, lúc ngoảnh nhìn lại thì đã trăm tuổi mất rồi.

Hoàng Nhật Minh