Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Chú thích và bản chỉ dẫn tên người)

CHÚ THÍCH

1. Phong trào đấu tranh ở Trung Kỳ: Năm 1908, ở các tỉnh Trung Kỳ đã bùng nổ phong trào đấu tranh quyết liệt của nông dân chống sưu cao thuế nặng, chống đi lao dịch dài hạn. Phong trào bắt đầu ở Quảng Nam, sau lan rộng ra các tỉnh Quảng Ngãi, Phú Yên, Thừa Thiên, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá. Hàng vạn nông dân đã rầm rộ biểu tình, liên tục từ cuối tháng 2. Đến cuối tháng 5, phong trào bị thực dân Pháp dập tắt trong máu lửa.

Nguyễn Tất Thành khi đó đang học ở Trường tiểu học Pháp – Việt Thừa Thiên đã tham gia phong trào này. Tr. 28.

2. Hội nghị Vécxây (Versailles): Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-6-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp Hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari, nhưng thực chất đó là nơi chia phần giữa các nước đế quốc thắng trận và trút hậu quả chiến tranh lên đầu nhân dân các nước thua trận và các dân tộc bị áp bức. Văn kiện chính của hội nghị là Hiệp ước Vécxây xác định sự thất bại của nước Đức và các nước đồng minh của Đức, phân chia lại bản đồ thế giới theo hướng có lợi cho các đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.

Nhân danh Nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị Vécxây bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Tr.62.

3. Báo L’Humanité: Tờ báo ra hằng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giăng Giôrét (Jean Jaurès) sáng lập năm 1904. Từ sau Đại hội Tua (12-1920), Đảng Xã hội Pháp chia thành Phân bộ Pháp thuộc Quốc tế Cộng sản (SFIC – Section Française de l’Internationale communiste) và Phân bộ Pháp thuộc Quốc tế Công nhân (SFIO tức Section Française de l’Internationale Ouvrière).

Đến tháng 10-1921, phân bộ SFIC chính thức mang tên Đảng Cộng sản. Báo L’Humanité là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp.

Rất nhiều bài viết của Nguyễn Ái Quốc được đăng tải trên tờ báo này. Tr.67.

4. Báo Le Populaire: Tờ báo ra hằng ngày ở Pari từ tháng 5-1916, là cơ quan trung ương của Đảng Xã hội Pháp. Từ sau Đại hội Tua (12-1920), Le Populaire tiếp tục là cơ quan trung ương của Đảng Xã hội (SFIO). Bị gián đoạn trong những năm Pháp bị Đức chiếm đóng. Tháng 8-1944, báo tục bản. Tháng 2-1970 thì đình bản.

Nguyễn Ái Quốc là cộng tác viên tích cực của tờ báo này. Tr .70.

5. Hội Liên minh nhân quyền: Một tổ chức dân chủ tư sản nhằm đấu tranh đòi bảo vệ những quyền tự do tư sản.

Tổ chức này được thành lập năm 1898 ở Pháp do sáng kiến của nhà văn Pháp Tơrariơ (Trarieux) nhân vụ nhà cầm quyền Pháp xử phạt nhà văn Êmin Dôla (Émile Zola). Tr.76.

6. Tổng Liên đoàn Lao động Pháp: Viết tắt là CGT (Confédération Générale du Travail), thành lập từ năm 1895, bị những phần tử cơ hội cầm đầu, mất tính chất cách mạng. Một bộ phận tiến bộ tách ra lập Tổng liên đoàn lao động thống nhất (CGTU) do Gaxtông Môngmútxô (Gaston Monmousseau) lãnh đạo. Tháng 3-1936, hai tổ chức CGT và CGTU đã hợp nhất lại. Tr.81.

7. Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản): Tổ chức cách mạng quốc tế của giai cấp vô sản, trung tâm lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân thế giới.

Do ảnh hưởng to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và sau khi Quốc tế II bị phá sản, cuộc đấu tranh của Lênin và những người cộng sản chân chính chống bọn cơ hội chủ nghĩa đã thúc đẩy sự ra đời của các Đảng Cộng sản và tổ chức cộng sản ở nhiều nước trên thế giới. Để giúp các tổ chức cộng sản này lãnh đạo phong trào các nước đi theo con đường của chủ nghĩa Mác chân chính, tháng 1-1919, dưới sự lãnh đạo của Lênin, Hội nghị đại biểu của tám Đảng Cộng sản và nhóm cộng sản đã kêu gọi tất cả các Đảng Cộng sản, các tổ chức xã hội chủ nghĩa phái tả tham gia Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III).

Hưởng ứng lời kêu gọi đó, tháng 3-1919, dưới sự lãnh đạo của Lênin, các Đảng Cộng sản và tổ chức cộng sản của 30 nước đã tiến hành Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva.

Quốc tế Cộng sản đã góp công lao to lớn trong việc tổ chức và lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Đối lập với Quốc tế II, Quốc tế Cộng sản đã rất chú trọng tới vấn đề giải phóng dân tộc. Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin được Đại hội II Quốc tế Cộng sản (1920) thông qua đã đặt nền tảng chính trị và tư tưởng cho việc giải quyết đúng đắn những vấn đề phức tạp của phong trào giải phóng dân tộc. Trên con đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã hoàn toàn tin theo Lênin và Quốc tế Cộng sản.

Tháng 5-1943, căn cứ vào hoàn cảnh mới, Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản với sự tán thành của đa số các Đảng Cộng sản, đã thông qua nghị quyết giải tán tổ chức quốc tế này. Tr.85.

8. Cách mạng Tháng Mười Nga: Cuộc cách mạng vô sản thắng lợi đầu tiên trên thế giới.

Ngày 7-11-1917 (tức ngày 24-10, theo lịch Nga), dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga, đứng đầu là Lênin, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản và bọn phản cách mạng, thành lập Chính phủ Xôviết do Lênin làm Chủ tịch. Giai cấp công nhân Nga đã đập tan bộ máy thống trị của các giai cấp bóc lột, lập nên Nhà nước kiểu mới – chính quyền Xôviết, một hình thức của chuyên chính vô sản.

Cách mạng Tháng Mười thắng lợi mở ra một thời đại mới cho lịch sử nhân loại. Cách mạng Tháng Mười đã thức tỉnh giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân bị áp bức, soi sáng con đường cho các dân tộc bị nô dịch đi tới cách mạng giải phóng và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trong quá trình Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước, Cách mạng Tháng Mười Nga đã có ảnh hưởng to lớn đến sự chuyển biến tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc. Ngay từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Người đã sớm khẳng định con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức là con đường của Cách mạng Tháng Mười. Tr.86.

9. Báo La Dépêche Coloniale: Báo xuất bản ở Pari từ tháng 8-1896. Sau đổi tên thành La Dépêche Coloniale et MaritimeTr.89.

10. Quốc tế II: Thành lập năm 1889 tại Đại hội Liên minh quốc tế các đảng xã hội chủ nghĩa tổ chức tại Pari theo sáng kiến của Ph.Ăngghen. Quốc tế II đã có tác dụng phổ biến chủ nghĩa Mác về bề rộng, đánh dấu thời kỳ chuẩn bị cơ sở để phong trào cách mạng phát triển rộng rãi trong nhân dân lao động ở nhiều nước.

Sau khi Ăngghen mất, cơ quan lãnh đạo của Quốc tế II rơi vào tay các phần tử cơ hội chủ nghĩa. Bọn này đòi xét lại học thuyết cách mạng của Mác, phản đối chuyên chính vô sản, thay thế lý luận đấu tranh giai cấp bằng thứ lý luận “hợp tác giai cấp”, “chủ nghĩa tư bản hoà bình tiến lên chủ nghĩa xã hội”, v.v. và tiến hành những hoạt động chống phá phong trào công nhân các nước.

Về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Quốc tế II ủng hộ chính sách đế quốc chủ nghĩa mà bọn tư bản thực hiện ở các nước thuộc địa. Tr. 98.

11. Đại hội toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp: Đại hội họp tại thành phố Tua (Pháp) từ ngày 25 đến ngày 30-12-1920, thảo luận vấn đề Đảng nên gia nhập Quốc tế III hay ở lại Quốc tế II. Với đa số phiếu tuyệt đối (3.208 phiếu tán thành, 1.022 phiếu chống), Đảng Xã hội Pháp tán thành gia nhập Quốc tế III.

Nguyễn Ái Quốc tham gia đại hội với tư cách là đại biểu thuộc địa Đông Dương. Cùng với các đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân Pháp, Người đã bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III và được Đảng Cộng sản Pháp công nhận là một trong những người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Tr. 109.

12. Báo Le Matin: Tờ báo xuất bản ở Pari từ tháng 2-1884. Tr.110.

13. Báo Le Libertaire: Tuần báo của Hội vô chính phủ – cộng sản, sau đó là cơ quan ngôn luận của Liên đoàn Cộng sản tự do Pháp, xuất bản ở Pari từ năm 1895. Tr.117.

14. Tuần lễ đẫm máu: Cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt diễn ra trong suốt bảy ngày (từ ngày 21-5 đến ngày 27-5-1871) của giai cấp công nhân và quần chúng Pari chống quân phản động Vécxây để bảo vệ thành quả cách mạng của Công xã Pari. Trong những ngày đó, các chiến sĩ Công xã đã biểu lộ một ý chí dũng cảm và một tinh thần bất khuất vô biên, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Quân Vécxây đã tàn sát các chiến sĩ Công xã một cách man rợ. Lịch sử gọi tuần lễ đó là “Tuần lễ đẫm máu”. Tr .126.

15. Ban Nghiên cứu thuộc địa: Một tổ chức nghiên cứu những vấn đề thuộc địa của Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp, thành lập tháng 6-1921. Nguyễn Ái Quốc là uỷ viên của tổ chức này. Ban đã sưu tầm và phổ biến các tài liệu về tình cảnh các xứ thuộc địa và cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa, tiến hành công tác tuyên truyền trong nhân dân Pháp và nhân dân các thuộc địa về tinh thần đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước đế quốc với các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Ban đã gửi nhiều bài đăng trên mục Thuộc địa của báo L’Humanité và tìm cách gửi báo đến các thuộc địa. Hoạt động của Ban đã góp phần tích cực vào công tác tuyên truyền học thuyết của Lênin và đường lối của Quốc tế Cộng sản về vấn đề đấu tranh giải phóng dân tộc. Tr.128.

16. Khởi nghĩa Thái Nguyên: Cuộc khởi nghĩa của binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp ở Thái Nguyên tháng 8-1917.

Đêm 30-8-1917, dưới sự lãnh đạo của Đội Cấn (tức Trịnh Văn Cấn) và Lương Ngọc Quyến, binh lính người Việt Nam trong quân đội Pháp ở Thái Nguyên đã nổi dậy đánh chiếm tỉnh lỵ. Sau sáu ngày chiến đấu quyết liệt với quân Pháp được tăng viện từ Hà Nội và nhiều nơi khác đến, Lương Ngọc Quyến hy sinh, nghĩa quân phải rút khỏi tỉnh lỵ, chuyển về hoạt động ở vùng rừng núi các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Hoà Bình, Sơn Tây.

Do bị truy nã và đàn áp ráo riết, cuộc khởi nghĩa yếu dần. Ngày 11-1-1918, Đội Cấn tự sát để giữ trọn khí tiết. Cuộc khởi nghĩa thất bại.Tr.136.

17. Hội liên hiệp thuộc địa: Một tổ chức cách mạng của những người thuộc địa, do Nguyễn Ái Quốc cùng một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp sáng lập tháng 7-1921, tại Pari. Lúc đầu, hội có 200 hội viên, phần lớn là những người trước đây ở trong Hội những người yêu nước Việt Nam và Hội đấu tranh cho quyền công dân của người Mađagátxca. Ban Thường vụ của hội gồm bảy người, trong đó có Nguyễn Ái Quốc. Cơ quan tuyên truyền của hội là báo Le Paria. Đến năm 1926, hội ngừng hoạt động. Tr.140.

18. Hội chợ thuộc địa Mácxây: Năm 1922, tại thành phố Mácxây (miền Nam nước Pháp), Chính phủ Pháp mở Hội chợ triển lãm thuộc địa, trưng bày các sản vật mang từ các thuộc địa của Pháp sang, để nói lên sự giàu có của thuộc địa và công lao “khai hoá” của người Pháp, đồng thời kêu gọi tư bản Pháp bỏ vốn kinh doanh và khai thác ở các thuộc địa. Tr.169.

19. Hội Tam điểm (Franc-Maçonnerie): Nguyên thủy là một hội có tính chất nghề nghiệp của những người thợ xây nhà thờ, họ thống nhất với nhau về ba điểm (tam điểm): hữu ái (Fraternité), giúp đỡ lẫn nhau (mutualité) và đoàn kết (solidarité), không phân biệt nguồn gốc, chủng tộc. Họ muốn xây dựng lên một “thánh đường của lòng nhân ái” và có thực hiện một số nghi thức tượng trưng nào đó.

Kế thừa tên gọi ngày xưa, Hội Tam điểm hiện đại có tính chất tư biện và đầu cơ về tinh thần, xuất hiện ở Anh thế kỷ XVII, ở Pháp thế kỷ XVIII. Hội đã vượt lên tính chất nghề nghiệp, trở thành một đoàn thể có tính chất chính trị, có tính chất quốc tế. Hội kết nạp một cách rộng rãi, không bí mật, nhưng khép kín, tập hợp những người thuộc các tầng lớp khác nhau, chủ yếu thuộc lớp dưới, gắn bó với nhau trên cơ sở hữu ái, tương tế, đoàn kết, có tính cách khai tâm và bí huyền, nhằm xây dựng nên một “thánh đường” của nhân loại.

Trên bước đường học cách tổ chức, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia và tìm hiểu cách tổ chức và hoạt động của hội này. Tr.171.

20. Quốc tế Nông dân: Một tổ chức cách mạng hoạt động dưới sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, thành lập năm 1923, nhằm đoàn kết rộng rãi giai cấp nông dân các nước trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Quốc tế Nông dân họp Hội nghị lần thứ nhất vào tháng 10-1923, tại Mátxcơva.

Với tư cách là đại biểu nông dân của các nước thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã tham dự hội nghị và phát biểu ý kiến. Tại hội nghị, Người được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế Nông dân. Tr. 244.

21. Trường đại học Phương Đông (Trường đại học Cộng sản của những người lao động phương Đông): Trường thành lập tại Mátxcơva (Liên Xô) năm 1921, theo quyết định của Quốc tế Cộng sản, nhằm mục đích đào tạo cán bộ cách mạng trước hết cho các nước phương Đông thuộc Liên Xô và các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Tại đây, các học viên được trang bị những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng. Trong thời gian học tập, học viên phải nắm vững các môn quan trọng như chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế chính trị, lịch sử phong trào công nhân quốc tế, lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc, v.v..

Trong gần 20 năm tồn tại, Trường đại học Phương Đông đã đào tạo cho các nước phương Đông hàng ngàn cán bộ, trong đó có những người sau này đã trở thành cán bộ lãnh đạo có uy tín của các Đảng Cộng sản ở các nước.

Quan tâm sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc và vấn đề đào tạo cán bộ cách mạng cho các nước thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã viết rất nhiều bài báo để cổ vũ, giới thiệu Trường đại học Phương Đông. Sau khi về hoạt động ở Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn và cử nhiều cán bộ Việt Nam và một số nước khác ở châu Á sang học tại Trường đại học Phương Đông.

Trong số những cán bộ Việt Nam được đào tạo tại Trường đại học Phương Đông, nhiều đồng chí sau này đã trở thành những cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Đảng ta như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, v.v.. Tr. 251.

22. Thổ Nhĩ Kỳ: Một nước nằm ở phía tây châu Á, có vị trí quan trọng nối liền ba châu lục, lại giáp liền ba vùng biển là Địa Trung Hải, Êgiê và Hắc Hải. Trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, Thổ Nhĩ Kỳ đứng về phía Đức bị thất bại. Các đế quốc giành lại những vùng đất phụ thuộc Thổ Nhĩ Kỳ và xâu xé ngay chính nước Thổ Nhĩ Kỳ (Hiệp ước Xevơrơ tháng 8-1920). Sự kiện đó làm bùng lên cuộc đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp công nhân và nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ đòi thành lập một nhà nước cộng hoà thống nhất. Tháng 11-1922, Kêman, thủ lĩnh đảng của giai cấp tư sản “Thổ Nhĩ Kỳ trẻ”, đã thủ tiêu chế độ phong kiến; tháng 10-1923, tuyên bố thành lập nước Cộng hoà; tháng 4-1924, ban hành Hiến pháp tư sản. Đối với giai cấp tư sản, cuộc cách mạng được coi như đã hoàn thành. Nhưng quần chúng nhân dân lao động là lực lượng góp phần quyết định thắng lợi của cách mạng thì không được quyền lợi gì.

Phong trào đấu tranh của công nhân Thổ Nhĩ Kỳ đã phát triển mạnh mẽ từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Tháng 9-1920, Đảng Cộng sản Thổ Nhĩ Kỳ thành lập, lãnh đạo cuộc đấu tranh. Trong nửa đầu những năm 20 thế
kỷ XX, phong trào bãi công lan rộng và rất rầm rộ, có nơi cuộc bãi công thu hút tới 50 vạn người tham gia. Tháng 11-1923, Đại hội công nhân ở Côngxtantinốp thành lập Liên minh công nhân Thổ Nhĩ Kỳ, đoàn kết đông đảo nhân dân trong nước. Nhưng Chính phủ Kêman đã hạ lệnh cấm các hội công nhân hoạt động và đàn áp họ.

Theo dõi tình hình phát triển của phong trào công nhân Thổ Nhĩ Kỳ, Nguyễn Ái Quốc dự báo “Nhất định họ sẽ còn tiến nữa”. Tr. 253.

23. Đại hội Liông: Đại hội lần thứ III Đảng Cộng sản Pháp họp ở Liông (Pháp) tháng 1-1924. Vấn đề chủ yếu của đại hội là đấu tranh để củng cố Đảng về mặt tổ chức và tư tưởng. Vấn đề thuộc địa cũng được đại hội đưa vào chương trình nghị sự. Tr. 259.

24. Inprekorr. Viết tắt tên Tạp chí International Press correspondence (bản tiếng Anh), cơ quan nghiên cứu lý luận của Quốc tế Cộng sản. Tạp chí này được xuất bản bằng nhiều thứ tiếng như Anh, Đức, Pháp, Nga. Tr.262.

25. Quốc tế Thanh niên Cộng sản: Tổ chức quốc tế của thanh niên lao động cách mạng. Theo sáng kiến của Lênin, Đại hội lần thứ nhất của thanh niên xã hội chủ nghĩa được triệu tập ở Béclin (Đức) từ ngày 20 đến ngày 26-11-1919 (có 29 đại biểu của 13 nước tham dự) đã thông qua nghị quyết thành lập Quốc tế Thanh niên Cộng sản. Tổ chức này đã gia nhập Quốc tế Cộng sản với tư cách là một phân bộ.

Quốc tế Thanh niên Cộng sản có những phân bộ riêng của mình ở 56 nước. Các cơ quan lãnh đạo của Quốc tế Thanh niên Cộng sản là Đại hội Quốc tế và Ban Chấp hành. Quốc tế Thanh niên Cộng sản hoạt động dưới sự lãnh đạo về tư tưởng và tổ chức của Quốc tế Cộng sản. Nó đã có tác dụng quan trọng trong việc tuyên truyền, giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin trong thanh niên, đề ra mục tiêu, phương pháp đấu tranh cho thanh niên trong sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới.

Năm 1943, cùng với việc giải tán Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Thanh niên cũng tự giải tán. Tr. 274.

26. Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản: Đại hội họp từ ngày 17-6 đến ngày 8-7-1924 tại Mátxcơva. Đại hội đã tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm về đấu tranh giai cấp từ năm 1918 đến năm 1923 và đề ra chủ trương tăng cường công tác xây dựng các Đảng Cộng sản để lãnh đạo phong trào đấu tranh thực hiện những mục tiêu lâu dài của cách mạng và những quyền lợi thiết thực của quần chúng. Đại hội cũng chỉ rõ phương hướng, nhiệm vụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là phải đấu tranh chống chủ nghĩa cải lương, cơ hội, chống những phần tử phái hữu và trốtxkít.

Nguyễn Ái Quốc đã tham dự đại hội và đã ba lần phát biểu ý kiến về vấn đề dân tộc và thuộc địa và những vấn đề khác. Tr. 275.

27. Quốc tế Cứu tế đỏ: Một tổ chức cách mạng thành lập năm 1923 hoạt động theo đường lối của Quốc tế Cộng sản. Mục tiêu chủ yếu của Quốc tế Cứu tế đỏ là đoàn kết các lực lượng cách mạng để đấu tranh chống lại những hành động đàn áp khủng bố của chính quyền đế quốc, đòi trả tự do cho những nhà hoạt động chính trị của giai cấp công nhân và của phong trào giải phóng dân tộc bị bọn thống trị bắt bớ giam cầm. Tổ chức này còn động viên sự đóng góp của quần chúng lao động để giúp đỡ về tinh thần và vật chất cho những gia đình có người thân hy sinh hay bị tù đày vì hoạt động cách mạng. Quốc tế Cứu tế đỏ có chi nhánh ở nhiều nước trên thế giới.

Năm 1927, trong tác phẩm Đường cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã giới thiệu tổ chức này và nêu lên sự cần thiết phải thành lập một chi nhánh Cứu tế đỏ ở Đông Dương. Tr. 281.

28. Quốc tế Công hội đỏ (Quốc tế Công đoàn): Tổ chức liên hiệp quốc tế của các công đoàn cách mạng, được hình thành về mặt tổ chức vào ngày 23-7-1921, tồn tại đến cuối năm 1937. Tổ chức này liên kết các trung tâm công đoàn không gia nhập vào tổ chức công đoàn cải lương là Quốc tế Amxtécđam (Quốc tế của các công đoàn) và liên kết các nhóm, các khuynh hướng đối lập tiến bộ trong nội bộ các tổ chức công đoàn cải lương ở các nước. Quốc tế Công hội đỏ đấu tranh để thiết lập sự thống nhất trong phong trào công đoàn trên cơ sở đấu tranh cách mạng nhằm bảo vệ những yêu sách của giai cấp công nhân, chống nguy cơ chiến tranh đế quốc chủ nghĩa và đoàn kết với giai cấp công nhân nước Nga Xôviết. Tr.282.

29. Báo Thanh niên: Cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, nhưng suốt từ số 1 ra ngày 21-6-1925 đến số 107 không đề cơ quan ngôn luận của tờ báo, đến số 108 ra ngày 28-7-1929 mới thấy có tiêu đề: Cơ quan của Đảng Việt Nam Cách mạng Thanh niên, và ở góc trái phía trên có thêm hình vẽ ngôi sao nhỏ năm cánh và hình búa liềm thay cho vị trí ngôi sao to trước kia.

Báo dự định xuất bản hằng tuần, nhưng do khó khăn khách quan nên không đều kỳ. Thông thường mỗi số có hai trang hoặc bốn trang, khổ giấy 18 x 24 cm, in litô. Tên báo được viết bằng hai thứ chữ: chữ Việt và chữ Hán.

Báo có các chuyên mục: xã hội, bình luận, tin tức, diễn đàn, vấn đáp, phê bình, trả lời bạn đọc, v.v.. Mỗi số báo được in khoảng 100 bản, hầu hết được bí mật gửi về Việt Nam, một số ít gửi cho các cơ sở ở Xiêm.

Nội dung của báo Thanh niên thường đề cập đến những vấn đề chính sau đây:

– Đế quốc và thuộc địa.

– Cách mạng và cải lương.

– Thực tiễn của cách mạng Việt Nam.

– Đảng Cách mạng và Đảng Cộng sản.

– Cách mạng dân tộc và cách mạng thế giới.

– Cách mạng và mặt trận dân tộc thống nhất.

– Học tập lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, v.v..

Nguyễn Ái Quốc là người sáng lập và là cây bút chủ chốt của tờ báo. Một số uỷ viên của Tổng bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Duy Điếm cũng tham gia trong ban biên tập.

Những bài viết của báo Thanh niên đều ngắn gọn, lời lẽ giản dị, trong sáng, dễ hiểu. Nhờ báo Thanh niên mà tổ chức hội đã thống nhất về phương hướng và nội dung tuyên truyền giáo dục trong và ngoài hội. Báo Thanh niên đã góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủ nghĩa
Mác – Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức để tiến tới thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam vào đầu năm 1930. Sự xuất hiện của báo Thanh niên đánh dấu sự ra đời của báo chí cách mạng Việt Nam. Ngày 21-6 hằng năm được lấy là Ngày báo chí Việt Nam. Tr.324.

30. Phong trào 30-5: Một phong trào chống đế quốc của nhân dân Trung Quốc do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo.

Từ sau Đại hội lần thứ IV của Đảng Cộng sản Trung Quốc (1-1925), phong trào quần chúng nhanh chóng phát triển, công nhân Nhà máy tơ của Nhật ở Thượng Hải, Thanh Đảo lần lượt bãi công. Đế quốc âm mưu dùng bạo lực dập tắt phong trào. Ngày 14-5, công nhân một nhà máy tơ của Nhật ở Thượng Hải đã bãi công phản đối bọn chủ sa thải vô lý công nhân Trung Quốc. Ngay ngày hôm sau, bọn chủ Nhật đã nổ súng vào công nhân bãi công, bắn chết đảng viên cộng sản Cố Chính Hồng, bắn bị thương hơn 10 người khác. Hành động đó thổi bùng lên ngọn lửa căm phẫn cao độ trong công nhân, học sinh và nhân dân. Ngày 30-5, trong cuộc mít tinh của hơn 2.000 học sinh Thượng Hải tổ chức trong khu vực tô giới để phản đối hành động bạo lực của đế quốc, hơn 100 người đã bị bắt, càng làm cho hàng vạn quần chúng căm phẫn, tập trung trước trại giam đòi thả những người bị bắt. Lính Anh đã nổ súng làm hàng chục người chết và bị thương, gây ra vụ thảm sát “30-5”. Ngày 31-5, Tổng Công hội Thượng Hải được thành lập dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiếp đó liên tục nổ ra các cuộc bãi công, bãi thị, bãi khoá. Ngày 7-6, Hội Liên hiệp Công – Thương – Học thành lập, một đại hội quần chúng có hơn 20 vạn người tham gia tổ chức vào ngày 11-6 đã thông qua 17 điều kiện thương lượng với nội dung chống chủ nghĩa đế quốc. Phong trào “30-5” đã dấy lên khắp Trung Quốc một cao trào chống đế quốc, trong đó cuộc bãi công lớn ở Cảng Tỉnh (Hồng Kông – Quảng Châu) có quy mô lớn nhất, ảnh hưởng rộng nhất. Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tham gia cuộc bãi công lớn này. Tr .327.

31. Bản án chế độ thực dân Pháp: Là một tác phẩm lớn do Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp được những người bạn cùng hoạt động với Người xuất bản lần đầu tiên tại Thư quán Lao động (Librairie du Travail) Pari, cuối năm 1925.

Tác phẩm ra đời giữa lúc làn sóng cách mạng đang dâng lên mạnh mẽ ở khắp các thuộc địa của thực dân Pháp, phong trào yêu nước ở Việt Nam đang sôi nổi diễn ra khắp Bắc – Trung – Nam; và giữa lúc Nguyễn Ái Quốc đang nỗ lực tổ chức lực lượng nòng cốt của cách mạng Việt Nam theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga. Ngay từ khi mới ra đời, tác phẩm đã có tiếng vang lớn trong nhân dân Pháp và nhân dân các nước thuộc địa.

Với lời văn giản dị, trong sáng và châm biếm sâu sắc, tác phẩm đã tố cáo và lên án đanh thép những tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân nói chung và chủ nghĩa thực dân Pháp nói riêng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… Bằng những chứng cớ cụ thể, tác phẩm đã vạch rõ nguồn gốc của mọi sự áp bức bóc lột, của mọi nỗi khổ cực của quần chúng ở các thuộc địa.

Toàn bộ tác phẩm toát lên tinh thần cách mạng tiến công, tư tưởng cách mạng triệt để, bước đầu vạch ra đường lối đấu tranh cách mạng đúng đắn và những chiến lược, sách lược cách mạng cho nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước thuộc địa; thức tỉnh, cổ vũ các dân tộc bị áp bức đi theo lời kêu gọi của Các Mác: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!” và đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ động tiến hành đấu tranh cách mạng để tự giải phóng mình.

Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp ra đời đã giáng đòn tiến công quyết liệt vào chủ nghĩa thực dân đế quốc, trước hết là đế quốc Pháp; vạch ra con đường cách mạng và tương lai tươi sáng cho các dân tộc bị áp bức. Nó là một cống hiến quan trọng của Nguyễn Ái Quốc đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, đã góp phần tích cực vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam và các nước thuộc địa khác. Nó không những có giá trị lớn về lý luận – chính trị mà còn có giá trị lớn về văn học – nghệ thuật.

Những tư tưởng lớn của tác phẩm không chỉ soi đường cho cách mạng Việt Nam và cách mạng các nước thuộc địa phụ thuộc nói chung trong hơn nửa thế kỷ qua, mà ngày nay vẫn còn giữ nguyên giá trị đối với cách mạng nước ta và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Tr.341.

32. Đường cách mệnh: Là cuốn sách gồm những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Người tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc) trong những năm 1925 – 1927. Các lớp huấn luyện chính trị này nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng và phương pháp cách mạng cho những người cách mạng Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930. Cuốn sách này do Bộ Tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông xuất bản năm 1927 để làm tài liệu học tập và tuyên truyền.

Đường cách mệnh là một trong những tác phẩm lớn đánh dấu một trong những mốc quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, đồng thời là một trong những văn kiện lý luận đầu tiên của Đảng ta, đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối của cách mạng Việt Nam. Tr.367.

33. Liên đoàn chống đế quốc: Đây là một tổ chức thống nhất đầu tiên có tính chất mặt trận giữa giai cấp công nhân quốc tế với trí thức tiến bộ của các nước tư bản và đại biểu các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, do những nhà trí thức tiến bộ như Anbe Anhxtanh (Albert Einstein), Hăngri Bácbuýt (Henri Barbusse), v.v. sáng lập ở Brúcxen (Thủ đô nước Bỉ) tháng 2-1927. Tôn chỉ của tổ chức này là chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược, ủng hộ phong trào độc lập của các dân tộc bị áp bức. Tổng bộ lúc đầu đặt ở Béclin (Đức), sau chuyển sang Mátxcơva, có tổ chức chi nhánh ở nhiều nước.

Tháng 7-1929, Liên đoàn chống đế quốc đã tổ chức một đại hội nhân dân các thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc. Hoạt động của tổ chức quốc tế này có ảnh hưởng nhất định đối với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc lúc bấy giờ. Tr. 379.

34. Công tác quân sự của Đảng trong nông dân: Bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại trường quân sự của những người cộng sản Đức ở Mátxcơva vào khoảng cuối năm 1927 và được xuất bản lần đầu tiên ở Đức vào năm 1928 (Theo Huỳnh Kim Khánh: Phong trào cộng sản Việt Nam 1925 – 1945, Cornell University Press, Itheca and London, 1972).

Trong cuốn Khởi nghĩa vũ trang do A. Neuberg tuyển chọn, biên tập và xuất bản ở Luân Đôn năm 1970, bài này được xếp vào chương XII là chương cuối cùng của cuốn sách. Erich Wolleuberg, một người cộng sản Đức, từng làm việc cùng với Nguyễn Ái Quốc tại Quốc tế Cộng sản năm 1924, trong lời giới thiệu cuốn sách với tựa đề Chúng tôi đã viết Khởi nghĩa vũ trang như thế nào? đã viết như sau: “Tác giả của chương XII: Công tác quân sự của Đảng trong nông dân, là một nhà cách mạng Đông Dương khiêm tốn, thân thiết, người dần dần bước vào lịch sử đấu tranh giải phóng xã hội và dân tộc vĩ đại của thời đại chúng ta, dưới tên Hồ Chí Minh”.

Có thể nói rằng, đây là tài liệu đầu tiên bàn về quân sự của Hồ Chí Minh, trong đó chứa đựng những tư tưởng quan trọng về vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng (cả cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng vô sản), về tổ chức, cấu trúc và hoạt động du kích trong tiến trình cách mạng. Đây chính là cơ sở quan trọng để sau này Người viết các tác phẩm quân sự như Cách đánh du kích, Kinh nghiệm du kích Tàu, Kinh nghiệm du kích Nga, làm tài liệu huấn luyện và trực tiếp chỉ đạo cán bộ chiến sĩ ta từ năm 1941 trở đi, chuẩn bị có hiệu quả cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám sau này. Tr.381.

35. Uỷ ban Ximông: Tên gọi tắt tổ chức Uỷ ban nghiên cứu thể chế Ấn Độ do Ximông làm Chủ tịch.

Giôn Anxơbrúc Ximông (1873 – 1954) là luật sư người Anh, làm việc tại Bộ Nội vụ Anh, đã đưa ra nguyên tắc về quyền tự quản của các tỉnh và lấy đó làm cơ sở xây dựng thể chế của Ấn Độ. Thực chất quan điểm của Ximông là muốn chia cắt Ấn Độ thành những khu vực riêng biệt, theo tôn giáo hoặc theo sắc tộc để dễ bề thực hiện chính sách “chia để trị”. Tr. 386.

36. MOPR (Tổ chức Quốc tế giúp đỡ các chiến sĩ cách mạng”): Được thành lập theo sáng kiến của Quốc tế Cộng sản vào tháng 9-1921 tại Béclin (Đức), từ cuộc Hội nghị quốc tế của các Uỷ ban giúp đỡ nhân dân các vùng bị đói ở nước Nga Xôviết. Sau này, tổ chức đó trở thành trung tâm quốc tế giúp đỡ các nạn nhân của chế độ tư bản. Từ năm 1935, tổ chức quốc tế này ngừng hoạt động. Các chi bộ của nó tham gia vào các mặt trận nhân dân hoặc đấu tranh để thành lập các mặt trận nhân dân ở các nước. Tr.387.

BẢN CHỈ DẪN TÊN NGƯỜI

B

BÔRÔĐIN M.M. (tên thật là Grudenbéc) (1884 – 1951), đảng viên bônsêvích Nga từ năm 1903. Năm 1915 là Bí thư Ban Chấp hành Riga của Đảng Công nhân dân chủ xã hội (b) Nga. Từ năm 1907 đến năm 1918, lưu vong ở Mỹ. Từ năm 1918 đến năm 1922, làm việc ở Bộ Dân uỷ Ngoại giao Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết Nga và trong Quốc tế Cộng sản. Những năm 1923 – 1927, là cố vấn của Tôn Dật Tiên. Từ năm 1927, là Phó Chủ tịch dân uỷ lao động, Phó Giám đốc Thông tấn xã Liên Xô và hoạt động ở nhiều tổ chức khác của Liên Xô.

BƠLUM, Lêông (1872 – 1950), đảng viên xã hội phái hữu, nhiều năm làm chủ bút báo Le Populaire – Cơ quan trung ương của Đảng Xã hội Pháp. Sau khi Mặt trận nhân dân giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử năm 1936, Bơlum đứng đầu Chính phủ Pháp và đã thi hành chính sách làm suy yếu Mặt trận nhân dân và phá hoại việc thực hiện cương lĩnh của Mặt trận. Năm 1946, là thành viên trong đoàn đại biểu Chính phủ Pháp đàm phán với Chính phủ ta.

C

CASANH, Mácxen (1869 – 1958), nhà hoạt động xuất sắc của phong trào công nhân Pháp và quốc tế. Từ năm 1912 đến năm 1918, biên tập viên báo L’Humanité -Cơ quan trung ương của Đảng Xã hội Pháp và năm 1918 là chủ bút tờ báo đó. Casanh là một trong những người tích cực và giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc trong thời gian hoạt động ở Pháp.

         Năm 1920, ông tham gia Đại hội lần thứ II của Quốc tế Cộng sản với tư cách là đại biểu Đảng Xã hội Pháp.

        Từ năm 1924 đến năm 1943, ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Casanh còn liên tục được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp.

         Năm 1957, ông được Đảng và Nhà nước Liên Xô tặng Huân chương Lênin.

CLÊMĂNGXÔ, Gióocgiơ Bănggia (1841 – 1929), vốn là thầy thuốc, tham gia hoạt động chính trị sau ngày Đế chế thứ II sụp đổ (4-9-1870), nghị sĩ cấp tiến trong Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ (1906 – 1909). Năm 1920, bị thất bại trong tranh cử Tổng thống, Clêmăngxô ra nước ngoài và viết sách.

CÔLARỐP, Vaxin Pêtơrốp (1877 – 1950), nhà hoạt động nổi tiếng của phong trào công nhân Bungari và phong trào công nhân quốc tế. Ông là đảng viên Đảng Công nhân dân chủ xã hội Bungari từ năm 1897. Từ năm 1897 đến năm 1900, học luật ở Giơnevơ và tổ chức nhóm mácxít quốc tế. Năm 1905, tại Đại hội lần thứ XII Đảng Công nhân dân chủ xã hội Bungari (những người xã hội chủ nghĩa phái hẹp), ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương. Từ năm 1921, là Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Từ năm 1922 đến năm 1924, ông được bầu làm Tổng Bí thư Quốc tế Cộng sản. Ông cùng Đimitơrốp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa tháng 9-1923 chống phát xít. Khởi nghĩa thất bại, ông sang cư trú tại Liên Xô đến năm 1945.

        Từ năm 1945 đến năm 1946, ông là Chủ tịch Quốc hội và là Chủ tịch lâm thời nước Cộng hoà nhân dân Bungari khi mới thành lập. Từ năm 1947 đến năm 1949, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Từ năm 1949 đến năm 1950, là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà nhân dân Bungari.

CUTUYARIÊ, Pôn Vayăng (1892 – 1937), một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, nguyên nghị sĩ Quốc hội Pháp, cựu Chủ nhiệm báo L’Humanité, là người giới thiệu Nguyễn Ái Quốc vào Đảng Xã hội Pháp (1919).

        Tại Đại hội Tua năm 1920, Pôn Vayăng Cutuyariê là một trong những người đấu tranh bảo vệ chủ trương Đảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc tế Cộng sản và ủng hộ bài phát biểu của Nguyễn Ái Quốc ở đại hội này. Ông còn là người tích cực giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc khi Người thoát khỏi nhà ngục Hồng Kông lên Thượng Hải, bắt liên lạc với tổ chức để đến Liên Xô.

D

DÉTKIN, Clara (1857 – 1933), nữ chiến sĩ cách mạng Đức, nhà hoạt động nổi tiếng của giai cấp công nhân Đức và phong trào phụ nữ quốc tế. Bà là đảng viên Đảng Xã hội dân chủ Đức, đứng về phía Xpáctaquýt và có những cống hiến tích cực vào việc thành lập Đảng Cộng sản Đức.

DINÔVIÉP, Rađômưxlơxki G.E (1883 – 1936), gia nhập Đảng Công nhân dân chủ – xã hội Nga năm 1901. Sau Cách mạng Tháng Mười, là Chủ tịch Xôviết Pêtơrôgrát, Uỷ viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (b) Nga, Chủ tịch Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Hai lần bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản và được phục hồi; năm 1934, bị khai trừ hẳn khỏi Đảng Cộng sản.

DUY TÂN (1900 – 1945), tức Nguyễn Vĩnh San, vua thứ 11 nhà Nguyễn từ năm 1907 đến năm 1916. Duy Tân là ông vua yêu nước và có tinh thần dân tộc. Năm 1916, ông cùng với Thái Phiên và Trần Cao Vân trong Việt Nam Quang phục hội định dựa vào số binh lính bị mộ sang Pháp, tổ chức khởi nghĩa ở Huế và miền nam Trung Kỳ. Công việc bị bại lộ, khởi nghĩa không thành. Duy Tân bị thực dân Pháp đày sang đảo Rêuyniông (châu Phi). Ông là người ham học và có ý chí. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Duy Tân gia nhập quân đội Đồng minh chống phát xít. Năm 1945, mất vì tai nạn máy bay ở châu Phi.

Đ

ĐÁCLƠ, Ôguytxtơ Êđua (1875 – 1940), cử nhân văn chương. Năm 1906, sang Đông Dương vào ngạch 4 quan cai trị. Đáclơ làm Công sứ tỉnh Thái Nguyên, đã chủ trương đàn áp đẫm máu cuộc nổi dậy của binh lính người Việt do Đội Cấn (Trịnh Văn Cấn) và Lương Ngọc Quyến lãnh đạo, tháng 8-1917.

ĐUME, Pôn (1857 – 1932), Nghị sĩ Quốc hội Pháp (phái cấp tiến) năm 1888 – 1895. Bộ trưởng Bộ Tài chính năm 1895 – 1896, 1921 – 1922. Toàn quyền Đông Dương năm 1896 – 1902. Chủ tịch Thượng viện năm 1927. Tổng thống Pháp năm 1931. Tác giả cuốn sáchIndochine – Française (Đông Dương thuộc Pháp hay Đông Pháp). Bị ám sát năm 1932.

ĐUYCLÔ, Giắccơ (1896 – 1975), Phó Chủ tịch Quốc hội Pháp từ năm 1946 đến năm 1952, Thượng nghị sĩ Pháp năm 1946 đến năm 1952; Thượng nghị sĩ Pháp năm 1959; Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp từ năm 1931. Ông gặp và quen biết Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919. Vào các năm  1946, 1957, ông lại có dịp gặp lại Người.

F

PHRỐTXA, Luđôvích Ôxca, Tổng Bí thư Đảng Xã hội Pháp năm 1918, bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế Cộng sản tại Đại hội Tua năm 1920, sau đó giữ chức Tổng Bí thư cho đến khi ra khỏi Đảng Cộng sản ngày 1-1-1923. Ông đã từng tham gia Chính phủ tư sản Pháp.

G

GĂNGĐI, Môhanđát Karamsan (1869 – 1948), nhà triết học, nhà văn, nhà hoạt động nổi tiếng của phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ. Để chống lại thực dân Anh, giành độc lập dân tộc, Găngđi chủ trương không dùng bạo lực và không coi bạo lực là phương thức đấu tranh chính trị. Trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Ấn Độ (1919 – 1922), Găngđi trở thành lãnh tụ của Đảng Quốc đại và giữ vai trò quan trọng trong việc biến đảng này thành một tổ chức quần chúng chống đế quốc. Học thuyết đề kháng tiêu cực của ông trở thành tư tưởng chính của Đảng Quốc đại trong cuộc đấu tranh cho nền độc lập Ấn Độ. Năm 1946, ông tuyên bố là không nhất thiết chỉ dùng phương pháp đấu tranh không bạo lực. Găngđi có ảnh hưởng và uy tín lớn ở Ấn Độ. Nhân dân Ấn Độ suy tôn ông là Mahátma nghĩa là “Tâm hồn vĩ đại”. Năm 1948, ông bị bọn phản động ám sát.

K

KHẢI ĐỊNH (1882 – 1925), tức Nguyễn Bửu Đảo, vua thứ 12 nhà Nguyễn. Năm 1916, được người Pháp đưa lên ngôi và đứng đầu triều đình đến năm 1925. Khải Định là một ông vua bạc nhược, hoàn toàn phụ thuộc vào người Pháp.

KHÁNH KÝ, tên thật là Nguyễn Dư Khánh (1874 – 1946), người làng Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây, sang Pháp từ năm 1911 – 1912. Ông đã dạy cho Phan Châu Trinh làm nghề ảnh, và sau này Phan Châu Trinh đã truyền lại nghề này cho Nguyễn Ái Quốc.

L

LÊNIN, Vlađimia Ilích (1870 – 1924), lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước công nông đầu tiên trong lịch sử loài người, và sáng lập ra Quốc tế Cộng sản. Kế tục sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã đấu tranh kiên quyết để bảo vệ tinh thần cách mạng của chủ nghĩa Mác, chống lại mọi sự xuyên tạc của bọn cơ hội chủ nghĩa và phát triển thiên tài cả ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa mác (triết học mácxít; kinh tế chính trị học mácxít; chủ nghĩa xã hội khoa học), giải quyết đúng đắn về lý luận và thực tiễn các vấn đề đặt ra cho cách mạng vô sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa.

        Lênin đặc biệt chú ý và đã đưa ra nhiều luận điểm quan trọng về phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. TrongSơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa được trình bày tại Đại hội II của Quốc tế Cộng sản (1920), V.I.Lênin đã nêu ra những vấn đề cơ bản của phong trào giải phóng dân tộc.

LIÔTÂY, Lui Uybe Gôngdavơ (1854 – 1934), Thống chế Pháp. Có mặt nhiều năm ở các thuộc địa Pháp. Năm 1894, Liôtây sang Đông Dương. Năm 1912, làm Tư lệnh quân đội Pháp ở Marốc. Năm 1916 – 1917, làm Bộ trưởng Bộ Chiến tranh. Bằng những hành động quân phiệt hết sức tàn bạo, Liôtây chỉ huy những cuộc đàn áp đẫm máu các cuộc nổi dậy đòi giải phóng, chống thực dân Pháp ở các thuộc địa.

LƠPHEVRƠ, Raymông (1891 – 1920), nhà văn Pháp. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã cùng đồng đội nổi dậy chống chiến tranh đế quốc và là một trong những người sáng lập Hội Cộng hoà cựu chiến binh (ARAC). Ông là đại biểu chính thức của Đảng Xã hội Pháp tham dự Đại hội II Quốc tế Cộng sản. Khi trở lại Pháp bị đắm thuyền, mất tích.

LÔNG, Môrixơ (? – 1923), chính thức nhận chức Toàn quyền Đông Dương từ tháng 12-1919. Tháng 1-1923, khi về Pháp công cán, qua Côlômbô bị giết, lúc chưa hết nhiệm kỳ.

LÔNGGHÊ, Giăng (1876 – 1938), cháu ngoại Các Mác. Đảng viên Đảng Xã hội Pháp, nhưng đến Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp thì ngả sang phái hữu. Ông là người có công giúp Nguyễn Ái Quốc tập viết báo.

M

MÁC, Các (1818 – 1883), lãnh tụ của giai cấp vô sản thế giới, nhà tư tưởng vĩ đại, người sáng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học. Mác là người sáng tạo ra lý luận cách mạng vô sản. Từ sự phân tích sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, Mác đã đề ra học thuyết về chuyên chính vô sản là công cụ của bước quá độ cách mạng từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội. Từ sự phân tích xã hội tư bản, Mác đề ra học thuyết về giá trị thặng dư.

        Mác không chỉ là nhà lý luận thiên tài mà trước hết Mác là nhà cách mạng vĩ đại. Năm 1847, Mác và Ăngghen gia nhập Liên minh những người cộng sản. Năm 1864, Mác sáng lập và là linh hồn của Quốc tế thứ I. Mác đã đấu tranh chống các thứ chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân, chống bọn vô chính phủ và định ra sách lược cách mạng cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân.

MANUINXKI, Đimitri Dakhailôvích (1883 – 1959), đảng viên Đảng Công nhân dân chủ – xã hội Nga cuối năm 1903. Sau đó bị bắt, bị đi đày, rồi vượt ngục, sống lưu vong và gặp Lênin ở Pari. Năm 1912, bí mật trở về Nga hoạt động. Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Lênin cử ông ra mặt trận hàm Chính uỷ “đỏ”, rồi hàm Thứ trưởng Bộ Lương thực, Hội trưởng Chữ thập đỏ. Năm 1921, được cử làm Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Ucraina. Từ năm 1922, chuyển sang công tác ở Quốc tế Cộng sản. Năm 1924, là Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Năm 1928, là Bí thư Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Ba mươi năm liền là Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô.

MÔNGMÚTXÔ, Gaxtông (1883 – 1960), Tổng thư ký Liên đoàn Lao động Pháp, Tổng Biên tập báo La Vie Ouvrière, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp.

        Năm 1919, Môngmútxô đã gặp Nguyễn Ái Quốc và giúp đỡ Người cách viết báo và cho đăng những bài viết của Người trên báo La Vie Ouvrière.

N

NGUYỄN THỨC CANH (1884 – 1965), tức Trần Hữu Công, tức Trần Trọng Khắc, người huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, tham gia phong trào Đông du, sau học y khoa ở Béclin. Từ năm 1923 đến năm 1931, trở lại Thượng Hải làm bác sĩ ở một bệnh viện. Sau này về sống với con trai và mất tại Nha Trang ngày 11-8-1965.

NGUYỄN THẾ TRUYỀN (1898 – 1969), người quê Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, sang Pháp du học. Thời kỳ đầu có tham gia viết báo Le Paria và hoạt động trong Hội Liên hiệp thuộc địa. Nhưng sau đó đã đi theo xu hướng chính trị khác, lập Đảng Việt Nam độc lập và xuất bản báo chí chống cộng trên đất Pháp.

P

PÊTƠRỐP, Racônnicốp Phêđo, người Nga, đảng viên Đảng Cộng sản (b) Nga. Đại biểu dự Đại hội lần
thứ V Quốc tế Cộng sản, được đại hội bầu là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản năm 1924; tham dự nhiều phiên họp mở rộng của hội nghị Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản năm 1925 – 1927. Hội nghị mở rộng lần thứ IV của Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản năm 1924 quyết định cử Pêtơrốp tham gia Ban Phương Đông. Hội nghị mở rộng lần thứ VI năm 1926, Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản cử Pêtơrốp vào Ban Bí thư của Quốc tế Cộng sản kiêm Tổng thư ký Ban Phương Đông.

PHAN BỘI CHÂU (1867 – 1940), quê ở Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông là một sĩ phu tiến bộ trong phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Việt Nam đầu thế kỷ XX.

        Ông là người khởi xướng chủ trương phong trào Đông du, muốn dựa vào Nhật để cứu nước, giải phóng đồng bào. Năm 1905 lập tổ chức Duy Tân hội theo kiểu quân chủ lập hiến. Năm 1912, cùng với những nhà hoạt động khác, ông lập Việt Nam Quang phục hội, theo đường lối quân chủ tư sản thay thế Hội Duy Tân. Năm 1924, ông cải tổ Việt Nam Quang phục hội thành Việt Nam Quốc dân đảng. Tháng 12-1924, chịu ảnh hưởng của Nguyễn Ái Quốc, ông chủ trương chuyển hoạt động của mình theo đường lối cách mạng mới. Nhưng năm 1925 bị địch bắt nên chủ trương không thành. Năm 1925, bị toà án thực dân xử tử hình, sau hạ xuống chung thân và giam lỏng ở Huế. Trong thời gian bị giam lỏng ở Huế, ông thường nhắc đến Nguyễn Ái Quốc và bày tỏ lòng tin tưởng vào chủ nghĩa xã hội trong cuốn sách Chủ nghĩa xã hội do ông viết năm 1935.

PHAN CHÂU TRINH (1872 – 1926), người Quảng Nam, đỗ Phó bảng năm 1901. Năm 1903, làm Thừa biện Bộ Lễ. Năm 1905, cáo quan về quê hoạt động chính trị. Năm 1906, sau chuyến đi Nhật về, Phan Châu Trinh ra sức tuyên truyền chủ trương cải cách và trở thành một trong những người cầm đầu xu hướng cải lương ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Năm 1908, khi phong trào chống thuế của nông dân Trung Kỳ bị đàn áp, ông bị thực dân Pháp bắt đày ra Côn Đảo.

        Năm 1911, nhờ có Hội Liên minh nhân quyền Pháp can thiệp, ông được trả tự do và sang cư trú tại Pháp.

        Năm 1925, thực dân Pháp bố trí đưa ông về nước, âm mưu lợi dụng chủ trương cải lương của ông để ngăn chặn phong trào cách mạng đang trên đà phát triển. Ông lâm bệnh và mất vào tháng 3-1926.

PHAN VĂN TRƯỜNG (1876 – 1933), quê huyện Từ Liêm, Hà Nội; sang Pháp năm 1908, vừa làm việc vừa tiếp tục học thêm. Năm 1914, bị bắt đi lính. Vì nghi hoạt động chống Pháp nên bị kết án 11 tháng tù, sau được trắng án, nhưng đến năm 1919 mới được giải ngũ. Phan Văn Trường hoàn thành luận án tiến sĩ luật và làm luật sư ở Toà thượng thẩm Pari. Năm 1933 về nước, thay Nguyễn An Ninh làm giám đốc chính trị báo La Cloche félée xuất bản ở Sài Gòn, đã cho đăng toàn văn Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của Mác và Ăngghen, đăng lại nhiều bài của các nhà hoạt động cộng sản Pháp đã xuất bản ở Pháp.

         Phan Văn Trường có cảm tình với Nguyễn Ái Quốc từ khi mới đến Pháp và cùng hoạt động yêu nước chống thực dân ở Pari, ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga, tán thành đường lối của Quốc tế Cộng sản và kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân trên lập trường tiến bộ.

POANHCARÊ, Raymông (1860 – 1934), Tổng thống nước Pháp từ năm 1913 đến năm 1920, đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Từ năm 1922 đến năm 1924 và từ năm 1926 đến năm 1929, Poănhgcarê làm Thủ tướng Chính phủ Pháp, thi hành những chính sách tối phản động theo chủ nghĩa sô vanh và chống Liên Xô.

T

TÔN TRUNG SƠN, tên Văn, tự Dật Tiên (1866 – 1925), người huyện Hương Sơn, tỉnh Quảng Đông; lúc ở Nhật lấy biệt hiệu là Trung Sơn Tiều (người hái củi ở Trung Sơn) vì thế được gọi là Trung Sơn tiên sinh. Ông sinh ngày 12-11-1866 trong một gia đình nông dân, học trường y ở Hồng Kông và Quảng Châu. Nuôi chí lớn lật đổ nhà Thanh, ông sớm lập ra Hưng Trung hội. Năm 1905 sáng lập học thuyết Tam dân. Sau 1905, tổ chức các nhóm cách mạng bí mật của Trung Quốc ở trong và ngoài nước thành Trung Quốc cách mạng đồng minh hội. Nhiều lần khởi nghĩa nhưng đều thất bại. Năm 1911 (Tân Hợi) khởi nghĩa thắng lợi ở Vũ Xương, thành lập Trung Hoa dân quốc, được bầu làm Đại Tổng thống lâm thời, sau đó ít lâu thì từ chức, cải tổ Đồng minh hội thành Quốc dân đảng. Năm 1912, cải tổ Quốc dân đảng thành Trung Hoa cách mạng đảngNăm 1916, tổ chức Chính phủ quân sự ở Quảng Châu, được cử làm Đại Nguyên soái. Năm 1917, cải tổ Chính phủ, được bầu làm Tổng tài. Năm 1920, được bầu làm Đại Tổng thống ở Quảng Đông. Năm 1923, cải tổ Trung Hoa cách mạng đảng thành Trung Hoa Quốc dân đảngÔng chủ trương “Thân Nga, liên cộng, phù trợ công nông”, hợp tác với phong trào cộng sản.

         Về đối nội, ông chủ trương triệu tập Hội nghị  quốc dân. Về đối ngoại, ông chủ trương xoá bỏ các điều ước bất bình đẳng. Ngày 12-3-1925, từ trần vì bệnh ung thư trong chuyến đi công cán lên phương Bắc. Ông để lại di chúc “Cách mạng còn chưa thành công, các đồng chí vẫn cần cố gắng”.

         Ông là một nhà yêu nước và một nhà cách mạng vĩ đại, được Chủ tịch Hồ Chí Minh rất kính trọng.

TƠRANH, Anbe Êđua (1889 – 1971), người Pháp, đại biểu dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp ở Tua, được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban lãnh đạo của Đảng theo Quốc tế III, Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp năm 1925 – 1926, Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng năm 1923 – 1924. Năm 1928, bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản. Năm 1934, tham gia Đảng Xã hội.

U

UTƠRÂY, Ecnếxtơ, người Pháp, tham gia Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ và là đại biểu của Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ trong Hạ nghị viện Pháp. Utơrây là một đại địa chủ, dùng quyền thế chiếm 2.000ha đất lập đồn điền ở Nam Bộ. Về chính trị, Utơrây là một viên chức thực dân cực kỳ phản động.

UYNXƠN, Vuđrô (1856 – 1924), Tổng thống Mỹ năm 1913 – 1921. Dưới thời Uynxơn, về đối nội, Chính phủ Mỹ đã thi hành chính sách đàn áp dã man phong trào công nhân; về đối ngoại, Chính phủ Mỹ thi hành chính sách ăn cướp và bành trướng, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của các nước khác, đặc biệt là với các nước Mỹ latinh.

         Năm 1918, Uynxơn đưa ra “Chương trình 14 điểm”, thực chất chương trình này là thiết lập ách thống trị của Mỹ trên thế giới, chống lại nước Nga Xôviết mới ra đời. Chính sách này được che đậy bằng những lời lẽ mỹ miều như “dân chủ”, “quyền dân tộc tự quyết”.

         Năm 1920, Uynxơn bị thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống và thôi hoạt động chính trị.

V

VAREN, Alếchxăngđrơ Clốtđơ (1870 – 1947), luật sư, nhà báo, đảng viên Đảng Xã hội Pháp, dự Đại hội Xtraxbua và Tua (thuộc phái Lôngghê), không tán thành Quốc tế Cộng sản. Toàn quyền Đông Dương năm 1925. Sau bỏ Đảng Xã hội. Nghị sĩ Quốc hội những năm 1945 – 1946. Năm 1945 là bộ trưởng.

VÔITINXKI (Đarkhin), Grigôri Naumôvích (1893 – 1953), người Nga, tham gia Đảng Cộng sản (b) Nga năm 1918. Năm 1920, làm Thư ký Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản; Phó Tiểu ban Viễn Đông của Ban Phương Đông. Những năm 20 thế kỷ XX, Vôitinxki đến Trung Quốc với tư cách đại biểu của Quốc tế Cộng sản làm việc với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ những năm 30 thế kỷ XX, làm công tác khoa học và giáo dục ở Liên Xô.

X

XARÔ, Anbe (1872 – 1962), Toàn quyền Đông Dương trong những năm 1911 – 1914 và 1917 – 1919. Trong những năm 20 thế kỷ XX, là Bộ trưởng Bộ Thuộc địa. Năm 1936 là Thủ tướng Pháp. Năm 1951 là Chủ tịch Hội đồng Liên hiệp Pháp.

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)