Thư viện

Hành trang giản dị

Tư trang của một vị Chủ tịch nước như ở Bác Hồ thật đặc biệt, bởi nó quá giản dị. Có lẽ những thế hệ mai sau khi nghe kể có thể tin được đó là huyền thoại. Đôi dép cao su làm từ lốp cũ xe hơi, Bác dùng đến mòn vẹt phải đóng đinh bao lần mà Bác vẫn dùng, đôi tất vá đến hai, ba lần, cổ áo sờn rách đã mấy lượt lộn lại trong ra ngoài…

Nếp sinh hoạt, cách ǎn mặc của Bác đã thành thói quen, Người luôn có ý thức trước những việc làm đó. Từ những nǎm tháng hoạt động cách mạng ở nước ngoài, lúc ở Thái Lan, khi về Trung Quốc, về nước thời kỳ bí mật ở Cao Bằng hay khi làm Chủ tịch nước. Những nǎm tháng đi kháng chiến, lúc về thǎm nông dân gặt hái hay làm thượng khách ở nước ngoài, Bác luôn luôn với một tư thế giản dị, ung dung, tự tại, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh. Dù ở đâu lúc nào Bác cũng để lại ấn tượng tốt đẹp, một phong cách mẫu mực của một lãnh tụ. Hành trang Bác mang theo tự nói lên một điều chân thực: Làm chức càng cao càng phải giản dị. Làm Chủ tịch nước Bác nhận lấy cho mình được cái quyền sống giản dị, bằng mức sống bình thường của người dân. Các đồng chí được giao việc phục vụ Bác, tìm mọi cách lo cho Bác được chu tất về mọi mặt. Nhưng Bác luôn có cái lý của Bác, thời kỳ chiến khu gian khổ Bác bảo chưa cần thiết, khi làm Chủ tịch nước Bác bảo dân còn nghèo.

Nhớ thời kỳ về nước ở hang Cốc Bó, Bác thường vào các bản làng thǎm đồng bào, với bộ quần áo Chàm, chân đi giày vải, trông như một ông Ké thực thụ. Khi về Thủ đô Hà Nội đọc Tuyên ngôn độc lập, các đồng chí Trung ương may cho Bác bộ quần áo bằng vải Kaki. Thời kỳ kháng chiến, Bác có thêm bộ “quân phục màu xanh” Bác thường mặc lúc hành quân đi lẫn trong đoàn quân ra trận. Bác còn có thêm chiếc áo len cho ấm về mùa đông, chiếc áo khoác tránh mưa là chiến lợi phẩm của một đơn vị bộ đội tặng Bác. Trời nắng Bác thường dùng bộ “gụ Hà Đông”.
Đồ dùng của Bác có chiếc va ly nhỏ đựng sách, tài liệu và cái máy chữ, quần áo tư trang cho vào một túi nhỏ. Các đoàn thể tặng Bác nhiều tư trang, đồ dùng. Bác thường đem làm tặng phẩm cho cá nhân, tập thể có thành tích, hoặc đem bán đấu giá lấy tiền cho cách mạng.

Tư trang của Bác bao giờ cững ở mức cần thiết cho sinh hoạt, nhưng Bác lại luôn luôn lo cho sự thiếu đủ của từng người. Bác đến thǎm thương binh, Bác lo từng chiếc áo ấm cho họ lúc vào trại tù binh thấy tù binh thiếu áo, Bác cũng lo áo cho họ, cử nghĩa đó làm bớt đi sự cǎng thẳng hận thù của con người với con người, của hai dân tộc. Trong gian khổ kháng chiến, Bác cùng chịu đựng đói, no, giá lạnh như người chiến sỹ. Không để lại gì cho riêng mình mà lo cho chiến sỹ trước. Bác là người khởi xướng phong trào “mùa đông binh sỹ”, vận động nhân dân không những lo cái ǎn mà còn lo cái mặc cho chiến sỹ. ở hậu phương ai có thành tích lo cho chiến sỹ mặc ấm Bác đều gửi thư khen ngợi.

Kháng chiến thắng lợi Bác trở về Thủ đô, ǎn mặc của Bác cũng không thay đổi lắm. Bác thường dặn các đồng chí phục vụ khi giặt áo cho Bác thấy chỗ nào rách thì vá lại cho Bác dùng, cho nên việc khâu vá quần áo cho Bác các đồng chí phục vụ cũng tự làm lấy. Khi cần lắm các đồng chí không làm được mới xuống nhà máy nhờ làm giúp. Bác mặc số lượng ít nên phải thay đổi luôn. Bác đi nhiều nơi. Khi xuống đồng ruộng gặt lúa, chống hạn với bà con nông dân, quần áo thường vấy bùn. Khi thǎm nhà máy Bác thường xuống tận nơi làm việc của công nhân nên dầu mỡ, chất xút thường vấy vào quần áo Bác, những chỗ đó dẫu giặt sạch ít lâu sau cũng bị bủng. Thay cái mới Bác không chịu, Bác bảo khâu vá lại cho Bác để Bác dùng. ở những bộ quần áo đó những vết mạng, những miếng vá đều gắn với những kỷ niệm. thời kỳ Bác đi kháng chiến, trong bộ quần áo xanh, trên đường hành quân, Bác như một người lính, vai thắt bao gạo ngang lưng, mũ cài lá nguỵ trang, khǎn vắt ngang vai hoà vào nhịp bước hành quân của bộ đội, dân công đi chiến dịch. Trên đường gặp một ông cụ trong đoàn dân công. Hai người chuyện trò tâm đầu hợp ý. Bác khen ông cụ “Cụ già còn phục vụ tiền tuyền làm gương cho con cháu noi theo”. Cụ kia khen Bác: “Tôi làm sao bì được với Cụ, Cụ râu tóc đã bạc mà vẫn “chiến sỹ Bạch đầu quân”. Hai Cụ vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ. Khi lội qua suối, cụ dân công trượt chân, Bác vội đỡ kịp thời nên cụ không bị ngã, nhưng chiếc đinh ở đầu đòn gánh đã vướng làm rách áo Bác. Cụ dân công vội cảm ơn “thật là em ngã anh nâng”. Cả hai cụ cùng cười vui vẻ. Còn vết mạng ở đầu gối là kỷ niệm ở Ngòi Thia, gần Tân Trào. Hôm đó Bác đi ngựa, khi đến chỗ vòng ngoặt gấp có cây tre chắn ngang lối đi, ngựa phi nhanh Bác chưa kịp ghìm cương, ngựa dừng đột ngột Bác mất đà bị ngã, nhưng may Bác phản xạ nhanh nên chỉ xước đầu gối, vết xước làm rách vải và chảy máu. Khi mọi người chưa kịp đến thì Bác đã đứng dậy, chân đi cà nhắc. Còn vết khâu ở gần gấu áo là lần Bác về chống hạn. Bác cùng đồng chí Tỉnh ủy tát nước gàu dai, nhưng đồng chí Tỉnh uỷ không biết tát nước, cứ lóng ngóng chân tay, làm dây gàu vướng vào làm gấu áo Bác bị rách, sau phải vá lại, Bác bảo: “Làm cán bộ lãnh đạo nông nghiệp thì phải biết cách lao động của nông dân”, rồi Bác tập cho đồng chí tát nước. Có lần Bác đi thǎm một nhà máy, Bác xuống tận tổ công nhân đang cho chạy máy, Bác đến hỏi han công việc: chất xút bắn vào áo, tạo thành nhiều vết khác màu áo, Bác bảo đồng chí phục vụ khắc phục làm cho máu áo và màu vết xút gần giống nhau, và áo lại dùng được bình thường. Tất cả những áo quần đó vì đã mang vết nên không thể giấu Bác để thay cái mới được, thay cái khác lá Bác biết, Bác phê bình ngay.

Đồng chí Cần, chuyên lo ǎn uống, quần áo cho Bác thời kỳ ở Hà Nội. Đồng chí tầm cỡ người như Bác, nên khi may quần áo cho Bác đồng chí mặc vừa là Bác mặc vừa. Quần áo thường ngày Bác thích màu gụ, nên khi may xong đồng chí mang sang xí nghiệp Tô Châu nhuộm gụ. Bộ nào hơi cũ là đồng chí thay bộ khác cùng kiểu cùng màu nên lúc đầu Bác không biết. Một thời gian sau Bác thấy quần áo vẫn mới, Bác bèn đánh dấu rất kín và phát hlện ra là đồng chí đã đổi quần áo của Bác. Bác liền phê bình, từ đó rất khó thay đổi quần áo của Bác. A’o Bác dùng lâu giặt đi giặt lại nhiều lần nên cổ áo bị sờn và rách dần, khi mọi người đề nghị Bác cho thay cái khác~ Bác bảo: “Cả cái áo chỉ sờn chỗ cổ, mà vứt đi thì không được, chú chịu khó tháo rồi lộn trong ra ngoài, may lại vẫn lành “như mới”. Làm theo ý Bác được mấy lần, sau không thể “khắc phục” được nữa Bác mới cho thay cái mới. Đôi bít tất Bác đi cũng vậy, bị thủng ở đầu ngón chân Bác bảo khâu lại cho Bác dùng, vì không biết làm nên phải xuống xí nghiệp may mặc của Bộ Nội vụ nhờ các cô giúp. Các cô đề nghị thay đôi khác cho Bác, nhưng Bác đã dặn là bít tất của Bác chỉ hỏng mũi, còn mọi chỗ vẫn lành nguyên, chỉ nhờ các cô khâu lại, nếu đem đổi đôi khác là Bác không dùng đâu. Khi Bác dùng lại đôi tất, khen các cô khéo tay, Bác nói: “Chú xem, chỉ chịu khó một tý là có đôi bít tất như mới”. Lần sau đôi bít tất đó thủng hai lỗ trước và sau, rồi lại lần nữa, các cô phải khâu vá đôi bít tất đến ba lần. Bác thường dùng khǎn mặt vuông, vì dùng khǎn mặt vuông tiết kiệm hơn khǎn mặt chữ nhật, mỗi khi dùng xong Bác có thói quen phơi lên dây, luôn giữ hai mép dưới bằng nhau. Bác tìm mấy hòn cuội nhỏ xếp vào trong hộp đựng xà phòng, khi dùng xong Bác để xà phòng lên những hòn cuội, xà phòng mau khô, nên tiết kiệm.

Chị Liên là người được đồng chí Cần nhờ may vá giúp Bác. Chị kể lại, khi làm việc này mới thực sự hiểu Bác giản dị và tiết kiệm đến chừng nào. Bác có chiếc áo gối vải màu xanh hoà bình, miếng vá này chồng lên miếng vá kia, mỗi lần cầm chiếc áo gối vá lại cho Bác mà chị không cầm nổi nước mắt, không cầm kim vững để khâu lại được chị nói với đồng chí Cần: “Anh đừng bắt tôi vá áo gối cho Bác nữa. Tôi thương Bác lắm, anh có cách nào thay áo gối khác cho Bác”. Đồng chí Cần nói: “Tôi đã nhiều lần đề nghị Bác cho thay cái khác, nhưng Bác chưa đồng ý Chị chịu khó vá giúp tôi”. Cầm kim mà lòng chị không cầm nổi nước mắt. Những lúc đó chị hình dung Bác như thấu hiểu nỗi lòng người mẹ hiền thôn quê tần tảo lo cho đàn con nhỏ miếng ǎn, manh áo trong cảnh túng thiếu. Bác hiện thân của Người mẹ Việt Nam, đối với ai đó dẫu ở cương vị công tác nào Bác cũng giáo dục tinh thần biết quý trọng con người là ở thái độ đối với tiết kiệm, đó là thước đo đạo đức của cán bộ. Đối với anh em phục vụ Bác chân tình mà nghiêm khắc khi giáo dục tiết kiệm.

Đôi dép cao su của Bác đã đi vào thơ ca nhạc hoạ, hiện thân trong đời sống nhân dân như một huyền thoại, gắn liền với cuộc đời vĩ đại, đức tính giản dị, ý chí kiên cường, bền bỉ cùng với dân tộc trên dặm đường trường chinh vạn dặm vì độc lập tự do của Tổ quốc. Đôi dép của Bác được cắt từ chiếc lốp ôtô quân sự, chiến lợi phẩm của trận phục kích địch tại Việt Bắc, đôi dép được cắt vừa chân Bác, hai quai trước to bản kiểu quai vắt chéo, vừa êm vừa chắc chắn cho khi lội suối, trèo đèo, vượt đường trơn, dốc cao. Thấy tiện, dễ sử dụng lại hiệu quả, Bác cho phổ biến trong toàn mặt trận, thay thế dần giày vải, dép rơm, dép mo cau… Nhân chuyến hành quân đi chiến dịch, Bác thấy ai cũng đi đôi dép cao su vượt suối bǎng đèo thoǎn thoắt, Bác nói vui: “Như vậy Bác cháu chúng ta có đôi hài cao su vạn dặm, chúng ta muốn đi đâu cũng được”.

Về Hà Nội, Bác vẫn dùng dép cao su. Đôi dép Bác dùng lâu ngày vẹt cả đế, quai bị tuột luôn, đóng đinh gǎm quai nhiều lần mà vẫn tuột, có kiên trì và khéo tay mới làm lại được, khi sửa xong thấy vẫn dùng được là Bác cứ dùng. Thấy dép Bác cũ, hỏng nhiều, các đồng chí phục vụ đề nghị thay đôi khác, Bác không chịu. Anh em bàn “kế hoạch” làm một đôi khác thật giống đôi dép Bác đang đi chỉ có khác là chắc, bền hơn, lợi dùng thời cơ thay vào. Hôm đầu Bác đi Bác không nói gì, anh em tưởng việc đã êm, nào ngờ sáng hôm sau Bác hỏi sao lại đổi dép của Bác, anh em đành thưa thật với Bác, Bác ôn tồn bảo:

“Các chú biết lỗi nhận lỗi là tốt, đôi dép cũ của Bác nếu chịu khó sửa vẫn còn dùng được, lần sau mua sắm cái gì cho Bác, các chú phải báo cho Bác biết”. Anh em tưởng Bác nói thế là đã chấp nhận đổi dép, nhưng Bác vẫn giữ đôi dép đó mặc dầu đã sửa nhiều lần, vì nó là kỷ niệm bên Bác từ những ngày gian khổ. Bác còn có một ước mơ duy nhất nữa là cùng đôi dép đó vào thǎm đồng bào miền Nam là Bác thoả mãn ước nguyện. Bác nói thật cảm động. Một lần Bác đến thǎm một đơn vị hải quân, các chiến sĩ lần đầu gặp Bác, ai cũng muốn được gần Bác nên chen chúc nhau làm tuột quai dép của Bác. Bác bảo chú nào khéo tay sửa lại cho Bác. Ai cũng muốn giành lấy để giúp Bác, thế rồi đôi dép được chuyền tay nhau, nhưng không ai sửa được vì dép đã quá vẹt mòn, đã đóng đinh mấy lần rồi, xâu vào nó lại tuột ra. Có người nhanh chân kịp lấy búa và đinh sửa lại giúp Bác, Có người yêu cầu Bác đổi dép khác. Bác bảo: “Dép đã sửa xong khi nào không sửa được hẵng hay, giờ mua chiếc khác không cần thiết, vẫn dùng được sao vứt nó đi, dân ta còn nghèo, mỗi người kể cả Chủ tịch nước cũng phải tiết kiệm”.

Có mẩu chuyện vui về đôi dép của Bác, lần đó xem phim, tất cả đều ngồi bệt xuống nền nhà gỗ, Bác để dép bên cạnh phía trước để khi về cho tiện lấy và không nhầm lẫn. Xem phim xong, Bác cùng mọi người chụp ảnh, cô gái ngồi cạnh Bác, thấy đôi dép đã quá cũ, không biết dép Bác, sợ làm xấu mất ảnh, cô vươn người với tay định cất đi, Bác nhanh tay hơn với trước, vội cất ra sau và nói vui, ờ đúng rồi, phải giấu nó đi, chứ vào ảnh hỏng mất ảnh.

Bác có thói quen, khi đã đi dép là cúi xuống kéo quai hậu cẩn thận, vừa dễ đi, chắc chắn, dép không kêu lẹt bẹt, làm mất tác phong của người đứng đắn, và dép mòn cũng mòn đều, không mòn vẹt một bên, hai quai trước cũng đỡ hỏng. ở Bác đi dép cũng là một nét vǎn hoá.

Đầu nǎm 1958, Bác đi thǎm Â’n Độ, Bác vẫn đi đôi dép thường ngày. Mọi người trong đoàn thấy thế, rất ái ngại nên bàn nhau mang theo một đôi giày vải. Lên máy bay nhân lúc Bác ngủ, thay đôi dép bằng đôi giày vải, khi thức giấc Bác hỏi dép, anh em trả lời Bác là đôi dép đã để dưới khoang máy bay. Khi xuống sân bay, Bác yêu cầu lấy dép để Bác đi. Bác bảo đừng lo gì cả, đất nước Â’n Độ cũng nghèo như mình, mới có độc lập nên nhiều vất vả. Bác đi dép có bít tất thế là tốt, họ không chê mình đâu. Nhân dịp này Bác muốn gần gũi với nhân dân lao động Â’n Độ. Hôm sau trên các trang báo lớn Â’n Độ đều hết lời ca ngợi Bác là vị Chủ tịch nước dân chủ nhất thế giới. Ca ngợi đôi dép Bác Hồ là một huyền thoại của một con người huyền thoại. Hôm Bác đến thǎm một ngôi chùa, Bác vừa cởi dép ở ngoài để vào nhà chùa, các phóng viên được dịp tha hồ quay phim, chụp ảnh đôi dép huyền thoại đó.

Bác lo cho dân không chỉ ngồi ở bàn giấy rồi nghe báo cáo, mà Bác trực tiếp xuống tận cơ sở, đến với từng người lao động để hiểu hơn tình hình thực tế. Đi đâu Bác chỉ dùng một chiếc xe “Pabêđa” do nhân dân Liên Xô gửi tặng. Xe dùng đã lâu ngày nên cũ và hay hỏng vặt, vǎn phòng đề nghị Bác cho đổi xe khác tốt hơn, Bác không đồng ý Bác bảo: “Ai thích đi nhanh, thích êm thì đổi. Còn Bác thì không”. Có hôm đến giờ đi công tác, xe không nổ máy được, Bác ôn tồn bảo đồng chí lái xe: “Máy móc có lúc trục trặc. Chú cứ bình tĩnh sửa, sửa xong Bác cháu đi cũng kịp” mấy phút sau xe mới nổ máy được, Bác cười vui và nói: “Thế là xe vẫn còn tốt”.

ở Bác, tiết kiệm là hành trang trong cuộc đời. Thật cảm động khi biết rằng bản di chúc của Bác đã đi vào lịch sử dân tộc được Bác viết, ở mặt sau tờ tin hàng ngày của Việt Nam Thông tấn xã. Hành trang của Bác – của một vị lãnh tụ, giản dị như hành trang của một người dân bình thường, bởi Bác sống không chỉ cho riêng mình.

quangbinh.gov.vn

Phép dùng người của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong lịch sử nhân loại, từ khi có nhà nước thì việc dùng người luôn luôn được đặt ra, nó quyết định sự thành bại của mọi chế độ chính trị, quyết định sự nghiệp của từng nhà chính trị, tướng lĩnh…Trong hệ thống tư tưởng chính trị và văn hoá Hồ Chí Minh, phép dùng người là một bộ phận đặc sắc và quan trọng nhất. Ta có thể tìm hiểu tư tưởng của Người về dùng người theo một hệ vấn đề sau:

1. “Vô luận việc gì đều do người làm ra” 

Với Hồ Chí Minh, nhân dân, con người không bao giờ là phương tiện của các nhà chính trị mà ngược lại nhà chính trị, đảng chính trị… phải nhất quán trong nhận thức và hành động rằng nhân dân là người chủ sở hữu của quyền lực chính trị, con người vừa là mục đích vừa là động lực và sức mạnh của mọi sự nghiệp chính trị. Hồ Chí Minh đã từng nói: nhiều khi đường lối, chính sách đúng nhưng hoặc chưa làm được, hoặc làm được nửa chừng rồi lại nguội, vì chúng ta quên một lẽ rất giản đơn dễ hiểu, tức là vô luận việc gì đều do người làm ra và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả. Công việc Đảng, Nhà nước bao gồm nhiều lĩnh vực đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ, công chức tốt để thi hành công vụ. Từ quan niệm ”vô luận việc gì đều do người làm ra”, Hồ Chí Minh kết luận: có cán bộ tốt, việc gì cũng xong. muốn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém.

2. Dùng người vì chính lợi ích của mọi người 

Động cơ thôi thúc Hồ Chí Minh là tiến hành sự nghiệp vĩ đại: giải phóng dân tộc, xã hội, con người, trong đó độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào; làm cho mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Chính động cơ ấy đã trở thành triết lý nhân sinh, thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ chính sách dùng người của Hồ Chí Minh. Động cơ mang tính lý tưởng, khắc đậm chủ nghĩa nhân văn Hồ Chi Minh đã gặp gỡ những mong mỏi và lợi ích đời thường của mọi người lao khổ. Ý chí của Lãnh tụ với mong mỏi của đại đa số quần chúng trở nên đồng thuận một cách tự nhiên. Mọi người tập hợp dưới ngọn cờ của Lãnh tụ, phấn khởi tự hào được là lính Cụ Hồ, tuân theo sự điều khiển của Lãnh tụ: ”Bác bảo đi là đi”, bởi họ tin rằng: ”Bác bảo thắng là thắng”.

3. Yêu người, kính cẩn, thành tín và khoan dung

Các Mác từng nói: muốn mọi người đối xử với mình thế nào thì hãy đối xử với mọi người như vậy. Ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới UBND các cấp phê phán thói kiêu ngạo, tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi, coi khinh dân gian, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt ”quan cách mạng” lên; không biết rằng, thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến uy tín của Chính phủ. Người căn dặn cán bộ, công chức các cấp: việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Hồ Chí Minh là ngọn cờ tập hợp mọi tầng lớp nhân dân; Người không những có sức cảm hoá, thu phục được những người cùng chí hướng, những tầng lớp, giai cấp cách mạng và những người có cảm tình với cách mạng mà còn cả những người không cùng chính kiến, quan điểm, thậm chí cả kẻ thù của mình. Sở dĩ như vậy là bởi vì, ở Người luôn toát lên sự thẳng thắn, trung thực, tôn trọng lẽ phải, tôn trọng con người và luôn ứng xử với ”lý lẽ phân minh, nghĩa tình đầy đủ”, luôn luôn giải quyết công việc ”có lý, có tình”, xuất phát từ đời sống hiện thực.

4. Hiểu mình và hiểu người

Xưa nay các vĩ nhân làm nên sự nghiệp lớn đều có chung một tư tưởng: ”biết mình, biết người”, ”biết địch, biết ta”. Biết, chính là bí quyết của sự thành công” Hồ Chí Minh đã chỉ ra một số căn bệnh cơ bản làm cho người cán bộ không tự biết được mình. Đó là, cậy thế kiêu ngạo, ưa người phỉnh nịnh mình,tư túi, kinh nghiệm chủ nghĩa, máy móc, giáo điều. Người cán bộ lãnh đạo, quản lý mắc những bệnh tật ấy, thì không hiểu được chính cái mạnh, cái yếu của mình do vậy không thể hiểu được người khác, tựa như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông. Muốn biết rõ cán bộ, muốn đối đãi một cách đúng đắn các hạng người, trước hết phải sửa những khuyết điểm của mình. Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng Trên cơ sở tự hiểu mình, cần phải có phương pháp xem xét để hiểu cán bộ một cách thấu đáo, ”không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc” mà phải xét kỹ cả toàn bộ công việc của cán bộ”.

5. Phải khéo dùng người

Theo Hồ Chí Minh, muốn dùng cán bộ đúng thì người cán bộ lãnh đạo cần phải: một là, mình phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ không bị bỏ rơi. Hai là, phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gũi những người mình không ưa. Ba là, phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ. Bốn là, phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt. Năm là, phải có thái độ vui vẻ thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi mình. Khéo dùng cán bộ xuất phát từ việc tập hợp được sức lực và tài năng của mọi người vào việc hoàn thành nhiệm vụ chung. Nếu dùng cán bộ mà để họ hoang mang, sợ hãi, buồn rầu, uất ức hoặc cộng tác không hợp, chắc không thành công được. Vì vậy, muốn cán bộ làm được việc, phải khiến cho họ yên tâm làm việc, vui thú làm việc, phải thực hành những việc sau: làm cho người cán bộ mạnh dạn dám nghĩ, dám nói, dám đề xuất ý kiến; làm cho cán bộ có tinh thần chủ động, dám phụ trách (làm chủ) trong công việc. Phải mạnh dạn cất nhắc cán bộ.

6. Phải nuôi dạy cán bộ

Muốn có cán bộ tốt, thì cơ quan lãnh đạo, quản lý phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Muốn dùng người thì phải quan tâm săn sóc, giúp đỡ, nghĩa là phải “nâng cao” người cán bộ, cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần, làm cho người cán bộ ngày càng ”lớn lên” cùng với sự nghiệp cách mạng. Phải thường xuyên huấn luyện cán bộ để bất cứ cán bộ nào cũng đều ”vững về chính trị, giỏi về chuyên môn”.

7. Phải đổi mới và đan xen các thế hệ cán bộ

Mỗi thế hệ cán bộ sinh ra và trưởng thành trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau, mỗi người đều có những sở trường và sở đoản, cái mạnh và cái yếu nhất định, tuyệt nhiên không ai giống ai. Hồ Chí Minh nhắc nhở: phải thấy cái giới hạn khắc nghiệt của thời gian để tạo nguồn thay thế, bổ sung cho tổ chức những lớp người mới, đủ sức lực và tài năng đảm đương nhiệm vụ theo những yêu cầu mới. Theo Người, cần cán bộ già, đồng thời rất cần nhiều cán bộ trẻ; công việc ngày càng nhiều, càng mới. Một mặt, Đảng phải đào tạo, dìu dắt đồng chí trẻ, mặt khác, đảng viên già phải cố gắng mà học. Việc đổi mới cán bộ phải rất khách quan, công minh, cần lấy việc hoàn thành nhiệm vụ làm căn cứ; phải tổng kết từ phong trào thực tiễn, phát hiện những nhân tố mới, những cán bộ trẻ có đức, có tài để trao nhiệm vụ cho họ. Mặt khác cũng cần tạo điều kiện cho số cán bộ lớn tuổi, đã công tác quá lâu trong các văn phòng có điều kiện thâm nhập thực tế để khỏi lạc hậu với thực tế Vấn đề luân chuyển cán bộ hiện nay là một chủ trương đúng phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh.

8. Vun trồng lòng tự trọng, tự tin cho cán bộ, giúp họ sửa chữa sai lầm, khuyết điểm

Hồ Chí Minh cho rằng: ai cũng có lòng tự trọng, tự tin; không có lòng tự trọng, tự tin là vô dụng. Vì vậy phải xem xét kỹ trước khi cất nhắc; giúp đỡ, vun trồng, khuyên gắng, khích lệ lòng tự tin, tự trọng; kiểm tra, uốn nắn thường xuyên không để ”tích tiểu thành đại”. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp họ sửa chữa ngay, để vun trồng các thói có gan phụ trách, cả gan làm việc của họ. Đồng thời phải nêu rõ những ưu điểm, những thành công của họ. Làm thế không phải làm cho họ kiêu căng mà cốt làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức. Phải vun đắp chí khí của họ, để đi đến chỗ ”bại cũng không nản, thắng cũng không kiêu”.

9. Gương mẫu

Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạng đến vai trò của cán bộ cấp trên. Người đã nhiều lần nhắc nhở đảng viên, cán bộ cấp trên phải làm mực thước cho cán bộ cấp dưới và người ngoài Đảng. “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Nếu cán bộ cấp trên không gương mẫu thì làm sao có thể bảo ban, hướng dẫn được cấp dưới, làm sao duy trì được kỷ luật Đảng và trật tự kỷ cương phép nước. Hồ Chí Minh đã kịch liệt phê phán thói nể nang, bênh che cho nhau. Người đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải ghi nhớ rằng mình làm cách mạng là để phục vụ nhân dân, phải luôn ghi tạc trong lòng: lo toan công việc chung trước mọi người, hưởng thụ sau mọi người. Chỉ có như vậy mới thu phục, cảm hoá giáo dục được cấp dưới và mọi người.

10. Đổi mới cách lãnh đạo để dùng người

Vì việc mà dùng người. Công việc xây dựng và bảo vệ đất nước luôn luôn đổi mới, phát triển. Do đó, phải không ngừng đổi mới cách lãnh đạo để dùng người. Để lãnh đạo được thì phải học hỏi quần chúng. Điều đó có nghĩa là “người lãnh đạo không nên kiêu ngạo mà nên hiểu thấu”, ”một giây, một phút không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng”, ”phải biết lắng nghe ý kiến của những người không quan trọng”. ”Hiểu thấu”, ”biết lắng nghe”, học hỏi quần chúng, nâng cao nhân dân, ”đưa chính trị vào giữa dân gian” đã hợp thành một hệ giá trị của văn hoá chính trị và là vấn đề hàng đầu của đổi mới cách lãnh đạo. Nhân dân phải là người được tham gia vào quá trình ra quyết định. Theo Hồ Chí Minh, người ra quyết định thường chỉ ”phán từ trên xuống”, còn người thi hành quyết định lại chỉ ”nhìn từ dưới lên”. Cả hai đều có hạn chế. ”Vì vậy, muốn giải quyết vấn để cho đúng, ắt phải hợp kinh nghiệm cả hai bên lại”. Kiểm soát là điều bắt buộc của lãnh đạo, muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi hành không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát. Việc kiểm soát phải có hệ thống, thường xuyên. Người đi kiểm soát phải là những người có uy tín”, ”phải đi tận nơi, xem tận chỗ”, phải kiểm soát bằng hai cách, từ trên xuống và từ dưới lên, ”tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cách sửa chữa sự sai lầm đó”.

Phép dùng người của Hồ Chí Minh đã được thực tiễn lịch sử kiểm nghiệm, khẳng định. Đó là cơ sở lý luận và phương pháp luận của khoa học tổ chức trong tình hình hiện nay.

Nguyễn Văn Cư
(Báo GTVT)

sites.google.com

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào yêu nước của nhân dân ta phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi sự lãnh đạo đúng đắn của một đảng chân chính của giai cấp công nhân Việt Nam, Trước tình hình đó, sau một thời gian ở lại Liên Xô để nghiên cứu chế độ xô-viết và kinh nghiệm xây dựng đảng theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã về gần Việt Nam để xúc tiến việc chuẩn bị thành lập Đảng. Ngày 11 tháng ll nǎm 1924, Người đến Quảng Châu (Trung Quốc).

Về mặt công khai, lấy tên là Lý Thụy, có khi lấy tên là Vương, Người làm cán bộ phiên dịch cho phải đoàn cố vấn của Chính phủ Liên Xô, do Bô-rô-đin dẫn đầu, đến giúp Chính phủ Quốc dân đảng Trung Quốc, trong khi Chính phủ này đang có chính sách hợp tác với Đảng cộng sản Trung Quốc. Việc đầu tiên của Người là bắt mối liên lạc với Tâm tâm xã và tổ chức yêu nước của cụ Phan Bội Châu đang hoạt động ở Quảng Châu.

Trước đó mấy tháng, Phạm Hồng Thái đã ném bom ở Sa Điện, định giết Méc-lanh, toàn quyền Đông Dương, khi y qua đây. Mới đến Quảng Châu, đồng chí Nguyễn ái Quốc còn cảm thấy tiếng vang của quả bom Phạm Hồng Thái. Tuy không tán thành chủ trương ám sát cá nhân, nhưng Người đánh giá cao sự kiện đó. Sau này, Người viết:

“Tiếng bom của Phạm Hồng Thái đã nhóm lại ngọn lửa chiến đấu… Nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc, như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”.

Lúc này cụ Phan bội Châu đã cải tổ Việt Nam quang phục Hội thành Việt Nam quốc dân đảng, với cương lĩnh và chương trình gần giống như Cương lĩnh và chương trình của Quốc dân đảng Trung Hoa.

Đồng chí Nguyễn ái Quốc viết thư góp ý kiến với cụ Phan Bội Châu về đường lối và phương pháp cách mạng. Cụ tiếp thu những ý kiến đó, nhưng chưa kịp sửa chữa sai lầm của mình thì cụ đã bị đế quốc Pháp bắt đưa về nước vào nǎm 1925.

Đồng chí Nguyễn ái Quốc chọn số thanh niên yêu nước trong các tổ chức cách mạng nói trên và một số thanh niên khác ở trong nước ra, mở Trưòng huấn luyện chính trị để đào tạo họ trở thành những cán bộ cách mạng và đưa họ trở về nước hoạt động trong giai cấp công nhân và nhân dân ta. Trường mở được l0 khóa, mỗi khóa từ một tháng rưỡi đến ba tháng, tổng số học viên có khoảng 200 người.

Mặc dù việc mở trường gặp nhiều khó khǎn, nhất là về tài chính, nhưng Người vẫn dành dụm từng đồng, ra sức đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt đầu tiên cho cách mạng Việt Nam, trong đó có những người tiêu biểu như các đồng chí Trần Phú, Lê Hồng Phong, Ngô Gia Tự…

Đồng chí Nguyễn ái Quốc là người phụ trách trường, vừa là giảng viên chính, có khi kiêm cả cán bộ phiên dịch. Phương pháp giảng dạy của Người là lý luận liên hệ với thực tế, học kết hợp với hành làm cho học viên dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Ngoài học tập lý luận và chính trị, các học viên còn được học thêm vǎn hóa và ngoại ngữ.

Được sự giáo dục trực tiếp của đồng chí Nguyễn ái Quốc sau một thời gian học tập, các học viên trưởng thành nhanh chóng về chính trị và tư tưởng. Trên cơ sở giác ngộ về tinh thần yêu nước, các học viên nhận rõ đường lối và phương pháp đúng đắn của cách mạng Việt Nam và có xu hướng cộng sản chủ nghĩa. Nhiều đồng chí được lần lượt cử về nước xây dựng cơ sở, tuyên truyền, tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng.

Người còn lựa chọn một số cán bộ gửi sang Mát-xcơ- va học tập lý luận ở Trường đại học Phương Đông và một số khác vào học Trường quân sự Hoàng Phố có cố vấn Liên Xô giảng dạy ở Quảng Châu.

Việc đồng chí Nguyễn ái Quốc mở Trường huấn luyện chính trị có ý nghĩa rất to lớn. Người đã đào tạo cho cách mạng Việt Nam những lớp cán bộ đầu tiên đi theo đường lối chủ nghĩa Mác – Lê-nin và góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị thành lập Đảng ta.

Để làm tài liệu giảng dạy tại Trường huấn luyện chính trị, đầu nǎm 1925, đồng chí Nguyễn ái Quốc biên soạn tập đề cương bài giảng. Đầu nǎm 1927, tập đề cương bài giảng đó được bộ tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á Đông á Đông xuất bản thành sách, với nhan đề là Đường cách mệnh.

Trong cuốn sách Đường cách mệnh, trước hết Người nêu lên tư tưởng cách mạng triệt để. Người chỉ rõ rằng, muốn sống thì phải làm cách mạng. Làm cách mạng phải có quyết tâm, hy sinh, bền gan, đoàn kết nhau lại Muốn được như vậy thì trước hết mọi người phải hiểu rõ vì sao phải làm cách mạng. Trong cuốn Đường cách mệnh Người nói về tư cách người cách mạng, tức là đạo đức cách mạng : tự mình phải cần kiệm, chí công vô tư, quả quyết sửa lỗi mình, không hiếu danh, không kiêu ngạo ; nói thì phải làm, phải giữ chủ nghĩa cho vững, hy sinh, ít lòng ham muốn về vật chất v.v., Người coi việc giác ngộ cách mạng và giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ là một trong những yêu cầu hàng đầu để chuẩn bị về tư tưởng và chính trị, tiến tới xây dựng một đảng chân chính của giai cấp công nhân Việt Nam.

Muốn làm cách mạng thành công, người cán bộ không những phải có đạo đức cách mạng mà còn phải hiểu lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, có đường lối và phương pháp cách mạng đúng. Nói về ý nghĩa và tầm quan trọng của lý luận cách mạng, trên trang đầu cuốn Đường cách mệnh Người nêu lên câu nói bất hủ của Lê-nin : “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng… Chỉ có đảng nào có lý luận tiên phong hướng dẫn mới có thể làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong”.

Nhân dân Việt Nam đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh anh dũng chống đế quốc Pháp, nhưng đều bị thất bại, vì chưa có lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chưa có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, không hiểu tình hình thế giới, không biết so sánh lực lượng ta và lực lượng địch, không có “mưu chước” không hiểu “sách lược”, không biết nắm thời cơ, “chưa nên làm đã làm, khi nên làm lại không làm”. Vì vậy, những người cách mạng phải giảng giải cho nhân dân hiểu lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tình hình và kinh nghiệm cách mạng thế giới.

Đồng chí Nguyễn ái Quốc nêu rõ nhiệm vụ trực tiếp trước mắt của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc đồng thời Người cũng chỉ rõ triển vọng tiến lên và mục tiêu cách mạng lâu dài là cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nắm vững tính chất và đặc điểm xã hội Việt Nam, đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân thấm nhuần học thuyết của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, vận động một cách sáng tạo kinh nghiệm Cách mạng tháng Mười Nga vào điều kiện cụ thể của nước ta, Người đề ra đường lối cách mạng Việt Nam là phải đi từ giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng giải phóng dân tộc mà Người đã đề ra là cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới (nay gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa không qua giại đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đó là một trong những vấn đề mà Người đã phát triển một cách sáng tạo những luận điểm của Lê-nin về cách mạng ở các nước chậm tiến.

Cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, thì nhiệm vụ trước mắt của nó là đánh đổ đế quốc Pháp và bọn vua quan phong kiến tay sai. Muốn đánh đổ kẻ thù của cách mạng, phải tập hợp được lực lượng cách mạng. Người chỉ rõ lực lượng cách mạng là nhân dân bị đế quốc Pháp áp bức và bóc lột. Người nhấn mạnh công nhân và nông dân là lực lượng chủ yếu của cách mạng vì công nông bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất và công nông là lực lượng đông nhất. Theo quan điểm của Người, giải phóng dân tộc trước hết là giải phóng công nhân và nông dân ; lực lượng chủ yếu của sự nghiệp giải phóng dân tộc là công nhân và nông dân, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.

Người chỉ rõ cách mạng là việc chung của quần chúng nhân dân, không phải là việc của một hai người. Vì đế quốc Pháp dùng chính sách chia rẽ người Việt Nam thành người Trung, Nam, Bắc; lấy tôn giáo và vǎn hóa nô dịch để mê hoặc nhân dân ; lấy sức mạnh để đàn áp nhân dân, cho nên muốn làm cách mạng, trước hết chúng ta phải giác ngộ, tổ chức, đoàn kết và lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh. Những người cách mạng phải tổ chức các hội quần chúng như công hội nông hội, phụ nữ, thanh niên v.v..

Người còn nêu rõ cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, theo đường lối của Quốc tế cộng sản, quan hệ mật thiết với cách mạng Pháp và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa khác.

Về kinh nghiệm cách mạng thế giới, Người rút ra nhưng bài học của Cách mạng tháng Mười, kinh nghiệm của cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ. Người nhận định cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ là những cuộc cách mạng tư sản không triệt để. Chỉ có Cách mạng tháng Mười Nga là cuộc cách mạng triệt để nhất, vì nó đem lại tự do, bình đẳng, hạnh phúc thật sự cho nhân dân lao động và còn giúp đỡ cho các dân tộc bị áp bức làm cách mạng để tự giải phóng. Cách mạng tháng Mười Nga dạy cho chúng ta biết rằng muốn làm cách mạng thành công phải dựa vào lực lượng của quần chúng nhân dân, chủ yếu là công nhân và nông dân; phải có đảng theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vững mạnh, thống nhất hy sinh, gan góc.

Muốn tổ chức và đoàn kết được các lực lượng cách mạng, muốn có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, trước hết phải có đảng cách mạng, để trong thì vận động và tổ chức nhân dân, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản các nước, Đảng có vững, cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững, thuyền mời chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm cốt. Trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có kim chỉ nam. “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lê-nin”.

Đường cách mệnh không chỉ vạch ra những vấn đề chiến lược cách mạng, mà còn vạch ra phương pháp cách mạng khoa học, “phải biết làm mới chóng”. Người cǎn dặn các chiến sĩ cách mạng phải biết cách tuyên truyền, vận động và tổ chức quần chúng đấu tranh một cách có tổ chức, có lãnh đạo chặt chẽ. Bộ tham mưu của giai cấp vô sản phải cho cách mạng bừng nở đúng lúc, tức là phải nắm vững thời cơ mới có thể giành được thắng lợi to lớn. Ví như Cách mạng tháng Mười Nga đã nổ ra đúng ngày mồng 7 tháng 11 nǎm 1917 và đã giành được thắng lợi vĩ đại.

Đường cách mệnh nêu lên một chân lý sáng ngời là “muốn sống phải làm cách mạng”, quyết tâm giành độc lập và tự do, “thà chết được tự do còn hơn sống làm nô lệ”, đấu tranh kiên cường bất khuất, kiên trì lâu dài, đời này qua đời khác, không ngại gian khổ, không sợ hy sinh. Tư tưởng nổi bật và bao trùm của cuốn Đường cách mệnh là tư tưởng độc lập, tự do gắn liền với chủ nghĩa xã hội. bó là xu thế cách mạng của thời đại, là quy luật tất yếu của sự phát triển xã hội loài người. bó tư tưởng cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, là tinh thần cách mạng triệt để của giai cấp công nhân được kết hợp một cách nhuần nhuyễn với truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam.

Cuốn Đường cách mệnh có ý nghĩa lịch sử rất to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Đường cách mệnh là ngọn cờ chỉ đạo cách mạng nước ta trong thời kỳ xúc tiến chuẩn bị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam và đặt nền tảng cho cương lĩnh của Đảng ta ra đời vào đầu nǎm 1930. Đường cách mệnh được phát triển hoàn chỉnh thêm đã trở thành nền tảng đường lối của đảng ta về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đó cũng là con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc.

Đường cách mệnh chẳng những có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong thời kỳ đã qua, mà còn soi sáng con đường cho nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong giai đoạn mới.

Để làm cơ sở cho việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, tháng 6 nǎm 1925, tại Quảng Châu, Người đã sáng lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, một tổ chức tiền thân của Đảng do những người cộng sản làm hạt nhân lãnh đạo. Khi thành lập, Hội đã thông qua Điều lệ tóm tắt và chương trình hoạt động của Hội. Tôn chỉ và mục đích của Hội được thể hiện trong cuốn Đường cách mệnh.

Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội là một tổ chức rất chặt chẽ, gần như một đảng cộng sản, theo nguyên tắc tập trung dân chủ, dùng tự phê bình và phê bình để xây dựng Hội.

Nhờ có sự giáo dục của đồng chí Nguyễn ái Quốc về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, đường lối và phương pháp cách mạng, về đạo đức cách mạng; được rèn luyện trong phong, trào đấu tranh của quần chúng cho nên hầu hết các cán bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội sau này đều trở thành nhưng người cộng sản chân chính và những cán bộ cốt cán của Đảng ta. Dưới sự lãnh đạo của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta đã kết hợp chặt chẽ với nhau, tạo thành một làn sóng dân tộc và dân chủ mạnh mẽ khắp cả nước. Phong trào công nhân Việt Nam từ khi tiếp thu được chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã có những chuyển biến mời về ý thức chính trị và về tổ chức đấu tranh. Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội là tổ chức cách mạng đầu tiên ở nước ta có xu hướng chủ nghĩa cộng sản, đi vào quần chúng vận động công nhân và nông dân theo quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và dẫn dắt giai cấp công nhân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị.

“Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của các tầng lớp công nông và trí thức cách mạng, bắt đầu thành hình trong Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội lúc bấy giờ, đã có hệ thống thống nhất toàn quốc… “

Để làm cơ sở cho việc thành lập một chính đảng của giai cấp công nhân, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, trong đó có hạt nhân lãnh đạo là Cộng sản đoàn, để bồi dưỡng và phát huy mạnh mẽ tinh thần dân tộc của những người yêu nước trong giai cấp công nhân, nông dân và tiểu tư sản trí thức, kết hợp với việc giáo dục cho họ về chủ nghĩa Mác – Lê-nin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, nhằm đào tạo họ thành những người cộng sản Việt Nam. Hội là một tổ chức quá độ, rất phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam lúc đó. Thành lập Hội là một việc làm đúng đắn, phù hợp với kinh nghiệm phổ biến là phải thông qua những phần tử trí thức cách mạng, đưa chủ nghĩa xã hội khoa học vào giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Kinh nghiệm này đã được Đại hội lần thứ sáu của Quốc tế cộng sản (tháng 9 nǎm 1928) xác nhận :

“Kinh nghiệm cho thấy ở phần đông các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, một số lớn nếu không phải là đa số cán bộ cộng sản lúc đầu là rút từ giai cấp tiểu tư sản và đặc biệt là trong số những người trí thức cách mạng, thường là trong số sinh viên. Thường thường những phần tử ấy gia nhập Đảng vì họ nhận định Đảng là kẻ thù cương quyết nhất của chủ nghĩa đế quốc”.

Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã đóng một vai trò lịch sử cực kỳ quan trọng trong việc chuần bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng ta.

Để tuyên truyền tôn chỉ và mục đích của Hội. Người đã xuất bản tuần báo Thanh niên. Báo này vạch trần nhưng tội ác dã man của đế quốc Pháp, khơi sâu lòng cǎm thù đối với chúng. Đưa ra những bằng chứng cụ thể, dùng những lời lẽ đanh thép, báo Thanh niên tiếp tục nhiệm vụ của báo Người cùng khổ, lên án chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Việt Nam trên mọi lĩnh vực ; đồng thời giải thích rõ đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc Pháp và bọn vua quan phong kiến tay sai, giành độc lập và tự do, tiến lên cách mạng vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.

Đặc biệt, báo Thanh niên nêu rõ tính chất giai cấp của Đảng cộng sản và nhấn mạnh việc tổ chức đảng phải thật chặt chẽ. Báo còn nói rõ người đảng viên cộng sản phải có phẩm chất cách mạng, điều cốt yếu nhất là phải biết hy sinh. Nhiệm vụ của những người đảng viên cộng sản không phải chỉ đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc và giai cấp mình, mà còn phải đấu tranh góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Là một vũ khí sắc bén trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào giai cấp công nhân và nhân dân ta, tuần báo Thanh niên đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình là người tuyên truyền tập thể, người cổ động tập thể, đồng thời là người tổ chức tập thể.

Cùng với tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, cuốn Đường cách mạng, báo Người cùng khổ và một số vǎn kiện khác, báo Thanh niên đã góp phần quan trọng vào việc xúc tiến chuẩn bị thành lập Đảng ta.

Trong khi chuẩn bị thành lập chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam, nǎm 1926, tại Quảng Châu, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã tổ chức nhóm thiếu niên tiền phong đầu tiên của nước ta, nhằm đào tạo các em trở thành những chiến sĩ cách mạng tương lai. Nhóm này gồm có 8 em, trong đó có Lý Tự Trọng, sau này là người đoàn viên đầu tiên của Đoàn thanh niên cộng sản Việt Nam đã oanh liệt đấu tranh đến hơi thở cuối cùng cho Đảng và cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Trong thời gian này, với trách nhiệm là ủy viên Bộ phương Đông trực thuộc Quốc tế cộng sản và ủy viên đoàn chủ tịch ban chấp hành Quốc tế nông dân, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng phong trào cách mạng nói chung và phong trào nông dân nói riêng ở một số nước châu á. Trong bức thư mật đề ngày 13 tháng 8 nǎm 1925, của Ban chấp hành Quốc tế nông dân gửi cho Người, đã nói rõ :

“Theo quyết định của Đoàn chủ tịch ngày 31 tháng 7, đồng chí được ủy nhiệm làm công tác vận động nông dân ở Trung Quốc, ở các nước thuộc địa mà đồng chí đặt được liên lạc, cụ thể như Đông Dương… Nhiệm vụ trước mắt của đồng chí là tổ chức tiếp xúc với các thuộc địa ấy, liên hệ với các tổ chức nông dân địa phương nếu có, và xây dựng tổ chức nông hội hoặc các nhóm nông dân cốt cán ở những nơi chưa có tổ chức nông dân…”.

Để vận động nông dân Đông Dương nói chung và nông dân Việt Nam nói riêng, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã viết một số bài về tình hình nông dân Việt Nam, nói rõ nguyên nhân bị áp bức, bóc lột của họ, và chỉ cho họ phương hướng đấu tranh… Là một nhà lãnh đạo phong trào nông dân quốc tế, có nhtều kinh nghiệm, Người đã góp phần quan trọng vào phong trào cách mạng của nông dân Trung Quốc. Người đã dịch nhiều tài liệu của ban chấp hành Quốc tế nông dân viết bằng tiếng Anh, tiếng Pháp ra tiếng Trung Quốc, và đã viết nhiều tài liệu về nông dân Trung Quốc nói chung và về phong trào nông dân Hải Lục Phong nói riêng… để tuyên truyền và tổ chức nông dân Trung Quốc. Đầu tháng 5 nǎm 1925, Người đã cùng những người cộng sản Trung Quốc triệu tập Hội nghị đại biểu đầu tiên của 20 vạn nông dân có tổ chức của tỉnh Quảng Đông và Hội nghị đại biểu lần thứ hai của giai cấp công nhân Trung Quốc nhằm mục đích thành lập một mặt trận thống nhất giữa nhưng người bị bóc lột ở thành thị và nhưng người bị bóc lột ở nông thôn.

Cǎn cứ vào nội dung bản báo cáo tóm tắt của Người nói về hai cuộc hội nghị này gửi lên Ban chấp hành Quốc tế nông dân và những bài viết của Người về phong trào nông dân Trung Quốc, có thể rút ra những quan điểm đúng đắn như sau:

Những người cộng sản phải xây dựng liên minh công nông; hoạt động cho giai cấp công nhân ở thành thị không được sao nhãng việc tổ chức những người vô sản ở nông thôn. Giai cấp công nhân và giai cấp nông dân phải liên hiệp lại để chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa quân phiệt và những tên phản bội giai cấp công nhân. Muốn đấu tranh chống lại bọn địa chủ áp bức, bóc lột, nông dân Trung Quốc phải được tổ chức lại dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân công nghiệp có tổ chức. Công cuộc giải phóng nhưng người lao động là sự nghiệp của bản thân những người lao động. Đoàn kết lại, nhưng người lao động sẽ đánh thắng chủ nghĩa đế quốc.

Cùng với việc quan tâm theo dõi phong trào cách mạng Trung Quốc và các nước Đông – Nam á, đồng chí Nguyễn ái Quốc rất chú ý đến phong trào giải phóng dân tộc và dân chủ ở ấn-Độ. Từ nǎm 1921 đến nǎm 1928, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã viết nhiều bài (ký tên là Vương) trên Tạp chí Cộng sản và Thư tín Quốc tế, nhằm phản ánh tình hình đấu tranh cách mạng của nhân dân ấn-Độ.

Nhằm tập hợp và đoàn kết các lực lượng cách mạng ở châu á với những kinh nghiệm và cách tổ chức Hội liên hiệp thuộc địa ở Pháp trước đây, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã tham gia sáng lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á Đông á Đông (7-1925), một hình thức mặt trận thống nhất chống chủ nghĩa đế quốc. Hội này gồm những người yêu nước Việt Nam, Trung Quốc, Triều- Tiên, In-đô-nê-li-a, Ma-lay-xi-a, Thái-Lan, ấn- Độ.., Người được bầu làm bí thư của Hội.

Để phối hợp với phong trào chung chống chủ nghĩa đế quốc Người còn thường xuyên đặt quan hệ với Ban thư ký Tổng hội Thái Bình Dương và Liên đoàn chống chủ nghĩa đế quốc, vì độc lập, tự do, v.v..

Để xây dựng phong trào cách mạng nói chung và vận động nông dân nói riêng ở một số nước châu á, Người rất quan tâm vấn đề đào tạo cán bộ. Người đã lựa chọn một số cán bộ của các nước này, tổ chức đưa họ đến học tập tại Trường đại học phương Đông ở Mát- xcơ-va và đưa họ trở về nước hoạt động cách mạng…

Từ cuối nǎm 1924 đến đầu nǎm 1930, đồng chí Nguyễn ái Quốc vừa đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam, xúc tiến việc chuẩn bị và thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, vừa góp phần rất quan trọng vào việc đào tạo cán bộ và xây dựng phong trào cách mạng ở một số nước châu á… á… Dưới sự chỉ đạo của Ban phương Đông trực thuộc Ban chấp hành Quốc tế cộng sản, Người đã truyền bá chủ nghĩa cộng sản vào châu á nói chung và Đông Dương nói riêng.

Tháng 4 nǎm 1927, sau vụ phản biến của bọn Tưởng Giới Thạch ở Quảng Châu, Người đi Hồng Kông, Thượng Hải, rồi rời Trung Quốc đi Liên Xô. Người làm việc ở Quốc tế cộng sản góp phần tổng kết kinh nghiệm của phong trào cách mạng châu á, đặc biệt là cách mạng Trung Quốc. Người thường xuyên tới Trường đại học phương Đông giúp đỡ các học viên Việt Nam học tập và rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, đóng góp vớỉ nhà trường nhiều ý kiến xây dựng có giá trị.

Được sự giúp đỡ của Ban chấp hành Quốc tế cộng sản, cuối nǎm 1927, Người bí mật trở lại nước Pháp để gặp gỡ và trao đổi ý kiến với ban lãnh đạo Đảng cộng sản Pháp về tình hình hoạt động của Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng. Sau đó, người trở lại Đức và đi dự Hội nghị Quốc tế chống chiến tranh đế quốc họp ở thủ đô nước Bỉ.

Mùa hè nǎm 1928, Người bí mật rời khỏi Đức đi Thụy- sĩ I-ta-li-a rồi từ đó đáp tàu biển đi Thái-Lan vào mùa thu nǎm 1928. ở đây, Người lấy tên là Chín. Kiều bào thân mật và kính trọng gọi Người là Thầu Chín (ông già Chín).

Người chủ trọng giáo dục Việt kiều tinh thần đoàn kết và yêu nước. Người chỉ đạo việc chấn chỉnh nội dung tờ báo cho phù hợp với mục đích, tôn chỉ của Hội thân ái và trình độ của Việt kiều, lấy tên tờ báo là Thân ái thay cho tên Đồng thanh trước đây.

Người giảng giải cho cán bộ hiểu rõ tính chất lâu dài và gian khổ của cách mạng Việt Nam, tin tưởng vào triển vọng và tương lai của cách mạng trong nước và cách mạng thế giới Người đặc biệt quan tâm việc giáo dục thiếu niên, Người luôn luôn nhắc nhở cán bộ phải đề cao tinh thần cảnh giác và giữ gìn bí mật trong công tác. Người khuyến khích cán bộ học tiếng Xiêm. Người tham gia lao động cùng với kiều bào trong hội hợp tác, như đào giếng, làm vườn, gánh gạch xây trường học cho trẻ em v.v..

Được sự lãnh đạo của Người, chỉ trong khoảng một nǎm, công tác vận động Việt kiều ở Xiêm đã có những chuyển biến quan trọng ; tinh thần đoàn kết và yêu nước của kiều bào được củng cố và tǎng cường; trình độ chính trị của cán bộ được nâng cao, tư tưởng kiên trì vận động cách mạng được xác lập, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân Xiêm đối với những hoạt dộng yêu nước của Việt kiều nói riêng và đối với cách mạng Việt Nam nói chung.

Trong những nǎm 1928 – 1929, phong trào cách mạng ở nước ta dâng lên mạnh mẽ. Thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, một số cán bộ của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để tuyên truyền và tổ chức công nhân. Phong trào công nhân dần dần đã vượt qua giai đoạn tự phát, cục bộ, lẻ tẻ tiến đến giai đoạn tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo, có sự phối hợp giữa các ngành và các địa phương. Từ cuối nǎm 1929, phong trào công nhân Việt Nam đã có tính chất độc lập rõ rệt, trở thành lực lượng nòng cốt của phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào công nhân quốc tế lại bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất, có tinh thần cách mạng triệt để, đại biểu cho phương thức sản xuất tiến bộ nhất, tiêu biểu cho quyền lợi cơ bản và lâu dài của cả dân tộc, phát huy truyền thống quật cường bất khuất của dân tộc, giai cấp công nhân nước ta tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất của nhân dân Việt Nam.

Chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã được Người và những học trò của Người truyền bá vào Đông Dương, nơi nhân dân có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm, có giai cấp công nhân tuy số lượng không đông; nhưng là giai cấp tiên tiến nhất trong xã hội, lại bị ba tầng áp bức, bóc lột của đế quốc phong kiến và tư sản trong nước, cho nên có tinh thần cách mạng triệt để. Đông Dương cũng là nơi có phong trào đấu tranh của nông dân và phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân khác rất sâu rộng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chân lý cách mạng của thời đại, khi đã thấm sâu vào trái tim, khối óc của những người cách mạng Việt Nam thì sẽ trở thành một sức mạnh to lớn và không có một kẻ thù nào có thể ngǎn cản nổi. Trên mặt trận chính trị và tư tưởng, chủ nghĩa Mác – Lê- nin đã đánh lui tư tưởng cải lương, tư tưởng dân tộc hẹp hòi và đã chiếm ưu thế trong phong trào cách mạng Việt Nam. Phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta đang đòi hỏi sự lãnh đạo của một đảng của giai cấp công nhân. Những điều kiện để thành lập một đảng như thế đã chín muồi. Nhưng khi vấn đề ấy được đặt ra, thì trong nội bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, nhất là ở cơ quan lãnh đạo của nó không nhất trí. Đó là cuộc đấu tranh giữa quan điểm vô sản và quan điểm tiểu tư sản trong Thanh niên cách mạng đồng chí Hội để thành lập đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Việt Nam. Cuộc đấu tranh ấy đã dẫn đến thắng lợi của tư tưởng vô sản và sự ra đời của Đông Dương cộng sản đảng và An Nam cộng sản đảng. Trong tình hình ấy Tân Việt cách mạng Đảng cũng không thể duy trì tổ chức cũ, cho nên đã được cải tổ thành Đông Dương cộng sản liên đoàn. Trong vòng nửa nǎm, ba tổ chức cộng sản đã liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng cộng sản là một tất yếu của sự phát triển phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929.

Nhưng lợi ích của cách mạng, và nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lê-nin không cho phép trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Như thế chỉ làm yếu sự thống nhất về tư tưởng, chính trị, tổ chức, làm giảm sức mạnh của phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Thành lập một đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam là yêu cầu bức thiết của phong trào công nhân và phong trào yêu nước lúc bấy giờ.

Lịch sử đòi hỏi phải có một lãnh tụ có đầy đủ uy tín và nǎng lực để thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đồng chí Nguyễn ái Quốc là người đã đáp ứng yêu cầu đó.

Vào cuối mùa thu nǎm 1929, đang hoạt động ở Thái- lan, được nghe báo cáo về tình hình mâu thuẫn giữa các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, Người đã trở lại Hồng Kông, triệu tập Hội nghị đại biểu các tổ chức cộng sản để thống nhất tổ chức, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Trở lại Hồng Kông lần này với sứ mệnh lịch sử nặng nề, đồng chí Nguyễn ái Quốc phải suy nghĩ và giải quyết hàng loạt vấn đề nóng bỏng và phức tạp trong quá trình chuẩn bị thống nhất Đảng: làm thế nào xóa bỏ những bất đồng giữa các nhóm cộng sản, để đi tới thống nhất các nhóm đó trong một tổ chức duy nhất? Tên Đảng nên đặt như thế nào cho đúng với tính chất đảng của giai cấp công nhân và các nhóm có thể chấp nhận làm sao hoàn thành cho kịp các bản Cương lĩnh, Sách lược Điều lệ của Đảng – Đó là những vǎn kiện cơ bản của Hội nghị hợp nhất. Vấn đề bảo đảm bí mật cho Hội nghị cũng được Người rất quan tâm. Tầt cả những vấn đề trên được tiến hành thận trọng, bí mật và khẩn trương để kịp khai mạc Hội nghị.

Dưới sự chủ tọa của Người, Hội nghị đã họp từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 2 nǎm 1930, trong cǎn phòng nhỏ của một người công nhân ở Cửu Long, gần Hồng Kông. Sau nǎm ngày làm việc khẩn trương trong hoàn cảnh bí mật, Hội nghị đã quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản, thành lập một đảng cộng sản chân chính duy nhất ở Việt Nam lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam, theo đề nghị của đồng chí Nguyễn ái Quốc. Về tên Đảng, các đại biểu được Người giải tbich :

“Cái từ Đông Dương rất rộng, và theo nguyên lý chủ nghĩa Lê-nin, vấn đề dân tộc là một vấn đề rất nghiêm túc người ta không thể bắt buộc các dân tộc khác gia nhập Đảng, làm như thế là trái với nguyên lý chủ nghĩa Lê-nin. Còn cái từ An Nam thì hẹp, vì An Nam chỉ là miền Trung của nước Việt Nam mà thôi, và nước ta có ba miền : Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ. Do đó từ Việt Nam hợp với cả ba miền và không trái với nguyên lý chủ nghĩa Lê-nin về vấn đề dân tộc”.

Hội nghị đã thông qua các vǎn kiện : Chính cương vắn tắt Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng Đảng và của một số tổ chức quần chúng và Lời kêu gọi… do đồng chí Nguyễn ái Quốc thảo ra.

Chính cương vắn tắt vạch rõ : cách mạng Việt Nam là cách mạng tư sản dân quyền (nay gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Nhiệm vụ của nó là đánh đuổi đế quốc Pháp, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân, thành lập chính phủ công nông binh, thực hiện các quyền tự do dân chủ cho nhân dân và tổ chức ra quân đội công nông…

Về Đảng, Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt nói rằng Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, có đủ nǎng lực lãnh đạo quần chúng. Đảng chủ trương đoàn kết với phong trào giải phóng của các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và liên hệ mật thiết với giai cấp công nhân quốc tế, nhất là giai cấp công nhân Pháp.

Chính cương và Sách lược vắt tắt của Đảng đáp ứng đúng nguyện vọng thiết tha của giai cấp công nhân và nhân dân nước ta. Vì vậy, Đảng là đoàn kết được các lực lượng yêu nước và dân chủ xung quanh giai cấp công nhân và nắm được quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Điều lệ tóm tắt của Đảng đã nêu rõ mục đích của Đảng: “Đảng cộng sản Việt Nam tổ chức ra để lãnh đạo cho quân chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu, để tiêu diệt tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”.

Điều lệ tóm tắt của Đảng qui định những điều kiện cần phải có để được kết nạp vào Đảng cộng sản là phải tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa cộng sản, tin theo đường lối và chương trình hành động của Đảng và của Quốc tế cộng sản; hǎng hái, hy sinh tranh đấu cho sự nghiệp cách mạng nước ta và cách mạng thế giới.

Hội nghị cũng đã thảo luận về phương pháp và kế hoạch thống nhất các tổ chức cộng sản ở trong nước…

Nhân dịp thành lập Đảng, đồng chí Nguyễn ái Quốc thay mặt Quốc tế cộng sản và Đảng cộng sản Việt Nam đã ra Lời kêu gọi, gửi công nhân, nông dân, bính lính, thanh niên học sinh và đồng bào bị áp bức bóc lột: Đảng cộng sản Việt Nam đã được thành lập. Đó là đảng của giai cấp công nhân. Đảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng để đấu tranh cho quyền lợi của toàn thể nhân dân bị áp bức bóc lột. Ngay từ bây giờ, chúng ta phải gia nhập Đảng, chúng ta phải giúp đỡ Đảng và đi theo Đảng !…”.

Lời kêu gọi là một vǎn kiện quan trọng đã phân tích đầy đủ và đúng đắn tình hình thế giới, tình hình Việt Nam và nêu lên đường lối, mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Lời kêu gọi có tác động cổ vũ rất lớn đối với toàn Đảng, toàn dân ta.

Hội nghị thành lập Đảng có tầm quan trọng như một Đại hội của Đảng, vì nó đã đề ra đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam và những nguyên tắc về xây dựng Đảng cộng sản Việt Nam.

Sự ra đời của Đảng ta là một tất yếu lịch sử, do những điều kiện trong nước và thế giới lúc ấy quyết định, đồng thời là kết quả rực rỡ của cả một quá trình hoạt động sôi nổi của đồng chí Nguyễn ái Quốc, Người ái Quốc, Người đấu tranh kiên cường trong phong trào công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc, kiên trì học tập tìm tòi nghiên cứu và rèn luyện. Đó là kết quả to lớn của gần 10 nǎm chuẩn bị rất công phu và đầy đủ của Người về các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Sau này, đánh giá việc thành lập Đảng, Người đã viết :

“Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiểu sử và sự nghiệp, NXB Sự thật, 1987

quangbinh.gov.vn

Học tiếng Tây để đánh Tây

Nhớ lại những ngày đầu kháng chiến chống Pháp ở miền Bắc, do căm thù thực dân, dân quân tự vệ nhất là ở nơi làng mạc xa xôi, phá hủy bất cứ cái gì liên quan đến Tây tức là Pháp. Các tự vị LAROUSSE đều bị đốt. Vô phúc ai đi đường mang vác gì có màu xanh – trắng – đỏ, cờ Pháp! Có khi bị giam khi qua trạm kiểm soát.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã uốn nắn nhận định sai lầm đó, tuy rằng toàn dân – toàn quân ta kháng chiến chống thực dân Pháp nhưng vẫn coi nhân dân Pháp là bè bạn, vẫn tôn trọng văn hóa Pháp. Do đó, kháng chiến là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, không biến thành chiến tranh hận thù chủng tộc như Algeria. Từ đầu kháng chiến, đại đa số trí thức Tây học đã tham gia “đánh Tây”.

Từ lúc người An Nam buộc phải học tiếng Tây đến khi trí thức Tây đào tạo lại đánh Tây, cuộc hành trình đa dạng và đầy bi hài.

Sau khi chiếm được toàn bộ nước ta, để củng cố chính quyền, thực dân Pháp tạo ra một hệ thống giáo dục Francis – indigène (Pháp – bản xứ) để đào tạo nhân viên cao cấp của bộ máy cai trị và để xóa bớt ảnh hưởng của Trung Quốc ngự trị hàng nghìn năm. Thực hiện ý đồ này, năm 1904, toàn quyền Paul Beau ký nghị định thành lập Sở học chính. Triều đình Huế, theo lệnh Pháp, đã có dụ quyết định bỏ bài thi cử chữ Nho truyền thống vào năm 1919.

Trong hệ thống học đường, chữ Quốc ngữ ở mấy lớp dưới, lên trên là tiếng Tây (Pháp) thay cho chữ Nho. Vì vậy có lời than:

Thôi có ra gì cái chữ Nho,
Ông nghè ông cử cũng nằm co.

Thời buổi nhố nhăng, dù chỉ có nhà Nho biết vài chữ Tây còn làm cả thơ Đường pha lẫn Tây – Tàu – ta.

Ông tôi đỗ tú tài có lẽ vào khoa cuối, hoàn toàn Nho. Bố tôi cũng học chữ Nho trước khi quay sang học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp để làm kế toán cho sở máy điện Hà Nội. Tôi cũng học chữ Nho thầy đồ ở phố Hàng Quạt, Hà Nội rồi mới đi học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Vào những năm 20 thế kỉ XX, ảnh hưởng Nho học còn dai dẳng nên mới có sách Pháp tự diễn âm ca để học tiếng Pháp bằng thơ lục bát, theo kiểu Tam tự kinh học chữ Nho.

Chữ Nho như:

Thiên () trời địa () đất vân () mây

 () mưa phong () gió trú () ngày dạ () đêm

Tiếng Pháp thì:

Pe-rơ (perè) tiếng gọi là cha, me-re (merè) là mẹ, ông bà e-ơ (aïeux).

Trong Đại chiến thế giới thứ I, năm 1916, in đến 25.000 cuốn sách này cho lính thợ An Nam (ONS) đưa sang Pháp phục vụ các nhà máy quân khí.

Lăng nhăng học dăm ba chữ Tây đi làm bồi bếp, thông ngôn nửa mùa thì khối chuyện cười ra nước mắt.

Chuyện nịnh Tây mà cũng không xong. Có một anh bồi đi theo hầu một bà đầm vợ quan lớn. Buổi trưa hè, xe ô tô đỗ nghỉ ở bóng cây bên đường. Nóng như thiêu như đốt, anh ta lấy quạt quạt cho bà đầm và nói: “MADAME, VOUS ÊTES EN CHALEUR”. Liền bị một cái tát trời giáng. Vì CHALEUR là sức nóng, anh ta định nói: “Quý bà nóng quá”. Ai ngờ EN CHALEUR có nghĩa là động đực, thèm của ấy. Bà đầm tưởng anh bồi nói kháy.

Hà Nội những năm 30 đã “sính Tây” lắm. Các cửa hàng đều có biển tiếng Tây, bạn bè gọi nhau là tu (anh) với moi (tôi), nói tiếng Việt phải điểm vài chữ Tây thì mới thời thượng. Nam Xương viết hài kịch Ông Tây An Nam để giễu một anh đi học Tây về nói chuyện với bố bằng tiếng Pháp, phải có thông ngôn dịch. Chuyện này trên thực tế có thực. Trường Bưởi có ông giáo Sáu dạy toán bị học trò đặt biệt hiệu là “sáu lọ” (lọ là lố lăng), chỉ thích xì xồ tiếng Pháp. Khi đi làm đốc học, không nói tiếng Việt, đi đâu cũng có thông ngôn đi kèm. Phản ứng lại sự mất gốc ấy, học trò lập ra những nhóm chỉ nói tiếng Việt thuần túy, rất ghét cậu nào xì xồ theo giọng Pháp…


Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp ở Tua, tháng 12-1920.

Có một tầng lớp trí thức Tây học, có khi du học ở Pháp về, có ý thức dân tộc cao… Họ rất ghét, thậm chí căm thù thực dân Pháp nhưng biết phân biệt thực dân Pháp và văn hóa Pháp.

Trường hợp ông Phạm Duy Khiêm khá đặc biệt. Ông thuộc loại đại trí thức tốt nghiệp đại học Paris, cùng một khóa với tổng thống Pháp Georges Pompidou, tổng thống Senegal Léopold Sédar Senghor. Cứ là chịu ảnh hưởng của nhà xã hội học Pháp Lévy-Bruhl, ông cho tiếng Việt còn ở trình độ sơ khai (sauvage), tiền logic. Ông viết Tập truyện huyền thoại của các miền thanh bình (một số truyện cổ Việt Nam, Trung Quốc) là một tác phẩm tiếng Pháp hay và cộng tác viết về văn phạm Tiếng Việt.

Coi thường tiếng dân tộc thì không nên. Nhưng nếu sử dụng tiếng nước ngoài mà thuận lợi để nói lên tư duy tình cảm của mình và dân tộc mình là điều bình thường. Các cụ ta làm thơ văn chữ Hán khi chống Trung Quốc, thế hệ hiện đại dùng chữ Pháp chống Pháp cũng vậy. Có cả một nền văn học Việt Nam, bằng tiếng Pháp vẫn đang tiếp tục ở Pháp.

Nguyễn Ái Quốc viết tiếng Tây. Cuốn sách lên án thực dân Pháp, Hồ Chí Minh viết thơ chữ Hán những ngày trong tù. Kỹ sư cầu đường Đăng Phúc Thông, thứ trưởng Bộ Giao thông, năm 1947, kẹt ở Hà Nội khi Pháp chiếm đóng. Pháp cho hai nhân vật cao cấp đến thăm dò ý kiến, ông tiếp họ rồi viết báo cáo bằng tiếng Pháp gửi lên chiến khu Việt Bắc.

Trong kháng chiến chống Pháp, GS. Hồ Đắc Di, người Hoàng tộc, khi khánh thành trường Đại học Y ở Chiêm Hóa, đọc một bài diễn văn hùng hồn bằng tiếng Pháp, kêu gọi sinh viên hết lòng vì nước. Trong núi rừng chiến khu, bác sĩ Tôn Thất Tùng nhớ thủ đô Hà Nội làm một bài thơ tiếng Pháp đầy tình cảm ca ngợi anh bộ đội đi chân đất:

Khu rừng đầy ánh nắng, sau đêm giá lạnh
Nói với anh về giang sơn Việt Nam muốn sống
Anh cất tiếng ca và lòng rạo rực
Bay theo hai tiếng thần kì: Tổ quốc và Tự do

(1948)

Ghi chú

Hẳn nhiều độc giả, nhất là những người biết tiếng Pháp và ở Pháp, tìm đọc nguyên văn bài thơ tiếng Pháp của Tôn Thất Tùng. Chúng tôi xin in lại sau đây.

En se souvenant de Hà Nội

BS. Tôn Thất Tùng

Tu ne reverras plus le temps des accordailles,
Les amants enlacés sous les pruniers en fleurs
Les pruniers ne sont plus. Une aube de terreur
Se lève à l’horizon où gronde la mitraille.
Nous avons remisé dans leurs plus beaux cartons
Nos rêves quotidiens et nos joies coutumières,
Nous qui n’avons connu ni su ce qu’est la guerre,
Nous avons tout quitté en nous disant: Partons!
Frère, est-ce toi, héros pur de la délivrance
Qui passes en chantant, les pieds nus sans souliers?
L’azur de notre ciel couleur de liberté
Chante avec ta chanson l’honneur et l’espérance.
La brousse ensoleillée après les soirs glacés
Lui parle chaque fois du Việt Nam qui veut vivre
Il chante sa chanson et son âme s’enivre
Aux mots ensorceleurs: Patrie et Liberté.
O bonheur de bâtir sur une aube nouvelle
Le pays retrouvé à l’heure du destin!
Et voici notre offrande au Việt Nam de demain
Et voici notre sang pour une aube éternelle.
Alors nous reverrons ce tranquille bonheur
De vivre pauvrement dans nos calmes chaumières.
Le riz reverdira sur nes vertes rizières,
Les amants s’en iront sous les pruniers en fleurs.

Ngày 24/3/1948

Dịch thơ

Nhớ về Hà Nội

Em sẽ không còn thấy những ngày mừng cưới;
Bao cặp tình nhân ôm nhau dưới tán mai vàng.
Mai vàng không còn. Chỉ còn một bình minh ghê rợn,
Ló lên phía chân trời, nơi súng máy gầm vang.
Chúng ta cất trong những rương đẹp nhất
Bao ước mơ và niềm vui thường nhật
Chúng ta, những người chưa hiểu biết gì chiến trận,
Bỏ hết mọi thứ, cùng tự nhủ: “Lên đường!”
Bạn ơi, có phải anh, người anh hùng giải phóng
Vừa qua đây hát vang, không dép chân trần?
Bầu trời xanh của chúng ta màu Tự Do
Ca cùng bài ca của anh Quang Vinh và Hy Vọng
Cánh rừng tràn nắng sau những chiều lạnh cóng
Nói với anh mỗi khi, Việt Nam quyết sống
Anh ca bài ca của mình và tâm hồn bay bổng
Theo những từ say mê quyến rũ: Tổ Quốc, Tự Do.
Ôi! hạnh phúc được xây trong bình minh tươi mới
Đất nước hồi sinh vào phút giờ lịch sử!
Và đây hiến dâng của chúng ta cho Việt Nam ngày mai
Và đây dòng máu của chúng ta cho một bình minh vô tận.
Khi ấy, chúng ta sẽ hưởng lại hạnh phúc thanh bình
Được sống nghèo trong những nhà tranh yên tĩnh.
Lúa lại xanh trên những cánh đồng xanh
Và bao cặp người yêu lại bên nhau dưới tán mai vàng.

BS. Trịnh Phúc Nguyên dịch

honvietquochoc.com.vn

Tự phê bình và phê bình phải là vũ khí sắc bén

QĐND – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giáo dục cán bộ, đảng viên nắm chắc, khéo sử dụng vũ khí tự phê bình – phê bình và sửa chữa để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố chính quyền. Người khuyên: “Ai cũng cần tắm rửa cho mình mẩy sạch sẽ. Thì ai cũng cần tự phê bình cho tư tưởng và hành động đúng đắn”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu vấn đề và tự giải đáp: “Tự phê bình là gì? Là thật thà nhận, công khai nhận trước mặt mọi người những khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nguồn: Internet

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Tự phê bình chính là cuộc cách mạng diễn ra ngay trong bản thân mỗi con người, là cuộc đấu tranh trong nội tâm để tự hoàn thiện mình. Tự xét mình đó là ý thức tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự phấn đấu, tự răn mình. Một số người sợ mất uy tín và thể diện mình, không dám tự phê bình, lại còn bao biện, nếu phê bình khuyết điểm của mình, của đồng chí mình, của Đảng và Chính phủ, thì địch sẽ lợi dụng mà công kích ta… “Nói như vậy là lầm to. Khuyết điểm cũng như chứng bệnh. Phê bình cũng như uống thuốc. Sợ phê bình, cũng như có bệnh mà giấu bệnh, không dám uống thuốc. Để đến nỗi bệnh ngày càng nặng, không chết cũng la lết quả dưa”. Thực tế cho thấy, những cán bộ không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, thì người đó ngày càng lao vào khuyết điểm, càng giảm sút uy tín dẫn đến hư hỏng. Phê bình công khai có làm “suy giảm bớt uy tín của đoàn thể và chính quyền” không? Dứt khoát là có. Nhưng có “giảm bớt” này là tạm thời để rồi uy tín lại tăng lên, nếu quyết tâm sửa chữa khuyết điểm. Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình là việc làm như cơm “ăn cho khỏi đói”, như “rửa mặt cho khỏi bẩn”. Đó là công việc hằng ngày, hiển nhiên cần thiết. Người đặc biệt phê phán thái độ phê bình không trên tinh thần đồng chí, không có lòng xây dựng, không chân thành giúp đồng chí. Đó là thái độ “đao to búa lớn” “việc bé xé to”, hoặc lợi dụng phê bình, cường điệu nâng quan điểm để hạ bệ nhau, mạt sát nhau… Còn nếu nể nang, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chất chứa lại. Thế thì khác nào tự mình bỏ thuốc độc cho mình! Nói về Đảng, một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình – phê bình thật dễ hiểu và dễ thực hiện. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc giải phóng dân tộc…, tự phê bình – phê bình được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện đúng đắn, nghiêm túc. Đây là vũ khí sắc bén, góp phần quan trọng nâng cao lòng yêu nước, tinh thần và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trước vận mệnh đất nước, đã làm nên những chiến thắng huy hoàng của dân tộc ta.

Tuy nhiên, hiện nay việc hiểu và thực hiện tự phê bình và phê bình  ở một số địa phương, đơn vị, một số bộ, ngành, đang có những biểu hiện không đúng đắn. Chẳng hạn, có những kẻ, trước các kỳ đại hội, hoặc bổ nhiệm, thì tung tin, dựng chuyện cho “đối thủ”, rồi lợi dụng tự phê bình – phê bình hạ thấp uy tín để tranh chức, đoạt quyền.  Đó đây vẫn còn biểu hiện tự phê bình và phê bình mang tính hình thức, tự phê bình thì nói về thành tích thật to lớn, sâu sắc, nhưng đề cập đến khuyết điểm chỉ kể ra cho gọi là có. Khi phê bình cấp trên, thì toàn nói về những khuyết điểm xét về hình thức có vẻ nghiêm trọng, nhưng thực chất là sự nịnh nọt, tâng bốc lẫn nhau, nhất là những kẻ cơ hội về chính trị… Chính vì vậy, các thế lực thù địch  đã lợi dụng để ra sức tuyên truyền, xuyên tạc một cách hiểm độc về tư tưởng tự phê bình – phê bình của Hồ Chí Minh. Một mặt chúng cho rằng, tự phê bình và phê bình chỉ là công cụ để tranh giành quyền, chức trong bộ máy Đảng và chính quyền các cấp. Mặt khác, chúng tìm mọi cách lôi kéo, móc nối với những kẻ cơ hội trong Đảng sử dụng tự phê bình – phê bình để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta, nhằm thực hiện những ý đồ đen tối.

Để góp phần xây dựng Đảng vững mạnh, làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch và phát huy tốt hiệu quả của vũ khí tự phê bình và phê bình, các cấp, các ngành, các địa phương cần tập trung tuyên truyền nâng cao ý thức của cán bộ, đảng viên và hiệu quả tự phê bình – phê bình. Trong đó tập trung vào các giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, phải tổ chức học tập và quán triệt lại một cách nghiêm túc, sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình – phê bình.

Thứ hai, tổ chức hoạt động tự phê bình và phê bình trong các cấp bộ Đảng, chính quyền, nhất là cấp cơ sở một cách thường xuyên, liên tục và hiệu quả. Đây là giải pháp có tầm quan trọng bậc nhất và mang ý nghĩa quyết định đối với việc xây dựng Đảng, Nhà nước và quân đội ta trong sạch, vững mạnh.

Thứ ba, kết hợp chặt chẽ giữa tự phê bình và phê bình với cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham ô, tham nhũng nhằm làm trong sạch bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Thực hiện tốt giải pháp này cùng một lúc đạt được các mục tiêu sau: Giảm thiểu được những thiếu sót, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong bộ máy Đảng và chính quyền các cấp, trong thi hành công vụ: Phát hiện sớm các biểu hiện tham ô, tham nhũng, nhờ đó giảm thiểu tổn thất về tài sản và tiền bạc của Nhà nước và nhân dân, đồng thời, bảo vệ được cán bộ, đảng viên và uy tín của Đảng, Nhà nước: Hạn chế tối đa những kẽ hở, không để các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá.

Tóm lại, tự phê bình – phê bình là hoạt động mang tính tất yếu, thường xuyên, liên tục của một đảng cầm quyền như Đảng ta. Có làm tốt hoạt động này, thì Đảng mới vững mạnh, mới hoàn thành sứ mệnh của một đảng cầm quyền, lãnh đạo cách mạng nước ta đi đến thắng lợi.

Đại tá, PGS, TS Hoàng Minh Thảo

qdnd.vn

Một đời thanh bạch chẳng vàng son

Trong bài thơ “Khóc Bác” tiễn Bác theo thế giới người hiền, nhà thơ Tố Hữu có viết: “Một đời thanh bạch chẳng vàng son, mong manh áo vải hồn muôn trượng, hơn tượng đồng phơi những lối mòn…”

Cuộc đời 79 mùa xuân của Bác chỉ biết lo cho dân nước. Bác hy sinh hạnh phúc riêng tư cho hạnh phúc dân tộc. Người “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta độc lập, dân tộc ta được tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Hai mốt tuổi, tại bến Nhà Rồng, Người lên tàu xuất dương tìm đường cứu nước. Có người hỏi: “ở nước ngoài, làm gì để sống?” Bác cười chỉ vào 2 bàn tay. Bác làm đủ việc : rửa bát, hầu bàn, chụp hình, viết báo… Cho đến khi làm Chủ tịch Nước, bữa cơm của Người cũng chỉ giản dị đĩa cá kho, bát canh rau và món mắm quê hương xứ Nghệ. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người được ăn cơm với Bác nhiều nhất bảo: “Ông cụ, bữa cơm, lúc nào cũng tóm vén, nhắc mọi người ăn cho hết. Ai để sót cơm, bị Bác phê bình là lãng phí sức lao động của người nông dân”.

Ngày Bác về thăm quê, Tỉnh ủy Nghệ An mời cơm. Thấy thức ăn nhiều, Bác sớt để riêng bảo: “để người khác khỏi ăn thừa!”

Ngày Cách mạng Tháng 8 thành công, Chính phủ bố trí Bác ở nhà Toàn quyền, Bác từ chối xin ra ở nhà sàn – Phủ Chủ tịch, sáng chiều tập thể dục, trồng cây, nuôi cá. Dừa, cam có trái, Bác hái chia quà. Rau, cá thu hoạch Bác đem cho nhà bếp, góp phần cải thiện bữa ăn cho cơ quan.

Một hợp tác xã Hà Nội có nghề đúc đồng truyền thống, xin được đúc tượng Bác, Bác bảo:

– Nước đang có chiến tranh, để dành đồng đúc súng đạn đánh Mỹ, nếu có đúc, nên đúc tượng anh hùng liệt sĩ, đúc tượng Bác làm gì?

Thấy áo Bác sờn rách, đồng chí phục vụ xin thay, Bác bảo:

– Rách có tí, vá cho Bác! Đồng chí phục vụ bảo:

– “ Chủ tịch nước, ai lại mặc áo vá.”

Bác cười bảo: “Có ông Chủ tích nước mặc áo vá là hạnh phúc cho dân lắm!”

Bác có một bộ vét bằng kaki vàng, dùng đi nước ngoài, ngoại giao, dự lễ, bị sờn. Anh em bàn nhau bí mật thay mới. Tìm vải tốt, nhưng làm màu hơi cũ đi như màu áo Bác để Bác không phát hiện. Ay thế mà ông cụ tinh, biết, phê bình.

Thường thì Bác mặc quần áo nâu, đi dép cao su (còn gọi là dép râu). Dùng lâu, một hôm dép đứt 1 chiếc quai. Đồng chí phục vụ báo cáo Bác thay đôi mới, Bác bảo: đứt quai thì thay quai, chứ sao lại mua mới, phí. Đồng chí phục vụ quay mặt đi, khóc, thương Bác quá. Trước tấm gương đạo đức sáng ngời của Người, nhân dân ta tự hào về Người, nguyện học tập và làm theo mãi mãi.

quangbinh.gov.vn

Độc lập cho Tổ quốc là mục đích cao nhất

Bìa cuốn sách "Hồ Chí Minh - Người mang lại ánh sáng".

“Một thân hình gầy yếu với chòm râu nhỏ trong bộ đại cán cũ kỹ, và đôi dép cao su đã sờn, Hồ Chí Minh thể hiện hình tượng về một Bác Hồ khiêm tốn, hòa nhã. Nhưng ông là một nhà cách mạng dày dạn, nhà dân tộc nhiệt thành luôn theo đuổi một mục đích duy nhất: độc lập cho Tổ quốc mình…”.

Kỷ niệm 121 năm ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2011), 100 năm ngày Người rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước (1911-2011), Hội Khoa học lịch sử Việt Nam phối hợp với Hội Xuất bản Việt Nam, dưới sự bảo trợ của Bộ Thông tin và Truyền thông đã cho ra mắt đông đảo bạn đọc cuốn sách “Hồ Chí Minh – Người mang lại ánh sáng”. Sách do Nhà xuất bản Thời đại ấn hành.

Cuốn sách tập hợp 61 bài viết của nhiều tác giả quốc tế và Việt Nam, cung cấp những tư liệu quý về cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Có thể thấy trong tập sách này sự góp mặt của các tác giả thuộc nhiều quốc tịch khác nhau như: Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc, Ba Lan, Hàn Quốc và Việt Nam.

Ngay ở bài đầu tiên, cũng là tên tập sách, là bài viết của nhà báo Stanley Karnow đăng trên tạp chí Time. Stanley là cây bút đã từng đoạt giải Pulitzer và là một chuyên gia về Việt Nam, nổi tiếng với cuốn sách “Việt Nam: A history”. Phải nói thêm, Time là một tạp chí uy tín của Mỹ, phát hành toàn thế giới, đã nhiều lần đưa hình ảnh chân dung Hồ Chí Minh và các sự kiện về Việt Nam lên trang nhất. Time đã bình chọn Hồ Chí Minh là một trong 100 nhân vật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như chính khách, khoa học, văn nghệ sĩ… có ảnh hưởng lớn nhất đến hành tinh của chúng ta trong thế kỷ XX.

Tác giả Stanley viết: “Một thân hình gầy yếu với chòm râu nhỏ trong bộ đại cán cũ kỹ, và đôi dép cao su đã sờn, Hồ Chí Minh thể hiện hình tượng về một Bác Hồ khiêm tốn, hòa nhã. Nhưng ông là một nhà cách mạng dày dạn, nhà dân tộc nhiệt thành luôn theo đuổi một mục đích duy nhất: độc lập cho Tổ quốc mình… Đối với người Mỹ, đây là cuộc chiến tranh dài nhất và là lần thất bại đầu tiên trong lịch sử của họ. Nó còn làm thay đổi nghiêm trọng cách nhận thức về vai trò của họ trên thế giới”.

Có thể kể ra trong cuốn sách những bài viết thú vị của tác giả nước ngoài như: “Những cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Chí Minh” của Franz Faber, “Hồ Chí Minh – Từ Cách mạng đến thần tượng của Pierre Brocheux, Hồ Chí Minh – Nhà cách mạng Đông Dương” của báo Nhân đạo Alain Ruscio, “Hồ Chí Minh và các giá trị phương Đông” của Georges Boudarel, “Những quan hệ đầu tiên giữa Hồ Chí Minh với Đảng Trung Hoa” của Qiang Zhai, “Kremli và Hồ Chí Minh” của I.B.Bukharkin, “Một nhà văn Nhật viết về Nguyễn Ái Quốc trong thời gian ở Pháp” của Kiyosi Komatsu, “Kỷ niệm về Hồ Chí Minh” của Lise London… Mỗi người viết, từ nhận thức đánh giá và kỷ niệm riêng đã cho bạn đọc thấy rõ hơn tầm vóc quốc tế của Người và lòng kính trọng, khâm phục của bạn bè quốc tế, trong đó có cả những người không cùng chính kiến dành cho Người.

Nhà nghiên cứu người Pháp gốc Việt Pierre Brocheux nhận định: “Ông (Bác Hồ – PV) đã bộc lộ những đức tính và thiên tài gắn bó với con người ông và được mọi người thừa nhận. Một đặc điểm tư tưởng của ông là không hề có óc giáo điều, từ chối xóa bỏ hết mọi cái của quá khứ văn hóa, sự lo toan xây dựng cây cầu nối giữa quá khứ và hiện tại và bằng cách chọn lọc trong quá khứ những cái mà ông có thể kích thích hiện tại…Tính hài hước, tính nhạy cảm và sự gần gũi của ông đã khiến cho nhiều người đã biết ông trong những năm 1920 ghi nhớ trong kỷ niệm khi họ nhắc lại. Đấy là những nét đã hấp dẫn những ai đã gần ông hay có tiếp xúc với ông trong cuộc sống hàng ngày.

Nhà báo Đức F.Faber may mắn có nhiều dịp được đi với Bác Hồ về cơ sở đã kể lại: “Tôi đã có thể ngồi bên Người hàng giờ liền và được thấy rõ những đức tính tuyệt vời của Người, trên tư cách một vị lãnh đạo nhà nước và cũng trên tư cách một con người, mà ngay những kẻ chống đối tệ hại nhất cũng không thể hạ thấp Người được.

Tác giả người Pháp Georges Boudarel nhắc lại một câu nói của Bác Hồ: “Trong đoàn thể của chúng ta có những người chỉ biết nói, nói hàng 2-3h đồng hồ, nói mênh mông trời đất. Nhưng chỉ chừa một điều không nói đến là, những việc thiết thực cho địa phương. Những người như vậy thì không thể dùng vào công việc cụ thể”. Và Boudarel kết luận: “Chân dung đẹp nhất của Hồ Chí Minh là gì? Xét cho cùng đã có trong đạo đức kinh: Viên tướng giỏi không tỏ ra vũ dũng. Người giỏi tác chiến không tỏ ra hung hăng. Người khéo thắng địch không giao phong với địch. Người khéo chỉ huy thì tự đặt mình ở dưới người”.

Bác Hồ với đại biểu Quốc hội. Ảnh: Bùi Á.

Riêng trong quan hệ của Người với các bậc cách mạng tiền bối của Việt Nam theo nhiều khuynh hướng khác nhau, dẫu có lúc bất đồng, nảy ra các cuộc tranh luận, nhưng trước sau Người đều thể hiện niềm kính trọng yêu nước, yêu dân của các vị. Và điều đặc biệt là, các bậc cao niên ấy về sau đều chung lời khen ngợi và gửi gắm niềm tin vào một bậc hậu sinh có thể gánh vác vận nước là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Có tư liệu về lời các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền nhắn nhủ mọi người: “Độc lập của nước Việt Nam sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc”.

Trong bức thư bằng chữ Hán gửi quốc dân, cụ Huỳnh đã viết: “Người thân yêu kính mến nhất của đồng bào quốc dân chúng ta là Hồ Chí Minh tiên sinh. Là bậc yêu nước đại chí sĩ, là nhà lịch nghiệm cách mạng đại chuyên gia, chân đi khắp năm châu, mát trông xa vạn dặm, nhận rõ thời cuộc, lặng dò thời cơ… Là người nổi tiếng kiên cường, bất khuất và ngang ngạnh trước bạo lực và cường quyền”. Cụ còn nói: “Ông Hồ không đồng xu dính túi. Nói về bằng cấp thì ông không tiến sĩ, phó bảng gì cả. Nhưng nói về tri thức và sự nghiệp cách mạng thì chắc chắn lớp chúng ta cũng như lớp trước chúng ta, không ai bì kịp. Sự hiểu biết của ông Hồ rất xa, rất rộng”.

Kể lại những câu chuyện về Người trong một cuốn sách quý, mỗi người Việt Nam sẽ có thêm niềm tự hào và động lực để tiếp tục sự nghiệp xây dựng đất nước. “Hồ Chí Minh – người mang lại ánh sáng” sẽ tiếp tục mang ánh sáng của Người soi rọi con đường của dân tộc hôm nay

Phương Trang

cand.com.vn

Hồ Chí Minh – Người đặt nền móng tình hữu nghị Việt – Trung

Trong 30 năm bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường cứu nước, Trung Quốc là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động lâu nhất và đưa ra những quyết định trọng đại với vận mệnh dân tộc Việt Nam. Sau khi cách mạng hai nước Việt Nam và Trung Quốc thành công, tình cảm thân thiết giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh tụ Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai… tiếp tục được củng cố, là nền móng của tình hữu nghị Việt – Trung “vừa là đồng chí, vừa là anh em”.

Là một người có thâm niên gần 40 năm công tác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Huy Hoan làm nhiệm vụ dịch thuật và tham gia thẩm định các tài liệu tiếng Trung liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tâm huyết và có điều kiện tiếp xúc với các tài liệu, tư liệu quý, ông Nguyễn Huy Hoan rất am hiểu về Bác Hồ và Trung Quốc.

Nhân dịp hai nước Việt Nam – Trung Quốc kỉ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, ông Nguyễn Huy Hoan đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi thú vị. Ông khẳng định: Càng hiểu, tôi càng khâm phục và trân trọng tình cảm chân thành, thủy chung của Bác Hồ với các vị lãnh tụ và nhân dân Trung Quốc. Đó là di sản vô giá, là nền tảng vững chắc cho mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc.

Tháng 5 năm 1960, các nhà lãnh đạo Trung Quốc: Chủ tịch Mao Trạch Đông, Ủy viên trưởng Chu Đức và Thủ tướng Chu Ân Lai, đã gửi một bức điện chúc mừng sinh nhật lần thứ 70 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bức điện do đồng chí Vi Quốc Thanh, Chủ tịch Khu tự trị dân tộc Choang (tỉnh Quảng Tây) đích thân chuyển tới Hồ Chủ tịch, khi Người đang ở thăm Nam Ninh, thủ phủ tỉnh Quảng Tây.

Theo Giáo sư Hoàng Tranh – một sử gia Trung Quốc – người đã có nhiều năm nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, bức điện mừng này có đoạn viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam, là Vị lãnh tụ kính mến nhất của nhân dân Việt Nam, là chiến sĩ lỗi lạc nhất trong phong trào Cộng sản quốc tế và là người bạn thân thiết nhất của nhân dân Trung Quốc”. Những lời chúc mừng nồng hậu này đã nói lên tình cảm và sự trân trọng của các nhà lãnh đạo Trung Quốc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam.

Ngay từ mùa hè năm 1922 tại thủ đô Pari của nước Pháp, người thanh niên yêu nước Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã gặp gỡ và kết thân với những nhà cách mạng Trung Quốc như Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân, Triệu Thế Viêm, Đặng Tiểu Bình… Cùng chung chí hướng giải phóng dân tộc, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp cho nhân dân Việt Nam và Trung Quốc, các nhà cách mạng trẻ tuổi hai nước đã gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau trên đường tranh đấu.

Năm 1924, trong hành trình trở về phương Đông, với bí danh Lý Thụy, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô lần đầu tiên tới Trung Quốc, làm phiên dịch viên trong phái bộ cố vấn Liên Xô Borodin bên cạnh Chính phủ Tôn Trung Sơn tại Quảng Châu. Từ thời điểm này về sau, Nguyễn Ái Quốc đã nhiền lần đến và lưu lại Trung Quốc, tiến hành đào tạo cán bộ, xây dựng tổ chức và lực lượng cho cách mạng Việt Nam…

Hồ Chủ tịch đề tặng các bạn Trung Quốc bài thơ “Phong cảnh Quế Lâm” (tháng 5/1961).

Trong 30 năm bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường cứu nước, Trung Quốc là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động lâu nhất và đưa ra những quyết định trọng đại với vận mệnh dân tộc Việt Nam. Sau khi cách mạng hai nước Việt Nam và Trung Quốc thành công, tình cảm thân thiết giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh tụ Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai… tiếp tục được củng cố, là nền móng của tình hữu nghị Việt – Trung “vừa là đồng chí, vừa là anh em”.

Tháng 11/1956, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai thăm chính thức Việt Nam, Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam mở tiệc mừng. Sau những lời phát biểu chào mừng trịnh trọng, bất chợt Hồ Chủ tịch dừng lại, nói thân mật: “… đồng chí Chu Ân Lai còn là anh em của tôi. Chúng tôi đã từng đồng cam cộng khổ, cùng làm công tác cách mạng. Ba mươi mấy năm qua, Thủ tướng Chu Ân Lai là bạn chiến đấu thân thiết của tôi”.

Khi đáp từ, Thủ tướng Chu Ân Lai trân trọng nói: “Ban nãy, Hồ Chủ tịch vừa nhắc tới hơn ba mươi năm trước, tôi đã quen biết với Người. Đúng thế! Cách đây ba mươi bốn năm, hồi còn ở Pari, tôi đã quen biết Hồ Chủ tịch. Lúc bấy giờ, Hồ Chủ tịch đã là người dẫn đường cho chúng tôi. Lúc đó, Người đã thành thuộc chủ nghĩa Mác, còn tôi thì mới vào Đảng Cộng sản. Hồ Chủ tịch là người anh cả của tôi”.

Không chỉ giữ mối quan hệ mật thiết với các đồng chí lãnh đạo của Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn luôn quan tâm tới những người dân Trung Quốc, những người từng giúp đỡ cán bộ Việt Nam khi cách mạng còn trứng nước. Làng Hạ Đống (huyện Long Châu, tỉnh Quảng Tây) là nơi kề cận biên giới Việt Nam. Người dân nơi đây đã sớm giác ngộ cách mạng, luôn một lòng một dạ ủng hộ, giúp đỡ cán bộ Việt Nam, trong đó có hai người là Nông Kỳ Chấn và Phan Toàn Chân. Nhà của Phan Toàn Chân là một trạm giao liên của các nhà cách mạng Việt Nam, nơi họ thường lui tới và được che chở, bảo vệ…

Tháng 2/1959, Phan Toàn Chân được mời sang thăm Việt Nam, được tiếp kiến Hồ Chủ tịch. Hồ Chủ tịch ân cần hỏi thăm sức khỏe, tình hình sản xuất và đời sống của gia đình Phan Toàn Chân và nhân dân ở Long Châu. Phan Toàn Chân đã có 20 ngày thăm Việt Nam và đến đâu cũng nhận được sự đón tiếp nồng ấm, chân thành.

Giữa tháng 3/1959, Phan Toàn Chân trở về Quảng Tây; ông nhận được một số món quà cùng một bức thư rất xúc động: “Kính gửi đồng chí Phan Toàn Chân. Trung ương Đảng chúng tôi tặng một số quà sau đây cho đồng chí. Nay chuyển đến đồng chí, trong đó có: Một xe đạp hiệu thống nhất, một bộ quần áo len, một cái va li da, 10 thước vải…”.

Nông Kỳ Chấn sau này trở thành Phó trưởng huyện Long Châu và cũng sang thăm Việt Nam, được yết kiến Hồ Chủ tịch và được người tặng quà.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa nhưng Người để lại những di sản vô giá cho nhân dân Việt Nam, trong đó có tình cảm quốc tế trong sáng với thế giới nói chung và Trung Quốc nói riêng. Đó cũng là nền móng để trong thế kỉ XXI, nhân dân hai nước Việt Nam – Trung Quốc tiếp tục đắp xây mối tình hữu nghị theo tinh thần 16 chữ vàng và bốn tốt, góp phần vào hòa bình, thịnh vượng của thế giới

Trần Duy Hiển

cand.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh hình ảnh dân tộc

Hồ Chủ tịch là người cha già của dân tộc Việt Nam. Ngót ba mươi năm bôn ba bốn phương trời, Người vẫn giữ thuần túy phong độ, ngôn ngữ, tính tình của một người Việt Nam. Ngôn ngữ của Người phong phú, ý nhị như ngôn ngữ dân quê Việt Nam; Người khéo dùng tục ngữ, hay nói ví, thường có lối châm biếm kín đáo và thú vị. Làm thơ, Người thích lối ca dao vì ca dao là Việt Nam cũng như núi Trường Sơn, hồ Hoàn Kiếm hay Đồng Tháp Mười vậy. Mấy mươi năm xa cách quê hương, Người không quên mùi vị những thức ăn đặc biệt Việt Nam như cà muối, dưa chua, tương ớt, và ngày thường bây giờ, Người vẫn ưa thích những thứ ấy. Ngay sau khi về nước, gặp Tết, Người không quên mừng tuổi đồng bào hàng xóm và quà bánh cho trẻ em, tuy chỉ có mấy đồng xu, nhưng cũng bọc giấy hồng đơn cẩn thận, tươm tất. Bình sinh như thế, đứng địa vị Chủ tịch Chính phủ kháng chiến kêu gọi quốc dân, Người dùng những lời nói thống thiết đi sâu vào tâm hồn Việt Nam: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước thì thương nhau cùng”.

Lối ăn ở của Hồ Chủ tịch giản dị như thế nào, chúng ta đã từng biết. Lúc ở chiến khu, Người sống chung với anh em trong một cơ quan, làm việc, học tập, ăn ở, sinh hoạt nhất nhất như anh em. Kể ra, Người có chỗ được biệt đãi: đó là bát nước cơm mà anh Lộc, đồng chí cấp dưỡng lành nghề và thân mến của chúng tôi lúc bấy giờ, bao giờ cũng để dành riêng cho Người, từ biên giới Cao Bằng cho đến Tân Trào, trước khi về Hà Nội. ở Hà Nội, Chủ tịch Chính phủ có phòng làm việc, phòng tiếp khách, nhiều khi chủ tọa những bữa tiệc long trọng, nhưng bình thường ngày hai bữa, Chủ tịch Chính phủ cùng nhân viên đều ăn chung. Nhiều lần, vì đến quá trễ, thức ăn không còn gì, Hồ Chủ tịch vẫn vui cười ăn đủ mấy bát cơm như thường lệ.

Người vẫn thích đi bộ, tắm sông, hút thuốc lá và thỉnh thoảng uống một ly rượu thuốc trong bữa cơm. Trước đây, Người đi bộ một ngày 50 cây số là thường và có thể đi như thế ngày nọ qua ngày kia. Lúc ở Côn Minh, sáng nào Người cũng đi bộ một vòng quanh thành phố. ở Liễu Châu, mùa đông, một hôm tướng Trương Phát Khuê đi ngựa dạo buổi sớm gặp Người tắm trên sông, Trương tướng quân lấy làm lạ một người phương Nam châu á chịu rét giỏi đến thế. ở Cao Bằng, có lúc cơ quan đóng tại một cái suối lớn vừa ở trong hang đá chảy ra, nước trong xanh biếc dưới bóng mát của rừng cây, Hồ Chủ tịch suốt ngày làm việc ở đó với cái máy chữ “Hét-mét” luôn đi theo Người từ năm 1938 đến khi về Hà Nội.

ở rừng, Hồ Chủ tịch chủ trương tránh ăn no, không ngủ trưa và hoạt động thân thể, buổi sáng thể dục, buổi chiều làm vườn, lúc cần đi vác củi cho đồng bào. Trong suốt thời gian ở thượng du Bắc Bộ trước cuộc khởi nghĩa, nhiều ngày Người luôn tay nắn một hòn đá tròn bầu dục, cốt để luyện gân tay và hoạt động cơ thể.
Người ít ưa dùng thuốc, chỉ lúc nào sức cơ thể chống không nổi bệnh thì mới dùng. ở Hà Nội, bác sĩ Tùng, bác sĩ Cẩn chuyên lo sức khỏe của Người, nhưng không mấy khi Người phiền đến. ở Pháp, anh em buộc bác sĩ Cưu ở bên cạnh Người, nhưng rồi bác sĩ làm việc văn phòng nhiều hơn việc thầy thuốc. Sinh hoạt chiến khu thường cực lắm. Có lần suốt mấy tháng mùa mưa, Hồ Chủ tịch ở trong một cái hang chật hẹp, ẩm thấp, ban đêm sâu bọ ở ngoài tràn vào.

Lúc ấy vì cơ sở quần chúng kém, nên dẫu ẩn nấp trong hang cùng mà cũng không yên, thường vẫn phải chạy “cảnh báo”. Hễ có “cảnh báo” là phải mang hết đồ đạc chạy lánh đến một chỗ an toàn hơn. Lúc ấy Hồ Chủ tịch yếu, nhưng bất kỳ đêm ngày, hễ có tin địch là mấy phút sau Người đã sẵn sàng trước anh em, tay sách máy chữ. Lúc đến Pháp, ngay hôm gặp đầu tiên, lối ăn ở giản dị của Hồ Chủ tịch làm cho kiều bào rất cảm động. Hôm ấy, tại Bi-a-rít, đại biểu kiều bào đến thăm người, hồi hộp và sung sướng. Khách đông, phòng khách không đủ ghế ngồi, giản dị Hồ Chủ tịch ngồi xuống sàn và mời mọi người ngồi thế nói chuyện. Đây không phải vị Chủ tịch Chính phủ, đây là Cha già của dân tộc ân cần và thân mật hỏi thăm đàn con bao năm lưu lạc ở quê người.

Hồ Chủ tịch, người giản dị ấy, cũng là người lịch sự một cách thanh tao cao quý và mọi người ngoại quốc đều có dịp tiếp chuyện Người đều ca ngợi cái phong độ thanh tao cao quý mà họ cho là đặc sắc của người phương Đông. ở chiến khu, trong cơ quan, Hồ Chủ tịch thường mặc một bộ đồ xanh, chân đi đất; về Hà Nội, Người mặc một bộ đồ Ka-ki chân đi giày vải. Nhưng khi sang Pháp thì Người mang giày da và mặc một bộ đồ nỉ, cổ cứng. ở Paris, có ngày Hồ Chủ tịch tiếp luôn ba bữa cơm khách, bữa sáng với bạn thân, bữa trưa với khách thường, bữa tối với khách đặc biệt, mỗi bữa có khi kéo dài 3 tiếng đồng hồ, nhưng Hồ Chủ tịch thủy chung vẫn ân cần niềm nở.

Đời sống của Hồ chủ tịch là một đời sống khắc khổ, cần lao và tranh đấu. Người lãnh tụ của một dân tộc mất nước không thể có một đời sống khác. Phải khắc khổ, cần lao và tranh đấu để mưu cầu hạnh phúc ngày mai. Có người e đời sống nghiêm khắc ấy không còn chỗ cho tình cảm. Nhưng chính Hồ Chủ tịch thường nói: người cách mạng là người rất giàu tình cảm, và vì giàu tình cảm nên làm cách mạng. Người mà cả dân tộc tôn làm vị Cha già của mình phải có lòng thương yêu mênh mông xúc động đến tâm can của mọi người. Trong thời kỳ bí mật, phút mặc niệm chiến sĩ cách mạng là lúc Hồ Chủ tịch rơi nước mắt. Tại Quốc hội, Hồ Chủ tịch vừa khóc vừa ôm hôn anh Nguyễn Văn Tạo sau khi anh đọc một bài diễn văn thống thiết về Nam Bộ.

Người xưa nói: Có việc phải lo, lo trước thiên hạ, có việc đáng vui, vui sau thiên hạ. Hồ Chủ tịch nói một cách giản dị và thống thiết hơn: “Một ngày đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”

Câu nói đó đã bộc lộ tâm trạng Người, mối tình cảm ruột thịt bao bọc trăm họ của đại gia đình Việt Nam.

Đối với người giản dị và lão thực ấy, một câu nói và một việc làm và có làm thì mới nói. Giản dị và lão thực trong sự ăn ở, tính tình, trong lời nói, viết, Người cũng giản dị và lão thực trong chủ trương chính trị nữa. Dân tộc Việt Nam bây giờ muốn gì ? Muốn thống nhất, độc lập, muốn ấm no, muốn biết chữ, muốn đời sống bớt tối tăm. Cho nên Hồ Chủ tịch chủ trương: đoàn kết kháng chiến, tăng gia sản xuất, bình dân học vụ, đời sống mới. Dân tộc Việt Nam quyết tâm và mỗi ngày tiến mạnh trên con đường sống còn sau lưng Hồ Chủ tịch.

Hồ Chủ tịch thật là hiện thân của dân tộc Việt Nam và mọi người Việt Nam đều thấy mình trong Hồ Chủ tịch.

Sức mạnh của Hồ Chủ tịch và sức mạnh của dân tộc Việt Nam là ở chỗ đoàn kết thống nhất ấy.

quangbinh.gov.vn

Bác Hồ rất yêu âm nhạc

Báo Việt Nam Độc Lập, số 117, ra ngày 1/2/1942, khoảng một năm sau ngày Bác Hồ trở về nước sau 30 năm bôn ba đi tìm đường cứu nước, có đăng bài ca đội tự vệ, do Bác sáng tác. Toàn văn bài ca như sau:

I

Gươm dao ta
Đem mài đi!
Mài cho bén,
Mài cho sắc
Nhật ta đâm,
Pháp ta chặt.

II

Sắp hàng ra!
Xung phong lên!
Người ta đông
Sức ta bền
Việc giải phóng,
Nhất định nên.

Đáng chú ý là lời dẫn của tác giả về cách hát: chia người làm hai tổ. Bốn câu trên tổ A hát trước, hát giọng cao (nếu có phụ nữ, thì phụ nữ là tổ A). Tổ B hát giọng thấp, theo sau. Ví dụ:

Tổ A hát: Gươm dao ta
Tổ B hát: Gườm dào tà.

Những chữ sắc, bén, đông, bền phải hát dài như: bé-én, sắ-ắc, đô-ông, bề-ền. Hai câu dòng sau cùng (ở mỗi đoạn) thì cả hai tổ đều hát như nhau. Chữchặt và chữ nên phải hát rất mạnh.

Vào thời gian ấy phần lớn người dân Việt Nam còn mù chữ, nói chi tới những chuyện “cao siêu” như biết đọc ký âm pháp. Nhưng do yêu cầu cần có những bài hát cách mạng, những bài thơ cách mạng dễ đọc, dễ hát, dễ phổ biến, nên mặc dù không phải là một nhạc sĩ chuyên nghiệp, Bác Hồ đã sáng tác bài thơ để hát (theo cách nói của Lữ Huy Nguyên) này để động viên, khuyến khích tinh thần cách mạng của bà con ta.

Trong lời ghi chú của tác giả bài thơ để hát này đã ghi những yếu tố âm nhạc, mà ngày nay người ta dùng những danh từ âm nhạc để diễn tả như:

– Cao độ: giọng cao, giọng thấp.

– Trường độ: những từ cần được kéo dài ra khi đọc hoặc hát như: bén-bé-én, sắc-sắ-ắc, đông-đô-ông, bền-bề-ền.

– Cường độ: chữ chặt và chữ nên phải hát rất mạnh.

– Hòa âm: hát bè.

– Cấu trúc của bài ca rất gọn gàng, câu ngắn chỉ ba chữ, dễ học, dễ nhớ.


Bác chơi guitar ở Hải Phòng (1963). Ảnh: TL.

Chúng tôi cũng muốn nói ngay rằng, Bác là người thuộc khá nhiều bài hát của nước Nga cách mạng, của Liên Xô. Đầu những năm 60 của thế kỷ trước, báoSao Đỏ của Hồng Quân Liên Xô từng tường thuật buổi gặp mặt giữa Bác và đồng chí Nguyên soái Liên Xô Kli-men Vô-rô-si-lốp (1881-1969), người mà Bác đã có dịp quen biết từ năm 1924, trong lần đầu tiên tới Liên Xô. Trong buổi tới thăm đó, hai vị lãnh tụ cao niên đã cầm tay nhau, say sưa hát những bài ca cách mạng của Liên Xô từ những năm 20, 30 của thế kỷ trước.

Còn chị An-na Xta-xi-a Va-xi-lốp-na và anh Đmi-tri Gri-gô-ri-ê-vích Đi-ô-mi-nưi, những công dân của Liên Xô, đã tâm sự: Năm 1960, trong dịp sang Mát-xcơ-va dự lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười, Bác Hồ đã có thư mời anh chị và cháu I-ra-ska, con gái của anh chị và là con đỡ đầu của Bác Hồ, tới gặp mặt. Cuộc gặp gỡ ấm cúng đó đã diễn ra vào ngày 13/11/1960 tại một biệt thự cổ kính ở phố A-lếch-xây Tôn-xtôi. Chị An-na kể lại:

Bác Hồ nói tiếng Nga thoải mái, tự nhiên như người Nga chúng ta vậy. Người biết nhiều thứ tiếng và coi tiếng Nga là tiếng mà người cách mạng nào cũng nên biết, vì đó là tiếng nói của Lê-nin. Người cũng biết những bài hát Nga. Người và chúng tôi đã cùng nhau hát bài Ca-chiu-sa và Chiều ngoại ô Mát-xcơ-va(1).


Bác cùng các em thiếu nhi Liên Xô. Ảnh: TL.

Chúng ta ai cũng biết những năm tháng sống và hoạt động ở Paris vào những năm cuối thập kỷ 1 và đầu thập kỷ 2 – thế kỷ 20, ngoài giờ làm việc, Bác đã tham gia những câu lạc bộ và vào các thư viện đọc sách để nâng cao trình độ về văn học, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật… Chính vì thế Bác đã tích lũy được một khối lượng kiến thức rộng lớn về nhiều mặt, về nhiều bộ môn nghệ thuật.

Bà Giô-tơ-vôn – phu nhân của cố Chủ tịch Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức, Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Dân chủ Đức Ôt-tô Grốt-tơ-vôn – đã có một bài hồi ký vô cùng xúc động về Bác Hồ của chúng ta vào tháng 5/1975 (do Trần Đương ghi), trong đó có một đoạn như sau: “… Bác và nhà tôi đã trao đổi rất nhiều về nghệ thuật. Tôi còn nhớ, một buổi tối, khi Bác tới, nhà tôi mời Bác nghe một đĩa hát thu bản nhạc giao hưởng số 9 của Bít-tô-ven sáng tác trong những năm 1822-1824. Sự xúc động lộ rõ trên gương mặt Bác. Trong những phút này, tôi lại thấy đôi mắt Bác mơ màng, tư lự, đúng là đôi mắt của nhà nghệ sĩ giàu cảm xúc. Nhìn gương mặt ấy, người ta có thể liên tưởng đến Lê-nin khi nghe bản nhạc Áp-pa-xi-ô-na-ta cũng của Bít-tô-ven. Khi bản nhạc vừa dứt, Bác thong thả nói:

– Quả đúng như Bít-tô-ven có lần nói: “Âm nhạc cần phải làm cho ngọn lửa từ trong tâm hồn kiên cường bừng cháy!”.

Người Việt Nam ta chắc ai cũng đã một lần nhìn thấy tấm ảnh nổi tiếng của nhà nhiếp ảnh Lâm Hồng Long: Bác Hồ chỉ huy dàn nhạc giao hưởng Việt Nam trong lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (1930-1960). Tôi là người may mắn chứng kiến cảnh tượng tuyệt vời ấy trong đêm hôm đó tại vườn Bách Thảo (Hà Nội).


Bác bắt nhịp bài ca Kết đoàn. Ảnh: Lâm Hồng Long.

Khi dàn nhạc giao hưởng gồm 120 nhạc công và đội đồng ca gồm hơn 800 diễn viên là thanh niên, học sinh, sinh viên Hà Nội đang sẵn sàng biểu diễn thì Bác Hồ và các vị khách quốc tế xuất hiện trước khu vực sân khấu. Tiếng hoan hô, tiếng vỗ tay như những đợt sóng truyền từ khu vực này đến khu vực khác.

Bác từ từ bước lên sân khấu, mượn nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu chiếc đũa chỉ huy trước con mắt tò mò và ngạc nhiên của mọi người, rồi Bác hỏi các nhạc công và các diễn viên: “Các cháu đã sẵn sàng chưa?” – mọi người vui vẻ trả lời: “Thưa Bác, đã sẵn sàng”. Bác nói tiếp: “Bây giờ chúng ta cùng hát và cùng biểu diễn bàiKết đoàn, chúng ta là sức mạnh!”. Mọi người chăm chú nhìn vào cánh tay chỉ huy của Bác. Sau một tích tắc im lặng, Bác vung cây đũa chỉ huy lên!… Và nhà nhiếp ảnh Hồng Long đã chớp được phút giây tuyệt vời đó!

Tôi cứ tưởng đó là bức ảnh duy nhất chụp Bác chỉ huy dàn nhạc, dàn đồng ca. Không phải! Gần đây, Trung Quốc phát hành một cuốn ảnh tuyệt đẹp và quý hiếm về Bác Hồ tại Trung Quốc và Hồng Kông. Trong tập ảnh cũng có một tấm ảnh chụp Bác Hồ đang “cầm càng” chỉ huy các thanh niên Trung Quốc hát. Quả là hết sức thú vị! Như vậy là Bác Hồ cũng phải biết cả bài hát Trung Quốc nữa. Có biết hát thì mới “cầm càng” được bài hát đó chứ? Tôi cứ tò mò muốn biết: đó là bài hát nào?


Bác cùng với thiếu nhi Trung Quốc. Ảnh: TL.

Một con người trong vòng 30 năm từng bôn ba khắp năm châu bốn biển, đã tích lũy cho mình một vốn văn hóa sâu rộng của cả Đông lẫn Tây, nhưng trong lòng vẫn đau đáu nhớ một giọng ru con của bà mẹ Việt Nam, nhớ từng câu Kiều. Thật xúc động khi đọc những dòng hồi ức sau đây của đồng chí Trần Lam, người từng hoạt động với Bác trong những ngày Người sống ở Thái Lan (1929): “Có một lần đi đến nửa đường thì trời tối. Bác và tôi ghé vào một nhà kiều bào người Bắc làm thợ mộc. Anh chị thợ mộc đón tiếp rất tử tế. Cơm nước xong, hai bác cháu nghỉ thì cũng vừa lúc chị thợ mộc ru cháu bé ngủ. Giọng chị ngâm Kiều rất hay, hai bác cháu lắng nghe, rồi ngủ đi bao giờ không biết. Sáng hôm sau, lúc đi đường, với một giọng âu yếm, Bác bảo tôi: Xa nhà chốc mấy mươi niên/ Tối qua nghe giọng mẹ hiền ru con!”.

Sau này, khi tuổi đã cao, Người vẫn còn nhớ từng câu dân ca, từng làn điệu hát phường vải mà Người từng được nghe, từng nhập tâm từ những ngày thơ ấu. Chị Minh Huệ, một diễn viên văn công, nhớ lại: “Khi Người về thăm quê hương xứ Nghệ sau hơn nửa thế kỷ xa cách, trong phần biểu diễn văn nghệ để chào mừng Bác, tôi đã thưa với Bác:

– Thưa Bác, bây giờ cháu xin hát điệu ru em, dân ca miền Trung theo lời cũ ạ.

Tôi cất giọng:

– A ờ ơ… Ru em em ngủ cho muồi

Bác sửa lại:

– Ru tam tam théc cho muồi (“tam” là tiếng miền Trung dùng để chỉ “em”, “théc” là “ngủ”).

Tôi hát lại:

– Ru tam tam théc cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

Bác sửa lại:

– Để “mạ” chứ không phải để “mẹ”.

Tôi sung sướng hát tiếp:

– Để mạ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau chợ Sải, mua cầu chợ Dinh.

Bác cười, ân cần sửa nốt:

– Mua cau Cam Phổ chứ không phải chợ Sải.(2)

Người không chỉ nhớ những làn điệu dân ca ở quê hương xứ Nghệ, Người còn yêu thích những làn điệu dân ca ở các vùng quê khác nhau của đất nước ta. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã kể lại trên báo Văn Nghệ số 36 (tháng 10/1952) câu chuyện sau đây: “Giữa hai phần nói chuyện về: “cách viết” tối 17/8/1952, trong giờ nghỉ anh chị em hò những điệu hò bình dân, ca những lời ca dân tộc cò lả, hò giã gạo, chèo, ngâm thơ. Thỉnh thoảng Bác hỏi: – Cô, chú nào ngâm sa mạc? Bác thích nghe những điệu quen thuộc, nhẹ nhàng đó”.


Bác Hồ tại phòng khách Phủ Chủ tịch. Ảnh TL.

Bác không chỉ yêu mến những làn điệu dân ca của nước ta, Bác còn yêu thích cả những nhạc cụ dân tộc nữa. Nghệ sĩ sáo Đinh Thìn, diễn viên Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam, người đã nhiều lần biểu diễn cho Bác Hồ nghe, đã kể lại câu chuyện thú vị sau đây: “Hôm đó Bác tiếp khách riêng của Bác. Trong phòng người nghe không đông lắm, tôi thổi bài Nhớ về Nam. Bác ngồi ngay trước mặt tôi. Bác nghe chăm chú. Thổi xong tôi cúi đầu chào, định quay về chỗ ngồi, thì Bác đứng dậy, Bác cầm xem chiếc sáo của tôi, Bác hỏi:

– Chiếc sáo này cháu tự làm lấy hay mua?

– Thưa Bác cháu làm lấy ạ.

– Tự làm như thế là giỏi. Làm sáo khó lắm không cháu? Trong kháng chiến chống Pháp, Bác thấy các chú bộ đội làm sáo nhanh lắm. Đi hành quân, đi tập đều mang theo, thổi rất vui…

Bác để sáo lên miệng thổi. Không khí trong phòng bấy giờ như ngưng đọng lại, mọi người nín thở chờ đợi tiếng sáo của Bác. Bác lắng hơi, nhẹ thổi. Hơi chạy vào trong ống sáo, thoát ra các ngón tay của Bác, gợi thành một làn điệu dân ca. Bác thổi vừa dứt, tiếng vỗ tay trong phòng rộn lên, vừa ngạc nhiên, vừa sung sướng. Bác bỏ ống sáo xuống, lấy dáng điệu, cúi chào như một diễn viên thực thụ. Tiếng vỗ tay, tiếng cười vui vẻ lại vang lên. Bác cũng vui vẻ cười”.

Cụ Hoàng Đạo Thúy, một nhà trí thức lớn của ta, từng giữ trọng trách Cục trưởng Cục Thông tin Liên lạc, Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Thi đua Toàn quốc, có lần kể lại chuyện thời ở chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp:

“Một lần, Cụ Hồ tóm lấy cánh tay tôi:

– Tối hôm nay, cụ tổ chức lửa trại nhé!

– Cụ cho lệnh tổ chức, tôi xin làm. Nhưng thưa cụ, ở lửa trại thì người giữ lửa có quyền to lắm, ai cũng phải nghe đấy.

– Nhất định thế!

Bọn chúng tôi vẫn có cái thói cứ hay “chọc” Cụ một cách kính mến, không dám làm Cụ bí, vì Cụ có bí bao giờ đâu, nhưng để xem Cụ đối phó thế nào, rồi ngồi cười cùng nhau, lý thú về cách trả lời của Cụ. Cụ cũng hiểu thế và mỉm cười.

Mọi người đã ngồi quanh đống lửa. Tôi châm lửa và tuyên bố:

– Thi hành quyền lực của trùm lửa trại, tôi xin đề nghị Cụ Chủ tịch hát mở đầu cuộc vui.

Mọi người nhìn cả về phía Cụ. Cụ nhẹ nhàng đứng dậy, vừa đi quanh vừa hát:“Anh hùng xưa nhớ hồi là hồi niên thiếu/Dấy binh lấy lau làm cờ/Quên mình là mình giúp nước…”.

Già trẻ ai nấy con mắt long lanh, nhìn âu yếm Cụ Chủ tịch của mình, mà như thế là cuộc lửa trại vui lên…”

Chúng ta đã rất quen với hình ảnh Bác Hồ tặng hoa cho những diễn viên có những tiết mục hát, múa, chơi đàn, thổi sáo, ngâm thơ…, thường chỉ là một bông hồng, một nụ hôn thân thiết, nhưng đã làm cho các diễn viên trong và ngoài nước nhớ suốt đời.

Chính do tâm hồn nghệ sĩ và lòng yêu âm nhạc của Bác mà ngày nay chúng ta được thưởng thức rất nhiều câu thơ và những đoạn văn, những lời phát biểu có nhắc tới âm nhạc, giàu chất thơ, chất nhạc.

Sau này, trong tác phẩm Nhật ký trong tù, đã bao nhiêu lần Bác nói về lời ca, câu hát, điệu nhạc, những thứ đã động viên tinh thần, nghị lực của Bác trong những giờ phút khó khăn, gian khổ nhất, khi cái chết kề bên. Trong ngục tù u ám của huyện Tĩnh Tây, Người vẫn thấy có những lúc khắp nơi “vang tiếng dân ca, rộn tiếng ngâm”. Người viết về bạn tù thổi sáo:

Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu
Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.

(Nam Trân dịch)

Mặc dù tay bị trói, chân bị còng, nhưng Người vẫn nghe tiếng chim hót:“Oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần” (Đêm ngủ ở Long Tuyền);“Mặc dù bị trói chân tay/ Chim ca rộn núi, hướng bay ngát rừng/ Vui say ai cấm ta đừng/ Đường xa âu cũng bớt phần quạnh hiu” (Trên đường – Nam Trân dịch).

Về việc chọn Quốc ca thì theo Bác Quốc ca phải sâu sắc về nội dung và đẹp về lời ca. Bác đồng ý chọn bài Tiến quân ca, một bài hành khúc nghiêm trang, hào hùng, nhịp lại thong thả, dễ hát. Bác tham gia ý kiến sửa lại lời ở một số câu cho chính xác hơn, đẹp hơn, phù hợp với Quốc ca như: Đoàn quân Việt Minh… sửa là Đoàn quân Việt Nam…Thề phanh thây uống máu quân thù sửa lại là Đường vinh quang xây xác quân thù.


Tiến quân ca – Quốc ca Việt Nam.

Ngày 2/9/1945, Tiến quân ca được vang lên tại Quảng trường Ba Đình, trong ngày Bác đọc Tuyên ngôn Độc lập, trở thành Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa(3).

Nhạc sĩ Trần Hoàn đã viết một ca khúc rất đẹp Lời Bác dặn trước lúc đi xamà chúng ta ai cũng yêu thích. Nội dung bài hát dựa vào một câu chuyện có thật: Ngày 27/8/1969, sức khỏe của Bác đã kém lắm, nhưng Bác vẫn giữ yên lặng, không hề rên la kêu đau. Khoảng 9 giờ sáng, y tá Nguyễn Thị Oanh đưa thuốc vào mời Bác uống và nhẹ nhàng cắt móng tay cho Bác, Bác đã hỏi chuyện cô và bảo cô hát cho Bác nghe. Y tá Nguyễn Thị Oanh đã hát bài Chiến sĩ quân y làm theo lời Bác, Bác nhìn Oanh âu yếm, khích lệ. Oanh đã hát tiếp bài dân ca Quan họ Bắc Ninh Người ơi, Người ở đừng về, nghe xong Bác rất hài lòng, mỉm cười và bảo đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác, tặng một bông hoa cho Oanh. Đó là bông hoa cuối cùng của Bác tặng một ca sĩ nghiệp dư, trước lúc Bác vĩnh viễn ra đi(4)

Có một chuyện liên quan tới lòng yêu âm nhạc của Bác Hồ mà mãi tới tháng 9/1969, chúng ta mới được biết qua bài báo của nhà báo Pháp nổi tiếng, bà Ma-đơ-len Ríp-phô (Madeleine Riffaud), người con gái đỡ đầu của Bác, đăng trên báo L’Humanité ngay sau ngày Bác mất. Bà Ma-đơ-len Ríp-phô kể rằng: Có một lần Bác Hồ bảo tôi: “Con ạ, nếu con muốn làm vui lòng Bác thì hãy gửi cho Bác cái đĩa hát có những bài trước đây của Mô-rít Sơ-va-li-ê (Maurice Chevalier). Hồi ở Paris xưa kia Bác vẫn thường nghe, hồi ấy con còn chưa ra đời”.

Trở về nước, bà tìm mãi những đĩa hát ấy mà không thấy. Mãi tới dịp kỷ niệm thượng thọ 80 tuổi Mô-rít Sơ-va-li-ê, người ta mới tái bản những đĩa hát đó. Bà mua ngay và gửi biếu Bác Hồ. Hai ngày sau khi Bác qua đời, Ma-đơ-len Ríp-phô nhận được một bức thư của Tê-ô Rông-cô, phóng viên thường trú của báoNhân Đạo tại Hà Nội. Lá thư được viết trước đó ba tuần, trong đó kể rằng: “Bác Hồ đã nhận được cái đĩa hát. Bác đã nghe các đĩa đó rất thích thú và rất hài lòng”.

Năm 1946, khi Bác Hồ sang thăm chính thức nước Pháp theo lời mời của chính phủ Pháp, các cháu thiếu nhi con em Việt kiều mang hoa tới tặng Người và hát những bài hát Việt Nam mà các cháu mới học được để chào mừng Bác. Bác rất xúc động và hỏi các cháu:

– Các cháu có biết bài Quốc ca của Pháp không?

Các em đồng thanh trả lời:

– Thưa Bác có ạ.

– Thế thì các cháu hát xem nào!

Và bài Marseillaise đã hùng dũng vang lên trong căn phòng qua giọng hát trong trẻo của các cháu.

Trở lại với câu chuyện về đĩa hát của Mô-rít Sơ-va-li-ê. Cuối cùng bài báoBác Hồ vĩnh biệt chúng ta giữa những ngày thu, Ma-đơ-len Ríp-phô đã xúc động thốt lên: “Chúng tôi tự hào rằng đồng chí Hồ Chí Minh yêu mến nhân dân Pháp. Vì thế chúng tôi càng thấy rõ trách nhiệm của mình trước những nỗi đau mà nước Việt Nam đang phải chịu đựng. Chúng tôi thề sẽ xứng đáng với tình bạn của một trong số những nhà cách mạng vĩ đại nhất của thời đại hiện nay, chúng tôi sẽ ra sức chiến đấu bên cạnh nhân dân Việt Nam”.


(1) Những người con đỡ đầu của Bác Hồ (Trần Đương), NXB Quân Đội Nhân Dân, tr.57.
(2) Bác Hồ với văn nghệ sĩ, tr.231-232.
(3) Chuyện kể về Bác Hồ, tập 1, NXB Nghệ An, tr.133-135.
(4) Chuyện thường ngày của Bác Hồ (Hồng Khanh), NXB Thanh Niên, tr.201.

honvietquochoc.com.vn

Hai điều tâm huyết của Bác Hồ

“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Đó là hai câu mở đầu bài nói của Bác Hồ tại lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc ngày 13-9-1958, đăng trên báo Nhân Dân số 1645, ngày 14-9-1958. Điều Bác nghĩ suy, trăn trở nhiều nhất là việc “trồng người”. Bác nói với anh chị em giáo viên: “Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà. Nhân dân, Đảng, Chính phủ giao các nhiệm vụ đào tạo thế hệ tương lai cho các cô, các chú. Đó là một trách nhiệm nặng nề, nhưng rất vẻ vang. Mong mọi người phải cố gắng làm tròn nhiệm vụ.

Tất cả các giáo viên chớ nên cho học thế này đã là đủ, mà phải tiếp tục học tập thêm để tiến bộ mãi”(1).

10 năm sau, tháng 10-1968, trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, bắt đầu năm học mới, Bác Hồ lại nhắc nhở: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt. Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hoá và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật”…(2).

Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó.

“Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta, do đó các ngành, các cấp đảng và chính quyền địa phương phải thật sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới”(3).

Chúng ta vui mừng nhìn lại chặng đường đã qua, nhất là từ khi nước nhà thống nhất, ngành giáo dục đã trưởng thành, nhiều thế hệ thanh thiếu nhi đã lớn lên cùng đất nước, có cống hiến xứng đáng trong sự nghiệp thống nhất vẹn toàn đất nước, xây dựng và đổi mới đất nước.

Chúng ta cũng nghiêm khắc nhìn thẳng vào sự thật, thấy rõ những khuyết tật không nhỏ đang tồn tại trong xã hội, trong nhà trường làm ảnh hưởng xấu tới sự nghiệp giáo dục toàn diện thế hệ trẻ để từ đó tìm biện pháp sửa chữa, tiến bộ.

Cuối năm 1959, nhân có phong trào thi đua mừng xuân, mừng Đảng 30 tuổi, Bác Hồ đã dựa vào lệ ưa thích trồng cây của nhân dân để hướng dẫn một cách thi đua thiết thực, có hiệu quả kinh tế. Người kêu gọi: “Muốn làm nhà cửa tốt, phải ra sức trồng cây”(4) và Người phát động “Tết trồng cây”.

Bác Hồ cho rằng trồng cây là “việc… tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”(5). Người ước tính “Mỗi tết trồng được độ 15 triệu cây”, “trong mười năm nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn”(6).

Người luôn biểu dương những địa phương, đơn vị, cá nhân trồng cây tốt. Người cũng nhắc nhở những địa phương, những hợp tác xã chưa quan tâm đến việc tổ chức “Tết trồng cây”. Người đặc biệt lưu ý “phải liên hệ chặt chẽ “Tết trồng cây” với kế hoạch trông cây gây rừng của Nhà nước. Nhưng không nên lẫn lộn số cây “tết” với số cây của kế hoạch và phải “xem trọng chất lượng, nghĩa là “trồng cây nào, chắc cây ấy”(7).

Sau đó, Người còn “Thêm vài ý kiến về Tết trồng cây: “Có nơi nhầm cho rằng Tết trồng cây chỉ một đợt và một năm thôi; chứ không hiểu rằng Tết trồng cây cũng là một kế hoạch kinh tế lâu dài và liên tục”(8). “Tết trồng cây là một việc quan trọng… xây dựng nông thôn mới…”(9).

Nói chuyện với đồng bào thôn Lạc Trung (Vĩnh Phú) Bác Hồ lại nhấn mạnh: “Muốn làm nhà thì phải có gỗ. Muốn có gỗ thì phải hăng hái trồng cây. Mọi người cố gắng trồng nhiều cây thì trong sáu, bảy năm nữa, cả làng sẽ có đủ cây để làm nhà mới…”(10). Nhưng “cần phải có kế hoạch trồng cây và chăm sóc cây ở đường cái. Cần giáo dục các em thiếu nhi có ý thức bảo vệ cây, chớ để trâu bò phá hoại cây”(11). Nhiều lần Người đánh giá: “Sở dĩ Tết trồng cây đã trở nên một phong trào quần chúng mạnh mẽ, là vì mọi người đều thấy lợi ích thiết thực và lâu dài của nó”(12). Bác cũng nhắc lại kinh nghiệm trồng cây tốt của thôn Lạc Trung (Vĩnh Phú): “Cử những cụ già hăng hái lập thành những tổ chuyên trách trồng cây, các xã viên đều tuỳ khả năng mà giúp sức, các em nhi đồng thì có những đội bảo vệ cây cối, Tết trồng cây cũng như mọi việc khác, các cấp uỷ đảng phải lãnh đạo cụ thể và chặt chẽ thì sẽ thành công”(13). Bác nhắc nhở đồng bào, con cháu:

“Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân…”(14).

Tết trồng cây là ngày mở đầu cho việc trồng cây suốt cả năm đã trở thành một tục lệ tốt đẹp của nhân dân ta”(15). Bác Hồ đã nêu gương “Anh hùng trồng cây Nguyễn Văn Tần, cán bộ miền Nam tập kết ở Vĩnh Phú, cụ Nguyễn Văn Quắc, 74 tuổi, ba năm liền chiến sĩ thi đua về trồng cây ở Ninh Bình, ông Hoàng Đồng Hán ở Quảng Ninh, cụ Sùng Chín Tín ở Hà Giang, cụ Nông Quảng Liên ở Lạng Sơn…”(16). Người nhắc nhở: “Kinh nghiệm cho thấy rằng mọi người đều nên tham gia trồng cây, nhưng lực lượng các cụ phụ lão có tổ chức là quan trọng và các cháu thiếu nhi là lực lượng góp phần đắc lực” (17). Ngày 16-2-1969 (mùng Một Tết Kỷ Dậu) Bác Hồ đã trồng cây trên đồi cây xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (cũ). Cây đa Bác trồng năm xưa hiện đang toả bóng xanh tươi, râm mát cả một vùng. Nhiều đoàn khách quốc tế đến thăm quan đã chụp ảnh lưu niệm dưới gốc cây đa này để tưởng nhớ Bác Hồ-người Việt Nam tiêu biểu quan tâm bảo vệ môi trường sống của đất nước và nhân dân. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng còn cho biết: Tháng 7-1969, nằm trên giường bệnh, Bác còn nhắc nhở Đảng bộ Nghệ An cần “có kế hoạch trồng cây bảo vệ rừng”.

Hai điều Bác Hồ tâm huyết cũng chính là những điều tâm huyết của mỗi người Việt Nam yêu nước và có trách nhiệm. Học và làm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta phải tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả việc trồng Người và trồng cây.

_____

(1, 4, 5, 6) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 9, tr.222, 453, 558.
(2, 3, 15, 16, 17) Sđd, tập 12, tr.403, 404, 440, 441.
(7, 8, 9, 10, 11, 12)  Sđd, tập 10, tr.110, 258, 263.
(14) Sđd, tập 11, tr.356.

Mai Trang

xaydungdang.org.vn

Tóm tắt cuộc đời hoạt động Cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

THỜI THƠ ẤU VÀ THANH NIÊN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
(1890-1911)

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 nǎm 1890 tại quê ngoại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nhà nho.

Thân phụ Chủ tịch Hồ Chí Minh là ông Nguyễn Sinh Sắc, sinh nǎm 1862 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ nhưng ông sớm có ý chí tự lập, thông minh, ham học.

Nǎm 1901 Nguyễn Sinh Sắc thi Hội và đậu Phó bảng. Tuy đỗ cao nhưng ông vẫn sống rất thanh bạch, khiêm tốn, ghét thói xu nịnh, cam phận của các quan lại trong triều đình Huế. Ông chỉ làm quan trong một thời gian ngắn và sau đó sống bằng nghề dạy học, bắt mạch bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Ông đã đi nhiều nơi, liên lạc với những người yêu nước, tuyên truyền đoàn kết, kêu gọi nhân dân sống có tình nghĩa thủy chung. Tư tưởng yêu nước tiến bộ, nhân cách cao thượng của ông đã ảnh hưởng rất sâu sắc đến những người con. Ông qua đời tại thị xã Cao Lãnh (Đồng Tháp) vào nǎm 1929, thọ 67 tuổi.

Thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh là bà Hoàng Thị Loan sinh nǎm 1868 trong một gia đình nho học. Bà là một phụ nữ thông minh, cần cù chịu khó, thương yêu chồng con và giàu lòng nhân ái. Bằng nghề làm ruộng và dệt vải bà đã hết lòng chǎm lo cho chồng và các con. Cuộc đời của bà tuy ngắn ngủi nhưng đã để lại hình ảnh về một phụ nữ Việt Nam sống có tình nghĩa và có ảnh hưởng rất lớn tới tư cách của các con mình. Bà Hoàng Thị Loan qua đời tại Huế nǎm 1901, lúc 33 tuổi.

Chị gái Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nguyễn Thị Thanh, sinh nǎm 1884. Chị đã tham gia nhiều phong trào yêu nước, nhiều lần bị thực dân Pháp và triều đình phong kiến bắt giam. Nguyễn Thị Thanh qua đời tại quê hương nǎm 1954, thọ 70 tuổi.

Anh trai Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Khiêm, sinh nǎm 1888. Từ tuổi thanh niên, Nguyễn Sinh Khiêm đã đi nhiều nơi truyền thụ kiến thức, mở mang vǎn hoá. Do tham gia các hoạt động yêu nước chống thực dân và phong kiến nên Nguyễn Sinh Khiêm đã từng bị tù đày nhiều nǎm. Nguyễn Sinh Khiêm qua đời nǎm 1950, thọ 62 tuổi.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TIẾP NHẬN CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
VÀ KHẲNG ĐỊNH CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
(1911-1920)

Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam do Nguyễn A'i Quốc gửi đến Hội nghị Véc-xây (Versailles)

Ngày 5 tháng 6 nǎm 1911, với bí danh Vǎn Ba, Nguyễn Tất Thành(1) nhận làm phụ bếp cho tàu Amiran Latusơ Tơrêvin (Amiral Latouche Tréville) của hãng Nǎm sao, rời Sài Gòn đi Mác-xây (Marseille) Pháp, bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước. Từ nǎm 1911 đến nǎm 1920, Nguyễn Tất Thành đã đến nhiều nước ở châu Âu, châu Phi , châu Mỹ, nghiên cứu và học hỏi để quyết định con đường Cứu nước.

Cuối nǎm 1917, Nguyễn Tất Thành từ Anh trở lại Pháp. ở đây anh được biết ở nước Nga V.I Lênin đã lãnh đạo cách mạng thành công, sáng lập Nhà nước công nông đầu tiên trên thếgiới, bảo vệ quyền lợi của đại đa số nhân dân lao động. Tin vui ấy đã cổ vũ lòng hǎng hái của Nguyễn Tất Thành.

Nǎm 1918, chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc. Nǎm 1919 các nước đế quốc thắng trận họp Hội nghị Véc-xây (Versailles). Nhân dịp này thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn A’i Quốc (tên mới của Nguyễn Tất Thành) đã gửi tới Hội nghị bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam.

Tháng 7 nǎm 1920 qua báo Nhân đạo (L’Humanité) Pháp, Nguyễn A’i Quốc được đọc Luận cương của V.I Lê nin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Sau này nhớ lại niềm sung sướng khi đọc Luận cương của V. I Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Luận cương của V. I Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên nhu đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ.! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta.”

Nguyễn A'i Quốc phát biểu tại Đại hội XVIII Đảng Xã hội Pháp họp tại thành phố Tours nǎm 1920

Nguyễn A’i Quốc là đại biểu duy nhất của nhân dân Đông Dương tham dự Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp tại thành phố Tua (Tours). Tại Đại hội này Anh đã cùng với những nhà hoạt động chính trị và vǎn hoá nổi tiếng của Pháp như: Macxen Casanh (Marcel Cachin), Pôn Vayǎng Cutưyariê (Paul Vaillant Couturier)… bảo vệ chủ nghĩa Mác, chống lại những người cơ hội. Trên diễn đàn của Đại hội, Nguyễn A’i Quốc đã tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương, kêu gọi giai cấp công nhân và nhân dân Pháp ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và nhân dân các thuộc địa khác. Người đề nghị: “Đảng xã hội cần phải hoạt động một cách thiết thực để ủng hộ những người bản xứ bị áp bức … Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộc địa. Chúng tôi thấyrằng việc Đảng xã hội gia nhập Quốc tế thứ ba có nghĩa là Đảng hứa một cách cụ thể là từ nay Đảng sẽ đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa“. Cũng tại Đại hội này Người đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Sau Đại hội Tua, người cộng sản Việt Nam đầu tiên Nguyễn A’i Quốc bắt tay ngay vào hoạt động nhằm đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân các thuộc địa đấu tranh chống áp bức, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐẤU TRANH BẢO VỆ VÀ VẬN DỤNG SÁNG TẠO
ĐƯỜNG LỐI CỦA V.I LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ THUỘC ĐỊA
(1920-1924)

Bìa sách "Bản án chế độ thực dân Pháp"

Nǎm 1921, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp thành lập Hội liên hiệp thuộc địa nhằm tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạng giải phóng dân tộc Điều lệ của Hội nêu rõ: “Mục đích của Hội là tập hợp và hướng dẫn cho mọi người dân các xử thuộc địa hiện sống trên đất Pháp để soi sáng cho những người dân ở thuộc địa về tình hình mọi mặt ở nước Pháp nhằm mục đích đoàn kết họ; thảo luận và nghiên cứu tất cả những vấn đề chính trị và kinh tế của thuộc địa”. Tuyên ngôn của Hội kêu gọi nhân dân thuộc địa đoàn kết đấu tranh tự giải phóng và nhấn mạnh “Vận dụng công thức của Các Mác chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện bằng sự nỗ lực của bản thân anh em. Hội liên hiệp thuộc địa thành lập chính là để giúp đỡ anh em trong công cuộc ấy“.

Để đẩy mạnh công tác tuyên truyền và vận động cách mạng ở các thuộc địa, Hội liên hiệp thuộc địa đã xuất bản báo Le Paria (Người cùng khổ). Nguyễn A’i Quốc là linh hồn của tờ báo, vừa là chủ nhiệm, kiêm chủ bút, thủ quỹ, báo xuất bản bằng tiếng Pháp nhưng ở trang đầu còn có tên báo bằng chữ ả rập và chữ Hán. Số 1 của tờ báo ra ngày 1 tháng 4 nǎm 1922, trong đó có lời kêu gọi nêu rõ: Báo Le Paria ra đời do sự thông cảm chung của các đồng chí ở Bắc Phi, Trung Phi và Tây Phi thuộc Pháp, ở Ma-đa-gat-xca, ở Đông Dương, Ǎng ti và Guyannơ… Báo kêu gọi họ đoàn kết lại để đấu tranh cho sự tiến bộ về vật chất và tinh thần của chính họ, hô hào họ tổ chức lại nhằm mục đích giải phóng những người bị áp bức khỏi những lực lượng thống trị, thực hiện tình yêu thương và hữu ái… Báo Le Paria là vũ khí chiến đấu. Sứ mệnh của nó đã rõ ràng: giải phóng con người.

Tác phẩm của Nguyễn A’i Quốc “Bản án chế độ thực dân Pháp” được xuất bản vào cuối nǎm 1925. Nhiều bài trong tác phẩm đã được đǎng báo Le Paria và một số báo, tạp chí ở Pháp và Liên Xô. Bằng những chứng cớ và số liệu cụ thể, những người thật việc thật Nguyễn A’i Quốc đã thức tỉnh nhân dân các thuộc địa, đồng thời chỉ ra con đường đấu tranh của cách mạng thuộc địa, Nguyễn A’i Quốc chỉ rõ: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi thì cái vòi còn lại kia sẽ tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra“.

Nhà số 13 và 13/1 (nay là 248-250) đường Vǎn Minh, (Quảng Châu), nơi Nguyễn Ái Quốc mở lớp huấn luyện cán bộ cách mạng Việt Nam

Trong bài viết nhan đề “Đông Dương” đǎng trong Tạp chí Cộng sản (La Revue Communiste) số 15 tháng 5 nǎm 1921, Nguyễn A’i Quốc nhấn mạnh : “Ngày mà hàng trǎm triệu nhân dân châu A’ bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc họ có thể giúp nhũng người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn“.

Tháng 6 nǎm 1923, được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn A’i Quốc rời nước Pháp sang Liên Xô. Được thực tiễn cách mạng Nga lúc đó cổ vũ, Nguyễn A’i Quốc kiên trì đấu tranh bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự chú ý của Quốc tế Cộng sản tới phong trào đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa.

Nguyễn A’i Quốc đặc biệt quan tâm tới tình cảnh của người nông dân trong các nước thuộc địa. Họ chiếm đại đa số trong xã hội và cách mạng thuộc địa không thể thắng lợi nếu không có sự tham gia của đông đảo nông dân. Tại Hội nghị lần thứ I Quốc tế Nông dân (tháng 10 nǎm 1923) Nguyễn A’i Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân và được cử vào đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Người còn được mời làm chuyên gia của Ban thư ký giúp Hội đồng chuẩn bị nội dung cho các cuộc họp và là chuyên gia về những công việc liên quan đến các thuộc địa.

Người viết nhiều bài báo về tình cảnh nông dân Bắc Phi, nông dân Trung Quốc, nông dân Việt Nam. Trong bài phát biểu tại Hội nghị Quốc tế Nông dân, Nguyễn A’i Quốc đã tố cáo những thủ đoạn thực dân để biến nông dân thành nô lệ với hai bàn tay trắng. Vì vậy người nông dân không còn đường sống mà phải đấu tranh, họ là lực lượng cách mạng vô cùng to lớn. Kết thúc bài phát biểu Nguyễn A’i Quốc kêu gọi: “Thưa các đồng chí, tôi phải nhắc lại với các đồng chí rằng Quốc tế của các đồng chí chỉ trở thành một Quốc tế thật sự khi mà không những nông dân phương Tây, mà cả nông dân ở phương Đông, nhất là nông dân ở các thuộc địa là những người bị bóc lột và bị áp bức nhiều hơn các đồng chí, đều tham gia Quốc tế của các đồng chí“.

Trong các bài phát biểu tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (nǎm 1924) Nguyễn A’i Quốc đã đề cập vấn đề về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc, kêu gọi sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới với cách mạng thuộc địa. Tại phiên họp XXV ngày 3 tháng 7 nǎm 1924 Nguyễn A’i Quốc chỉ rõ: “Trong tất cả các thuộc địa Pháp, nạn nghèo đói đều tǎng, sự phẫn uất ngày càng lên cao. Sự nổi dậy của nông dân bản xứ đã chín muồi. Trong nhiều nước thuộc địa họ đã vài lần nổi dậy, nhưng lần nào cũng bị dìm trong máu. Nếu hiện nay nông dân vẫn còn ở trong tình trạng tiêu cực thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức , thiếu người lãnh đạo. Quốc tế cộng sản phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ lãnh đạo cho họ và chỉ cho họ con đườngđi tới cách mạng và giải phóng“.

Cuối nǎm 1924 Nguyễn A’i Quốc yêu cầu được trở về châu A’ để thực hiện hoài bão giải phóng nhân dân các dân tộc thuộc địa, trong đó có nhân dân Việt Nam

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH SÁNG LẬP CHÍNH ĐẢNG CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM
(1924-1930)

Bìa sách "Đường Cách mệnh" - Tác phẩm lý luận cách mạng Việt Nam

Ngày 11 tháng 11 nǎm 1924 Nguyễn A’i Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc). Trong báo cáo gửi Chủ tịch Đoàn quốc tế cộng sản ngày 18 tháng 12 nǎm 1924, Nguyễn A’i quốc đã thông báo về việc đã tiếp xúc với nhóm những người Việt Nam yêu nước ở Quảng Châu để huấn luyện về phương pháp hoạt động tổ chức và sau ba tháng học xong sẽ trở về Đông Dương, và có một đoàn khác sang. Người nhấn mạnh: “Trong lúc này, đây là biện pháp duy nhất“.

Nguyễn A’i Quốc đã cùng một số đồng chí trực tiếp giảng bài cho các lớp huấn luyện. Những bài giảng của Người được tập hợp in thành sách mang tên “Đường Cách mệnh” xuất bản nǎm 1927. Một trong những vấn đề đầu tiên Nguyễn A’i Quốc đặc biệt quan tâm là đào tạo những người tự nguyện hy sinh phấn đấu suốt đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người; hiểu lý luận Mác – Lênin; biết đoàn kết và tổ chức nhân dân cùng phấn đấu vì sự nghiệp chung. Phân tích những bài học kinh nghiệm của nhiều cuộc cách mạng trên thế giới, Nguyễn A’i Quốc nêu rõ cách mạng Việt Nam phải theo gương cách mạng Nga đánh đuổi đế quốc giành độc lập dân tộc, đánh đổ phong kiến tay sai đem lại ruộng đất cho nông dân.

Người nói: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật… Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công phải lấy dân chúng làm gốc, phải có đảng vững bền“.

Tháng 6 nǎm 1925, trên cơ sở số cán bộ được huấn luyện, Nguyễn A’i Quốc thành lập Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng”, tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 21 tháng 6 nǎm 1925, báo “Thanh niên” ra đời. Đây là tờ báo cách mạng làm nhiệm vụ tuyên truyền giới thiệu về chủ nghĩa Lênin và cách mạng Tháng Mười Nga; giải thích đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam. Báo là người tuyên truyền tập thể, người cổ động và tổ chức tập thể, góp phần quan trọng vào việc xúc tiến thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 5 nǎm 1927, Nguyễn A’i Quốc, rời Quảng Châu, đi Mátxcơva, sau đó đi Béc lin, tham dự Hội nghị Ban chấp hành mở rộng của Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc tại Brúc xen (Bỉ), đi Y’ và trở về Xiêm (Thái Lan). Cuối nǎm 1929, Người trở lại Trung Quốc, triệu tập Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào cầu nǎm 1930

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH – NGƯỜI TỔ CHỨC VÀ LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THẮNG LỢI
VÀ SÁNG LẬP NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
(1930-1945)

Sau cao trào 1930-1931, sự khủng bố của thực dân Pháp càng gắt gao hơn, nhiều chiến sĩ cách mạng bị bắt bớ, tù đày, giết hại. Ngày 6 tháng 6 nǎm 1931, Nguyễn A’i Quốc bị chính quyền Anh bắt giam trái phép tại Hồng Kông (Trung Quốc).

Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945

Cuối nǎm 1933, Nguyễn A’i Quốc rời Hồng Kông. Đầu nǎm 1934 Người trở lại Liên Xô. Tại đây Người vào học trường Quốc tế Lênin, nghiên cứu ở Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, đồng thời tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước trong hnh hình chủ nghĩa phát xít đã công khai đàn áp mọi phong trào dân chủ và hoà bình. Trong nhiều tài liệu Nguyễn A’i Quốc nêu lên sách lược của Đảng Cộng sản Đông Dương trong thời kỳ 1936-1939, nhấn mạnh vấn đề tập hợp mọi tầng lớp nhân dân và thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi đấu tranh đòi tự do, dân chủ và hoà bình.

Trước những chuyển biến của tình hình thế giới, tháng 10 nǎm 1938, Nguyễn A’i Quốc rời Liên Xô về Trung Quốc. Tháng 9 nǎm 1940 phát xít Nhật chiếm đóng Đông Dương. Cuối nǎm 1940

Người về sát biên giới Việt – Trung , bắt liên lạc với tổ chức Đảng, chuẩn bị về nước. Người đã mở lớp huấn luyện chính trị để chuẩn bị cán bộ đáp ứng yêu cầu tình hình nhiệm vụ mới. Người nêu rõ trong tài liệu huấn luyện: “Sự nghiệp giải phóng dân tộc là sự nghiệp chung của các dân tộc, các giai cấp bị bóc lột ở Đông Dương. Toàn thể nhân dân Đông Dương không phân biệt dân tộc nào, giai cấp nào đều phải đồng tâm hiệp hội đoàn kết cùng nhau mới làm nổi“.

Ngày 28 tháng 1 nǎm 1941, Nguyễn A’i Quốc về nước, Người chọn Cao Bằng làm cǎn cứ địa xây dựng tổ chức, phát động phong trào cách mạng. Vùng Khuổi Nậm Pác Bó là nơi họp Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương (tháng 5 nǎm 1941) do Nguyễn A’i Quốc chủ trì, nơi ra báo Việt Nam độc lập, mở các lớp huấn luyện xây dựng lực lượng cách mạng. Pác Bó có hang Cốc Bó, nơi Nguyễn A’i Quốc chọn làm chỗ ở và làm việc của mình.

Ngày 6 tháng 6 nǎm 1941, Nguyễn A’i Quốc gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng… Việc cứu quốc là việc chung, ai là ngườiViệt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài nǎng góp tài nǎng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dẫu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề“.

Tháng 8 nǎm 1942, lấy tên là Hồ Chí Minh và với tư cách là đại diện Mặt trậnViệt Minh và phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội quốc tế chống xâm lược, Người sang Trung Quốc. Ngày 29-8-1942 Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam, sau đó bị giải qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian ở tù, Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm thơ nổi tiếng “Nhật ký trong tù”. Đến nay “Nhật ký trong tù” đã được dịch ra hơn 10 thứ tiếng.

Tháng 9 nǎm 1943, Hồ Chí Minh được trả lại tự do. Tháng 3 nǎm 1944, Người tham dự Hội nghị các lực lượng cách mạng Việt Nam ở Liễu Châu (Trung Quốc). Tại Hội nghị này Người đã đọc báo cáo về hoạt động của Mặt trận Việt Minh và Đảng Cộng sản, nêu rõ tiền đồ của sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam, mối quan hệ mật thiết và lâu đời giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Tháng 9 nǎm 1944, Hồ Chí Minh trở lại Cao Bằng. Người gửi thư cho đồng bào toàn quốc kêu gọi chuẩn bị triệu tập Quốc dân đại hội. Tháng 12 nǎm 1944, Người quyết định thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của quân đội nhân dânViệt Nam.

Ngày 9 tháng 3 nǎm 1945, phát xít Nhật đảo chính hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương. Cuộc chiến tranh thế giới thứ I cũng bước vào giai đoạn cuối với những thắng lợi của Liên Xô các nước Đồng minh. Ngày 4 tháng 5 nǎm 1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang) sau sự kiện Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản (ngày 9 tháng 8 nǎm 1945) và ồ ạt tiến công đạo quân Quan Đông của chúng, Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hirôsima (6-8), và Nagadaki (9-8), ngày 10 tháng 8 phe Đồng minh đã gửi công hàm yêu cầu Nhật Bản đầu hàng không điều kiện. Chớp thời cơ ấy, ngày 12 tháng 8 nǎm 1945, Hồ Chí Minh cùng Ban thường vụ Trung ương Đảng quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Theo đề nghị của Người, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã họp tại Tân Trào ngày 13 tháng 8 nǎm 1945. Hội nghị thông qua quyết định Tổng khởi nghĩa, thành lập ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ngày 16 tháng 8 nǎm 1945 Quốc dân đại hội Tân Trào đã hoàn toàn nhất trí với chủ trương phát động khởi nghĩa của Đảng. Đại hội đã bầu ra ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Trong bức thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến; toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên“. Ngày 19-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội, ngày 23-8 thắng lợi ở Huế, ngày 25 tháng 8 thắng lợi ở Sài Gòn.

Ngày 2 tháng 9 nǎm 1945, tại Quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy“.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, NGƯỜI TỔ CHỨC VÀ LÃNH ĐẠO CUỘC ĐẤU TRANH
GIỮ VỮNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG VÀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
(1946-1954)

Sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân đấu tranh xây dựng, củng cố và giữ vững chính quyền non trẻ. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời 3-9-1945, Người đề ra những nhiệm vụ cấp bách lúc đó là động viên toàn dân chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.

Bác thǎm một gia đình ở Việt Bắc

Để giữ vững thành quả cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những biện pháp cần thiết để xây dựng hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân từ Trung ương tới địa phương, một chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân. Trong thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng tháng 10 nǎm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng, nếu không có Chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với dân phải đoàn kết thành một khối…. Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp Nhật.

Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta“.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm hàng đầu tới việc xây dựng chính sách đại đoàn kết dân tộc. Ngày 3 tháng 12 nǎm 1945, Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam đã khai mạc tại Thủ đô Hà Nội. Nhân dịp này Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi tới đồng bào các dân tộc thiểu số, Người khẳng định: “Nhờ sự đoàn kết giữa các dân tộc, nhờ sự hy sinh của tất cả các đại biểu mà chúng ta tranh được quyền tự do độc lập và xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”. Từ đây về sau các dân tộc đã đoàn kết phải đoàn kết thêm, đã phấn đấu càng phải phấn đấu thêm nữa, để giữ gìn quyền độc lập cho vững vàng để xây dựng một nước Việt Nam mới“. Một phần quan trọng trong trưng bày ở phần này là giới thiệu các tài liệu hiện vật về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm bảo vệ nền độc lập, giữ vững hoà bình ở Việt Nam. Trong bức thư ngày 23 tháng 11 nǎm 1946 gửi người Việt Nam, người Pháp và thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chính phủ và nhân dân Việt Nam kiên quyết cộng tác thật thà với người Pháp. Trong khi phải giữ chủ quyền của Tổ quốc, cần hy sinh thì cũng phải kiên quyết hy sinh…. Người Việt và người Pháp có thể và cần phải bắt tay nhau trong một sự nghiệp cộng tác bình đẳng, thật thà để gây dựng hạnh phúc chung cho cả hai dân tộc“.

Trước dã tâm của thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi cả nước. Sáng ngày 20 tháng 12nǎm 1946, trên làn sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam, lời kêu gọi cứu nước của Người đã truyền đi khắp nước:

Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước“.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng quyết định chiến cục Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ

Một trong những nhân tố quan trọng đảm bảo kháng chiến thắng lợi là sự lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể về xây dựng Đảng nhằm nâng cao vai trò tập hợp, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân. Trong tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc” viết nǎm 1947, Người nêu lên những kinh nghiệm, những bài học thực tiễn có tính lý luận, bồi dưỡng tác phong lãnh đạo của người đảng viên cộng sản. Người đặc biệt chú trọng đến việc nâng cao tư cách và đạo đức cách mạng của đảng viên và khẳng định: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân“.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng phong trào Thi đua yêu nước. Người nhắc nhở toàn dân: “Mỗi một người lấy việc xung phong trong phong trào thi đua ái quốc làm nhiệm vụ thiêng liêng của mình“. Người yêu cầu các cán bộ Đảng, Chính quyền và các đoàn thể phải thấm nhuần và thực hiện tư tưởng: “Nước lấy dân làm gốc“, và chỉ rõ: “Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân, vậy tất cả anh chị em, các bộ đội cơ quan chính phủ và các đoàn thể trong khi tiếp xúc hoặc chung sống với dân, ai cũng phải nhớ và thực hành.

Gốc có vững, cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân“.

Tháng 2 nǎm 1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng khai mạc tại chiến khu Việt Bắc. Trong Báo cáo Chính trị trình bày tại Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ nhiệm vụ chính trị của Đảng là : Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và tổ chức Đảng Lao động Việt Nam, Người nói: “Chúng ta phải có một Đảng công khai, tổ chức hợp với tình hình thế giới và tình hình trong nước để lãnh đạo toàn dân đấu tranh cho đến thắng lợi Đảng Lao động Việt Nam phải là một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để. Nhiệm vụ cấp bách nhất của Đảng ta ngày nay là phải đưa kháng chiến đến thắng lợi, các nhiệm vụ khác đều phải phụ thuộc vào đó“.

Ngày 6 tháng 12 nǎm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị Trung ương Đảng thông qua kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tư lệnh và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Người chỉ thị cho Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà còn đối với quốc tế. Vì vậy toàn quân toàn dân, toàn Đảng, phải tập trung hoàn thành cho kỳ được“.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở MIỀN BẮC
VÀ ĐẤU TRANH CHỐNG MỸ XÂM LƯỢC, GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
(1954-1969)

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc trong vườn hoa Phủ Chủ tịch nǎm 1961

Trở lại Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn cách mạng mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ nhiệm vụ của nhân dân Việt Nam là thi hành đúng Hiệp nghị Giơ ne vơ nǎm 1954 về Đông Dương; củng cố hoà bình, đấu tranh để thực hiện thống nhất đất nước bằng Tổng tuyển cử tự do; củng cố miền Bắc về mọi mặt; mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất trong cả nước. Đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng, Người nhắc nhở đảng viên phải phấn đấu, chú trọng nâng cao đạo đức cách mạng, coi đó là nền tảng của mỗi đảng viên để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của mình. Nǎm 1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng“, trong đó Người nêu lên tư cách của một người đảng viên là: Phải trung thành tuyệt đối với Đảng, quyết tâm suốt đời phấn đấu cho Đảng, cho cách mạng; ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên lợi ích của cá nhân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì Đảng vì dân mà đấu tranh; gương mẫu trong mọi việc, ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn luôn dùng phê bình và tự phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và đồng chí mình tiến bộ.

Về phần mình, lời nói đi đôi với việc làm, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là gương sáng về thực hành đạo đức cách mạng. Những kỷ vật của Người để lại được giới thiệu trong bảo tàng (như bộ quần áo gụ, đôi dép cao su v.v…) không chỉ nói về cuộc sống giản dị, đức khiêm tốn của một con người mà còn nói lên nhân cách của một vị lãnh tụ của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Một ngày Tổ quốc chưa thống nhất, miền Nam chưa được giải phóng là một ngày tôi ǎn không ngon, ngủ không yên“.

Người luôn dành tình cảm sâu đậm với miền Nam, quan tâm theo dõi và cổ vũ từng bước tiến của cách mạng miền Nam. Trong Thư gửi đồng bào cả nước ngày 6 tháng 7 nǎm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đại đoàn hết là một lực lượng tất thắng“. Đồng bào miền Nam luôn hướng về Bác Hồ, về Thủ đô Hà Nội, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Những vật lưu niệm từ miền Nam gửi tới Người được trưng bày đã nói lên tình cảm tha thiết của nhân dân miền Nam đối với Người.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam, tháng 9 nǎm 1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà“. Đại hội đã bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.

Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất. Cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên toàn Đảng toàn dân vừa xây dựng, phát triển kinh tế, giữ gìn và phát triển nền vǎn hoá dân tộc, vừa chǎm lo đến đời sống hàng ngày của nhân dân. Người cổ vũ nhân dân miền Nam ruột thịt đang chiến dấu anh dũng để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến việc xây dựng con người mới, Người nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa“. Người đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và chỉ rõ: “Trong công tác giáo dục phải luôn luôn kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực hành, giữa giáo dục với lao động, vǎn hoá với đạo đức cách mạng; phải đẩy mạnh phong trào thi đua hai tốt: Dạy thật tốt và học thật tốt “.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao nhiệm vụ miền Bắc phải là nền tảng, là niềm tin đối với đồng bào miền Nam.

Nǎm 1962, khi tiếp Đoàn đại biểu nhân dân miền Nam ra thǎm miền Bắc, Chủ tịch Hổ Chí Minh nói: “Hình ảnh miền Nam yêu quý luôn luôn ở trong trái tim tôi“. Người mong muốn miền Nam sớm được giải phóng để vào thǎm đồng bào, cán bộ và chiến sĩ thân yêu. Nǎm 1963 khi Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị tặng Huân chương Sao vàng cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đề nghị: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, Quốc hội cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý đó. Như vậy thì toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng“.

Tháng 8 nǎm 1964 đế quốc Mỹ gây ra sự kiện “Vịnh Bắc Bộ“, và từ tháng 2 nǎm 1965 đã mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc và ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Trước tình hình đó Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam: “Lúc này chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước“. Tháng 7 nǎm 1966 Mỹ đã dùng máy bay ném bom Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên nhân dân Việt Nam vượt qua hy sinh gian khổ và kêu gọi: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 nǎm, 10 nǎm, 20 nǎm, hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!“.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng tình đoàn kết giúp đỡ của nhân dân thế giới đối với nhân dânViệt Nam và luôn gắn cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong những nǎm kháng chiến cứu nước gian khổ, Người nói với nhân dân Việt Nam: “Nhân dân ta chiến đấu hy sinh chẳng những vì tự do, độc lập riêng của mình mà còn vì tự do, độc lập chung của các dân tộc và hoà bình thế giới“. Tháng 11 nǎm 1964, Hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam đã được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội với sự tham dự của 64 đoàn đại biểu của 52 nước và tổ chức quốc tế là sự cổ vũ to lớn đối với cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam.

Về quan hệ với nước Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn phân biệt sự khác nhau giữa những người Mỹ xâm lược và nhân dân Mỹ; Người thông cảm sâu sắc với nỗi đau của những gia đình, những người phụ nữ Mỹ có người thân tham gia cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều thư gửi nhân dân Mỹ, coi họ là những người bạn thân thiết. Trong bức thư gửi nhân dân Mỹ tháng 1 nǎm 1962, Người viết: “Nhân dân Mỹ và nhân dân Việt Nam không thù oán gì nhau. Nhân dân Việt Nam kính trọng các bạn là nước đầu tiên phất cờ chống chủ nghĩa thực dân và chúng tôi mong muốn có quan hệ hữu nghị với các bạn“.

Từ nǎm 1965, khi tròn 75 tuổi, chuẩn bị cho cuộc “ra đi” của mình, Bác Hồ bắt đầu viết Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta. Trong những nǎm còn lại, cứ đến tháng 5, Bác Hồ lại sửa chữa và viết thêm vào vǎn kiện “tuyệt đối bí mật” này. Trong Di chúc Người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân… Đảng cần có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế, vǎn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sốngcủa nhân dân…“.

Vào hồi 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 nǎm 1969, trái tim của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngừng đập, để lại nỗi tiếc thương vô hạn cho toàn thể nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Nhà thơ Tố Hữu đã viết về những ngày tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội:

Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa….

(1) Tên gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ nǎm 1901

phuly.edu.vn