Đông Dương có những nguồn khoáng sản đáng kể. Người ta ước lượng mỏ than ở Bắc Kỳ có đến 12 tỷ tấn. Cả cái kho nhiên liệu ấy có thể hoàn toàn dành riêng cho công nghiệp, vì ở Đông Dương không cần tiêu thụ một số lượng than lớn để đun nấu như ở các nước khác.
Nǎm 1920, 63 công ty khai thác 19 mỏ được 7.000.000 tạ than đá trị giá 45.000.000 phrǎng.
Riêng mỏ than Hạ Long đã cung cấp được 5.500.000 tạ.
Công ty lớn nhất là công ty than đá Bắc Kỳ. Công ty này khai thác hằng nǎm được 150.000 tấn. Công ty thương mại và khai thác Viễn Đông sản xuất được 2.600.000 tạ.
Nǎm 1920, Đông Dương sản xuất được:
24.000 tạ quặng sắt
150.000 tấn thiếc
620.000 tạ kẽm và vônphram
7.200 tấn than chì
2.244 tấn ǎngtimoan
132.000 tạ phốtphát
3.413 cara đá quý
l00 kilôgam vàng.
Phải nói rằng hầm mỏ ở Đông Dương được khai thác rất tồi. Người Pháp không dám bỏ vào đó một số vốn lớn, và họ chỉ vơ vét những cái gì dễ vơ vét, như một kẻ vội khoắng sạch những cái gì tiện tay để chuồn đi cho nhanh.
Nước chúng tôi cũng giàu nông lâm sản. Sản phẩm chính là lúa gạo. Hằng nǎm, đồng ruộng của chúng tôi sản xuất được hơn 6 triệu tấn lúa.
Nǎm 1923, người ta đã xuất cảng:
1.500.000 tấn lúa
960.000 tấn ngô
3.650 tấn cao su
12.500 tạ sơn
13.000 tạ mây
6.000 tạ chè
9.500 tạ cà phê
8.400 tạ quế
45.000 tạ hồ tiêu
8.000 tấn đường mía
7.000 tấn cây làm thuốc nhuộm
v.v. và v.v..
Chúng tôi có 25.000.000 hécta rừng cây cối xanh tươi nổi tiếng; 210.000 hécta rừng cây tananh (1) , 32.000 hécta cao su chia làm 140 đồn điền.
Cần chú ý rằng trong lĩnh vực nông nghiệp cũng như mọi lĩnh vực khác, vì phương pháp canh tác lạc hậu của người An Nam và cũng vì tính sống chết mặc bay của người Pháp, Đông Dương còn ở trong tình trạng khó khǎn. Lấy lúa làm thí dụ: với miếng đất rộng bằng nhau, màu mỡ thiên nhiên tương tự như nhau, nǎng suất ở Đông Dương lên xuống khoảng 0,9 đến l,8, trong lúc ở Giava được 2,2, ở Mỹ được 2,4, Nhật được 2,3.
Bọn chủ đồn điền chiếm không, hay gần như chiếm không hàng ngàn hécta rừng. Chúng chặt gỗ bán, nhét tiền vào túi, rồi về Pháp đàng hoàng nghỉ ngơi ở thôn quê, chẳng cần chú ý gây lại các rừng chúng đã phá phách.
ở bên ấy, bọn Pháp có:
48 công ty kinh doanh về công nghiệp với số vốn khoảng chừng 180 đến 200 triệu phrǎng.
46 công ty kinh doanh về thương nghiệp với số vốn ước chừng l00 triệu phrǎng.
12 công ty kinh doanh về nông nghiệp với số vốn 22 triệu phrǎng.
Với 100 thùng kéo tơ hiện có, hằng nǎm Đông Dương gửi sang cho nền công nghiệp Pháp hơn 100 tấn tơ. Ngoài ra Đông Dương còn xuất cảng:
250 tấn thịt muối,
2.000 tấn da.
Công ty làm giấy Đông Dương sản xuất được mỗi nǎm 3.000 tấn giấy bằng tre nứa. Công ty ximǎng Poóclan Đông Dương mỗi nǎm cung cấp 150.000 tấn ximǎng. Doanh nghiệp về tài chính, có Ngân hàng Đông Dương nắm bá quyền. Nǎm 1876, doanh số của nó là 24.000.000 phrǎng và đến nǎm 1921, con số ấy lên đến 6.718.000.000 phrǎng.
Cũng trong thời gian đó, lãi của nó vọt từ 126.000 lên 22.854.000 phrǎng. Nó được đặc quyền phát hành giấy bạc và nắm trong tay số phận của các công ty kinh doanh về công nghiệp và thương nghiệp ở Đông Dương.
Chúng tôi có 3 hải cảng lớn (Sài Gòn, Đà Nẵng và Hải Phòng); quân bình hằng nǎm có đến 5.500 tàu và thuyền buồm lớn vào ra chuyên chở từ 7 đến 8 triệu tấn hàng hoá nhập cảng và xuất cảng, trị giá từ 4 đến 4,5 tỷ phrǎng.
2.l00 kilômét đường sắt, 4.355 ôtô và 252 xe tải (số liệu nǎm 1923) được dùng vào việc chuyên chở trên đường bộ.
Có tài nguyên phong phú trên đất nước mình, có nền đại thương nghiệp tiến hành ở hải cảng của mình, có những số tiền kếch sù luân chuyển quanh mình, ấy thế mà người dân An Nam lại sống đời sống nghèo nàn nhất. Sự phồn thịnh ấy do bàn tay họ làm nên nhưng không phải để cho họ hưởng. Sự áp bức về kinh tế cũng nặng trĩu ê chề trên lưng người bản xứ như sự áp bức về mặt xã hội.
Thí dụ thứ nhất. Công nghiệp đánh cá của người bản xứ có 73.520 thuyền trên sông và 3.000 thuyền ven biển, tất cả là 76.520 thuyền. Số thu nhập cả nǎm 1920 chỉ được 2.800.000 phrǎng, như thế mỗi thuyền chỉ được xấp xỉ 36 phrǎng rưỡi.
Thí dụ thứ hai. Người ta có thể cãi, nếu người An Nam không biết tổ chức nghề đánh cá của mình cho tốt hơn nữa, cái đó đâu có phải lỗi tại người Pháp, mà là vì cách thức làm ǎn và dụng cụ lạc hậu của người bản xứ chứ. Nhưng, nếu họ làm ǎn với dụng cụ của người Pháp tinh xảo hơn, và cả với các chuyên gia Pháp nữa, thì số phận họ vẫn cứ thế mà thôi, mà lại có thể còn tồi tệ hơn thế nữa kia. Công ty nông nghiệp ở Thanh Thuỷ Hạ, một công ty của người Pháp, được lãi hằng nǎm 950.000 phrǎng với số vốn chỉ có l.200.000. ở đâu ra món lãi kếch sù đó, nếu không phải do sự bóc lột khủng khiếp những người lao động An Nam?
Chưa hết đâu: Người An Nam, vì thân phận là phải è cổ ra đóng thuế, phải nhả tiền ra làm cho các doanh nghiệp của bọn bóc lột mình phát đạt.
Thí dụ thứ ba. Trong hai nǎm, với số tiền bóp nặn của dân An Nam, Nhà nước đã trả 6.000.000 phrǎng kinh phí cho một phái đoàn nghiên cứu do các ngài công nghiệp tơ ở Liông cử sang Đông Dương, 7.300.000 phrǎng thưởng cho các công ty khai thác mỏ, 23.800.000 phrǎng cho các nhà trồng cao su. Để khuyến khích cho thương nghiệp và công nghiệp bản xứ, chẳng được lấy một xu.
Thí dụ thứ tư. Trong số 7.152.910 tấn hàng hóa chuyên chở ở hải cảng của mình, về phần dân An Nam chỉ được có 12.231 tấn chuyên chở trên 542 chiếc thuyền buồm nhỏ.
Trong số 20 triệu dân An Nam, chỉ có 22.000 nhà tiểu thương.
Tuy hoàn cảnh xót xa như vậy, nhưng khi phải xỉa tiền ra thì lúc nào dân An Nam cũng phải có mặt cả, chẳng phải tìm đâu xa, và khỏi làm các bạn mệt mỏi với những hàng chữ số vô tận, tôi chỉ dẫn chứng một ít số thống kê từ đầu chiến tranh, cũng đủ chứng tỏ rằng dân An Nam giỏi chịu đựng.
Nǎm 1915, họ phải đóng công thải 13.000.000 phrǎng
– 1916 – 21.700.000 –
– 1917 – 47.600.000 –
– 1918 – l02.200.000 –
– 1920 – 183.100.000 – (làm hai lần)
– 1922 – l03.000.000 –
Ngoài công thải bắt buộc, người An Nam còn bị ép phải lạc quyên số tiền 15.000.000 phrǎng vào công cuộc chiến tranh và 4.000.000 phrǎng cho các vùng bị tàn phá.
Tuy không muốn quá lạm dụng lòng kiên nhẫn của các bạn, tôi cũng không thể bỏ qua việc lạc quyên và công thải này mà không nói sơ qua về cách thức Chính phủ Pháp đã dùng để bắt dân An Nam “khạc” ra tiền.
Cũng như để động viên thanh niên An Nam đi lính cho họ, các ngài Pháp dùng chế độ “tình nguyện bắt buộc” để động viên các món tiền dè sẻn nhỏ của người dân bản xứ ních vào túi mình.
Về vấn đề lạc quyên, một tờ báo Pháp ở Đông Dương, tờ báo này chẳng yêu thương gì dân bản xứ đâu, đã viết như thế này: “Dân chúng đã nhiều lần bắt buộc phải đóng góp, hoặc để cưu mang những kẻ bất hạnh, hoặc để xây dựng những công cuộc ích lợi chung, hoặc để tỏ lòng tôn kính đối với các bậc vĩ nhân.
“Về việc này, thường thường người ta mở những lạc quyên do chính quyền bày trò ra. ở các tỉnh, trò ấy diễn ra như thế này: Viên công sứ cho quan An Nam biết có một cuộc lạc quyên và quy định phỏng chừng số tiền mà ông ta muốn thu được. Sự ước lượng của ông ta đại thể là dựa trên dân số, sự giàu có trong vùng và lợi ích của công cuộc lạc quyên. Đến lượt mình, các quan An Nam tỉnh hạ lệnh cho các quan phủ huyện, chỉ dẫn sơ qua về mục tiêu cần phải đạt tới. Các quan phủ huyện lại hạ lệnh cho các viên chánh tổng, lý trưởng phải đem nộp cho họ đúng kỳ hạn một số tiền nhất định do các quan Pháp đòi. Số tiền do quan đầu tỉnh dự kiến thường thường được nộp đến toà sứ đầy đủ, những kẻ đóng thuế là người An Nam đã phải nộp ít nhất gấp ba số tiền như thế vì không biết do phép ma quỷ biến hoá thế nào, dân chúng ở đất nước hiền lành này phải nộp ít ra ba bốn ngàn đồng để chỉ còn được một ngàn đến nơi đến chốn. Thường thường người An Nam cứ phải cắm cổ nộp tiền mà chẳng biết vì sao phải nộp cả, vả lại họ cũng thừa hiểu rằng kêu ca hay muốn kháng cự lại thì sẽ mang vào thân những tai vạ gì”.
Về công thải, người ta cũng hành động theo kiểu đó nhưng cách làm ngược lại. Không ngồi trên mà hạ lệnh xuống nữa, ngài công sứ đi hết làng này sang làng khác, cho gọi hào lý và chủ gia đình đến, diễn thuyết hứa hẹn vẩn vơ, doạ nạt thật sự và trắng trợn, phân phát cho họ những biên lai ký sẵn với số tiền đã định và ghi trước rồi. Sau đó, muốn thoát khỏi Nhà nước hành hạ, dân bản xứ chỉ còn có việc mà xoay xở lấy cho ra; và ngài công sứ chỉ có việc ngồi chờ nhận tiền.
Nhà nước còn tìm cách cướp đoạt tài tình hơn nhiều nữa. Người ta sáng chế ra “cái phiếu lạc quyên chung” để cho phép đến cả dân nghèo vẫn có thể bảo vợ con nhịn cơm đi để góp phần nhỏ bé của mình vào công thải, tỏ lòng quyến luyến thiết tha với nước mẹ. Thí dụ: mỗi phiếu quy định trước là l0 đồng. Nhưng những người culi và làm thuê công nhật làm sao đủ sức nộp được một số tiền to như vậy? Người ta gọi họ đến từng tốp 5, l0 người một, ấn cho cả bọn một cái biên lai chung, bảo họ cùng ký vào đó. Thế rồi những kẻ bần cùng cứ thu xếp với nhau mà nộp cho đủ số. Nếu có kẻ trốn tránh mà chỉ thu được có 8, 9 đồng thôi, thì tất cả những kẻ khác phải liên đới chịu trách nhiệm. Vì chẳng ai lại muốn đi tù thay cho kẻ khác, nên họ phải làm mật thám tố cáo lẫn nhau để vừa lòng Nhà nước.
Vì mưu thần chước quỷ ấy mà nǎm 1922, người ta bỏ vào két được những 10.289.000 đồng bạc, tuy công thải trước kia định mức có 6.180.000 đồng.
Chẳng cần phải nói, dân An Nam không bao giờ được thấy lại đồng bạc của mình trắng đen ra sao cả.
Bạn phải đăng nhập để bình luận.