Thư viện

Ta nhất định thắng, địch nhất định thua (23-8-1965)

Trong mỗi cuộc chiến tranh, mỗi bên đối địch đều có hai lực lượng: chính trị và quân sự.

Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, vì ta có chính nghĩa, cho nên nhân dân khắp thế giới – kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đều nhiệt liệt ủng hộ ta và nghiêm khắc lên án địch. Thế là về chính trị ta đã hoàn toàn thắng, Mỹ đã hoàn toàn thua.

Về quân sự,quân và dân miền Nam anh dũng đã giải phóng được 3 phần tư đồng bào, 4 phần 5 đất đai và nắm quyền chủ động. Về phía địch, vừa rồi chính tên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã phải kêu lên rằng: “Đối với Mỹ thì tình hình chiến sự hiện nay xấu hơn một nǎm trước đây” và Taylo đã bị cất chức.

Hòng gỡ thế bí của chúng ở miền Nam, giặc Mỹ dùng máy bay ném bom miền Bắc. Để quật lại chúng, quân và dân ta đã đánh tan xác 477 chiếc máy bay và bắt sống nhiều tên phi công. Thế là về quân sự địch cũng đã thua, ta cũng đã thắng.

Về chính trị, cần phải vạch rõ mưu mô xỏ lá của đại bợm Giôn. Càng thua, Giôn càng giãy giụa, càng đẩy mạnh chiến tranh miền Nam, càng rêu rao cái món hoà bình giả dối. Từ tháng 4 nǎm 1965, y đưa ra cái gọi là “đàm phán không điều kiện” hòng bịp thiên hạ. Đồng thời y lặng lẽ từng đợt, từng đợt phái thêm nhiều lính Mỹ sang miền Nam.

Đến 28-7, Giôn định phái thêm 5 vạn lính Mỹ nữa. Việc này càng bộc lộ Mỹ đang thất bại. Lần này, y càng làm ra vẻ giương cao hơn nữa ngọn cờ hoà bình. Ví dụ:

Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954 đã ghi rõ: cấm nước ngoài đưa quân đội vào Việt Nam và lập cǎn cứ quân sự trên đất Việt Nam … Hiệp định đã quy định 20 tháng 7 nǎm 1956, Việt Nam sẽ có tổng tuyển cử tự do để thống nhất. Chính đế quốc Mỹ là kẻ thủ phạm đã phá hoại Hiệp định Giơnevơ. Thế mà bợm Giôn dám ba hoa rằng y là kẻ bảo vệ Hiệp định Giơnevơ và tán thành Việt Nam có tổng tuyển cử.

Để thêm dấm ớt vào món lừa bịp đó, y còn yêu cầu Liên hợp quốc hoạt động để “đưa đến một nền hoà bình trong danh dự”.

Chúng ta nói ngay rằng: Liên hợp quốc bị Mỹ thao túng tuyệt đối không có quyền thò mũi vào vấn đề Việt Nam!

Vì có lòng tốt, nhưng vì không rõ bản chất của vấn đề và âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ, một số chính phủ nước ngoài mong ta đàm phán với Mỹ để đi đến ngừng bắn. Trong lúc Mỹ đang ra sức mở rộng chiến tranh, ngừng bắn theo kiểu Mỹ tức là quân và dân miền Nam phải ngồi yên cho đế quốc Mỹ và lũ tay sai có ngày giờ tǎng gia lực lượng để đánh lại họ!

Vấn đề rất rõ ràng: Đế quốc Mỹ là kẻ xâm lược. Đế quốc Mỹ phải chấm dứt ngay chiến tranh, phải rút quân đội khỏi miền Nam Việt Nam, phải chấm dứt ném bom miền Bắc. Như vậy thì hoà bình sẽ trở lại ngay.

Bợm Giôn còn nói y phải bảo vệ danh dự của Mỹ ở Việt Nam. Dùng bom napan và hơi độc để giết chết trẻ con và người bệnh Việt Nam, đốt phá làng mạc và chùa chiền, bắn phá nhà thương và trường học… phải chǎng đó là danh dự của Mỹ ? Không phải!

Khi hàng vạn lính Mỹ bị Giôn đẩy đi “chết ở một nơi heo hút và xa xôi” như bợm Giôn đã thú nhận hôm 28-7, thì thường dân Mỹ cũng bị bắt buộc đóng thêm hàng tỉ đôla thuế khoá cho cuộc chiến tranh. Thế là Giôn đã làm cho nhân dân Mỹ chết người, hại của. Vì vậy nhân dân Mỹ phải chống chiến tranh.

Ngay sau hôm tổng Giôn tuyên bố phái thêm 5 vạn lính Mỹ sang miền Nam, ở Nữu ước, Hoa Thịnh Đốn, Caliphoócnia, vân vân… liền có những cuộc biểu tình rầm rộ phản đối Chính phủ Mỹ và ủng hộ nhân dân ta. Có những cuộc biểu tình liên tiếp suốt ngày đêm. Có những người biểu tình tổ chức quyên góp và bán huy hiệu để giúp nhân dân miền Nam.

Mỗi khi đấu tranh giành quyền công dân, người Mỹ da đen cũng ủng hộ ta và lên án đế quốc Mỹ. Họ khuyên lính Mỹ da đen tuyệt thực để chống đi chiến tranh ở miền Nam. Phong trào đấu tranh của họ đang lên mạnh ở Sicagô, Caliphoócnia và nhiều nơi khác. ở Lốt Angiơlét, chính quyền đã dùng đến 20.000 lính để đàn áp dã man. Đến hôm 16-8, đã có 30 người chết, hơn 730 người bị thương và gần 3.600 người Mỹ da đen bị bắt. Anh em Mỹ da đen đang chống lại kịch liệt.

Đế quốc Mỹ rõ ràng là kẻ thù chung của nhân dân Việt Nam và nhân dân Hoa Kỳ. Nhân dân ta và nhân dân Mỹ ủng hộ lẫn nhau chống đế quốc Mỹ, đó là thêm một lực lượng cho chúng ta thắng lợi.

Bao nhiêu lính Mỹ sang miền Nam sẽ trở thành bấy nhiêu cục chì đè nặng lên cổ đế quốc Mỹ và làm cho nó sa lầy càng sâu thêm.

Mỹ xuất khẩu càng nhiều lính “GI” thì sẽ phải nhập khẩu nhiều quan tài về Mỹ. Chúng thêm 5 vạn hay là 50 vạn lính Mỹ, chúng cũng sẽ thua, ta cũng sẽ thắng.

Chỉ có một cách giải quyết “hoà bình trong danh dự” là Mỹ phải làm đúng theo Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954 về Việt Nam, như 4 điểm của Chính phủ ta và 5 điều của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam đã nêu rõ.

Chiến sĩ

———————–

Báo Nhân dân,số 4159, ngày 23-8-1965.
cpv.org.vn

Thật là vẻ vang (17-9-1965)

Lịch sử dân tộc ta có nhiều thời kỳ rất vẻ vang.

Nhưng trước ngày Cách mạng Tháng Tám, dân tộc ta đã phải trải qua gần một thế kỷ vô cùng tủi nhục. Trên địa đồ thế giới, tên nước ta đã bị xoá nhoà dưới bốn chữ “Đông Dương thuộc Pháp”. Thực dân Pháp gọi đồng bào ta là lũ Annamít dơ bẩn. Thiên hạ gọi chúng ta là vong quốc nô. Cụ Phan Bội Châu đã phải thốt lên rằng:

“Đã lắm lúc bầm gan tím ruột,
Vạch trời cao mà tuốt gươm ra,
Cũng xương, cũng thịt, cũng da,
Cũng hòn máu đỏ, con nhà Lạc Long,
Thế mà chịu trong vòng trói buộc,
Mấy mươi nǎm nhơ nhuốc lầm than!…”.

Trong tình cảnh nước mất nhà tan đó, Đảng ta đã vượt biết bao hy sinh, nguy hiểm để tổ chức, đoàn kết và lãnh đạo nhân dân ta nổi lên chiến đấu. Cách mạng Tháng Tám thành công. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Nhân dân ta tự làm chủ vận mạng của mình. Tên tuổi của nước ta lại lừng lẫy khắp nǎm châu, bốn biển.

Như muốn thử thách thêm chí khí quật cường của nhân dân ta và làm cho sự vẻ vang đó càng vẻ vang hơn, hiện nay nhân dân ta lại phải đương đầu với bọn đế quốc Mỹ vô cùng hung ác.

Trong cuộc chống Mỹ, cứu nước, chúng ta càng đánh càng mạnh, càng thắng. Giặc Mỹ càng đánh càng bí, càng thua. Điều đó càng làm cho thế giới kính phục nhân dân ta hơn bao giờ hết. Nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh ngày 2-9, các báo chí tiến bộ và các nhân sĩ dân chủ khắp thế giới đã nhiệt liệt ca tụng nhân dân ta là một dân tộc anh hùng. Xin trích vài đoạn sau đây để bà con cùng xem:

Báo Tin tức Inđônêxia viết: “Không ai nghe đến hai chữ Việt Nam mà không kính cẩn cúi đầu. Bởi vì ngày nay hai chữ ấy dùng để chỉ chủ nghĩa anh hùng trong chiến đấu, sự hy sinh cho Tổ quốc và sự cống hiến cho tự do. Trong cả lịch sử loài người khó mà thấy một dân tộc nào đã trải qua những kinh nghiệm đầy thử thách ngay từ ngày mới dựng nước (như Việt Nam)… Nhân dân Việt Nam đã anh dũng bảo vệ danh dự và Tổ quốc của họ chống những kẻ thù mạnh hơn nhiều… Nhân dân Việt Nam vừa đương đầu với đế quốc xâm lǎng, vừa cần cù lao động, xây dựng kinh tế, phát triển vǎn hoá và đã thu được thắng lợi vẻ vang”.

Báo Nhân dân Inđônêxia viết: “Chúng ta chỉ có thể bày tỏ sự kính trọng và lòng khâm phục cao nhất đối với nhân dân Việt Nam anh hùng… Với sự chiến đấu anh dũng của họ, nhân dân Việt Nam đã tự đặt mình lên vị trí vẻ vang nhất trên thế giới…”.

Báo Nhân dân Miến Điện viết: “Những người yêu nước Việt Nam đã tỏ ra dũng cảm trong mọi cuộc chiến đấu, vì vậy họ là những người chiến thắng… Nhân dân Việt Nam đã thắng thực dân Pháp và phát xít Nhật và đang chiến đấu chống đế quốc Mỹ. Càng đánh nhân dân Việt Nam càng thắng… Cuộc kháng chiến của họ chống thực dân Pháp đã khuyến khích các dân tộc khác lúc đó cũng đang chống thực dân Pháp và các thực dân khác…Chiến thắng vẻ vang hiện nay của họ chống đế quốc Mỹ đang khuyến khích mạnh mẽ các dân tộc khác trên thế giới đang chống đế quốc Mỹ… Nhân dân Việt Nam đã nêu một bài học là có thể đánh thắng đế quốc Mỹ… Cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ và thắng lợi của nhân dân Việt Nam sẽ tǎng cường phe xã hội chủ nghĩa, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc, phát triển lực lượng hoà bình, dân chủ và làm giàu thêm chiến lược và chiến thuật cách mạng…”.

Báo Ngôi sao Phương Đông viết: “Việt Nam là một dân tộc anh hùng. Nhân dân Việt Nam là nhân dân chiến đấu. Chắc chắn họ sẽ thắng đế quốc Mỹ. Thời gian và cảm tình của các dân tộc khắp thế giới đều ở về phía nhân dân Việt Nam”.

Cụ Rútxen, một vị bác học người Anh nổi tiếng, ngoài 90 tuổi, đã viết: “Việt Nam đã trở nên một tượng trưng của sự chống cự lại một chế độ bóc lột thế giới… Nhân dân Việt Nam đang tiến hành một cuộc đấu tranh thật đặc biệt: một nước công nghiệp mạnh nhất trên quả đất (là đế quốc Mỹ) đã trút hết lực lượng của nó nhằm xâm chiếm một nước nhỏ nông dân, mà nước nông dân này đang giành được thắng lợi với những vũ khí thô sơ và với một quyết tâm tất thắng. Bởi vậy, sự thất bại quân sự của Mỹ ở Việt Nam sẽ là sự thắng lợi của chính nghĩa trên thế giới… và cũng là một bước tiến của phong trào hoà bình…”.

Chúng ta tự hào và cố gắng để xứng đáng với sự ủng hộ và lòng kính phục của hàng triệu bầu bạn ta khắp nǎm châu. Chúng ta quyết thừa kế và phát triển lịch sử vẻ vang của tổ tiên ta mấy nghìn nǎm về trước và nêu gương dân tộc anh hùng cho con cháu ta muôn vàn đời về sau. Dù phải hy sinh, gian khổ mấy, chúng ta cũng quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược để giành lại độc lập thật sự và hoà bình lâu dài.

Chiến sĩ

————————

Báo Nhân dân,số 4183, ngày 17-9-1965.
cpv.org.vn

Càng già càng giỏi (22-10-1965)

Phong trào chống Mỹ, cứu nước sôi sục khắp nơi, lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân ta. Thanh niên thì hǎng hái thực hiện tốt “ba sẵn sàng”. Cuộc vận động “ba đảm đang” đã lan rộng đến hàng triệu phụ nữ.

Tiếp tục truyền thống Diên Hồng vĩ đại, các cụ phụ lão cũng không vì tuổi cao tóc bạc mà hưởng thú thanh nhàn. Các cụ đều cố gắng góp phần tích cực vào công cuộc chống Mỹ, cứu nước. Các cụ thường tuỳ điều kiện mà tổ chức đội Bạch đầu quânđể làm những công việc như: Khuyến khích con cháu tham gia bộ đội và thanh niên xung phong; giữ gìn trật tự, trị an trong làng xóm; giúp đỡ dân quân, tǎng gia sản xuất; trồng cây gây rừng; cổ động bà con đặt hũ gạo chống Mỹ, cứu nước… Ví dụ:

– Cụ Tân, 87tuổi, ở hợp tác xã Hương Khê (Đông Anh) trong những nǎm kháng chiến chống Pháp, cụ đã có hũ gạo tiết kiệm để bí mật nuôi cán bộ và du kích. Hiện nay cụ lại dùng cái hũ đó và gọi nó là hũ gạo chống Mỹ, cứu nước. Nhiều bà con trong làng đã làm theo cụ.

Cụ Vương Vǎn Đức,75 tuổi, dân tộc Tày ở tỉnh Hà Giang, là một đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Hơn 20 nǎm hoạt động, khi thì làm trạm trưởng giao thông, khi thì làm chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp. Bất kỳ làm việc gì, cụ Vương cũng rất tận tuỵ làm theo lời Đảng, phục vụ nhân dân. Cụ Vương đã góp sức xây dựng chi bộ “bốn tốt”, tổ chức Bạch đầu quân, đôn đốc phong trào thanh niên và phụ nữ. Về mọi công việc, như đắp đường, thuỷ lợi, tǎng gia sản xuất, trồng cây gây rừng, cụ Vương đều miệng nói tay làm cho nên lôi cuốn được cả nhân dân trong xã. Cụ bảo bà con rằng: làm tốt những việc đó cũng là góp phần chống Mỹ, cứu nước.

– Ở hợp tác xã Ngọc Động (Gia Lâm), các cụ xung phong cấy sáu mẫu chiêm. Sản lượng mỗi sào đã nhiều hơn của các xã viên khác 17 kilôgam thóc. Vụ mùa các cụ cấy hai mẫu và cố gắng để tǎng hơn nǎm ngoái 47 kilôgam. Các cụ nuôi chung 12 con lợn, trồng 4 mẫu cây làm thuốc, đã bán được 4.000 đồng, đã trồng 7.000 cây ǎn quả và 4.000 cây xoan hai bên đường làng.

– Hơn 40 cụ ở thôn Ngọc Lôi (Đông Anh), đã tổ chức nhau lại thành đội hoạt động. Từ tháng 5 đến nay, mỗi cụ đã trồng được 20 bụi chuối, nǎm cây xoan và nuôi một gà mái đẻ. Các cụ hǎng hái động viên con cháu vào bộ đội và dân quân. Đến mùa, các cụ xung phong đi cày thay thế cho những thanh niên đã vào bộ đội.

– Các cụ phụ lão ở huyện Phổ Yên (Bắc Thái) cùng nhau ra sức giúp đỡ dân quân du kích; động viên con cháu hǎng hái làm nghĩa vụ quân sự giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ và gia đình có người ở bộ đội. Các cụ làm những vũ khí thô sơ cho dân quân luyện tập. Gương mẫu là cụ Lộc đã 82 tuổi mà suốt ngày cặm cụi vót chông cho dân quân.

– Đội Bạch đầu quân ở khu phố Ba Đình (Hà Nội) có hơn 900 cụ. Già nhất là cụ Vũ Nǎng, 75 tuổi. Các cụ tự đặt cho mình nhiệm vụ như sau: động viên con cháu làm nghĩa vụ quân sự; nhắc nhủ bà con tǎng gia sản xuất; tham gia việc xây dựng công sự phòng không; bảo vệ trị an; sẵn sàng chiến đấu.

Tất cả các cụ đều có hũ gạo chống Mỹ, cứunước.Về tǎng gia, các cụ đang nuôi l00 con lợn và 2.300 con gà. Các cụ đã góp được 31.300 đồng vào quỹ tiết kiệm. Các cụ còn hǎng hái tham gia phong trào vǎn nghệ và thể dục thể thao.

– Huyện Lục Ngạn có 10 dân tộc anh em: Kinh, Tày, Nùng, Hoa. Thanh Phán, Cao Lan,v.v.. 30 đảng bộ và Mặt trận khéo hướng dẫn, các cụ phụ lão đã nhất trí đặt ra ba nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước. Ba nhiệm vụ là: gửi tiền vào quỹ tiết kiệm, trồng cây gây

rừng, khuyên con cháu vào bộ đội và giúp đỡ dân quân. Các cụ rất hǎng hái làm trọn nhiệm vụ. Ví dụ:

Các cụ đã giúp dân quân lương thực và vũ khí thô sơ. ở xã Tân Mộc, các cụ đã gửi vào quỹ tiết kiệm 7.000 đồng. Về việc trồng cây gây rừng thì mùa xuân nǎm nay các cụ trong huyện đã trồng được 10.300 cây các loại và định trồng thêm 5.000 cây bạch đàn. Cụ Sảo Ký, dân tộc Hoa, 79 tuổi ở xã Đông Cốc, đã trồng được 50 bụi tre, v.v..

*

*     *

Về hũ gạo chống Mỹ, cứu nước thì ở:

Hà Nội có 49.000 hũ (riêng khu Đống Đa 100% gia đình có).

Hải Dươngcó 38.150 hũ.

Hưng Yêncó 31.000 hũ.

Mong rằng mỗi gia đình ở các địa phương đều đặt hũ gạo chống Mỹ, cứu nước. Việc đó dễ làm và rất có ích.

Các cấp đảng bộ và Mặt trận các địa phương nên ra sức giúp các cụ phụ lão tổ chức, củng cố và phát triển đội Bạch đầu quân. Đó cũng là một lực lượng khá to trong công cuộc chống Mỹ, cứu nước.

Để kết luận bài này, xin tặng các cụ phụ lão kính mến một câu thơ:

Tuổi cao, chí khí càng cao
Chống Mỹ, cứu nước, già nào kém ai!

Chiến sĩ

——————–

Báo Nhân dân,số 4218, ngày 22-10-1965.
cpv.org.vn

Mặt trận thống nhất phản đế giữa nhân dân Việt – Mỹ (24-10-1965)

Mặt trận này tuy chưa xây dựng về hình thức, nhưng thực tế đã hình thành bằng hành động và tinh thần.

Mấy nǎm trước đây, ở Mỹ đã có phong trào chống đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam nước ta, nhưng phong trào còn lẻ tẻ, thưa thớt.

Từ đầu nǎm nay, giặc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh ở miền Nam, “leo thang” ném bom, bắn phá miền Bắc. Đồng thời ở Mỹ, chúng bắt thêm nhiều thanh niên đi làm bia đỡ đạn, bắt nhân dân nộp thêm sưu thuế để chi phí vào chiến tranh.

Do đó, nhân dân Mỹ thấy rõ rằng cuộc chiến tranh xâm lược không những làm hại cho Việt Nam mà cũng có hại cho bản thân họ. Họ thấy rõ rằng nhân dân Việt Nam và họ cùng có một kẻ thù chung là đế quốc Mỹ và muốn giữ gìn quyền lợi chính đáng của họ thì họ cần phải ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Vì lẽ đó, về tinh thần, Mặt trận thống nhất phản đế đã hình thành giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ. Và từ đó, ở Mỹ, phong trào chống xâm lược ngày càng lên cao.

Vài ví dụ:

– Tháng 2, sinh viên ở bang Caliphoócnia biểu tình chống ném bom ở miền Bắc.

– Tháng 3, Trường đại học Misigân mở đợt thảo luận chống chiến tranh xâm lược Việt Nam. Nhiều trường đại học khác đã hưởng ứng.

– Tháng 4, ở Thủ đô Mỹ, hơn hai vạn người biểu tình trong ba ngày liền, đòi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam.

– Tháng 5, khắp nước Mỹ có l0 vạn giáo sư và sinh viên của hơn 120 trường cao đẳng tham gia cuộc thảo luận đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược.

– Tháng 6, Nữu Ước, hơn 18.000 người biểu tình. Cuối tháng 6, có 570 vǎn nghệ sĩ nổi tiếng gửi thư cho tổng Giôn kịch liệt chống chính sách xâm lược của y.

– Tháng 8, thanh niên đã liên tiếp biểu tình trong ba ngày đêm trước nhà tổng Giôn.

– Tháng l0, trong ba hôm, 15 đến 17, nhân dân Mỹ đã tổ chức “ngày kháng nghị khắp cả nước”. Đây là cuộc vận động to nhất xưa nay chưa từng có ở Mỹ. ở 60 thành phố lớn đã có hơn l0 vạn người tham gia biểu tình. Họ mang những biểu ngữ đòi chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

ở Caliphoócnia, hơn 2.000 người rầm rộ biểu tình trước doanh trại úclen là nơi tập trung quân đội và vũ khí Mỹ để chở sang miền Nam Việt Nam. Đi hàng đầu là các bà mẹ đẩy xe chở các cháu bé. Họ mang những khẩu hiệu như: “Vì sao người Mỹ đi giết người?”, những khẩu hiệu binh vận và chống bắt lính.

Chính phủ Mỹ đã động viên nhiều quân đội, cảnh sát, mật thám và du côn để phá hoại, nhưng quần chúng không nao núng và cuộc vận động đã thắng lợi to.

Bè lũ tổng Giôn thường ba hoa rằng ở Mỹ không ai phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cuộc biểu tình này là thêm một cái tát mạnh vào mồm chúng.

Nhân dân các nước Anh, ý, úc, Thụy Điển, Canađa, Tân Tây Lan, ácgiǎngtin, v.v. đǎ nhiệt liệt hưởng ứng cuộc vận động đó. ở Bỉ đã tổ chức “Tháng cǎm thù giặc Mỹ” nhân dịp kỷ niệm liệt sĩ Trỗi. ở Tây Đức có những cuộc triển lãm và biểu tình rước đuốc, nhân dân thành phố Phrǎngphuốc không quản rét buốt, biểu tình suốt 32 tiếng đồng hồ trước quán lãnh sự Hoa Kỳ.

*

*     *

Chiến tranh làm cho nhân dân Mỹ chết người hại của, nhưng lại làm cho bọn đại tư bản Mỹ được những món lãi kếch sù.

Như nǎm 1942 (Thế giới chiến tranh lần thứ hai) chúng lãi 9 tỉ 500 triệu đôla.

Nǎm 1952 (chiến tranh xâm lược Triều Tiên) lãi 17 tỉ 200 triệu.

Nǎm 1964 lãi 31 tỉ 900 triệu.

Có tờ báo tư sản Mỹ đã tính tỉ mỉ, mỗi tên lính Hoa Kỳ chết đã mang lại cho bọn tư bản mấy vạn, mấy nghìn, mấy trǎm, mấy mươi đôla!

Nhân dân Mỹ đã giác ngộ, họ đang vùng dậy đấu tranh chống bọn hiếu chiến Mỹ.

Nhân dân Mỹ đánh từ trong ra, nhân dân ta đánh từ ngoài vào. Hai bên giáp công mạnh mẽ, thì đế quốc Mỹ nhất định sẽ thua, nhân dân Việt – Mỹ nhất định sẽ thắng. Đó sẽ là thắng lợi vẻ vang của Mặt trận thống nhất nhân dân hai nước; mà cũng là thắng lợi chung của loài người yêu chuộng chính nghĩa và hoà bình.

Chiến sĩ

————————

Báo Nhân dân,số 4220, ngày 24-10-1965.
cpv.org.vn

Nhân dân và dư luận Nhật Bản nhiệt liệt ủng hộ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta (15-11-1965)

(Báo cáo của Chiến Sĩ)

Thưa các đồng chí,

Chính phủ Nhật Bản hiện nay là một chính phủ phản động, theo đuôi đế quốc Mỹ.

Song nhân dân và dư luận Nhật Bản thì nhiệt liệt ủng hộ cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta.

Tôi xin nêu vài ví dụ:

Tháng 4 nǎm nay, các công hội thuỷ thủ ở Tôkiô, Yôcôhama, Côbê, v.v. đã quyết định không chuyên chở những dụng cụ chiến tranh của Mỹ sang miền Nam Việt Nam. Thế là anh em công nhân Nhật Bản đã thực hiện tinh thần quốc tế vô sản cao quý.

Đầu tháng 6 vừa qua trong cuộc mít tinh do Đảng Cộng sản và Đảng Xã hội tổ chức, có hơn 7 vạn người tham gia, để chống đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam và chống Chính phủ Nhật Bản theo đuôi Mỹ. ở các thành phố khác như Đại Ban, Kinh Đô, Tiên Đài, v.v. cũng có những cuộc bãi công, bãi khoá, mít tinh từ nǎm, sáu nghìn người đến hai vạn người tham gia.

Trung tuần tháng 10-1965, ở Tôkiô có hai cuộc mít tinh to. Hơn nǎm vạn người đã kéo đi thị uy qua các đường phố lớn. Những khẩu hiệu chính là:

“Đập tan điều ước Nhật Bản – Nam Triều Tiên!”.

“Đế quốc Mỹ cút khỏi Việt Nam!”…

Hôm 22-10 vừa qua, hơn l triệu 80 vạn công nhân và viên chức Nhật Bản đã bãi công. Khẩu hiệu đấu tranh là:

“Tǎng tiền lương”.

“Chống điều ước Nhật Bản – Nam Triều Tiên!”.

“Chống đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam!”.

Nói tóm lại, trong mỗi cuộc vận động tương đối to, nhân dân Nhật Bản luôn luôn nêu khẩu hiệu ủng hộ ta chống Mỹ xâm lược.

Giới trí thứcNhật Bản cũng nhiệt liệt ủng hộ cuộc kháng chiến của ta. Ví dụ:

– Tháng 8 vừa qua, một số nhân sĩ đã đi mộ quyên ở các đường phố. Họ dùng số tiền đó để thuê một tờ báo Mỹ đǎng bức thư của họ đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam.

– Cũng trong tháng 8, các nhân sĩ ở Tôkiô đã tổ chức một cuộc thảo luận suốt đêm (từ l0 giờ tối đến 2 giờ sáng) về vấn đề Mỹ xâm lược Việt Nam.

Bằng máy vô tuyến truyền hình, hàng triệu gia đình Nhật Bản đã theo dõi cuộc thảo luận ấy. Tham dự thảo luận có hơn 20 người. Gồm đại biểu các chính đảng, các nhà báo, các giáo sư, các vǎn nghệ sĩ nổi tiếng. Hơn 600 người đủ các tầng lớp đến dự thính ở hội trường.

Ba nghị sĩ thuộc đảng cầm quyền đã ra sức biện bạch cho đế quốc Mỹ và vu cáo kháng chiến Việt Nam là “hành động khủng bố”. Trong lúc họ nói, quần chúng thường la ó lên. Và những người phát biểu sau đã thẳng tay phê bình họ.

Một vị cựu trung tướng quân đội Nhật Bản nói: chính quyền bù nhìn do Mỹ nặn ra đã thi hành chính sách tàn bạo. “Việt cộng” nổi lên chống lại là đúng.

Một ký giả nói: Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam cùng ǎn, cùng ở, cùng lao động với nông dân. Họ được nông dân hết lòng ủng hộ. Đó là điều quan trọng nhất.

Một giáo sư khoa học đã nghiêm khắc lên án Mỹ dùng bom napan, bom lân tinh và hơi độc để giết hại nhân dân miền Nam.

Một đảng viên Đảng Xã hội nói: là người châu á, thì người Nhật Bản phải coi cuộc vận động giải phóng Việt Nam cũng như của bản thân mình. Nhân dân Nhật Bản cũng như nhân dân Việt Nam đều bị đế quốc Mỹ hãm hại.

Một đảng viên Đảng Cộng sản nói: Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, phải để vấn đề Việt Nam do nhân dân Việt Nam tự giải quyết lấy. Chỉ có như thế Việt Nam mới có hoà bình và độc lập thật sự. Nhân dân Nhật Bản cần phải đoàn kết lại, ra sức đấu tranh ngǎn chặn Mỹ xâm lược Việt Nam và ra sức ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ, cứu nước.

Một số người dự thính cũng đã phát biểu ý kiến. Trong bốn giờ đồng hồ thảo luận, trừ ba nghị sĩ phản động, còn mọi người đều lên án Mỹ và ủng hộ ta.

Do những hoạt động của giới trí thức mà nhân dân Nhật Bản càng hiểu biết ta, càng ủng hộ ta và càng thấy rõ tội ác của giặc Mỹ xâm lược.

Báo chí là cơ quan của dư luận. Báo chí của Đảng Cộng sản Nhật Bản cố nhiên 100% lên án Mỹ và ủng hộ ta. Đối với tình hình kháng chiến của ta, nhiều báo chí tư sản Nhật Bản như tạp chí Vǎn nghệ xuân thu, Triều – Nhật chu san, báo hằng ngàyNhật Bản thời báo, Triều – Nhật tân vǎn, v.v. đều có thái độ đúng đắn.

Tôi xin phép lược dịch vài đoạn khá dài của những báo đó.

Về tình hình miền Nam.

Hồi tháng 7-1965, báo Tin tức hằng ngày đã đǎng bài của phóng viên từ miền Nam gửi về, đại ý như sau: Mỹ đã tổ chức một cuộc đi thǎm ba ngày ba đêm, từ Quy Nhơn đến Cần Thơ, Long Xuyên, Phú Quốc. ấn tượng chung là chiến trường Trung Bộ rất khẩn trương. ở đó tràn ngập một không khí sợ hãi là chẳng biết lúc nào Việt cộng sẽ mở một trận quyết liệt.

vùng tam giác sông Cửu Long mà người ta cho là khá yên ổn, mỗi tháng cũng có 200 đến 250 trận đánh nhanh. Hai tỉnh An Xuyên và Chương Thiện ở gần biên giới Campuchia, chính quyền Sài Gòn hoàn toàn không kiểm soát được.

Nǎm con đường lớn từ Sài Gòn đi khắp miền Nam, đều bị phá hoại. Đường xe hơi ở vùng tam giác dài l.450 cây số, nhưng xe hơi quân sự chỉ đi được 170 cây số thôi. 3.000 cây số đường sông cũng bị Việt cộng khống chế…

Để chở dầu xǎng của họ đến các trạm bán dầu, công ty dầu Mỹ cũng phải nộp thuế cho Việt cộng. Đó là một điều bí mật mà ai cũng biết.

Ở trước mặt trận, thái độ của người Mỹ cũng hỗn loạn một cách kỳ quái.

Sau cuộc đi thǎm này, ấn tượng mới là: Mặc dù đưa thêm bao nhiêu binh sĩ và bao nhiêu vũ khí hiện đại, Mỹ cũng không thể thắng được người du kích “đi không tiếng, về không tǎm”.

*

*     *

Báo Triều – Nhật tân vǎn (7-1965) viết: Từ hồi tháng 5, đường giao thông bị cắt đứt. Giá hàng hoá tǎng vọt không ngừng, kinh tế các thành thị bị cô lập như mắc bệnh “bán thân bất toại”.

Việc phá hoại đường giao thông, vừa làm cho chính quyền miền Nam khốn đốn, vừa giảm bớt sự cơ động của quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn, vừa có lợi cho quân du kích hoạt động.

Từ tháng 7, chính quyền Sài Gòn đã quản chế lương thực. Nhưng vì quản chế mà lương thực lại càng thêm khó khǎn. Trong những nǎm kháng chiến chống Pháp, giá hàng hoá cũng không tǎng vọt như ngày nay. Chế độ quản chế gạo rất chuệch choạc. Đến ngày bán gạo, dân phải xếp hàng dài dằng dặc, nhiều khi xảy ra chuyện đánh nhau. Hồi tháng 6, ở Nha Trang giá gạo chợ đen mỗi kilô 9 đồng. Nay chỉ cách một tháng đã tǎng đến 20 đồng.

Ở Đà Lạt tình hình còn gay go hơn. Giá gạo chợ đen còn đắt hơn các nơi khác, lại thêm gạo xấu, khó ǎn. Giá các thứ khác, như đường, muối, v.v. cũng tǎng vọt.

Từ người nông dân, đến thầy dạy học, ông cố đạo, v.v. ai cũng kêu khổ, ai cũng lo sợ cho tương lai.

Việt cộng hoạt động cực kỳ khéo, một ví dụ:

Cách Đà Lạt 8 cây số có một làng với độ 300 người dân. Dân làng nói với ký giả: “Quân giải phóng rất tốt“.

Đầu tháng này, sau khi đánh nhau với quân Sài Gòn, Quân giải phóng bắt thôn trưởng và mấy người nữa mang đi vào núi. Lúc đầu, gia đình những người này lo sợ và khóc lóc dữ. Sau mười hôm giáo dục, Quân giải phóng thả họ về hết. Từ đó, dân làng đều khen Quân giải phóng tốt.

*

*     *

Dưới đầu đề “Tình hình tuyệt vọng trong rừng sâu”, Tạp chí Nhật Bản Thế giới (số tháng 5-1965) viết:

“Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, tầm con mắt trông thấy được xa. Người du kích nấp trong rừng chỉ cần bắn một phát là diệt được một lính Mỹ cao to. To cao là mục tiêu rất tốt. Sau đó, xác lính Mỹ được moi hết ruột gan nhét thuốc chống thối vào, bỏ vào áo quan trên phủ một lá cờ Mỹ. áo quan được đưa sang Philíppin rồi chở về Mỹ.

Binh lính Mỹ ở trong đồn Bến Cát suốt đêm không dám ngủ vì sợ bị đánh úp. Sau mỗi lần ra trận, những tên may được sống sót, trốn trở về đồn, hút một điếu thuốc, rồi thở phào một cái …

Về sự xấu xa của cái chính quyền Sài Gòn, thì người ta thấy quá nhiêu rồi…

Từ sông Bến Hải đến mũi Cà Mau suốt ngày đêm không ngớt tiếng súng. Nông dân đã biến thành Việt cộng rồi, quân đội Sài Gòn thì không biết vì ai, vì mục đích gì mà họ phải đánh nhau. Sau một trận bị phục kích, ba trǎm, bốn trǎm tên chết như châu chấu… Nhiều binh sĩ khi phải ra mặt trận thì vất súng chạy trốn hoặc đi theo Việt cộng. Những binh sĩ đi theo Việt cộng thì chỉ sau một tháng, từ những người nhút nhát họ đã trở nên những chiến sĩ du kích vô cùng anh dũng. Tướng lĩnh và chính khách Sài Gòn thì rặt là bọn hủ hoá, tham ô, ba bè bảy mảng, giành nhau quyền lợi, liều mạng xoay tiền.

Con nhà giàu thì trốn sang Pari, Hương Cảng, Nữu ước, Tôkiô. Những thanh niên khác thì trốn trên gác nhà để khỏi bị bắt đi lính…

Gần đây, Mỹ đã dùng máy bay B.52 ném bom, đốt sạch, phá sạch. Kết quả là: chỉ làm cho Việt cộng càng nâng cao chí khí chiến đấu, càng quyết tâm kháng chiến đến cùng. Nông dân càng ra sức giúp Việt cộng hoặc biến thành Việt cộng. Cả nước bùng lên như lửa cháy…” Bài báo kết luận: “Một dân tộc kiên quyết đấu tranh cho độc lập, xưa nay chưa hề bị đánh thua bao giờ.

Mỹ đã sa vào vũng lầy không đáy ở vùng sông Cửu Long rồi. Ngoài việc Mỹ phải rút lui, thì không có biện pháp nào khác để giải quyết vấn đề Việt Nam”.

*

*     *

Tạp chí Vǎn nghệ xuân thu (5-1965) đã đǎng một bài của ông Xatô Kenriô. ông này trước đây là trung tướng phó tham mưu trưởng quân đội Nhật Bản xâm lược Trung Quốc, đồng thời là người phụ trách quân đội Nhật Bản chiếm đóng Đông Dương. Ông Kenriô viết: “Tôi là một tội phạm chiến tranh đã bị kết án vì những tội lỗi của tôi đã phạm ở Trung Quốc … Hành động tội ác của Mỹ ở Việt Nam hiện nay giống hệt những tội ác của Nhật Bản ở Trung Quốc ngày xưa… Vì sao Mỹ cứ ngu xuẩn đi theo vết xe xuống hố của Nhật Bản? Đối với cuộc vận động thống nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam, Mỹ nhất định sẽ thua

Mỹ coi Việt Nam như “Mãn Châu quốc”, coi quân đội Mỹ như “Quan Đông quân”…, dùng một lực lượng quân sự thật to có thể tạm thời giành được một thắng lợi trước mắt, nhưng không thể thắng được linh hồn của một dân tộc. Đó là kinh nghiệm chua cay mà Nhật Bản đã nếm ở Trung Hoa. Nǎm 1938, quân Nhật Bản ào ạt chiếm đóng Vũ Hán, Quảng Đông, v.v., tưởng là thắng lợi rồi. Nhưng đã lầm to vì kết quả là Nhật Bản đã sa lầy đến cổ. Hiện nay, Mỹ sa lầy ở Việt Nam còn sâu hơn ngày trước Nhật Bản sa lầy ở Trung Quốc. Và Mỹ càng giãy giụa thì càng lún sâu thêm…

Giônxơn cố sống cố chết tuyên truyền cho cái mà y gọi là “đàm phán không điều kiện”. Kỳ thực đàm phán theo quan điểm của Mỹ là buộc Việt Nam đầu hàng… Mỹ đã thất bại, vì vậy họ cố tìm một giải pháp có thể “giữ được thể diện” bằng cách mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Đó là một điều sai lầm to, chắc nó sẽ đẩy Mỹ vào con đường thể diện của địa ngục…”.

Tờ Nhật Bản thời báo (24-4-1965) viết: “Người Nhật Bản coi cuộc xung đột hiện nay ở Nam Việt Nam là một phong trào dân tộc nhất trí chống một chính quyền bù nhìn dựa vào thực lực của nước ngoài. Con đường giải quyết là Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam …

Giônxơn lặp đi lặp lại rằng: “Mỹ không có ý mở rộng chiến tranh”.. Nhưng y nói chưa dứt lời thì chiến tranh ở Việt Nam đã mở rộng. Cũng như hồi tháng 7-1937, sau sự kiện Lư Câu Kiều nổ ra, Chính phủ Nhật Bản cũng tuyên truyền rằng “Nhật Bản không có ý mở rộng chiến tranh”, nhưng chiến tranh đã lan khắp Trung Quốc…

Vì vậy dư luận Nhật Bản đòi Mỹ rút ngay khỏi Việt Nam“.

*

*     *

Tạp chí Triều – Nhật chu san (3-1965) đã mở một cuộc vận động nhân dân Nhật Bản viết thư cho Tổng thống Mỹ. Chỉ trong vài hôm đã có hơn 1.000 người đủ các tầng lớp gửi thư đến toà báo. Các bức thư đều oán trách Mỹ xâm lược Việt Nam. Họ nói Mỹ đã lâm vào thế bí, nếu cứ liều mạng đi tới thì sẽ bị cả thế giới phỉ nhổ. Họ đều kết luận rằng Mỹ phải rút đi thôi.

Tóm tắt nội dung của các bức thư đó, Triều – Nhật chu san viết: “Trong các người gửi thư, có những em học sinh lên mười, có những cụ già ngoài tám mươi tuổi …

Một cụ hoà thượng đã dẫn chứng sách Phật, một cô thiếu nữ công giáo đã dẫn chứng kinh thánh Giêsu, nhiều bà nội trợ đã dẫn chứng “Tuyên ngôn độc lập” Hoa Kỳ để lên án chính sách xâm lược của Mỹ. Có người đã thề quyết đánh một keo chết sống với Mỹ …

Người ta cho rằng càng xối tên lửa và bom napan xuống Việt Nam, thì Mỹ thất bại càng nặng … Nhiều người đã nhắc lại kinh nghiệm thảm hại của Nhật Bản ở Trung Quốc để rǎn đe Giônxơn.

Hầu hết các bức thư đều nói rằng bất kỳ thứ vũ khí gì cũng không thể thắng nổi lòng tin tưởng của một dân tộc có quyền tự quyết. Có những em học sinh viết rằng Mỹ đang còn cǎn cứ quân sự ở Nhật Bản, thì người Nhật Bản không thể làm ngơ trước vấn đề Việt Nam …

Trong thư trả lời các bạn đọc, Đại sứ Mỹ ở Nhật Bản đã tránh không nói đến ba vấn đề quan trọng là: chiến tranh ở Đông Dương, Hiệp định Giơnevơ và Ngô Đình Diệm.

Đối với nhân dân Việt Nam, cuộc chiến tranh chống Pháp ở Đông Dương là một cuộc chiến tranh toàn dân để giành lại độc lập dân tộc. Hồi đó Mỹ đã giúp Pháp hàng tỉ đôla để giết hại nhân dân Việt Nam. Thực dân Pháp đã bị đập tan ở Điện Biên Phủ. Nhưng cũng từ lúc đó, Mỹ đã len vào Việt Nam. Cho nên có thể nói rằng cuộc chiến tranh chống Mỹ là tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp.

Hiệp định Giơnevơ cấm nước ngoài lập cǎn cứ quân sự ở miền Nam và miền Bắc. Ông Hồ Chí Minh không ký kết hiệp định quân sự với Bắc Kinh hoặc Mạc Tư Khoa. Trái lại, Mỹ đã giúp Ngô Đình Diệm hàng tỉ đôla, đã lập cǎn cứ quân sự khắp miền Nam, đã can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam.

Cũng như Ngô Đình Diệm, các quan lại và tướng tá của chính quyền Sài Gòn đều đã từng theo Pháp, theo Nhật Bản. Nhân dân không ưa họ, không tin họ. Họ đều tham ô, hủ hoá, bẩn thỉu, bất tài. Ngoài việc xin và xài tiền Mỹ, họ chẳng có tài nghệ gì hết.

Việt cộng thì phân tán trong rừng sâu, trong nhân dân. Mỹ không thể tiêu diệt được cả 14 triệu người miền Nam, thì quyết không đánh bại được Việt cộng…”.

Đôi khi báo chí Nhật Bản cũng đǎng lại những bài báo chí Hoa Kỳ công kích Mỹ xâm lược Việt Nam.

Tạp chí Nhật Bản Thế giới (số tháng 7) đã đǎng lại một bài của tạp chí Mỹ Ký giả dưới đầu đề “Tổng Giôn không phải là con chim hoà bình”. Xin lược dịch như sau:

“Hiện nay, rõ ràng là cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã trở nên cuộc chiến tranh riêng của tổng Giôn. Ông ta tự vạch ra chiến lược, tự thảo ra những lời thanh minh cho Bộ Ngoại giao. Ngày nào ông ta cũng giải thích chính sách Mỹ ở Việt Nam và tình hình chiến sự cho các nghị sĩ… và các ký giả nghe.

Nhưng nhân dân Mỹ vẫn phê bình quân đội Mỹ dùng hơi độc và ném bom bừa bãi ở Việt Nam.

Một số nghị sĩ, những tờ báo lớn như Thời báo Nữu Ước, Báo Hoa Thịnh Đốn cũng đòi Chính phủ phải xét lại chính sách ở Việt Nam.

Cái mà tổng Giôn gọi là “ý kiến rộng rãi nhất trí” đã tan vỡ hết và biến thành “ý kiến rộng rãi không nhất trí “.

Vả lại, cuộc chiến tranh ở Việt Nam tốn tiền rất nhiều. Nếu chiến tranh kéo dài, thì chắc nó sẽ đe doạ đời sống cái “xã hội vĩ đại” ở Mỹ. Trong luồng không khí ấy, tổng Giôn ngày càng lo lắng và không yên.

Trước ngày tuyển cử, Giônxơn thề thốt rằng “quyết không mở rộng chiến tranh ở Việt Nam”. Nhưng từ ngày được bầu làm Tổng thống, vì sao tổng Giôn lại “nói lời, rồi lại ǎn lời được ngay” và mở rộng chiến tranh? Đó là vì:

– Lòng hư vinh rất to của tổng Giôn. Muốn có thành công cá nhân, việc gì Giôn cũng dám làm. Giôn tiếp lấy cái gánh nặng chiến tranh ở Việt Nam do hai Tổng thống trước để lại, một cái gánh nặng xấu xa đã đi từ thất bại này đến thất bại khác. Thất bại đó làm cho Giôn ngày càng khốn đốn, nóng nảy, không yên.

– Về tính cách cũng như về kinh nghiệm, Giôn là một con diều hâu hiếu chiến. Suốt 24 nǎm ở Quốc hội, Giôn là kẻ biện hộ cho phái quân phiệt, là hiện thân của các tướng lĩnh.

– Hải, lục, không quân Mỹ đều đua nhau dùng Việt Nam làm nơi thí nghiệm vũ khí mới và chiến thuật mới. Lại có các ngài trong “uỷ ban hoá học”, họ chủ trương dùng chất độc hoá học để tiến hành cuộc “chiến tranh giết người một cách nhân đạo”. Tuy kế hoạch của những phe phái đó đều có mâu thuẫn, nhưng tổng Giôn đều nghe hết, đều thực hành hết.

– Tổng Giôn nhận rằng: một mai chính quyền Sài Gòn bị tan rã, một chính phủ hoà bình thành lập ở miền Nam thì các ngài “cố vấn” Mỹ chắc phải cuốn gói chuồn. Đó sẽ là một sự nhơ nhuốc suốt đời cho Giôn.

– Bộ Quốc phòng Mỹ luôn luôn đưa ra những luận điệu như: “Trung Quốc đe doạ”,

“Cắt đứt tiếp tế từ miền Bắc vào, thì dân quân miền Nam lập tức tan rã”,

“Trung Quốc quyết không dám tham chiến”,

“Đối phó với cộng sản châu á, chỉ có một cách là đánh cho chúng quỵ đi”

Những luận điệu đó rất hợp với tì vị của Giôn, đã thành định kiến chính trị và hành động mở rộng chiến tranh của Giôn.

Những người Mỹ sáng suốt thì đã nêu ra những lời lẽ chống lại Giôn. Ví dụ: người viết báo nổi tiếng Lípman đã nhắc đi nhắc lại như dạy bảo một đứa trẻ cứng đầu rằng: vô luận ném bao nhiêu bom, phái bao nhiêu quân, Mỹ cũng không thể giành được hoà bình đúng đắn ở Đông – Nam á.

Lại như người xã hội học nổi tiếng là ông Nôn Pho đã viết thư cho Giôn rằng: “Nói thẳng cho ông biết là hàng triệu người Mỹ yêu nước đã nghĩ thế nào. Họ nhận rằng đối với đạo nghĩa thì đường lối của ông là một sự nhục nhã không tha thứ được”.

Hội “Khoa học tự nhiên” Mỹ đã kịch liệt phản đối quân đội Hoa Kỳ dùng hơi độc ở Việt Nam.

Hơn 200 giáo sư Trường đại học Misigân đã liên tiếp thảo luận suốt 12 giờ đồng hồ chống chính sách Mỹ ở Việt Nam. Hầu như ngày nào tờ Thời báo Nữu Ước cũng có đǎng thư của giới trí thức công khai chống chính sách của Giôn.

Nhưng “nói thẳng, mất lòng”. Tổng Giôn chẳng những không lắng nghe những ý kiến đó, mà còn nổi giận lôi đình…

Người lái con thuyền chính trị của Mỹ hiện nay là như vậy đó…

Hồi Tơruman nối nghiệp Rudơven, thì vì cuộc xâm lược Triều Tiên mà danh giá của Đảng Dân chủ đã xuống dốc. Nay Giônxơn nối nghiệp Kennơđi, cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã có chiều hướng biến thành một cuộc chiến tranh Triều Tiên khác. Chẳng hay tổng Giôn có “đạp vỏ dưa, thấy vỏ dừa mà sợ” không?…

Thưa các đồng chí,

Tin tức hằng ngày là một trong những tờ báo lớn ở Nhật Bản, có phóng viên khắp nǎm châu, mỗi ngày ra nǎm triệu số. Vì tin tức đúng đắn, cho nên báo này có ảnh hưởng tốt trong nhân dân. Tháng 9 vừa qua, một ký giả báo này là ông Minôrư Ômôri đã được vào thǎm miền Bắc và đã viết cho báo một loạt bài. Tôi xin lược dịch mấy đoạn sau đây:

“…Giữa Trung Quốc cộng sản với Việt Nam tình đoàn kết chặt chẽ ngoài sức tưởng tượng. Nếu các chính khách Mỹ có thể đến Trung Quốc mà xem, thì chắc họ sẽ bị chấn động mạnh và họ sẽ xét lại kỹ các vấn đề.

Ở ga xe lửa Trung Quốc có một tấm bảng cao mười mét, rộng một mét, với khẩu hiệu “Kiên quyết ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ”.

Khắp nơi ở Trung Quốc đều có tinh thần giúp Việt chống Mỹ như vậy…

Khác hẳn với Sài Gòn lộn xộn lạo xạo, Hà Nội cực kỳ yên ổn, lặng lẽ, nghiêm trang.

Ở Sài Gòn khắp nơi treo cờ Mỹ. Xe bọc sắt chở đầy lính nghênh ngang chạy ngược chạy xuôi.

Hà Nội có một cảnh tượng khác, rất lạ lùng. Chiều chiều, có những tốp độ mươi lǎm người đàn ông và đàn bà một vai mang súng, một vai vác cuốc xẻng, thong dong trở về nhà họ. Đó là những chiến sĩ dân quân. Đó là hình ảnh của “chiến tranh nhân dân”… Khẩu hiệu “ba sẵn sàng” đầy tinh thần kháng chiến của thanh niên đã thấm nhuần sâu vào các tầng lớp cơ sở.

Trong những vùng ruộng lúa mênh mông bát ngát có các xóm làng. Giữa những đám nhà tranh, nổi lên những nhà máy ngói đỏ xinh đẹp, cây cối xanh tươi bao bọc xung quanh. Đó là một cảnh tượng hoà bình. Bất thình lình, con quái vật chiến tranh lù ra và một tinh thần cǎm thù sôi nổi… Mỹ ném bom như mưa xuống những làng mạc hoà bình ấy. Đó là một hành động dã man.

Mỹ đã trở nên “thầy giáo phản diện” để kích thích chí khí anh dũng của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh nhân dân…

Gần đây, Mỹ lại dùng một chính sách dụ dỗ. Khi ném bom miền Bắc, họ cũng ném bánh kẹo và đồ chơi của trẻ con. Muốn dùng cách đó để hòng mua chuộc lòng dân, Mỹ thật ngây thơ quá!

Khắp đường phố Hà Nội đều thấy tuyên truyền những người anh hùng và những việc oanh liệt trong cuộc kháng chiến. Khi miền Bắc bị ném bom dữ dội, thì những thanh niên, những dân quân và phụ nữ đều có thể trở nên anh hùng như Phan Đình Giót…

Với sự ủng hộ kiên quyết của nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đang tiến hành một cuộc kháng chiến mà thường thức chiến tranh hiện đại không thể tưởng tượng được. Họ tin chắc rằng, với sự ủng hộ của dư luận thế giới một ngày kia họ sẽ làm cho Mỹ lê lết mà phải bỏ cuộc và Việt Nam sẽ giành được thắng lợi cuối cùng.

Hà Nội ở trong tình trạng chiến tranh và sẵn sàng chiến đấu. Nhưng ban đêm ngoài phố đèn điện vẫn sáng choang, người ta đi lại đông như trẩy hội.

Ở đồng bằng miền Bắc, lúa xanh mơn mởn như tấm thảm mênh mông. Việc cung cấp lương thực tốt hơn trước. Họ dùng chế độ cung cấp từng đơn vị nhỏ. Quân đội cũng phân tán theo quy mô nhỏ, vì vậy, Mỹ không thể phá hoại nghiêm trọng như Mỹ tưởng tượng.

Mỹ công khai tuyên bố chỉ ném bom những nơi quân sự. Nhưng kỳ thực họ đã bắn phá cả nhà thương, trường học…, đập nước, nông thôn, thậm chí cả những thuyền nhỏ đánh cá ngoài biển.

Từ mồng 7 tháng 2 đến nay (hạ tuần tháng 9), quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 600 máy bay Mỹ.Nhà đương cục Việt Nam không những nghe báo cáo, mà còn điều tra cẩn thận thấy rõ xác máy bay rồi, mới ra thông cáo. Họ làm cho nhân dân tin rằng súng trường cũng bắn được máy bay. Một lý luận chiến tranh nhân dân thật là đáng sợ !

Lúc đầu, họ chở xác máy bay Mỹ về Hà Nội để trưng bày cho nhân dân xem. Về sau, máy bay Mỹ bị bắn rơi ngày càng nhiều, không chở hết được, họ bèn làm những “mộ máy bay”. Chuyện tức cười là máy bay Mỹ ném bom những “mộ máy bay” Mỹ.

Những tên phi công Mỹ bị bắt đều mang theo bảy thứ “đồ dùng”, trong số đó có kim thuốc độc để tự sát và một lá cờ Mỹ nho nhỏ. Trên lá cờ có những câu bằng chữ Việt và chữ Hoa như sau: “Nhờ ông bà đưa tôi về chỗ quân đội Mỹ. Mỹ sẽ cho ông bà nhiều tiền…”.

Mỹ ra sức ném bom các cầu cống nhằm phá hoại đường giao thông. Nhưng người Việt Nam đã có cách dùng thuyền bè để qua sông, hoặc làm cầu bằng tre, ban đêm thì qua lại, ban ngày thì giấu cầu đi. Thành thử dù có khó khǎn, giao thông vẫn tiếp tục như thường.

Ra ngoài Hà Nội vài chục cây số thì đã cảm thấy như đến trước mặt trận. Trong những đám lúa xanh tươi đã thấy lù lù những nòng súng cao xạ.

Khác hẳn với cảnh tượng nông thôn Nhật Bản trong thời kỳ chiến tranh, ở đây nông dân gái cũng như trai, vai mang súng, tay làm ruộng. Gần hai bên đường, thường có những tốp 20, 30 dân quân tập bắn máy bay bằng súng trường.

Một cảnh tượng khiến cho người ta phải kinh ngạc.

Đến thǎm một hợp tác xã nông nghiệp, ký giả thấy trong làng có cả súng máy hạng to, dân quân người nào cũng có súng trường. Họ được giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự một cách kỹ càng và luôn luôn sẵn sàng chiến đấu. Họ có vẻ tự tin và chẳng sợ trời đất gì cả!

Vừa rồi, khi nói về tình hình Bắc Việt Nam, một tờ tạp chí Mỹ đã viết rằng: “Nhân dân Việt Nam đã chán ngấy với chiến tranh”. Nói như thế là trái hẳn với sự thật. Mặc dù ở các nước Đông – Nam á mức sống rất thấp, nhưng dân ở đây trước kia sống dưới ách nô lệ của thực dân Pháp, nay được giải phóng và mức sống được nâng cao dần. Cho nên dù phải hy sinh tính mạng, họ cũng kiên quyết bảo vệ thành quả đó. Đối với họ, Mỹ hay là Pháp cũng chẳng khác gì. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam nhận định rằng: Trước kia họ chống Pháp thế nào thì ngày nay họ cũng chống Mỹ như vậy.

Một điều nữa nổi bật là sức lao động của phụ nữ ở đây thật lạ lùng. Thanh niên có cuộc vận động “ba sẵn sàng” thì phụ nữ có phong trào “ba đảm đang”. Họ thay thế công việc cho những trai tráng đi vào bộ đội, bất kỳ việc gì nặng nhọc mấy, họ cũng làm được. Có thể nói rằng ở Đông – Nam á, phụ nữ Bắc Việt Nam là người lao động cừ nhất.

Dần dần tôi càng thấy sâu sắc rằng Mỹ chẳng những không thể khuất phục được dân tộc Việt Nam, mà còn thành kẻ làm cho dân tộc Việt Nam thêm đoàn kết. Nếu Mỹ tiếp tục “leo thang” thì càng bị thế giới lên án, chứ quyết không khuất phục được miền Bắc. ở Hà Nội, người ngoài Đảng cũng như người đảng viên, ai cũng sôi sục tinh thần chống Mỹ.

Về chính trị, quân sự và kinh tế, họ đều có kế hoạch sơ tán. Họ bình tĩnh chờ đợi những việc có thể xảy ra.

Ở các nước ngoài có những người trung gian muốn cho Việt Nam thoả hiệp. Đó là vì họ không hiểu rõ những nhà lãnh đạo chính trị Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Họ càng không hiểu rõ lịch sử đấu tranh cực kỳ gian khổ mà dân tộc Việt Nam đã trải qua để thoát khỏi ách thực dân Pháp, để giành lại thống nhất và độc lập. Nhân dân Việt Nam đã hy sinh nhiều để giữ lấy kết quả thắng lợi đó.

Nay Mỹ liên tiếp ném bom buộc Việt Nam thoả hiệp. Điều đó chắc không bao giờ thực hiện được.

Tuy Mỹ đưa thêm quân đội để tǎng cường Sài Gòn, Đà Nẵng và các thành thị quan trọng khác. Nhưng tại nông thôn, Mặt trận dân tộc giải phóng vẫn ở địa vị có lợi hơn.

Miền Bắc giữ vững “lập trường 4 điểm” dựa trên nền tảng Hiệp định Giơnevơ. Điều đó rất là hợp lý.

Dù Mỹ ném bom bừa bãi cũng không làm lung lay được quyết tâm của người Việt Nam chống Mỹ. Ném bom có ảnh hưởng đến kinh tế, nhưng ảnh hưởng nhỏ thôi. Ví dụ: tuy Nhà máy điện Thanh Hoá bị bom, nhưng các nhà máy quan trọng khác đã có sẵn máy phát điện riêng để hoạt động. Nhà máy dệt Nam Định bị bắn phá, nhưng máy móc đã sơ tán rồi. Đường xe lửa gần Lào Cai bị bắn phá, nhưng sau bốn giờ đồng hồ, giao thông đã khôi phục. Các xí nghiệp ở Hà Nội đều sơ tán xong xuôi.

Với một tinh thần kiên quyết làm cho người ta phải kinh sợ, một cán bộ cao cấp nói với ký giả: “Dù cho Hà Nội sẽ bị ném bom như Bình Nhưỡng hay là như Hirôsima, chỉ cốt giữ được độc lập, chúng tôi sẽ xây dựng lại”.

Ở miền Bắc, vấn đề ǎn không gặp khó khǎn. Trái hẳn với tình trạng những nǎm chiến tranh ở Nhật Bản, người ta chỉ ǎn đậu và ǎn đậu, ǎn đậu đến ngấy cả người.

Ở miền Nam có tiếng là kho gạo, mỗi ngày Mỹ lại cung cấp một triệu đôla, nhưng vấn đề ǎn rất khó khǎn. Tôi nhớ lại bộ mặt buồn rầu của một cụ già nông dân từ một ống tre đổ ra từng hạt gạo quý như hạt ngọc kim cương. Tôi thầm nghĩ: nếu tình hình miền Bắc cũng giống như thế, thì chủ nghĩa cộng sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cộng sản giả. Nhưng bây giờ tôi thấy rõ tình hình miền Bắc khác tình hình miền Nam.

Ở Luân Đôn, có một giáo sư phụ trách nghiên cứu vấn đề Việt Nam đã viết rằng: “Từ ngày được giải phóng, vì chính sách nông nghiệp thất bại, lương thực thiếu hụt, cho nên miền Bắc đã phải cho Việt cộng vào Nam để tìm thóc gạo”. Câu nói đó hoàn toàn sai sự thật.

Ở nông thôn miền Bắc không phải vì thiếu lương thực mà người ta ǎn thêm khoai, sắn và rau muống… Rau muống là một thứ dễ ǎn, dễ trồng, ở các hồ ao nơi nào cũng có. Người Việt Nam có kinh nghiệm và tin tưởng rằng cốt có đủ những thức ǎn ấy, thì chiến tranh đến mấy nǎm cũng chẳng sao. Vì vậy, sau chín nǎm kháng chiến, họ đã thắng thực dân Pháp. Mỹ lầm tưởng rằng ném bom bừa bãi, làm cho lương thực khó khǎn thì khuất phục được Việt Nam. Đó là một sự tính toán ngốc nghếch“.

Thưa các đồng chí,

Để kết thúc báo cáo này, tôi xin phép thay mặt đồng bào ta cảm ơn sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân và dư luận nước Nhật Bản đối với cuộc chống Mỹ, cứu nước của chúng ta.

Tôi cũng xin những tờ báo Nhật Bản nói trên nguyên lượng. Vì trong khi lược dịch, tôi giữ đúng tinh thần và nội dung của các bài báo đó, nhưng về câu, về đoạn thì tôi phải rút ngắn rất nhiều.

Nhân dân ta từ Nam đến Bắc đoàn kết một lòng, kiên quyết chống Mỹ, cứu nước. Chúng ta lại được nhân dân và dư luận thế giới – trong đó có nhân dân và dư luận Nhật Bản nhiệt liệt ủng hộ và đồng tình. Giặc Mỹ thì ngày càng sa lầy và càng bị cô lập. Cho nên giặc Mỹ nhất định sẽ thua, nhân dân ta nhất định sẽ thắng.

Chiến sĩ

————————–

Báo Nhân dân, số 4241 và 4242, ngày 14 và 15-11-1965.
cpv.org.vn

“Điện Biên Phủ nhỏ và nhịp cầu vàng”

– Đó là tên một bài báo đăng trên tờ “Nhân Dân” số ra ngày 7/1/1965 ký tên “Chiến Sĩ” một trong những bút danh của Bác và được viết dưới hình thức một bức thư gửi cho “Cháu Xuân Oanh yêu quý”.

Bức thư phân tích tình hình cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước vào thời điểm Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc và trực tiếp đưa quân chiến đấu vào miền Nam.

Bác đến thăm nông dân Hưng Yên táng 1/1961Bác đến thăm nông dân Hưng Yên tháng 1/1961

Ý niệm về “Điện Biên Phủ nhỏ” là để nhắc đến những chiến thắng của quân và dân miền Nam được đánh dấu bằng các trận đánh ở Ấp Bắc, Bình Giã, An Lão, Tam Kỳ  và đặc biệt là ở Bình Giã mà đến thời điểm ấy được dư luận Mỹ đánh giá là “bị đánh đau nhất trong lịch sử ở Nam Việt Nam”.

Bài báo phân tích tình hình bi thảm trên mặt trận quân sự của Mỹ và nhắc đến bình luận của tờ “Luận đàm Nữu Ước” phàn nàn là “Cộng sản Bắc Việt đang chờ đợi một ngày mà Mỹ sẽ rút khỏi miền Nam, nhưng cộng sản không cho Mỹ một nhịp cầu vàng để họ rút lui…”.

Giải thích câu bình luận trên, bài báo cho rằng: “Ý nói là để Mỹ rút lui mà khỏi mất mặt. Trước kia thực dân Pháp rút khỏi Đông Dương và Angieri, bản thân Mỹ cút khỏi Trung Quốc và Triều Tiên đều không có “nhịp cầu vàng”.

Ngày nay, nếu nhận biết chiến tranh xâm lược là tội ác mà Mỹ hối hận và rút khỏi miền Nam, không chờ một Điện Biên Phủ mới thì mặt Mỹ vẫn còn, không mất đi đâu…Cương lĩnh Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là… Mỹ chấm dứt ngay chiến tranh để nhân dân Việt Nam thực hiện Hiệp định Giơnevơ, thế cũng là “nhịp cầu vàng” cho Mỹ rút lui mà không mất mặt”.

Cuối năm 1965, tại cuộc họp của Bộ Chính trị (ngày 16/12), với việc Mỹ tuyên bố tạm ngừng ném bom miền Bắc, Bác căn dặn: “Ta nên có tuyên bố với Mỹ, nói thế nào cho cứng cỏi nhưng dễ nghe” và lưu ý “phải có cách giải quyết lịch sự…tóm tắt là Mỹ phải rút đi.

Mười ngày sau đó (26/12) phát biểu tại Hội nghị Trung ương lần thứ 12, sau khi khẳng định sẽ chiến đấu đến toàn thắng, Bác lại đưa ra giải pháp: “Nếu Mỹ thực sự xin ra, ta còn tặng hoa cho họ nữa”.

Điều đáng nói là văn kiện cuối cùng Bác viết trước khi từ trần lại là “Thư trả lời Tổng thống Mỹ Risơt Nixon” đề ngày 25/8/1969 kết thúc bằng câu: “Với thiện chí của Ngài và phía chúng tôi, chúng ta có thể đi tới những cố gắng chung để tìm một giải pháp đúng đắn cho vấn đề Việt Nam”.

Giải pháp ấy cũng được Bác gửi gắm trong lời Chúc Tết cuối cùng vào Mùa Xuân năm 1969: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” như một thứ cẩm nang nhằm kết thúc thắng lợi sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Sau Điện Biên Phủ trên không (12/1972), đầu năm 1973, Mỹ ký Hiệp định Paris rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam và chỉ hơn hai năm sau ngày “Mỹ cút”, chế độ Sài Gòn cũng đổ nhào.

X&N
bee.net.vn

Mỹ hoạt động hoà bình giả để mở rộng chiến tranh thật (8-1-1966)

Dạo này đế quốc Mỹ rất nhộn nhịp với cái món hoạt động “hoà bình”. Chúng hòng dùng nó như một cái màn khói để che giấu âm mưu của chúng mở rộng chiến tranh. Nhưng sự thật đã lật tẩy mưu gian của chúng. Sự thật có nhiều, sau đây là vài ví dụ:

Tháng 3-1965, ở miền Nam có độ 31.600 tên lính Mỹ.Từ tháng 4-1965, tổng Giôn bắt đầu quảng cáo cái món “đàm phán không điều kiện” thì số quân đội Mỹ sang miền Nam ồ ạt tǎng thêm:

Tháng 5- 48.580 tên

Tháng 7- 79.600 tên

Tháng 10- 148.000 tên

Tháng 12- 184.000 tên.

Cách tìm hoà bình kiểu Mỹ là như thế đó.

Tổng Giôn yêu chuộng “hoà bình”. Tối nào y cũng đọc kinh cầu nguyện cho hoà bình. Nhưng đọc kinh xong, y liền trắng trợn tuyên bố: “Mỹ quyết không rời khỏi Nam Việt Nam” (tháng 4-1965); “Mỹ quyết theo đuổi những cố gắng chiến tranh ở Nam Việt Nam. Cần thêm bao nhiêu lính Mỹ, sẽ có bấy nhiêu” (8-12-1965).

Những tên tai to mặt lớn trong Chính phủ Mỹ đều nói theo kiểu đó
Vǎn thần như Phó Tổng thống Hâmphrây, đại sứ Hariman, cố vấn Bânđi, đặc phái viên Gônbớc, v.v. được phái đi gặp chính phủ nhiều nước ở nǎm châu để bày tỏ “thiện ý” của Mỹ sẵn sàng “đàm phán hoà bình”.
Cũng trong lúc đó, thì các võ tướng đầu sỏ và cuồng chiến như: Bộ trưởng lục quân Rido, Bộ trưởng không quân Brao, Tham mưu trưởng lục quân Giônxơn, Chủ tịch hội đồng tham mưu Uylơ, v.v. kéo nhau đến miền Nam để chuẩn bị kế hoạch mở rộng chiến tranh. Uylơ còn đe doạ dùng máy bay B. 52 ném bom miền Bắc.
Hôm 28-12-1965, chúng đưa thêm vào 4.000 lính bộ binh Mỹ chiếm đóng Plâycu.

Chúng dùng máy bay phun thuốc độc với quy mô lớn để giết hại nhân dân, phá hoại mùa màng miền Nam.

Ném bom, bắn phá miền Bắc là một tội ác tày trời. Nay chúng dùng việc tạm ngừng ném bom, hòng ép ta nhận những điều kiện láo xược của chúng. Tờ báo Phố Uôn của đại tư bản Mỹ đã để lộ: “Tạm ngừng ném bom, phái thêm quân đội, hoạt động ngoại giao – đó là diệu kế của Tổng thống Giônxơn”.

Đế quốc Mỹ dùng thủ đoạn xỏ lá đó, vừa để che đậy âm mưu mở rộng chiến tranh, vừa làm ra vẻ chúng muốn hoà bình để đổ lỗi cho ta là hiếu chiến, vừa hòng xoa dịu dư luận thế giới và trong nước Mỹ đang kịch liệt lên án chúng. Nhưng âm mưu của chúng đã thất bại. Chính nhân dân Mỹ cũng đang đẩy mạnh phong trào chống chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Một ví dụ:

Ngày 4-1-1966, hơn l.500 giáo sư Mỹ đã đǎng báo đòi tổng Giôn:

– Phải chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược dã man và tội ác.

– Phải đàm phán với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam.

– Phải chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, v.v..

Tổng Giôn nói y đi tìm “hoà bình” khắp nơi. Thật rõ ngu ngốc!

Đế quốc Mỹ xâm lược Nam Việt Nam và “leo thang” miền Bắc. Chúng tự động cút khỏi Việt Nam một cách có thể diện, thì hoà bình trở lại ngay, cần gì phải đi tìm. Nếu chúng chần chừ không tự động cút đi thì nhân dân cả nước ta đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu, nhất định sẽ tống cổ chúng đi.

Do you understand, Zoon? 1)

Chiến sĩ

—————————

Báo Nhân dân, số 4296, ngày 8-1-1966.
1) Zoom, có hiểu không?
cpv.org.vn

Lại chuyện chó Mỹ (20-1-1966)

Chó sǎn là đồng minh trung thành của đế quốc Mỹ. Đây là chuyện chó sǎn có bốn chân, chứ không phải loài chó sǎn mặt người bụng thú, rước voi giày mả tổ, cõng rắn cắn gà nhà, như bọn Thiệu – Kỳ.

Từ ngày Mỹ phái Hakin lập bộ tư lệnh ở Sài Gòn, thì chó Mỹ cũng được phái đến miền Nam nước ta. Chúng được ở nhà lầu, có lính nguỵ hầu hạ. Mỗi con chó Mỹ được ǎn lương gấp nhiều lần lương của một nguỵ binh.

Một chuyện thú vị là tháng 9-1964, giặc Mỹ đưa 200 chó sǎn đến Tây Nguyên bắt đồng bào Thượng nuôi. Non một tháng sau, đàn chó biến mất hết, chỉ còn lại mấy đống xương.

Vừa rồi, các báo đǎng tin nhiều phái viên Mỹ đi khắp thế giới để phân trần cái gọi là chính sách “đi tìm hoà bình” của tổng Giôn.

Mỉa mai thay! Trong lúc đó thì các báo cũng đǎng tin 2.000 chó sǎn Mỹ được phái đến miền Nam Việt Nam. Phải chǎng những phái viên bốn chân này cũng quảng cáo cho món hàng “đàm phán không điều kiện” của tổng Giôn? Không phải đâu; nhiệm vụ của chúng là giúp lính Mỹ đi khủng bố.

Phái viên Mỹ nói một đường. Chó sǎn Mỹ sủa một nẻo. Thật là mâu thuẫn.

Nhưng mâu thuẫn hơn nữa chính là tổng Giôn.

Trước thế giới thì Giôn rùm beng làm ra vẻ y muốn hoà bình. Trong Quốc hội Mỹ, thì y nói: y sẽ “ra sức hạn chế cuộc xung đột, vì Mỹ không muốn có sự tàn phá thêm nữa.. “. Y còn nói: “Thật là một tội ác đối với loài người nếu để cho bao nhiêu tinh thần dũng cảm, nghị lực và mơ ước bị treo lơ lửng trước ngọn lửa chiến tranh và chết chóc”. Nhân từ thay tổng Giôn vậy?

Nhưng cũng trong lúc đó, y đã tiếp tục gửi thêm lính Mỹ sang miền Nam và đã ra lệnh mở rộng cuộc càn quét “giết sạch, đốt sạch, phá sạch” tại nhiều vùng ở miền Nam!

Chó sói dù đội lốt cừu non,
Sự thật đã vạch mặt tổng Giôn Huê Kỳ!

Mặc dù giặc Mỹ vừa hung ác, vừa xảo quyệt, chúng đã thua to và sẽ thua to hơn nữa. Đồng bào miền Nam anh hùng đã thắng to và sẽ thắng to hơn. Thông cáo của Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam cho biết rằng: nǎm ngoái, quân và dân miền Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 227.500 tên địch, trong số đó có 19.200 tên xâm lược Mỹ;

Đã diệt gọn 52 tiểu đoàn, 227 đại đội, 590 trung đội địch;

Đã bắn rơi và phá huỷ 1.337 máy bay địch, v.v..

Quân và dân miền Bắc anh dũng chiến đấu đã bắn rơi 850 máy bay Mỹ.

Còn tình trạng binh sĩ Mỹ thì thế nào? Tờ báo Tin điện thế giới và Mặt trời Nữu Ước viết: “… phải rút ra khỏi cuộc chiến tranh đi thôi. Càng ngày càng nhiều người Mỹ thấy rằng cuộc phiêu lưu này không có lối thoát… Không một phút nào sự sợ hãi rời người Mỹ ở Việt Nam. Họ sống thường xuyên trong cơn hãi hùng. Tới một ruộng lúa hoặc đi trên đường phố Sài Gòn, bất cứ lúc nào họ cũng có thể ǎn đạn hoặc giẫm phải mìn…”. Chẳng hay tổng Giôn có xem báo ấy không?

Nǎm nay là nǎm Ngựa. Quân và dân ta cả hai miền sẽ phi nước đại trong công cuộc tǎng gia sản xuất và kiên quyết chiến đấu. Chắc chắn rằng chúng ta sẽ thu nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa.

Chiến sĩ

————————-

Báo Nhân dân, số 4308, ngày 20-1-1966.
cpv.org.vn

Mỹ nhất định thua (1-2-1966)

Nhiều người Mỹ nói như vậy. Có người thì nói trắng ra. Có người thì nói một cách kín đáo. Nhưng đều kết luận rằng Mỹ sẽ thua. Vài ví dụ:

Cựu Chủ tịch ngân quỹ dự trữ của nước Mỹ là ông Eclét đã viết: Tổng Giôn đã đưa nhân dân Mỹ đi lạc đường trong vấn đề Việt Nam… Cuộc chiến tranh “leo thang” thì sự phồn vinh của Mỹ sẽ chấm dứt. Nạn lạm phát sẽ trầm trọng thêm. Đồng đôla sẽ mất giá. Thuế khoá sẽ nặng hơn. Ngân sách cho những công việc có ích sẽ bị giảm bớt…

Ông ta viết tiếp: Mỹ ở Việt Nam là kẻ xâm lược. Cả thế giới không ai ủng hộ… Nhân dân Mỹ thì bị lừa bịp, bị nhồi sọ. Những người Mỹ không tán thành chiến tranh đều bị lên án là ủng hộ Việt cộng, là không trung thành với Tổ quốc. Ai tán thành một cách mù quáng chính sách hiếu chiến thì được coi là yêu nước. Trong tình hình đó, Mỹ không thể thắng được…

– Ông Latimo là một chnyên gia về vấn đề Trung Quốc và châu á, đã từng giúp việc Tổng thống Rudơven. Nǎm ngoái, ông đã viết về vấn đề Việt Nam, nội dung tóm tắt như sau:

Những việc đế quốc Mỹ đang làm ở Việt Nam ngày nay giống hệt những việc quân phiệt Nhật đã làm ở Trung Quốc 30 nǎm trước đây. Và vận mạng chung của họ là thất bại nhục nhã.

Chính sách của Mỹ như bị ma quỷ dẫn đường đi đến diệt vong. Chính phủ Mỹ không hề nói nhân dân miền Nam và miền Bắc Việt Nam là một dân tộc, mà lại cứ la ó rằng Việt cộng là do Hà Nội chỉ huy.

Ngày xưa, ở Mãn Châu, Nhật lập ra một cái chính phủ bù nhìn và nói nó là đại biểu cho “vương đạo”. Ngày nay, ở miền Nam Việt Nam, Mỹ cũng nặn ra một cái chính quyền bù nhìn và nói: nó là đồng minh của thế giới “tự do”. Trước đây sự áp bức của Nhật đã làm cho các dân tộc Trung Quốc đoàn kết lại. Thì ngày nay, sự áp bức của Mỹ cũng đang làm cho Việt Nam thêm đoàn kết nhất trí. Không thể thống trị Mãn Châu, Nhật đã mở rộng chiến tranh đến Trung Quốc và đã sa vào đường cùng. Ngày nay, ở Việt Nam, Mỹ cũng đang lǎn xuống dốc.

Mồ ma tổng Ken cũng nói rằng: “Tung tiền bạc, vũ khí và quân đội vào Đông Dương… là nguy hiểm và vôích, là một chính sách tự sát Quân đội Mỹ không thể thắng được lựclượng du kích ở Đông Dương, vì quân du kích được nhân dân ủng hộ và che chở”.

Y nói như vậy, nhưng khi được bầu làm Tổng thống, y vẫn đeo đuổi chính sách chiến tranh của tổng Ai. Tuy vậy, y cũng phải nhận rằng trong cuộc xâm lược Việt Nam, “Mỹ đang chui vào đường hầm không có lối thoát”.

Trước ngày bị ám sát (ngày 22-11-1963), tổng Ken đã cảm thấy Mỹ sẽ thua ở Việt Nam, vì “những thất bại của Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương làm cho Tổng thống tin rằng đến lúc nào đó sự can thiệp của Mỹ sẽ làm cho cả Nam Việt Nam quay lại chống Mỹ”1).

– Vừa rồi, thượng nghị sĩ Gruninh và bầu bạn của ông đã nói: “Mỹ làm chiến tranh ở Việt Nam là điên rồ. Đó là một cuộc chiến tranh mà Mỹ không thể thắng được”.

Những lời tiên đoán như vậy còn nhiều, không cần kể hết. Rõ ràng đế quốc Mỹ đã đi từ thất bại này đến thất bại khác. Như tướng Pháp Bôphôrê đã nhận định: “Mỹ đã thất bại về chiến lược, vì không thể nào bình định được núi rừng và đồng lầy Việt Nam, dù Mỹ đưa vào đó mấy chục vạn quân đội cũng thế thôi”.

Chỉ có bè lũ Giônxơn là mù quáng điên rồ, cứ nhắm mắt đâm đầu vào cuộc chiến tranh xâm lược. Chúng ham chiến tranh, chúng sẽ bị chiến tranh chôn vùi.

Toàn dân ta đoàn kết một lòng, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Chúng ta lại được nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ. Cho nên:

Ta nhất định thắng,
Mỹ nhất định thua!

Chiến sĩ

————————

Báo Nhân dân, số 4319,ngày 1-2-1966.
1) Lịch sử của Phủ Tổng thống Mỹ do ông Sơlesinhgơ viết.
cpv.org.vn

Mỹ lại thất bại (12-2-1966)

Quả bom giặc Mỹ lại ném xuống miền Bắc hôm 31-1-1966, đã xé tan cái mặt nạ xấu xa của tổng Giôn và đã tống thêm cho Mỹ một thất bại lớn về chính trị.

Việc tạm ngừng ném bom miền Bắc kết hợp với cái gọi là “tiến công hoà bình” mà Mỹ đã làm rùm beng, không lừa bịp được dư luận thế giới, cũng không lừa bịp được nhân dân Hoa Kỳ. Báo chí tiến bộ Mỹ đã vạch mặt trò hề đê tiện đó; xin lược dịch vài bài xã luận sau đây làm ví dụ:

– Báo Thách thức (4-1-1966) viết: Việc Mỹ tạm ngừng ném bom ở miền Bắc chỉ là tạm ngừng cho Mỹ có thời giờ để chuẩn bị thêm. Đó là một cách đe doạ trắng trợn mở rộng chiến tranh; khác nào lũ ǎn cướp doạ người bị bắt cóc rằng “đưa tiền đến chuộc, không thì sẽ bị thủ tiêu”. “Tiền chuộc” tức là: thừa nhận cho Mỹ chiếm miền Nam và buộc nhân dân miền Nam chấm dứt kháng chiến; Việt Nam phải chịu chia cắt lâu dài; để Mỹ dùng miền Nam làm cǎn cứ địa đặng xâm lược các nước khác ở á châu.

Đó là mục đích của Mỹ. Chúng rêu rao “đàm phán không điều kiện”, kỳ thực có một điều kiện là đòi Việt Nam đầu hàng.

Nǎm nǎm qua, mọi kế hoạch chiến lược của Mỹ đều bị chôn vùi ở Việt Nam. Trước sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam thì dù Mỹ có hàng triệu tấn vũ khí hiện đại và mấy mươi vạn quân viễn chinh cũng không thay đổi được tình thế theo ý muốn của chúng. Trái lại, lực lượng vũ trang của nhân dân Việt Nam luôn luôn nắm quyền chủ động trong tay. Kế hoạch chiến lược mới của Mỹ rồi cũng thất bại như kế hoạch cũ.

Về phần nhân dân Hoa Kỳ thì chính sách của Chính phủ Mỹ chỉ đưa đến cho họ tai hoạ. Mỗi bước trong cuộc chiến tranh bẩn thỉu này họ lại phải chịu thêm một lần lừa bịp và phải mất thêm nhiều tính mạng, của cải và danh dự.

Báo Tiền vệ quốc dân (8-l-1966) viết: Một lũ đại biểu Chính phủ Mỹ lếch thếch đi đến nhiều nước để trình bày cái gọi là “tiến công hoà bình”. Đó là một trò hề bịp bợm quốc tế, do tổng Giôn đứng sau màn chỉ huy.

Sau khi bày ra trước thế giới và trong nước Hoa Kỳ cái trò Chính phủ Mỹ muốn hoà bình nhưng bị Việt Nam từ chối, chúng liền tuyên bố Mỹ không có biện pháp nào khác, mà chỉ có cách phái thêm quân đến miền Nam, đẩy mạnh ném bom miền Bắc, mở rộng chiến tranh đến Lào và Campuchia! Nhân dân thế giới và nhân dân Mỹ không ai mắc lừa trò hề ghê tởm ấy. Mỹ làm ra vẻ ủng hộ Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954. Sự thật thì chúng đã phá hoại Hiệp định đó một cách thô bạo. Mỹ đã đưa quân đội xâm lược Nam Việt Nam, Mỹ đã nặn ra một chính quyền bù nhìn và ngǎn cản cuộc tổng tuyển cử, vì chúng sợ rằng nếu có tổng tuyển cử thì Hồ Chí Minh sẽ thắng và Việt Nam sẽ thống nhất.

Mỹ còn bóp méo Hiệp định Giơnevơ. Mỹ hòng tách Nam Việt thành một nước riêng biệt, thành một cǎn cứ của Mỹ.

Cái láo toét to bằng trời là Chính phủ Mỹ hòng làm cho nhân dân Mỹ tưởng rằng miền Bắc xâm lược và chỉ huy cuộc chiến tranh ở miền Nam. Do đó Mỹ không hề thừa nhận Mặt trận dân tộc giải phóng có quyền tham gia các cuộc đàm phán sau này.

Bài báo kết luận: Đàm phán cái gì ? Không thể đàm phán với kẻ giết người, mà phải buộc tay nó lại. Chính sách của đế quốc Mỹ là chính sách giết người. Nó không có đạo lý gì hết, cũng không thể đàm phán. Chỉ có một cách để kết thúc chiến tranh là Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam.

*

*      *

Từ 31-1-1966 đến nay, quân và dân miền Bắc ta đã bắn tan xác 28 máy bay Mỹ.

Cộng tất cả là 878 máy bay Mỹ đã bị bắn rơi. Nhưng giặc Mỹ chỉ thú nhận mất 180 chiếc!

Liền sau khi lại ném bom miền Bắc, Mỹ đã bị thế giới lên án kịch liệt. Ngay ở Tây Béclin bị Mỹ và bọn phục thù Tây Đức khống chế, cũng có hơn 3.000 người biểu tình; ở Thủ đô Tây Ban Nha dưới quyền phát xít, cũng có 2.000 người biểu tình ủng hộ ta, chống Mỹ. ở Mỹ có 35 cuộc biểu tình trong một ngày (4-2-1966). ở Nữu ước, 700 người đã rước cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam. ở bang Uýtconxin, nhân dân đã không quản tuyết rét tận xương, tiếp tục biểu tình suốt hai ngày liền. Hơn 100 học sinh và thầy giáo ở ba trường đại học đã tuyệt thực nhiều ngày để phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam, v.v..

Mồng 5 vừa rồi, khi bọn tổng Giôn đến Hônôlulu để gặp lũ bù nhìn Thiệu – Kỳ, ở trường bay có hơn 6.000 người đón Giôn và thét vào mặt y: “Tên giết người cút đi”, “Giôn, hôm nay mi đã giết mấy người ?”.

Thế là bè lũ tổng Giôn thất bại cả về chính trị và quân sự. Vậy có thơ rằng:

Giặc Mỹ quỷ quái tinh ma,
Chiến tranh thủ phạm tên là Giônxơn.

Chiến sĩ

————————–

Báo Nhân dân, số 4330, ngày 12-2-1966.
cpv.org.vn

Rõ như ban ngày (18-2-1966)

Ở đời, đôi khi những việc rõ như ban ngày, nhưng vẫn có những người không thấy, không muốn thấy, hoặc giả vờ không thấy. Như chiến tranh và hoà bình ở Việt Nam là việc rõ như ban ngày: Giặc Mỹ là kẻ xâm lược; Việt Nam là bị xâm lược, phải chiến đấu đến cùng để tự vệ; Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược thì hoà bình sẽ trở lại ngay ở Việt Nam.

Vậy nhưng trên thế giới có những người “từ thiện” không phân biệt phải trái giữa kẻ đi xâm lược và người bị xâm lược. Họ bảo hai bên đều nên “nhân nhượng” và “đàm phán”. Thật là kỳ quái!

Vừa rồi, trong một bài viết về tình hình Việt Nam (1), Thái tử Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc đã nghiêm khắc lên án giặc Mỹ, nhiệt tình ủng hộ Việt Nam và phê phán những người “từ thiện” ấy.

Sau khi tỏ ý rất lo lắng rằng thế giới phương Tây, các nước “không liên kết” và cả Vaticǎng chưa thấy hết sự nguy hiểm cho loài người, nếu cứ mặc nhận việc đế quốc Mỹ và lũ tay sai hoành hành đối với những nhà nước không mạnh bằng chúng và không vũ trang bằng chúng, Thái tử đã nêu một ví dụ rất rõ rệt, đại ý như sau:

“Nước Việt Nam như là một ngôi nhà. Nhân dân Việt Nam là người chủ nhà. Giặc Mỹ là lũ ǎn cướp xông vào nhà người ta. Lũ cướp tự cho chúng có quyền chiếm lấy ngôi nhà, giải quyết mọi việc trong nhà, xử trí tính mạng của những người nhà; nếu họ chống cự thì chúng khủng bố, tra tấn, giết chết họ; chúng đập phá đồ đạc trong nhà và nếu cần thì chúng đốt cả nhà lẫn người nhà. Lũ cướp tự cho cái “quyền” đó, chỉ vì chủ nhà muốn sơn nhà mình bằng màu hồng hoặc màu đỏ; cái màu sắc mà lũ cướp xâm lược không ưa.

Trước sự kiện đó, thì xuất hiện những người “từ thiện” (như Liên hợp quốc, các chính phủ hoặc các quyền lực tôn giáo, tự xưng là những sứ giả hoà bình). Họ bảo người chủ nhà bị nạn rằng: Này bạn, chúng tôi thương hại anh. Song kẻ địch của anh cũng có lòng tốt. Anh xem, họ muốn hoà bình với anh. Với lòng nhân từ, họ bàn với anh chấm dứt chiến đấu và cùng họ thương lượng cách xử trí các việc trong nhà anh. Tốt nhất là anh đồng ý cùng họ chia của cải trong nhà anh và phân phối một cách công bằng những công việc, những trách nhiệm và những quyền hạn quản lý cái nhà của anh. Anh có thể bàn bạc với họ mà không cần đến vũ lực. Anh hãy thương lượng với họ một cách êm ái đi!

Chúng tôi biết rằng anh đòi các ông ấy trước hết phải ra khỏi nhà anh. Nhưng anh phải hiểu rằng các ông ấy không thể làm theo sự yêu cầu quá đáng của anh nếu không có cái gì bảo đảm, ví dụ anh hứa sẽ không sơn nhà anh với màu đỏ và sẽ không xây dựng gia đình anh quá đoàn kết, vì các ông ấy không thích những điều đó.

Đó là một hình ảnh hầu như khó tin, nhưng là hình ảnh thật sự của vấn đề Việt Nam.

Bất kỳ nước nào cũng không có những pháp luật và tập quán cho phép một sự “hoà giải” như thế và cho phép lũ ǎn cướp “đàm phán” việc chấm dứt xâm lược, phân phối của cải, thậm chí định đoạt số phận của nạn nhân…”.

Trên đây là lược dịch lời ví dụ thiết thực của Thái tử Quốc trưởng Xihanúc. Thái tử kết luận rằng: Dù Việt Nam và Campuchia có chỗ không nhất trí, nhưng hiện tại cũng như tương lai, hai nước luôn luôn nhất trí trên một điểm, tức là: hoà bình, vâng. Nhưng không bao giờ hy sinh độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình để đổi lấy hoà bình.

Nhân dân Việt Nam ta hoàn toàn đồng ý với lời lẽ đanh thép của Thái tử Quốc trưởng Xihanúc. Nhân dân ta kiên quyết kháng chiến đến cùng để đánh đuổi lũ cướp Mỹ ra khỏi đất nước thân yêu của chúng ta.

Chỉ có một cách đưa lại hoà bình là Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam.

Chiến sĩ

————————

Báo Nhân dân, số 4336, ngày 18-2-1966.
1) Báo Le Sangkum.
cpv.org.vn

Tin “mừng” cho lính Mỹ (11-3-1966)

Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam buộc hàng chục vạn thanh niên Hoa Kỳ bỏ gia đình, vợ con, cha mẹ để đi chết ở nơi chiến trường cách xa quê hương họ hơn vạn rưởi dặm. Vì vậy nhiều thanh niên đã phản đối.

Để khỏi phải đi lính, thanh niên Hoa Kỳ đã dùng nhiều cách. Người gan góc thì xé giấy “binh dịch”, thà ở tù chứ không chịu đi lính sang Việt Nam. Người thì làm cho mình ốm đau, để khỏi bị nhập ngũ. Ví dụ: gần đến ngày đi khám thân thể, họ cố thức suốt 48 giờ không ngủ để cho cả người bủn rủn, khờ khạo đi. Hoặc họ ǎn thật nhiều chất ngọt để đái ra đường. Hoặc hút nhiều thuốc lá tẩm mực lam để cho có vết đen trong phổi, v.v.. (báo Mỹ Thời đại hằng tuần, 4-2-1966).

Một khi đã mắc vào tròng, đã thành tên lính Mỹ, thì đêm ngày họ bị nhồi sọ, họ mất hết “lương tri”, họ trở thành cái máy không biết suy nghĩ gì nữa. Trong một cuộc điều tra của hãng AP Mỹ (5-3-1966) hỏi về thái độ của họ đối với cuộc chiến tranh ở Việt Nam, hầu hết lính Hoa Kỳ đều trả lời: “Chúng tôi là lính. Người ta trả lương. Người ta bảo làm gì chúng tôi cũng làm”. Hỏi họ thường suy nghĩ gì? Họ trả lời: “Chúng tôi chỉ lo sáng nay có bị chết không? Tối nay có bị ướp lạnh không?” (lính Hoa Kỳ chết thì xác bị ướp lạnh để chở về Mỹ).

Khi bị xua ra mặt trận, thì người lính Hoa Kỳ tỏ ra mệt mỏi, lo sợ, chán ngán, buồn rầu. Sau đây là một đoạn nhật ký của một tên sĩ quan Mỹ: “Chiến hào này vừa là hầm trú ẩn, vừa là y viện, vừa là nơi để xác chết của chúng tôi… Mưa xối rả rích. Đạn nổ điếc tai. Thương binh chất đống. Cả chiến hào là một cảnh đau thương” (UPI, 30-1-1966).

Mấy điểm tóm tắt trên đây chứng tỏ lính Mỹ là người có xác không hồn. Hãng AP (14-2-1966) đã thú nhận rằng: “Lính Mỹ như một lực sĩ hạng nặng, nhưng mù mắt, lại bị đẩy vào một chiến trường đầy cạm bẫy, chông gai. Việt cộng là một võ sĩ hạng nhẹ, tinh khôn, già dặn, lại có con mắt ở cả sau đầu”.

Sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của ta là chính nghĩa, quang minh chính đại như mặt trời. Chiến sĩ của ta là anh hùng lỗi lạc, chẳng những cả thế giới đều ca tụng, mà kẻ thù cũng phải kiêng sợ, ngợi khen. Vài ví dụ:

– Một chuyên gia quân sự Mỹ là H.Bđơuyn nói: “Phải có một triệu lính Mỹ mới hòng bình định được miền Nam Việt Nam”.

– Chủ tịch Uỷ ban quân lực của Quốc hội Mỹ là Rớtxen nói: “Du kích Việt cộng là tài tình nhất trong lịch sử loài người”.

Tờ Thời báo Nữu ước (23-8-1965) viết: “Du kích Việt cộng là kẻ địch mà người ta phải kiêng sợ và kính phục… Họ thà chết chứ không chịu lùi”.

– Báo Tin tức Mỹ và thế giới (6-9-1965) viết: “Du kích Việt cộng là tài tình nhất, vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại”.

Giặc Mỹ trang bị với những vũ khí oai nhất, nhưng không có tinh thần. Nhân dân ta thì trang bị với tinh thần dũng cảm nhất, quyết tâm kiên cường nhất. Do đó, Mỹ ngày càng thua to, ta ngày càng thắng lớn.

Ở miền Nam – Chỉ trong hai tháng đầu nǎm nay, quân và dân ta đã diệt 3 vạn 2 nghìn tên địch, trong đó có 16.000 tên xâm lược Mỹ. Diệt gọn 7 tiểu đoàn và 30 đại đội địch, trong đó có 4 tiểu đoàn Mỹ. Bắn rơi và phá huỷ hơn 500 máy bay Mỹ, v.v..

Ở miền Bắc – Kể đến ngày 8-3-1966, quân và dân ta đã bắn rơi 904 máy bay Mỹ.

Còn tin “mừng” cho lính Mỹ là gì? Thưa rằng:

– Báo Nhật đǎng tin: Mỹ mới đặt mua ở Nhật 40 vạn cái bao đựng xác chết bằng chất dẻođể dùng cho quân đội xâm lược Mỹ ở Việt Nam. Thế là tạm đủ. Đó là tin thứ nhất.

– Quốc hội Mỹ vừa quyết định: khi những lính Hoa Kỳ trở về Mỹ, chúng sẽ được quyền ưu tiên có việc làm, có phòng ở và được cấp thuốc men khi đau ốm. Những tên lính nào đã được dùng bao bằng chất dẻo, thì thôi. Đó là tin thứ hai.

– Vợ Tổng thống Philíppin là Macô phu nhân đã hứa với tổng Zoon, bà ta sẵn sàng cho cậu con trai bảy tuổi của bà sang để giúp thêm lực lượng cho quân đội xâm lược Mỹ ở Việt Nam. Đó là tin thứ ba…

Chiến sĩ

————————

Báo Nhân dân, số 4357, ngày 11-3-1966.
cpv.org.vn