Hồ Chí Minh – Một cuộc đời: Phần 9

Nguyên tác: Ho Chi Minh: A Life

Người dịch: Nguyễn Thành Nam

——————————————————

Triều dâng

Sau hội nghị trung ương 5/41, các thành viên tản ra khắp nơi. Chinh cùng với Việt, Thụ trở về xây dựng trụ sở TƯ tại ngoại ô Hà nội. Một số khác chạy ra các tỉnh lân cận xây dựng các đội du kích, mở rộng căn cứ tại Việt bắc. Một số vượt biên tiếp tục củng cố quan hệ đồng minh lỏng lẻo với các phần tử dân tộc không cộng sản. Q vẫn ở lại Pacbo, chuẩn bị cho công cuộc nam tiến. Cũng như ở thời gian ở Thái, không để phí thời gian Q liền biến mình thành người thầy và người cha cho đám quần chúng – con chiên. Q tổ chức các khoá học ngắn ngày về chủ nghĩa Max-Lê và các kỹ năng quân sự biến các cán bộ địa phương vừa là chiến binh vừa là tông đồ. Q đích thân giảng dạy các khoá này, giải thích về tình hình và tương quan lực lượng trên thế giới. Giáo trình về cách thức tổ chức chiến tranh du kích cũng do Q chuẩn bị, chắc là nhờ những kinh nghiệm học được trong thời gian ở trong bát lộ quân. Q cũng thường xuyên viết bài cho tờ Việt nam độc lập in trên giấy được chế từ bột tre. Để cho dân chúng có thể đọc được báo, chương trình xoá mù chữ được tiến hành trong vùng. Các bài báo của Q đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau, bao gồm cả lịch sử đảng và phong trào cách mạng thế giới nhưng tựu trung là đều kêu gọi quần chúng chuẩn bị cho cuộc chiến đấu không khoan nhượng với kẻ thù. Ví dụ như bài “Phụ nữ” trong số 104:

(tìm nguyên tác) …..

Trong các bài viết của mình, Q luôn nhắc đến việc dành độc lập cho đất nước như một nghĩa vụ thiêng liêng. Trong bài thơ “Lịch sử nước ta”, ngay trang đầu Q đã viết: “Dân ta phải biết sử ta, Cho tường gốc tích nước nhà Việt nam” và kết luận: “Dân ta xin nhớ chữ đồng, Đồng lòng, đồng sức, đồng tình, đồng minh”. Cuối bài này, Q đã liệt kê ra một loạt những mốc thời gian quan trọng của Việt nam. Thời điểm cuối cùng là năm 1945, Việt nam độc lập. Khi các đồng chí hỏi tại sao ông lại biết trước là năm 45 nước ta sẽ được độc lập, Q chỉ trả lời: để rồi xem.

Trong lúc đó, PCKiên được chỉ thị đi tìm địa điểm cho căn cứ cách mạng đã quyết định dừng chân tại một vùng núi giữa hai huyện Nguyên Bình và Hoà An phía tây tỉnh lỵ Cao bằng. Căn cứ này nằm trong thung lũng nhỏ bao quanh bằng những tảng đá đỏ nên được Võ Nguyên Giáp gọi là Lô cốt đỏ. Bản thân trụ sở thì chỉ là một túp lều nhưng so với hang Pacbo thì quả là đã quá sang trọng. Tháng 1/42, trong bộ quần áo người Nùng mang theo chiếc máy chữ và những dụng cụ luyện tập thể dục, Q cùng với một vài đồng chí nữa rời Pác bó đi bộ đến căn cứ mới. Trên đường có lúc cả đoàn bị lạc nhưng Q chỉ cười to “Thế này đâm ra hay, biết đâu sau này lại dùng được đường này để chạy trốn”. Q đặt tên cho căn cứ mới là Lam sơn và lại bắt tay vào công việc đào tạo và khích lệ một số đồng chí sốt ruột vì cuộc đấu tranh không có hồi kết. Q nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ nòng cốt. Ông nói: “cách mạng như nước thuỷ triều, có lúc lên lúc xuống. Cán bộ nòng cốt chính là những cột cừ giữ đất khi nước xuống”. Tuy điều kiện ở tốt hơn nhưng căn cứ mới dễ bị Pháp truy quét. Thỉnh thoảng cả bọn lại phải trốn vào rừng rậm hoang sơ rất vất vả. Q luôn sẵn sàng chia sẻ những điều kiện khó khăn nhất với các đồng chí của mình. Khi tinh thần xuống, ông động viên: người cách mạng cần nhất 3 tính cách: kiên trì, bình tĩnh và cảnh giác”

Từ những năm 30, Đảng đã chủ trương chọn Việt bắc để xây dựng căn cứ hỗ trợ cho mình. Đại hội I năm 1935 đã hứa sẽ dành cho tất cả các dân tộc sống ở trong khu vực này quyền tự trị trong liên bang Đông dương độc lập trong tương lai. Được Q khuyến khích, rất nhiều cán bộ đã học tiếng cũng như các phong tục địa phương, tham gia vào các hoạt động cộng đồng, một số lập gia đình tại chỗ. Q luôn nhắc các đồng chí của mình: Tuyên truyền là công tác quan trọng nhất của cách mạng, và là bảo đảm cho thành công. 7/12/1941, Nhật bất ngờ tấn công Mỹ ở Trân Châu Cảng. Ngay lập tức trên báo Độc lập, Q có bài phân tích tình hình, nhận định cuộc chiến trên Thái Bình Dương đã trở thành cuộc xung đột có tính toàn cầu, và cách mạng Việt nam cần có những điều chỉnh để có thể tập hợp lực lượng sẵn sàng cho những thách thức mới. Q cho rằng từ Cao bằng phải mở rộng liên kết với những đội du kích đang hoạt động ở Bắc sơn, Võ nhai do Chu Văn Tấn chỉ huy, tiến tới mở hành lang xuống đồng bằng Bắc bộ. Cũng trong thời gian này, quân Pháp tăng cường càn quét, lùng sục. Phùng Chí Kiên bị giết trong một trận càn. Tháng 6 năm 1942, Q quyết định rời Lam sơn về lại Pacbo trong vai một thầy cúng đi chữa bệnh cho vợ.

Ngày 13/8/1942 Q cùng Lê Quảng Ba lên đường sang Tàu để tìm kiếm thêm sự hỗ trợ quốc tế. Họ đi bộ, ngày nghỉ, đêm đi để tránh mật thám Pháp, đến được thị trấn biên giới nhỏ Bamong ngày 25/8. Sau khi nghỉ 2 ngày tại nhà một nông dân có cảm tình với cách mạng Việt nam Xu Weisan, cùng với một liên lạc viên trẻ TQ, Q lên đường tới kinh đô cách mạng Trùng khánh, để LQ Ba lại ở Bamong. Chưa đi được bao xa thì cảhai đã bị cảnh sát TQ bắt tại làng Teyuan, gần thị trấn Debao, 20 dặm về phía Đông bắc của Giang tây. Chính quyền địa phương nghi họ là gián điệp của Nhật vì cả giấy chứng nhận của Hội Chống xâm lăng, thẻ nhà báo mang tên Hồ Chí Minh của Tân xã quốc tế, lẫn chứng minh thư của Quân đoàn 4 mà Q mang theo người đều đã hết hạn. Mục tiêu chuyến đi TQ này của Q cũng là một câu hỏi được nhiều người quan tâm. Trong hồi ký của mình, Q tự nhận là nhằm tìm kiếm mối quan hệ với Tưởng và nhờ chính phủ Quốc dân đảng giúp đỡ đuổi Nhật. Một số nhà sử học thì cho rằng chẳng qua Q muốn bắt liên lạc với các đồng chí của mình ở CCP. Sự thật thì chắc là cả hai. Hiển nhiên là Q muốn gặp lại Chu Ân Lai và những người quen cũ mà ông đã không gặp từ năm 1938 tại ở Diên An, nhưng mục đích chính của Q chắc là tìm sự ủng hộ của Tưởng. Q thừa biết sau chiến thắng Midway, quân đồng minh đang chiếm ưu thế và chính phủ Tưởng được đồng minh ủng hộ, có nhiều khả năng sống sót sau hậu chiến. Q cũng cần chính phủ Tưởng làm ngơ cho các hoạt động của Việt minh ở phía Nam TQ. Người mà Q muốn liên lạc để giới thiệu nhiều khả năng là Tống Khánh Linh, đang phụ trách chi nhánh TQ của Hội Chống xâm lăng. Hoa mắt với đống giấy tờ giả, chính quyền địa phương cho rằng kẻ bị bắt chắc phải có tầm quan trọng lớn. Họ đã liên lạc với toà án quân sự ở Quế lâm, thủ phủ Quảng tây. Toà này yêu cầu dẫn giải Q đến để xét xử. Mặc dù Xu Weisan có người quen trong chính quyền nhưng vẫn không can thiệp được. Ngày 29/8, Q bị tống vào nhà giam Quốc dân đảng ở Jingxi, để tiếp tục đợi lệnh trên. Chính trong điều kiện tù ngục khó khăn này, tập thơ nổi tiếng của Q “Nhật ký trong tù” đã ra đời (1).

Ngâm thơ ta vốn không ham

Nhưng ngồi trong ngục biết làm chi đây

Ngồi buồn ngâm vịnh cho khuây

Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do

Ngày 10/10, kỷ niệm 31 năm cách mạng tư sản TQ, Q bị chuyển sang Debao. Trong thời gian này, được tin Wendell Willkie, đặc phái viên của Rusevelt cũng đến Trùng khánh và được tiếp đón nồng nhiệt, Q đã cám cảnh làm bài thơ:

Tôi với ông.….

Từ Debao, Q bị chuyển qua Tiandong và Lungan tới Nam ninh. Tình hình có vẻ như cũng được cải thiện. Ngày 9/12, Q được đưa lên tàu chuyển về Liễu Châu, trụ sở của quân khu 4. Tư lệnh vùng là tướng Trương Phát Khuê, cũng không chia sẻ quan điểm chống cộng điên cuồng của Tưởng và ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt nam. Q hy vọng là vụ việc sẽ được báo cáo lên ông này. Tuy nhiên, chẳng có gì xảy ra cả, ngày hôm sau Q bị đưa đi Quế lâm. Tại đây Q khai trước thẩm phán toà quân sự là có quan hệ với phong trào cộng sản ở Đông dương nhưng không liên quan gì đến CCP cả. Thẩm phán tuyên bố Q là tù chính trị và được trả lại Liễu châu cho Phòng chính trị quân khu xử. Q về lại đến Liễu châu đầu tháng 2 năm 1943.

Tin Q bị bắt về đến Pacbo vào cuối tháng 10. Các đồng chí của ông đã gửi thư phản đối khắp nơi cho các hãng thông tấn như AP, Reuters, UPI, Tass. Trong điện gửi Tass, họ khoe rằng Hội Chống xâm lăng Việt nam có đến 200,000 thành viên và Q là nhân vật chủ chốt của Hội. Một cán bộ của Đảng là Hoàng Đình Gióng đã được cử đi đưa một bức thư đến tận tay Tôn Kế, con trai Tôn Trung Sơn, hiện là chủ tịch Nghị viện. Bức thư viết: Kính thưa Tôn Chủ tịch

Đại diện của chúng tôi, ông Hồ Chí Minh đã bị bắt trên đường đến diện kiến Tưởng Nguyên soái. Chúng tôi khẩn thiết yêu cầu ngài can thiệp để thả ông ấy ra càng sớm càng tốt

Mặc dù chẳng biết HCM là ai, Tôn chuyển vụ việc cho Vũ Thế Chương (Wu Tiecheng), tổng thư ký của Ban thường vụ TƯ Quốc dân đảng. Ngày 9/11, ông này điện xuống Quế lâm và Liễu châu đề nghị nghiên cứu vụ việc và nếu được thì thả Q ra. Đáng tiếc là lúc đó Q vẫn còn đang ở trên đường từ Debao đến Nam ninh (2).

Khoảng mùa đông năm 1942-1943, một cán bộ Đảng được cử đi tìm gặp Q mới trở về thông báo là Q đã chết tại nhà tù ở Liễu châu. Các lãnh đạo ở Việt bắc vội báo ngay tin cho các đồng chí của mình đang đóng gần Hà nội và cử Phạm Văn Đồng phụ trách việc tang lễ. Vài tuần sau, khi sự việc còn đang tù mù, bỗng có tờ báo đến từ TQ, trên đó có mấy dòng viết tay nét chữ của Q: “Gửi các chíên hữu. Chúc khoẻ và dũng cảm trong công việc” kèm theo là bài thơ:

Núi ấp ôm mây, mây ấp nũi

Lòng sông gương sáng bụi không mờ

Bòi hồi dạo bước Tây phong lĩnh

Trông lại trời Nam nhớ bạn xưa

Anh em mừng hú, mới gọi tay cán bộ kia ra tra hỏi. Tay này khẳng định là chính Tỉnh trưởng thông báo tin này. Vặn vẹo kỹ mới vỡ lẽ là tay này kém tiếng Tàu, nghe nhầm chữ Shi tức là OK thành Xi tức chết (3).

Trong tập NKTT, Q ví mình như quả bóng bị đá đi đá lại giữa các nhà tù. Trong 5 tháng cuối, ông đã từng qua đến 18 nhà tù của 13 huyện nam Trung hoa. Cuộc sống đã dễ thở hơn. Thức ăn đã tạm được, tối ngủ không bị xiềng, thỉnh thoảng ban ngày còn được đi dạo, thậm chí còn được đọc sách báo. Q thường tận dụng cơ hội liên lạc với các đồng chí của mình bằng cách viết bằng nước cơm lên mép của các quyển tạp chí. Để giết thời gian, Q đã dịch cuốn Nguyên tắc Tam dân của Tôn Trung Sơn sang tiếng Việt. Khoảng mùa xuân năm 1943, Trương Phát Khuê cũng hiểu ra rằng tay tù chính trị của mình là ai, hay ít nhất cũng nắm được rằng tay này là cộng sản. Theo Hoàng Văn Hoan, chính một thành viên quốc dân đảng Việt nam tên là Trần Bao đã khai ra Q chính là đặc vụ của QTCS. Tuy nhiên trong hồi ký của mình sau này, trưởng phòng chính trị QK 4, tướng Lương Hoa Sinh kể rằng khi thẩm vấn Q, ông đã hiểu ngay tay này là cộng sản và đề nghị thủ tiêu. Không hiểu sao, Trùng khánh lại phản đối và yêu cầu Lương “cải tạo” tay tù này. Quan điểm của chính phủ TW có thể bị Chu Ân Lai, lúc đó là trưởng đại diện của CCP tai Cq ảnh hưởng. Nghe tin Q bị bắt, Chu đã liên hệ với tướng Phương Yuxiang, một trong những đối thủ của Tưởng những năm 20-30, giúp đỡ. Phương đã tư vấn với đại điện Xô viết ở Cq, rồi cùng với Phó chủ tịch chính phủ là Lý Trung Nhân đến gặp Tưởng. Phương nói với Tưởng, việc Q là cộng sản VN chẳng ảnh hưởng gi đến QD đảng, Trung cộng rồi Xô cộng đều có đại diện tại Cq, đâu có ai bị bắt bớ gì? Chưa nói đến VN đang đứng cùng bên với Tưởng trong cuộc chiến chống Nhật, xử Q như tội phạm sẽ làm mất uy tín chính phủ, có thể ảnh hưởng đến sự ủng hộ của thế giới. Lý cũng hùa vào, đề nghị giao cho vụ việc cho địa phương xử lý. Tưởng miễn cưỡng đồng ý, điện cho QK 4 thả Q ra dưới sự giám sát và tìm cách lợi dụng Q cho các mục đích của QDĐ.

Không rõ bức điện này có tác dụng gì không! Trong một cuộc phỏng vấn sau này ở Mỹ, Trương Phát khuê cho rằng mình chưa bao giờ hành động theo lệnh trên trong vụ giam giữ HCM. Khi biết được Q là đại diện của phong trào cộng sản VN, Trương đã giao cho trưởng phòng chính trị mới là tướng Hầu Chíminh nhiệm vụ dụ dỗ Q hợp tác để đổi lấy tự do. Trương cho biết ông đã trực tiếp thẩm vấn và bị thuyết phục bởi năng lực tổ chức và nhiệt huyết chống Pháp của Q. Q thông báo đảng CS VN đặt mục tiêu hàng đầu là độc lập và tự do của dân tộc mình. Q đề nghị giúp đỡ Trương trong việc tổ chức lại các lực lượng VN yêu nước ở Nam Trung hoa và cam kết sẽ không xây dựng xã hội cộng sản tại VN trong ít nhất là 50 năm.

Trương hiển nhiên là có những mưu đồ chính trị dài hạn riêng trong việc thả Q. Xuất thân từ Quảng đông, đã từng tham gia cuộc hành quân Bắc phạt, Trương lại bị cho ra rìa trong các quan hệ chính trị Quốc – Cộng. Trương ghét cả Nhật và Pháp và không loại trừ có cảm tình với tham vọng dành độc lập của nhân dân Việt nam. Là tư lệnh QK4, Trương cần phải chuẩn bị lực lượng để có thể tấn công quân Nhật ở Đông dương khi cần thiết. Kế hoạch tập hợp lực lượng Việt nam của Trương đang bị nhiều vấn đề nghiêm trọng. Cuối năm 1941, Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt nam, liên minh giữa Quốc dân đảng và ICP tan vỡ do các lãnh tụ QDĐ phát hiện ra mưu đồ của Giáp và Đồng. Sau đó thì chính Tường Tam, Hải Thần và Nghiêm Kế Tộ hục hặc lẫn nhau, Nhà tài trợ chính Trương Bội Công bị bắt vì tội hối lộ. Mùa hè 1942, Trương quyết định tổ chức lại, thành lập Việt nam cách mạng đồng minh Hội, do tướng Hau Chiminh làm cố vấn. Tuy nhiên Hội này cũng chẳng hơn gì Uỷ ban trước do các lãnh đạo suốt ngày đấu đá. Có lẽ Trương hy vọng là Q sẽ mang lại được nguồn sinh khí mới cho đám tay chân VN của mình. Ngày 10/9/1943, Q được trả tự do. Một thành viên phòng chính trị kể rằng, ông ta đang ăn thì bỗng thấy tay tù bước vào sà xuống tán phét với tướng Hầu Chiminh và các cộng sự khác (4). Mùa thu 43, Trương tuyên bố sẽ quan tâm trực tiếp đến Đồng minh Hội và cử phó của mình là tướng Tiêu Văn làm cố vấn. Hồ Chí Minh được bổ nhiệm làm phó chủ tịch. Chủ tịch hội lúc đó là Nguyễn Hải Thần chắc chắn là rất khó chịu nhưng không dám làm mất lòng người đỡ đầu của mình. Trong một bữa chiêu đãi, Hải Thần đã đưa ra câu đối: “Hồ Chí Minh, Hầu Chí Minh, hai đồng chí cùng quyết chí minh”. HCM đã trả lời: “Anh cách mạng, tôi cách mạng, chúng ta sẽ cùng nhau cách mạng” . Được sự ưu ái của Trương, Q càng ngày càng hoạt động tích cực trong Đồng minh Hội. Ô chuyển đến sống ở trụ sở Hội và thường xuyên tham gia giảng dạy về các vấn đề quốc tế và địa phương. Q thường nói với các học viên là Trung hoa là động lực hòa bình, Nhật sẽ thất bại trước Đồng minh trong khoảng 1 năm nữa và TQ sẽ giúp VN trở thành một quốc gia thống nhất, hòa bình, độc lập và dân chủ ỏ Đông Nam á.

Cảm thấy yên tâm, Trương đề nghị Q giúp đỡ để tổ chức đại hội lần 2 của ĐMH. Q đồng ý và đề xuất hội nghị trù bị vào cuối tháng 2 năm 1944. Tại hội nghị này, Q kêu gọi ĐMH mở rộng cửa cho Việt minh cũng như tất cả các tổ chức Việt nam yêu nước và chống phát xít khác. Đề cập đến nỗi sợ cộng sản của các đại biểu, Q nhấn mạnh ICP hiện là tổ chức có ảnh hưởng lớn nhất và “nhân dân Việt nam không có gì phảI sợ chủ nghĩa cộng sản”. Chủ nghĩa cộng sản sẽ lan tỏa tư tưởng bình đẳng kinh tế trên toàn thế giới, như sự bình đẳng chính trị do Cách mạng Pháp khởi xướng năm 1789 được dân chủ gieo rắc khắp châu Âu. Theo ông, các đảng phái chính trị phải đoàn kết vì mục tiêu chung như nước Trung hoa tam dân đã liên kết với đế quốc Anh, cộng sản Nga và tư bản Mỹ để chống lại chủ nghĩa phát xít. Trương Phát Khuê nghe rất sướng tai, đề nghị Hồ tổ chức đại hội vào cuối tháng 3 (5). Mặc dù một số phần tử không cộng sản chẳng thích thú gì với ý tưởng mở rộng phong trào của Hồ ra sức chống đối, tuy nhiên do Trương “đại ca” đích thân đứng ra đốc thúc và bảo kê, đại hội vẫn được tổ chức vào ngày 24/3/1944 với 15 đại biểu từ ICP, VNQDD và Đại Việt. 2 đại diện của Việt minh là Phạm Văn Đồng và Lê Tống Sơn. Đại hội đã bầu ra ban chấp hành 7 thành viên trong đó có H. Sau đại hội, Trương hoàn toàn tin tưởng rằng là H mới là người có thể đứng ra lãnh đạo được các họat động của Đồng minh hội (ĐMH) và ủy quyền cho H toàn quyền hành động với lời hứa sẽ gửi H trở lại Việt nam. Để chứng minh sự “trung thành” của mình, H lập kế hoạch mở rộng ĐMH (kêu gọi cả những đảng được coi là bù nhìn như đảng Hiến pháp), tuyên truyền thiện chí của TQ với nền độc lập của VN, tăng cường các hoạt động vũ trang để chuẩn bị cơ sở để đón quân đội TQ vào Việt nam đánh Nhật… và đề nghị Trương cung cấp tài chính, vũ khí. Trương đã khôn khéo “né” và hứa chỉ cung cấp hộ chiếu, tiền bạc cũng như các phương tiện đi lại cho H, còn giúp đỡ trực tiếp những hoạt động kháng Nhật bên trong Đông dương thì còn phải xem xét.

Trước khi rời Lưu châu, H tới thăm tướng Tiêu Văn, cố vấn của Trương cho ĐMH và là người đã giúp H chuẩn bị cho chuyến trở lại VN. Trong lúc trà dư tửu hậu, H đã thề với Tiêu: “99% những điều tôi nói về cách mạng VN là đúng, chỉ có 1% chưa nói với tướng quân thôi”. Có lẽ H ám chỉ lời hứa với Trương về việc không xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở VN trong 50 năm. Cuối tháng 8, H cùng 18 học sinh VN từ trường đào tạo của Trương, trong quân phục Tưởng, qua Long châu, Jingxi lên đường về Việt nam. Sau khi nghỉ lại vài ngày ở thị trấn biên giới Pingmeng để dưỡng sức và đảm bảo an toàn, cả đoàn về đến Pacbo vào ngày 20/9 (6).

Trong thời gian Q vắng mặt, tình hình VN đã có nhiều biến đổi. Cuộc chiến Thái bình dương bùng nổ đã mang lại cơ hội cũng như thách thức mới cho VN với sự có mặt của Anh, Mỹ và Tàu Tưởng. Sau một số thắng lợi ban đầu của phong trào cách mạng, Pháp đã xiết chặt kiểm soát và bố ráp trong năm 1943, Hoàng Văn Thụ bị bắt và tử hình. Trường Chinh thoát chết vì kịp thời cải trang thành nông dân. Tuy nhiên từ giữa 1944, các nhóm cách mạng nhỏ bị Pháp truy quét lại có cơ hội tập hợp lực lượng lại, tình hình kinh tế tiếp tục bi đát dẫn đến sự bất bình của dân chúng ở thành thị và nông thôn tạo thành môi trường lý tưởng để nuôi dưỡng những hạt nhân cách mạng. Trong hội nghị tháng 7/1944 có đại diện của ICP tại 3 tỉnh biên giới, các đại biểu đã cãi nhau kịch liệt về đề nghị của Giáp về việc phát động chiến tranh du kích để thành lập khu giải phóng và xây dựng quân đội chính quy. Hội nghị tạm thời đồng ý với Giáp về chiến tranh du kích nhưng chưa xác định được thời điểm khởi động. Hội nghị cũng không thống nhất được về việc thành lập quân đội. Trong chuyến đi cùng Vũ Anh đón H về Pacbo, Giáp đã trình bày về kế hoạch của mình cũng như những nghị quyết của hội nghị tháng 7. H đã không đồng ý với Giáp và chỉ rõ: “quyết định mở cuộc tấn công ở Việtbắc là chỉ dựa vào tình hình địa phương và chưa đánh giá tình hình cả nước. Do chưa có nơi nào có phong trào mạnh, nên sẽ không thể cùng đứng lên ủng hộ. Pháp sẽ dễ dàng có điều kiện tập trung lực lượng và đàn áp. Giai đoạn cách mạng hòa bình đã qua, nhưng thời khắc tổng tiến công vẫn chưa tới. Trước mắt các hoạt động tuyên truyền chính trị vẫn phải được ưu tiên”. Để bù lại cho nỗi thất vọng của người đồng chí trẻ, H đề nghị Giáp bắt tay vào xây dựng những đơn vị đầu tiên của quân đội và đặt tên là đội “Việt nam tuyên truyền giải phóng quân“. H còn căn dặn tiêu chí đầu tiên của đội là “bí mật, luôn luôn bí mật. Địch nghĩ ta ở tây thì ta đang ở đông. Đánh bất ngờ, rút ngay khi địch chưa kịp trở tay”. Ngày 22/12, Giáp đã tập hợp 34 thành viên trong một khu rừng Việt bắc, khởi đầu cho một đội quân huyền thoại. 2 ngày sau khi chào đời, đội quân mới thành lập đánh chiếm 2 đồn Na ngần, Phai khắt. Ngoài vô khối vũ khí thu được, tin thắng trận lan như lửa cháy rừng trong toàn Việt bắc.

Ngày 11/11/1944, máy bay trinh sát của trung úy Rudolph Shaw bị trục trặc động cơ và Shaw phải nhảy dù xuống những cánh rừng Việt bắc. Việt minh là những người đầu tiên tìm ra anh ta. Shaw kêu lên: “Viet minh, Viet minh”, những người còn lại hét “America, Roosevelt!” và đó cũng là cuộc nói chuyện duy nhất của họ. Việt minh quyết định đưa viên phi công đến chỗ HCM. Đêm đi, ngày nghỉ để tránh quân Nhật, trèo đèo, lội suối, họ đã mất gần một tháng để vượt qua quãng đường có 40 dặm. H chào đón Shaw bằng thứ tiếng Anh thông dụng: “how do u do, pilot! Where are u from?”. Viên phi công ứa nước mắt ôm chầm lấy H và nói “tôi nghe giọng ông mà như nghe tiếng bố tôi ở US”. H đã không chờ đợi cuộc gặp gỡ bất ngờ này với viên phi công Mỹ. Mặc dù khi Mỹ bắt đầu tham chiến, H đã coi sự ủng hộ của Mỹ là quân chủ bài mà mình phải có để đánh Pháp, đuổi Nhật để dành độc lập. Trong thời gian ở Lưu châu, H đã dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu các tài liệu của thư viện Văn phòng Thông tin chiến tranh Mỹ (OWI). Hiển nhiên là H biết Roosevelt không có cảm tình với chủ nghĩa thực dân châu Âu và ủng hộ việc trao trả lại độc lập cho các thuộc địa ở châu á sau chiến tranh. Về Đông dương, R đã từng nói: “Pháp đã vắt kiệt mảnh đất này trong 100 năm, các dân tộc Đông dương xứng đáng một số phận tốt hơn thế”. Mặc dù thừa biết chế độ Mỹ là một chế độ tư bản, H khâm phục cam kết của nước Mỹ với những nguyên tắc dân chủ và tin tưởng R sẽ dẫn dắt nước Mỹ tiến tới bình đẳng hơn về kinh tế và xã hội.

Các viên chức Mỹ ở Nam Trung hoa cũng đã biết đến H từ lâu trước khi H được phóng thích. Từ mùa thu năm 1942, báo chí địa phương đã đưa tin về một tù nhân chính trị tên là Ho Chih Chi vì những quan hệ với một chính phủ Việt nam lâm thời thân Đồng minh. Khi các nhân viên đại sứ quán Mỹ liên lạc với đại diện của phong trào Nước Pháp tự do, tay này đã phủ nhận những tin này. Tuy nhiên, đại sứ Clarence Gauss cũng vẫn điện báo cho bộ ngoại giao ngày 31/12/1942 tin về vụ bắt bớ, và ra lệnh cho các nhân viên của mình tìm hiểu thêm. Vì không có sự hợp tác từ phía chính phủ Trùng khánh, họ chẳng tìm được gì và cho rằng cái phong trào nào đó ở Đông dương chẳng có tí ý nghĩa nào với nước Mỹ. Nhưng có những người Mỹ khác không nghĩ như vậy. Mùa hè năm 1943, Chu ân Lai tiếp cận các quan chức OSS để nhờ thả H đổi lấy sự ủng hộ quân đội Đồng minh tại Đông dương. OSS đã trao đổi với một viên chức OWI mà H đã từng đến xin làm phiên dịch và một nhân viên sứ quán để tìm cách can thiệp với chính phủ TQ thả H và thảo luận sự cộng tác. Không rõ kế hoạch này có ảnh hưởng gì đến quyết định của Trương Phát Khuê nhưng ít nhất là cũng không thấy H hợp tác ngay với quân Mỹ, ngoài việc sứ quán Mỹ nhận được điện của Phân hội Việt nam của Hội quốc tế chống xâm lược nhờ xin thả H để tham gia vào các hoạt động chống Nhật tháng 11/1943 (7). Một viên chức sứ quán tên là Philip Sprouse nhận ra ngay tên của người tù từ năm ngoái. Tuy nhiên đại diện của phong trào Nước Pháp Tự do đã thuyết phục Sprouse rằng chẳng qua các Hội, đoàn này chỉ là trò chính trị vớ vẩn phục vụ mục đích của Trung quốc và không nên bận tâm làm gì. Đại sứ Gauss đã gửi cả bức thư xin cũng như lời giải thích của ông về việc “Không trả lời” cho bộ Ngoại giao và vụ việc “chim nghỉm” ở Washington. Mùa xuân 1944, đại diện Vietminh tại Nam Trung hoa lại tiếp tục gửi thư đến văn phòng OSS, OWI và Sứ quán Mỹ đề nghị chiến đấu cùng Đồng minh chống Nhật tại Đông dương và nhờ Mỹ giúp đỡ giành độc lập. Ngày 18/8, đại diện OSS đã chuyển thư đến tùy viên sứ quán William Langdon kèm theo lời bình: “Đông dương hậu chiến sẽ đại loạn nếu chúng ta không dựng lên một cơ chế tự trị trước đó”. Ngày 8/9 Langdon tiếp đoàn Việt minh, hứa sẽ chuyển thư cho Đại sứ, nhắc lại sự ủng hộ độc lập cho các dân tộc phương đông, trong đó có Việt nam. Ông này cũng khôn khéo lờ đi việc giúp đỡ trực tiếp :“các bạn đang là công dân Pháp mà chúng tôi lại đang sát cánh với Pháp để đánh lại phe Trục. Không có lý gì Mỹ lại cùng lúc vừa tốn xương máu, tiền bạc để cứu nước Pháp vừa giúp đỡ người khác lật đổ đế chế Pháp”. Đại diện Việt minh là Phạm Việt Tú ra sức thuyết phục là VM chỉ đánh Nhật chứ không đánh Pháp, và mong được sự độc lập. Langdon không lay chuyển, viện cớ tướng Đờ Gôn đã tuyên bố ở Wasinhton là sẽ trao cho các nước thuộc đế quốc Pháp những quyền tự trị, và nếu VM không hài lòng, có thể nói chuyện trực tiếp với người Pháp. Mặc dù OSS báo cáo tương đối lạc quan về cuộc gặp gỡ, Langdon và OWI cho rằng các phần tử dân tộc chủ nghĩa VN tại Nam Trung hoa chưa có đủ kinh nghiệm để điều hành đất nước và những hội, nhóm của họ không có ý nghĩa nào cả trong Đông dương. Các nguồn Pháp còn tung tin Việt minh chỉ là bộ mặt cho vài trí thức bất mãn và không được dân chúng hưởng ứng.

HCM không liên quan trực tiếp đến vụ này, nhưng có vẻ như H đã có contact với Tú và các đồng chí của anh ta để đề xuất cuộc gặp với các viên chức Mỹ tại Côn minh. Sau khi ra tù tháng 9 năm 1943, H đã lân lan làm quen, tạo niềm tin và giữ quan hệ tốt với các nhân viên OWI tại Lưu châu. Văn phòng OWI tại đây chính là người đã tìm cách sắp xếp để H đi San Francisco tháng 8/1944. Lãnh sự quán tại Côn minh đã xin ý kiến chỉ đạo của Bộ ngoại giao trước yêu cầu của OWI cấp visa cho một người có tên là Ho Tinh-ching (được miêu tả là người Việt gốc Hoa) sang Mỹ để cung cấp một số tin tức về Việt nam. Viên chức bộ ngoại giao xử lý yêu cầu này lại chính là Sprouse. Anh này nhận ra Mr. Ho và viết thư giới thiệu, ghi nhận thành tích của H giúp quốc dân đảng tuyên truyền trong Việt nam. Vụ Viễn đông đồng ý cấp visa nhưng Vụ châu Âu phản đối vì sợ những rắc rối với Pháp. Mặc dù OWI ra sức bảo vệ rằng những hoạt động của H trên đất Mỹ sẽ được kiểm soát chặt chẽ, cuối cùng bộ ngoại giao đã từ chối cấp visa cho H. Tại sao H lại muốn đi Mỹ vào lúc này? Tình hình mặt trận Thái bình dương đang biến chuyển có lợi cho Đồng minh và chiến thắng rất có thể đến vào năm sau. H thừa biết phải có mặt ở VN vào thời điểm đó để lãnh đạo cuộc đấu tranh. Có thể tại thời điểm tháng 8/44, Trương Phát Khuê vẫn chưa đồng ý cho H quay về VN, và H định xin sang Mỹ để trực tiếp nhờ các quan chức cao cấp Mỹ can thiệp cho ông được trở về VN.

Vụ trung uý Shaw tự nhiên dẫn xác đến trước cửa đã tạo cơ hội vàng để H có thể đề nghị Mỹ giúp đỡ Việt minh. Ngay lập tức, lấy cớ phải đi công tác cùng, H đã cùng 2 chiến sĩ trẻ nữa hộ tống Shaw sang Côn minh. Sang bên kia biên giới, Shaw bắt được liên lạc với tổ chức cứu trợ phi công Mỹ (AGAS) và được đưa ngay về Côn minh (CM) bằng máy bay. Không nản chí, H quyết định đi bộ đến CM, trong vai người tuần đường trên tuyến đường sắt HN-CM (8). Nếu gặp người có lòng, họ nghỉ đêm nhờ, còn không thì ngủ ngoài trời. Lúc qua Y lương, một thành phố nhỏ trên đường, cả đoàn đã gặp Hoàng Quảng Bình, một người quen cũ cách đây 4 năm của H ở CM, hiện đang hành nghề cắt tóc. Theo lời Bình, trông Hồ rất ốm yếu và trầm uất, ăn ít, quần áo thì rách rưới, giầy thủng lỗ chỗ, lại đang sốt do lây của những người đi đường. Vậy mà khi Bình nhắc đến chuyện từ chối sự lôi kéo của Đồng Minh Hội, mắt H sáng lên. H khuyên Bình phải gia nhập ngay Đồng minh Hội rồi tuyên truyền kéo người từ đó sang với Đảng (9). Sau khi ở lại Ylương vài ngày cho khỏe, cả đoàn lại lên đường và đến Côn minh trong những tuần đầu tiên của năm 1945. Đáng tiếc là khi đến nơi thì Shaw đã bay về Mỹ. H ở cùng với Tống Minh Phương, đại diện Việt minh tại địa phương, một sinh viên Hà nội sang đây từ năm 1943, mở quán ngay cạnh trụ sở OSS (10). H quyết định liên lạc với AGAS, hy vọng có thể nhờ họ dàn xếp gặp mặt với tướng Chennault, tư lệnh Sư đoàn không quân số 14. Đồng thời H cũng liên lạc với văn phòng OSS, những người đã giúp Phương gửi lá thư cho đại sứ Gauss.

H đã cực kỳ gặp may và đến CM đúng thời điểm. Cách đây vài tháng AGAS được chỉ thị ngoài việc cứu phi công còn phải tăng cường thu nhập thông tin tình báo về quân Nhật trong Đông dương. Nguồn chính của AGAS là nhóm được gọi là GBT (do tên đầu của 3 người: Canada LL Gordon, Mỹ: Harry Bernard và một người Mỹ gốc Tàu: Frank Tan). Nhóm này làm việc trong một hãng dầu và sử dụng các nguồn địa phương để thu nhập tin tức. Ngày 9/3/1945, Nhật chính thức truất quyền Pháp ở Đông dương, những người nước ngoài bị thuyên chuyển, theo dõi, thậm chí bắt giữ. Nhóm GBT tháo chạy sang Nam Trung hoa. AGAS mất một nguồn tin quan trọng. Các quan chức Mỹ ở Wasinhton tháo dỡ lệnh cấm, cho phép liên lạc với các nhóm kháng chiến chống Pháp để thu nhập tin tình báo (trước đây Mỹ từ chối liên lạc với các nhóm này vì sợ mất lòng Pháp). Khoảng giữa tháng 3, người chịu trách nhiệm về GBT ở AGAS – trung úy thủy quân lục chiến Charles Fen, được thông báo là có một cụ già đã từng cứu sống một phi công Mỹ, hiện đang ở Côn minh và có thể có những quan hệ trong nước để thu thập tin tình báo. Trung úy Fen vốn là một phóng viên sinh ra tại Ailen, được chuyển đến TQ vì biết tiếng Hoa và am hiểu châu á. Fen liền đề nghị sắp xếp cuộc gặp với H, lúc đó đang suốt ngày ngồi tại thư viện OWI đọc từ tờ Thời báo đến Từ điến bách khoa Mỹ. Cuộc gặp đã diễn ra ngày 17/3/1945 và được Fen ghi lại trong hồi ký của mình như sau:

Hồ đi cùng với một thanh niên tên la Fam. Không hoàn toàn như tôi tưởng. Nhất là H không “già”, tuy bộ râu bạc có dấu hiệu tuổi tác nhưng khuôn mặt đầy sức sống, đôi mắt tinh tường và ánh lên những tia sáng. Chúng tôi nói bằng tiếng Pháp. H đã gặp Hall, Blass và Sibours (những sĩ quan OSS khác) nhưng có vẻ như chẳng đi đến đâu.. Tôi hỏi ông muốn gì khi gặp bọn họ, H nói: chỉ cần sự công nhận tổ chức của ông ta (Việt minh). Đã từng nghe đến tổ chức này có xu hướng cộng sản, tôi liền hỏi luôn H. Ông ta trả lời: người Pháp gọi tất cả những người muốn độc lập là cộng sản. Tôi giải thích những yêu cầu của AGAS và hỏi không biết ông có giúp được không?H đồng ý ngay nhưng nói rằng ông ta không có điện đài viên cũng như các phương tiện kỹ thuật. Chúng tôi bàn với nhau về điện đài, máy phát và điện đài viên. H đề nghị dùng pin thay cho máy phát vì sợ ồn dễ bị quân Nhật phát hiện. Tôi nói, pin không dùng được vì không đủ công suất. Khi được hỏi muốn được chúng tôi giúp gì để trao đổi, Ho nói ngay: thuốc men và vũ khí. Tôi từ chối ngay vũ khí vì rất rách việc với Pháp. Chúng tôi lại thảo luận về Pháp. H khẳng định lại Việt minh là một tổ chức chống Nhật. Tôi rất ấn tượng về cách ăn nói gãy gọn của H. Nếu không để ý đến những ngón tay nhăn nheo luôn động đậy, dáng ngồi của ông ta rất giống Đức Phật. Fam ghi lại nội dung cuộc gặp và chúng tôi thống nhất sẽ gặp nhau nữa. Khi ra về cả hai để lại tên của họ viết bằng chữ Hán, có thể đọc phiên âm là Pham Phuc Pao và Ho Tchi Ming 

Fenn trao đổi với các đồng nghiệp của mình và quyết định chuẩn bị gửi Già Hồ (mặc dù mật hiệu của H là Lucius, hội này vẫn thích gọi là Già Hồ) về Đông dương cùng với một điện đài viên người TQ. Ba ngày sau họ gặp lại

Chúng tôi gặp những người VN lần thứ hai tại một quán cafe trên đường Chin Pi. Có vẻ như chủ quán là bạn họ. Chúng tôi ngồi trên tầng 2, uống cafe fin, kiểu Pháp, rất đặc và ngon. Xung quanh chẳng có ai nhưng H bảo cứ phải cẩn thận. Chúng tôi gọi người TQ là “bạn”, Mỹ là “anh em”, Pháp là “trung lập”, Nhật là “chiếm đóng” còn người Việt nam là “bản xứ”. H nói rằng mang cả hai điện đài viên người Hoa đi rất dễ lộ đặc biệt là anh người Mỹ gốc Hoa. Nhóm của H thi lại hay nghi ngờ người Hoa. Tốt hết là để Frank Tan lại, sau đó gửi cho ông một sĩ quan Mỹ. H hỏi tôi có đi được không và tôi sẽ rất được hoan nghênh. Sau đó chúng tôi bàn về những đồ tiếp tế khác. Fam nhắc đến loại “thuốc nổ cao cấp” nào đó mà Hall đã hứa, làm tôi phải lờ ngay đi. Tuy nhiên chúng tôi thống nhất là có thể thả một số vũ khí nhẹ, thuốc men và một bộ điện đài nữa. Người của tôi sẽ huấn luyện quân H sử dụng điện đài. H còn muốn gặp Chennault. Tôi đồng ý thu xếp nhưng bắt H phải hứa không được mè nheo Chennault giúp đỡ bất cứ thứ gì. Già Hồ mặc quần bông, áo kaki cài cúc cổ màu cát, chòm râu bạc, thưa. Đôi mày nâu chuyển sang xám ở đuôi, tóc vẫn đen nhưng đã hơi rụng. Fạm còn trẻ, mặc đồ âu, xương gò má cao, cằm bự. Cả hai nói chuyện thì thầm nhưng thỉnh thoảng như bị nén lại. Tóm lại là chúng tôi đã có cuộc gặp gỡ thú vị. 

Sau cuộc gặp, Fenn kiểm tra lại thì biết rằng mặc dù Pháp dán cho Việt minh cái nhãn cộng sản, Trung hoa quốc dân đảng chỉ coi đây là một tổ chức cơ hội. Khi Fenn hỏi về chỉ huy sở ở Trùng khánh thì được lệnh: “cứ cái gì có lợi thì làm, có điều đừng can thiệp vao chuyện chính trị giữa Pháp và dân bản xứ”. Mấy ngày sau, Fenn thu xếp H gặp tướng Chennault tại chỉ huy sở của sư đoàn 14, sau khi đã nhắc lại H không được chính thức đề nghị giúp đỡ gì. H đến cuộc gặp vẫn trong bộ kaki cũ, có điều một chiếc cúc cổ bị mất đã được đơm lại. Chennault là người đặc biệt thích phô trương bề ngoài của mình nên diện bộ đại lễ phục nhà binh. Viên tướng này nổi tiếng ở Trung hoa nhờ chỉ huy phi đội “Phi Hổ” giúp Hoa kháng Nhật trong những năm 30. Trong cuộc gặp, Ch cảm ơn H đã cứu phi công Shaw và không đả động gì đến chính trị. H cũng làm đúng như lời hứa, không đòi hỏi giúp đỡ gì, lại còn tỏ ra tâng bốc đội Phi Hổ. Đến cuối buổi gặp, bỗng nhiên H ngỏ ý xin một tấm ảnh có chữ ký.

Chennault đặc biệt thích cho ảnh. Bởi vậy ông ta ấn nút gọi ngay thư ký riêng Doreen. Một cô gái mang vào một anbum dày 8×6. “Lấy một cái đi” Chennault nói. H chọn một tấm và nhờ Ch ký tặng. Doreen đưa ra chiếc Parker 51 và Ch viết vào tấm ảnh “Bạn chân thành của anh, Clair L. Chennault”. Và chúng tôi chui ra khỏi căn phòng để hoà với không khí rộn ràng của Côn minh. 

Thế là HCM đã xây dựng được quan hệ với những quan chức Mỹ chủ chốt ở Côn minh. Tuy nhiên, Việt minh vẫn không được Mỹ chính thức thừa nhận và H phải bằng lòng với những sự trợ giúp hết sức khiêm tốn. Trước khi lên đường, H được Fenn cấp cho 6 khẩu Colt 45 mới cóng nguyên hộp. Cuối tháng 3.45, H và một điện đài viên nữa được máy bay Mỹ chở đến thành phố Paise, 60 dặm phía bắc Jingxi. Sau chiến dịch “Số 1” ở nam Trung hoa, tháng 11 năm ngoái, Nhật chiếm Lưu Châu, Trương Phát Khuê phải chuyển chỉ huy sở của quân đoàn 4 đến thành phố Paise này. Mục đích đến Paise của H là bắt liên lạc với Đồng minh Hội để biến hội này thành phương tiện phục vụ các mục tiêu của Việt minh. Hội này hầu như đã tan rã sau khi H rời Lưu châu tháng 8 năm ngoái, vì Tàu tưởng không quan tâm, một số thành viên không cộng sản chủ chốt thì lại quyết định quay về Vân nam. Thông qua đại diện của Việt minh là Lê Tống Sơn, H thành lập “Uỷ ban hành động” gồm toàn tay chân của mình. Để trấn an một số phần tử còn nghi hoặc, H xem ảnh có chữ ký của Chennault và phát cho mỗi thành viên một khẩu Colt. Tuy nhiên, vài ngày sau, Tiêu Văn, vốn rất nghi ngờ Việt minh, đã ra lệnh giải tán uỷ ban hành động để thành lập một uỷ ban khác có đông đảo đại diện hơn, bao gồm cả H. Không còn gì để làm, H lên đường về Pắc bó (11).

Tháng tư 1945, đại uý Archimes Al’ Patti tới Côn minh với chức vụ trợ lý cho đại tá Paul Helliwell phụ trách công tác của OSS tại Đông dương. Patti chiến đấu ở châu Âu đến 1/1944 thì được chuyển về phòng Đông dương tại trụ sở OSS ở Washinhton. Patti rất tôn trọng lịch sử và coi thường chế độ thực dân của Pháp. Trong thời gian lục lọi đống tài liệu, Patti đã được biết về các hoạt động của Việt minh và vị lãnh đạo huyền bí của họ “Già Hồ”. Trong một cuộc họp ngay sau khi Patti nhậm chức, AGAS đã thông báo việc H đồng ý hợp tác tổ chức mạng lưới tình báo ở Đông dương. Một sĩ quan khác cũng cho biết H tham gia vào một chiến dịch tâm lý cùng với cơ quan tuyên truyền của Tưởng và sự hỗ trợ của văn phòng OWI (12) Rõ ràng là tổ chức của H là công cụ hợp lý nhất để Patti thực hiện các nhiệm vụ của mình, mặc dù có thể có những trở ngại trong quan hệ với Tưởng và phong trào nước Pháp Tự do. Có trong tay chỉ thị của Washington về việc thu nhập thông tin tình báo bằng mọi giá, Patti yêu cầu được gặp Hồ lúc đó đã rời Côn minh. Cũng may là ngay sau khi mới đến P có được tiếp Phương, đại diện Việt minh ở CM. Anh này cho biết có thể gặp H lúc đó đang ở Jingxi. Xếp của Patti ở Trùng khánh là Heppner hơi do dự vì lúc đó đại sứ mới của Mỹ là Hurley rất thân Tưởng và không thích những hoạt động của OSS nhằm xây dựng liên minh Quốc-Cộng. Hurley cảnh báo là Tưởng và Pháp sẽ rất không hài lòng nếu Mỹ liên lạc với Việt minh vì phòng nhì Pháp đã xác định chính xác H là Nguyễn ái Quốc. Tuy nhiên, ngày 26/4, Heppner nhận được công điện của tướng Albert Wedemayer, tư lệnh quân đội Mỹ ở Trung hoa cho phép tiến hành các hoạt động của OSS ở Đông dương. Heppner bật đèn xanh cho Patti, không quên dặn ông này đừng làm mất lòng Tưởng và Pháp. Ngày hôm sau Patti bay đến Jingxi và được đại diện Việt minh dẫn đi gặp H tại một ngôi làng cách thành phố chừng 10km. Sau khi thăm dò danh tính và quan điểm của đối tác, H nhanh chóng miêu tả tình hình Đông dương, thông báo rằng VM có thể tiến hành rất nhiều hoạt động chiến tranh và tình báo có hiệu quả nếu được cung cấp thuốc men, vũ khí và phương tiện liên lạc. Patti không cam kết nhưng hứa sẽ xem xét. Theo như hồi ký, có vẻ P rất hài lòng. Một tuần sau đó, H trở về Pacbo với đoàn tháp tùng hơn 40 người, trong đó có điện đài viên Mỹ, anh Mac Shin và Frank Tan, thành viên cũ của nhóm GBT. H bắt đầu cung cấp những thông tin bổ ích, trong đó có cả thời tiết, cứu sống một số phi công Mỹ. OSS cũng thả dù thêm một bộ điện đài, vũ khí và thuốc men. Việt Minh đã chính thức chiến đấu cùng với lực lượng đồng minh.

Tình hình tại chiến trường Thái bình dương càng ngày càng thuận lợi cho quân Đồng minh. Các thành phố Nhật tan hoang do các phi đội B29. Nhà trắng xem xét phương án tấn công Đông dương với sự hỗ trợ của quân Tưởng từ phía Nam trung hoa đánh xuống. Trong khi đó, tại Đông dương, nạn đói đang hoành hành do hạn hán từ cuối năm 1944, cộng với việc trưng thu thóc và bắt nhổ lúa trồng đay của quân Nhật. Chính quyền Nhật từ chối mở cửa các kho thóc hay tăng cường việc vận chuyển gạo từ phía nam ra. Nông dân ăn hết khoai sắn, chuyển sang các loại rau, củ, cùng đường phải ăn vỏ cây, lá cây. Nạn đói lan dần đến thành phố. Giá hàng tiêu dùng phi mã. Thị dân phải đem đổi các đồ dùng trong nhà để mua gạo. Xác chết chất đống 2 bên đường, nông dân lang thang từng đám kiếm ăn (13). Cho dù hậu quả của cơn đói có nặng nề thế nào đi nữa, nó đã cho Việt minh một cơ hội vàng để thu phục lòng dân. VM đã kích động nông dân phá kho thóc để chia cho dân nghèo, khơi dậy lòng căm thù cả Pháp và Nhật đã gây ra nạn đói. Sau chiến thắng ban đầu tại Nà ngần, Phai khắt, đội quân của Giáp tiến lên phía bắc gần biên giới Việt – Trung, giải phóng các làng dân tộc 2 bên đường. Khi quân Pháp phản kích ác liệt, Giáp lui về khu rừng nằm giữa Cao bằng và Bắc cạn, gọi là chiến khu Hoàng Hoa Thám, cùng với Vũ Anh và Phạm Văn Đồng bàn kế hoạch Nam tiến.

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, thành lập chính phủ bù nhìn do Bảo đại cầm đầu. Vì thế toàn bộ vùng phía bắc châu thổ sông Hồng trở nên mảnh đất màu mỡ cho cách mạng phát triển. Trước đó 1 ngày, thấy trước tình huống Trường Chinh đã triệu tập cuộc họp trung ương tại làng Đình bảng, khoảng 12 dặm phía bắc Hà nội. Phân tích các yếu tố có lợi: khoảng trống quyền lực do cuộc đảo chính, nạn đói và khả năng Đồng minh tấn công Đông dương, TƯ đã ra nghị quyết đặt ưu tiên cao nhất cho đấu tranh quân sự, phát triển các căn cứ du kích, mở rộng cơ sở chính trị của Việt minh và tập hợp các đội quân khác nhau dưới chung một ngọn cờ Giải phóng quân Việt nam. Tuy nhiên Trường Chinh cũng cẩn thận nhắc các cơ sở Đảng không được manh động, chỉ hoạt động phía sau lưng Nhật để đợi cho quân Đồng minh bắt đầu tiến công mới được ra tay. Trong trường hợp Nhật đầu hàng trước khi Đồng minh tấn công, cũng có thể lợi dụng cơ hội để tổng khởi nghĩa. Trước khi rời Côn minh, H đã gửi văn bản ký tên Lực cho OSS để đưa ra nhận định của mình về sự kiện 9/3. Mục tiêu của văn bản này là thuyết phục Đồng minh tấn công Đông dương. Như mọi khi, H dùng ngôn ngữ ví von: “từ đảo Nhật bản đến New Guinea, quân Nhật như con rắn mà cổ nó là Đông dương. Nếu đập gẫy cổ, con rắn sẽ hết cựa quậy”. Lực nhận xét: “Con sói thực dân Pháp đã bị phát xít Nhật hất khỏi Việt nam sau 87 năm. Đối với thế giới đang chiến tranh, sự kiện đó chỉ là tích tắc, nhưng chắc chắn nó sẽ có hậu quả sâu sắc đối với Đông dương, Phát, Nhật và Trung quốc” (14). Tại Cao bằng các lãnh đạo đảng cũng đưa ra nhận định của mình phải tăng cường cuộc đấu tranh vũ trang. Giáp đưa đội quân của mình Nam tiến, giải phóng các làng trên đường và liên tục tuyển mộ quân. Sau khi vượt qua Chợ Chu, cuối cùng Giáp đã hội quân với Cứu quốc quân của Chu Văn Tấn ở một làng nhỏ có tên là Kim Lũng nằm sâu trong rừng giữa Thái nguyên và Tuyên quang. Đầu tháng 4/1945, TƯ quyết định tổ chức hội nghị quân sự tại Hiệp hoà. Hội nghị đã đưa ra nhận định, chỉ tổng tấn công khi quân Đồng minh đã đánh nhau với quân Nhật bên trong Đông dương, hoặc khi Nhật đã đầu hàng Đồng minh trước đó. Cũng trong hội nghị này, Giáp được tin vợ mình (Nguyễn Thị Minh Thái) đã chết trước đó 3 năm. Được tin H đã trở lại VN, về đến Cao bằng sau hội nghị, Giáp lập tức lên đường đi đón.

Cuối tháng 4, H về đến Pacbo và gửi báo cáo tình báo đầu tiên cho Patti, kèm theo hai bức thư: một cho các lãnh đạo Đồng Minh và một cho tổ chức vừa mới thành lập là Liên hợp quốc. Nội dung của cả hai bức thư là đề nghị công nhận Việt minh và Việt nam. Cả hai tài liệu này đều được đứng tên là Đảng Dân tộc Đông dương, tổ chức tự xưng là đã thành lập Đồng minh Hội, sau đó sát nhập với Việt minh. Patti đã chuyển các tài liệu này cho chính quyền Mỹ ở Trùng khánh. Ngày 4/5, trong vai một ông già Nùng được các vệ sĩ và nhóm AGAS tháp tùng, H lên đường đi Kim Lũng, nơi hội quân của các lực lượng cách mạng. Tại Lam sơn họ gặp Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng và Vũ Anh. H gửi báo cáo cho Fenn cám ơn ông này đã gửi thiết bị liên lạc và huấn luyện cho quân. Ngày 9/5 cả đoàn đi Ngân sơn. Ngày 17, tại Nà kiên H gặp Giáp đang đi lên phía bắc. Hai người chưa gặp nhau từ cuối năm ngoái khi thành lập Việt nam tuyên truyền giải phóng quân. Giáp báo cáo với H về tình hình trong nước và kết quả của hội nghị Hiệp hoà. H cũng thông tin về tình hình thế giới. Cả hai bàn bạc việc chọn địa điểm để xây dựng căn cứ địa cách mạng và đã thống nhất chọn Kim Lũng. Cảm nhận được ngôi làng nhỏ bé này sẽ trở thành địa danh lịch sử của cách mạng Việt nam, H đã quyết định đổi tên thành Tân Trào (Thuỷ triều mới).

Cả đoàn tiếp tục nam tiến, ngày 21/5 họ vượt sông Đáy, đến Tân trào. Thoạt đầu H ở trong một nhà dân, còn hai sĩ quan liên lạc Mỹ được cho ở ngoài rừng. Sau đó dân làng đã dựng lên một ngôi nhà sàn để làm trụ sở. Còn H đích thân chọn chỗ để dựng lán cho mình trong một khu rừng tre. Để chuẩn bị khởi nghĩa, H ra lệnh triệu tập Hội nghị cán sự vào đầu tháng 6. Hội nghị đã thống nhất tất cả các lực lượng vũ trang tại 6 tỉnh Việt bắc (Cao bằng, Bắc kạn, Lạng sơn, Hà giang, Tuyên quang, Thái nguyên) thành Quân giải phóng Việt nam (VLA). Chính quyền dân sự do Uỷ ban lâm thời điều hành, tiến hành tuyển cử bầu ra các cơ quan hành chính địa phương, cải cách ruộng đất và xoá mù chữ. Giáp được chỉ định đứng ra để điều phối các công việc tương tự trong toàn quốc, dưới sự cố vấn của H. Trong hai tháng tiếp theo, một nhiệm vụ quan trọng của H là giữ vững liên lạc với các nhà bảo trợ Mỹ ở Nam Trung quốc. Trong một báo cáo, H đã đề nghị sử dụng đội du kích hàng ngàn người ở Chợ Chu để tấn công quân Nhật. Mặc dù e ngại những rắc rối chính trị khi có quan hệ chính thức với Việt minh, Patti vẫn được cấp trên là đại tá Helliwell “bật đèn xanh”, sau khi thấy rõ sự bất lực của đội tàn quân Pháp chạy trốn do tướng Gabriel Sabatier chỉ huy. Patti điện cho H chuẩn bị một sân bay nhỏ để tiếp đón vũ khí và quân đội. Ngày 30/6 H đồng ý tiếp nhận với điều kiện không được có người Pháp tham gia vào chiến dịch. Trung uý Dan Phelan được thả dù xuống Tân trào từ trước làm đại diện cho OSS. Ngày 16/7, thiếu tá Allison Thomas cùng đội “Con nai” của OSS nhày dù xuống Tân trào để nghiên cứu tình hình và giúp đỡ Việt minh chống Nhật trong sự chào mừng của hàng trăm du kích. Thomas kể lại:

Tôi được dấn đến gặp Ông Hồ, một lãnh đạo lớn của VML (Việt minh League). Ông ta nói tiếng Anh thành thạo, nhưng trông rất yếu vì mới đi bộ từ TQ về. Người ta đã dựng cho chúng tôi những cái lán tre có sàn cao và mái lợp lá cọ. Người ta còn giết một con bò để chiêu đãi, và chúng tôi được chén bữa tối gồm bia, cơm, măng rừng và beefsteak. Cũng có những người trong nhóm Con nai không được chào đón. Ví dụ như trung uý Pháp Montfort. Sáng hôm sau, H nói với Thomas: “Tôi không có vấn đề gì với người Pháp, nhưng nếu quân tôi mà biết tay này là người Pháp, họ đã bắn chết tươi rồi”. Montfort cùng hai sĩ quan Pháp nữa được lệnh biến khỏi làng càng sớm càng tốt và nhập vào đoàn người di tản sang TQ. Sau đó H gọi một tay đầu bếp đến để dạy cách quay gà theo kiểu Mỹ, và sai người đi kiếm vài chai Sâmpanh và Dubonnet để mở tiệc chào mừng.

Ngay ngày hôm sau, H đã đề nghị qua Thomas báo cáo với chính quyền Mỹ là Việt minh sẵn sàng đàm phán với đại diện cấp cao của Pháp. Patti đã chuyển thông điệp này cho thiếu tá Jean Sainteny, đại diện của phái bộ quân sự Nước Pháp Tự do mới được cử đến để tiếp nhận lại Đông dương sau chiến tranh. Vài ngày sau, H lại gửi lời kêu gọi sẵn sàng tiếp xúc với Pháp ở trong Đông dương hoặc Trung quốc. Trong lời kêu gọi, H đề nghị tổ chức nghị viện thông qua bầu cử phổ thông đầu phiếu, trả lại các nguồn tài nguyên cho nhân dân Việt nam, cấm buôn bán thuốc phiện, và cam kết phục hồi độc lập cho Việt nam theo những quy định của Hiến chương LHQ trong vòng từ 5-10 năm. Pháp vẫn lờ đi những đề nghị của H.

Trong lúc đó các sĩ quan Mỹ vẫn tiếp tục huấn luyện hơn 100 quân du kích cách sử dụng các loại vũ khí Mỹ (súng trường M1, carbin, bazooka) và các kỹ thuật chiến tranh du kích tại một địa điểm cách Tân trào khoảng 2 dặm. Henri Prunier, một “thầy” Mỹ tỏ ra rất ấn tượng về khả năng học hỏi nhanh của quân du kích. H cũng nhanh chóng đả thông về mặt tư tưởng cho các sĩ quan Mỹ. Thomas đã viết trong một báo cáo gửi về Côn minh: “Quên ngay mấy cái nghi ngờ vớ vẩn. VM không phải là cộng sản. Đấu tranh cho tự do và cải cách nhằm thoát khỏi sự tàn bạo của Pháp”. Phelan cũng đã từng ngần ngại tham gia chiến dịch này vì nghe đồn là H có tư tưởng cộng sản. Một lần H hỏi Phelan có nhớ những câu mở đầu của tuyên ngôn Độc lập Mỹ để ông ta cho vào bản tuyên ngôn Độc lập của đất nước mình. “Nhưng rõ ràng là ông ta biết nhiều hơn tôi” Phelan nhớ lại và báo cáo VM “… là những người yêu nước đáng được sự tin cậy và giúp đỡ toàn diện”. Sau này, Phelan cũng không bao giờ thay đổi lập trường của mình. Nhiều năm sau, ông đã trả lời phỏng vấn của nhà báo Mỹ Robert Shaplen, miêu tả H như “Một con người cực kỳ dễ chịu. Nếu tôi phải chọn một tính cách của con người nhỏ bé đó, ngồi trên ngọn đồi trong những cánh rừng già, thì đó chính là sự dịu dàng của ông ta”  (15).

Sức khôe của H vốn đã suy sụp sau khi mắc bệnh lao trong những tháng ngồi tù ở TQ, lại bị đày đoạ bởi chuyến đi bộ sang Côn minh. H đã bị ốm nặng trên đường đến Jingxi những vẫn tiếp tục hành trình của mình. Giờ đây H đang rất yếu. Võ Nguyên Giáp kể lại: Bác ốm. Mặc dù mệt và sốt, Bác vẫn tiếp tục làm việc. Ngày nào lên báo cáo tình hình tôi cũng cảm thấy lo lắng. Nhưng Bác nói: “yên tâm, mọi sự sẽ qua thôi, báo cáo tình hình cho Bác đi”. Tuy nhiên tôi nhận thấy B yếu đi và gầy đi rõ ràng. Chúng tôi chẳng có thuốc thang gì ngoài mấy viên aspirin và ký ninh nhưng tình hình vẫn xấu đi. Một hôm tôi thấy B mệt lả đi, bình thường trừ những lúc ngủ, B chắc bao giờ chịu nằm nhưng giờ đây B nằm sốt li bì trong ổ rơm. Trong những đồng chí hay ở bên B chỉ còn tôi lúc đó đang ở Tân trào. Tôi xin phép B được ở lại cùng với người một đêm, chỉ thấy B hơi mở mắt và khẽ gật đầu đồng ý. Đêm tối mịt mùng và rừng sâu bao quanh căn lán nhỏ. Mỗi khi tỉnh dậy, B lại quay lại tình hình hiện tại: “điều kiện đang rất thuận lợi cho cách mạng, dù có phải đốt cháy dãy Trường sơn cũng phải dành cho được độc lập”, B nhắc lại những quan điểm vẫn hay thường nói hàng ngày: “trong chiến tranh du kích, khi phong trào lên, phải tận dụng thời cơ để mở rộng căn cứ, chuẩn bị cho những thời điểm quyết định”. Dù không muốn tin, tôi vẫn nhận ra rằng, có lẽ B đang cố gắng truyền lại những lời di chúc cuối cùng của mình. Cứ thế suốt đêm, mê man nối tiếp những phút tỉnh táo. Sáng hôm sau, tôi báo tin ngay lập tức cho Trung ương, đồng thời hỏi bà con dân tộc xem có ai có bài thuốc gì. Dân làng mách có một ông lang chuyên chữa sốt. Tôi liền cử người đi đón về ngay. Sau khi bắt mạch, ông lang sắc một niêu thuốc từ một thừ rễ cây ông đào trong rừng, hoà với một bát cháo và đút cho B. Điều kỳ diệu đã xảy ra. B tỉnh dậy. Ngày hôm sau, B uống thêm 2, 3 bát thuốc nữa. Cơn sốt lui dần, B đã đứng dậy được và có thể tiếp tục công việc (16).

Về chuyện này, người Mỹ có một câu chuyện khác. Một nhân viên OSS là y tá. Anh này đã khám bệnh cho H, chẩn đoán là sốt rét và ỉa chảy và đã tiêm mấy mũi kí ninh cùng với sulfa. Không rõ điều này có tác dụng đến đâu, Thomas ghi lại sau này: “Mặc dù H bệnh nặng, nhưng tôi cũng không chắc chắn là nếu không có chúng tôi thì ông ta sẽ chết” . Viên y tá đã khám cho H là Paul Hoagland thì một mực cho rằng chính thuốc của ông ta đã cứu sống H.

Đầu tháng 8, sau khi nghe tin Mỹ thả bom nguyên tử xuống Hiroshima, H đã chỉ thị cho tổng bộ Việt minh từ khắp nước ngay lập tức cử đại biểu về Tân trào để tham dự Quốc dân Đại hội. Ngày đại hội dự kiến là ngày 16/8. Hội nghị TƯ đảng lần thứ 9 được dự kiến họp trước đó 3 ngày. Qua chiếc radio của Thomas, H cảm được cuộc chiến đã đến hồi kết: thành lập Liên hiệp quốc, Mỹ thả quả bom nguyên tử thứ hai, Nga trực tiếp tham chiến. Trước đó sau một hồi lưỡng lự, H đã đồng ý đi gặp phong trào Nước Pháp tự do tại Côn minh. Có lần H đã ra đứng đợi ở đường băng nhưng vì thời tiết xấu máy bay không hạ cánh được. Sau sự kiện Hiroshima, H đã huỷ bỏ ý định này. Ngày 12/8, các lãnh đạo Đảng đã quyết định kêu gọi tổng khởi nghĩa trong toàn quốc, và quyết định vẫn triệu tập Hội nghị TW lần thứ 9 vào ngày hôm sau mặc dù một số đại biểu vẫn chưa đến được. Hội nghị đã bầu ra Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc do Trường Chinh làm chủ tịch và ra lời hiệu triệu khởi nghĩa. Ngày 16/8 Tổng bộ Việt minh tiến hành Đại hội Quốc dân tại Tân trào. Có hơn 60 đại biểu từ khắp nước về dự. Có người đã phải đi hàng tuần. Nhiều người mang theo quà là gạo và thịt. Một đại biểu dân tộc còn dắt theo cả một con trâu. Đại hội được tiến hành trong một ngôi đình 3 gian bên bờ suối. Gian trái treo ảnh Lenin, Mao và tướng Clair Chennault, gian giữa bày các vũ khí chiếm được của Nhật còn gian phải là thư viện kiêm luôn nhà ăn của các đại biểu. Sau khi Trường Chinh khai mạc, HCM lên phát biểu. Do Ban tổ chức chỉ giới thiệu HCM như một nhà cách mạng lão thành nên nhiều đại biểu cũng không rõ nhân thân của H. Tuy nhiên sau đó đã có tiếng thì thầm, HCM chính là Nguyễn ái Quốc. Trong bài phát biểu của mình, H nhắc lại việc phải nhanh chóng chiếm chính quyền để có thể chào đón quân đồng minh trên thế mạnh. Tránh đối đầu mà dùng biện pháp mềm dẻo để thu phục quân Nhật. H cũng cảnh báo rằng Pháp có thể dựa vào Đồng minh để mở cuộc tiến công chiếm lại Đông dương và chúng ta sẽ phải tiến hành cuộc đấu tranh kéo dài để có được nền độc lập hoàn toàn. Đại hội đã phê duyệt “10 quốc sách” của Việt minh, quyết định quốc kỳ, quốc ca của nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà, một quốc gia dân chủ, theo đuổi sự công bằng kinh tế và xã hội. Đại hội cũng bầu ra Uỷ ban giải phóng Dân tộc gồm 5 người do HCM làm Chủ tịch, sẽ chỉ đạo khởi nghĩa và hoạt động như chính phủ lâm thời. Ngày hôm sau, H đã cùng các đại biểu làm lễ tuyên thệ ngay trên bờ suối. Bản “Kêu gọi khởi nghĩa” được phát ra Giờ quyết định cho dân tộc đã điểm. Hãy đứng lên giải phóng bản thân mình. Các dân tộc bị áp bức trên thế giới đều đang đua tranh giành lại độc lập, chúng ta không thể lạc hậu. Tiến lên, Tiến lên dưới ngọn cờ Việt minh, Dũng cảm tiến lên. 

Đây cũng là văn bản cuối cùng được ký tên NGUYỄN ÁI QUỐC.

——————————–

1. Thơ do tác giả tự dịch. .Một trong những cai ngục là người quen của gia đình Xu Weisan, chắc đã tuồn giấy bút vào cho Q. Xem thêm phỏng vấn Wang xiji, HZYZ, pp 83-84 ngày 24/6/1981.

2. Một báo cáo của Văn phòng Trương Phát Khuê ngày 23/1/1944 đã cho thấy sự phức tạp của vụ việc này. Từ Teyuan chyển lên Debao, rồi lên chính quyền Quế lâm, chuyển cho đại diện Trung ương ở Quế lâm, chuyển cho Hội đồng quân sự quốc gia trước khi đưa về trụ sở của quân khu 4.

3. Tay cán bộ này chắc là Đặng Văn Cáp. Xem Hồ Chí Minh của Võ Nguyên Giáp, pp 196-197. Vũ Anh có một lời kể khác, theo đó sau khi nghe Cáp báo tin, Đảng dã cử một cán bộ nữa đi thẩm tra lại. Anh này mới phát hiện ra Cáp nghe nhầm: “Bạn tù của Q đã chết” thành “Q đã chết”.

4. Trương kể rằng ông chỉ thông báo cho chính quyền TƯ và được phê duyệt. Trương còn bình thêm: “Hồ nói chuyện rất cẩn trọng, vuốt ve bộ râu. Ông có một cái đầu lạnh, suy nghĩ sâu và khả năng làm việc lớn” Cũng cần nói thêm là HCM rất thành thạo tiếng Tàu và điều này chắc cũng giúp ông nhiều.

5. Theo một số nguồn phương Tây, hội nghị đã thành lập chính phủ lâm thời cho Việt nam, nhưng trên thực tế đó chỉ là đề xuất của một số đại biểu và bị phản đối. Giọt nước trong biển cả, Hoàng Văn Hoan, p 200. Một tác giả khác là Chang Yung- Ching trong cuốnHu Zhi-minh, p 167-168, cho rằng, sau hội nghị một số đại biểu “cộng sản” đã gây sức ép để thành lập chính phủ, tuy nhiên Trùng khánh đã phản đối vì sợ Đồng minh nổi giận. Bản thân H không thấy liên quan gì đến vụ việc.
6. Theo HZYZ p 106 và Hoàng Văn Hoan, p 202: Kinh Chen nói rằng chỉ có 16 người theo H từ Lưu châu. Nếu đúng vậy thì 2 người còn lại chắc là Võ Nguyên Giáp và Vũ Anh đã đón H ở Jingxi để cùng về Pacbo.

7. Theo Patti Why Vietnam, bức thư này do Phạm Văn Đồng gửi.

8. Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, p.203. Mặc dù các nguồn VN đều cho rằng H được mời đến CM, không ai biết chắc chắn là AGAS hoặc tổ chức nào khác của Mỹ có mời H đến CM hay không. Theo một số tài liệu, cả tướng Chennault lẫn văn phòng OSS địa phương đều không biết đến sự tồn tại của H. Tổ chức có khả năng biết H nhất là AGAS, nhưng Charles Fen khẳng định rằng ông chỉ làm quen với H khi gặp H ở CM.

9. Quán này có tên là Quang Lac restaurant, ở phố Tai Ho Gai.

10. Hoàng Quang Bình “ở Vân nam” trong cuốn Với Bác Hồ , NXB ngoại ngữ, 1972, pp 239-240

11. Xem thêm Chúng tôi làm ngoại giao với Bác Hồ (Mai Văn Bộ, Nhà xuất bản Trẻ, HCM, 1998, p 41) về sự nghi ngờ của Xiao Wen với Việt minh. Theo Hoàng Văn Hoan (Giọt nước…) nếu H dừng ở Bose (Paise) thì phải dừng trên đường tới Jingxi. Theo Kinh ChenViệt nam and China, pp95-96 H còn ở Paise ít nhất là đến ngày 12/4. Fenn thì không nhắc gì đến chuyện ở Paise. Ông này nói H đi thẳng về Pắc bó, nhưng có nhắc đến chuyện một bạn đồng hành của H kể về cuộc gặp gỡ với một số phần tử dân tộc tỏ ý nghi ngờ quan hệ của H với Mỹ. Fenn nói rằng có cảm giác như cuộc gặp đó xảy ra ở Việt nam, nhưng chắc đó chính là cuộc gặp với các thành viên của Đồng minh hội.

12. Đây là “Chiến dịch Quail” do chi nhánh đặc biệt của OSS ở Trung quốc thực hiện. Xem thêm báo cáo “Dự án Quail” trong hồ sơ OSS, 26/2/1945. Có vẻ như Patti cho mình là người ra quyết định chiêu mộ H, nhưng theo Fenn, chính giám đốc OSS là William Donovan muốn điều đó và Patti được giao nhiệm vụ đi tìm H. Xem thêm Patti Việt nam p. 67 và Fenn Trial run to Dooms day p 265.

13. Patti (trong Why Vietnam, p 86) kể rằng H đã đưa cho P một cuốn sách ảnh gọi là “Sách đen” miêu tả sự khủng khiếp của nạn đói. P đã gửi cuốn sách cho sứ quán Mỹ tuy nhiên sau đó cuốn sách bị thất lạc. Theo các nguồn Việt nam, sản lượng lương thực trung bình lúc đó khoảng 1.1 triệu tấn. Do mất mùa, sản lượng năm 1944 chỉ còn khoảng 800,000 tấn. Nhật tịch thu 125,000 tấn để lại tiêu dùng chỉ cỡ 700,000 tấn. Xem thêm Marr Vietnam 1945, pp96-107 hoặc Nguyễn Kiên Giang, Vietnam, năm đầu tiên sau CMT8, NXB Sự thật, 1961.

14. Tonession, Vietnam revolution p 238, 337. Tonession cho rằng tiếng Anh trong văn bản này quá chuẩn, có lẽ H đã có người giúp đỡ. Tuy nhiên tại thời điểm đó tiếng Anh của H đã khá tốt.

15. Xem thêm Shaplen Lost Revolution, p.29. Phelan xem ra không hào hứng lắm với các đồng chí khác của H: “họ suốt ngày hô khẩu hiệu độc lập, nhưng ít nhất cũng phải 75% trong số họ chẳng hiểu ý nghĩa của hai từ đấy là gì”.

16. Võ Nguyên Giáp Hồ Chí Minh, pp 210-211.

>> Phần 10: Những ngày tháng 8

Tác giả: William J. Duiker
Dịch giả: Nguyễn Thành Nam
TEch24.vn

Advertisements