Học tiếng Tây để đánh Tây

Nhớ lại những ngày đầu kháng chiến chống Pháp ở miền Bắc, do căm thù thực dân, dân quân tự vệ nhất là ở nơi làng mạc xa xôi, phá hủy bất cứ cái gì liên quan đến Tây tức là Pháp. Các tự vị LAROUSSE đều bị đốt. Vô phúc ai đi đường mang vác gì có màu xanh – trắng – đỏ, cờ Pháp! Có khi bị giam khi qua trạm kiểm soát.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã uốn nắn nhận định sai lầm đó, tuy rằng toàn dân – toàn quân ta kháng chiến chống thực dân Pháp nhưng vẫn coi nhân dân Pháp là bè bạn, vẫn tôn trọng văn hóa Pháp. Do đó, kháng chiến là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, không biến thành chiến tranh hận thù chủng tộc như Algeria. Từ đầu kháng chiến, đại đa số trí thức Tây học đã tham gia “đánh Tây”.

Từ lúc người An Nam buộc phải học tiếng Tây đến khi trí thức Tây đào tạo lại đánh Tây, cuộc hành trình đa dạng và đầy bi hài.

Sau khi chiếm được toàn bộ nước ta, để củng cố chính quyền, thực dân Pháp tạo ra một hệ thống giáo dục Francis – indigène (Pháp – bản xứ) để đào tạo nhân viên cao cấp của bộ máy cai trị và để xóa bớt ảnh hưởng của Trung Quốc ngự trị hàng nghìn năm. Thực hiện ý đồ này, năm 1904, toàn quyền Paul Beau ký nghị định thành lập Sở học chính. Triều đình Huế, theo lệnh Pháp, đã có dụ quyết định bỏ bài thi cử chữ Nho truyền thống vào năm 1919.

Trong hệ thống học đường, chữ Quốc ngữ ở mấy lớp dưới, lên trên là tiếng Tây (Pháp) thay cho chữ Nho. Vì vậy có lời than:

Thôi có ra gì cái chữ Nho,
Ông nghè ông cử cũng nằm co.

Thời buổi nhố nhăng, dù chỉ có nhà Nho biết vài chữ Tây còn làm cả thơ Đường pha lẫn Tây – Tàu – ta.

Ông tôi đỗ tú tài có lẽ vào khoa cuối, hoàn toàn Nho. Bố tôi cũng học chữ Nho trước khi quay sang học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp để làm kế toán cho sở máy điện Hà Nội. Tôi cũng học chữ Nho thầy đồ ở phố Hàng Quạt, Hà Nội rồi mới đi học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Vào những năm 20 thế kỉ XX, ảnh hưởng Nho học còn dai dẳng nên mới có sách Pháp tự diễn âm ca để học tiếng Pháp bằng thơ lục bát, theo kiểu Tam tự kinh học chữ Nho.

Chữ Nho như:

Thiên () trời địa () đất vân () mây

 () mưa phong () gió trú () ngày dạ () đêm

Tiếng Pháp thì:

Pe-rơ (perè) tiếng gọi là cha, me-re (merè) là mẹ, ông bà e-ơ (aïeux).

Trong Đại chiến thế giới thứ I, năm 1916, in đến 25.000 cuốn sách này cho lính thợ An Nam (ONS) đưa sang Pháp phục vụ các nhà máy quân khí.

Lăng nhăng học dăm ba chữ Tây đi làm bồi bếp, thông ngôn nửa mùa thì khối chuyện cười ra nước mắt.

Chuyện nịnh Tây mà cũng không xong. Có một anh bồi đi theo hầu một bà đầm vợ quan lớn. Buổi trưa hè, xe ô tô đỗ nghỉ ở bóng cây bên đường. Nóng như thiêu như đốt, anh ta lấy quạt quạt cho bà đầm và nói: “MADAME, VOUS ÊTES EN CHALEUR”. Liền bị một cái tát trời giáng. Vì CHALEUR là sức nóng, anh ta định nói: “Quý bà nóng quá”. Ai ngờ EN CHALEUR có nghĩa là động đực, thèm của ấy. Bà đầm tưởng anh bồi nói kháy.

Hà Nội những năm 30 đã “sính Tây” lắm. Các cửa hàng đều có biển tiếng Tây, bạn bè gọi nhau là tu (anh) với moi (tôi), nói tiếng Việt phải điểm vài chữ Tây thì mới thời thượng. Nam Xương viết hài kịch Ông Tây An Nam để giễu một anh đi học Tây về nói chuyện với bố bằng tiếng Pháp, phải có thông ngôn dịch. Chuyện này trên thực tế có thực. Trường Bưởi có ông giáo Sáu dạy toán bị học trò đặt biệt hiệu là “sáu lọ” (lọ là lố lăng), chỉ thích xì xồ tiếng Pháp. Khi đi làm đốc học, không nói tiếng Việt, đi đâu cũng có thông ngôn đi kèm. Phản ứng lại sự mất gốc ấy, học trò lập ra những nhóm chỉ nói tiếng Việt thuần túy, rất ghét cậu nào xì xồ theo giọng Pháp…


Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp ở Tua, tháng 12-1920.

Có một tầng lớp trí thức Tây học, có khi du học ở Pháp về, có ý thức dân tộc cao… Họ rất ghét, thậm chí căm thù thực dân Pháp nhưng biết phân biệt thực dân Pháp và văn hóa Pháp.

Trường hợp ông Phạm Duy Khiêm khá đặc biệt. Ông thuộc loại đại trí thức tốt nghiệp đại học Paris, cùng một khóa với tổng thống Pháp Georges Pompidou, tổng thống Senegal Léopold Sédar Senghor. Cứ là chịu ảnh hưởng của nhà xã hội học Pháp Lévy-Bruhl, ông cho tiếng Việt còn ở trình độ sơ khai (sauvage), tiền logic. Ông viết Tập truyện huyền thoại của các miền thanh bình (một số truyện cổ Việt Nam, Trung Quốc) là một tác phẩm tiếng Pháp hay và cộng tác viết về văn phạm Tiếng Việt.

Coi thường tiếng dân tộc thì không nên. Nhưng nếu sử dụng tiếng nước ngoài mà thuận lợi để nói lên tư duy tình cảm của mình và dân tộc mình là điều bình thường. Các cụ ta làm thơ văn chữ Hán khi chống Trung Quốc, thế hệ hiện đại dùng chữ Pháp chống Pháp cũng vậy. Có cả một nền văn học Việt Nam, bằng tiếng Pháp vẫn đang tiếp tục ở Pháp.

Nguyễn Ái Quốc viết tiếng Tây. Cuốn sách lên án thực dân Pháp, Hồ Chí Minh viết thơ chữ Hán những ngày trong tù. Kỹ sư cầu đường Đăng Phúc Thông, thứ trưởng Bộ Giao thông, năm 1947, kẹt ở Hà Nội khi Pháp chiếm đóng. Pháp cho hai nhân vật cao cấp đến thăm dò ý kiến, ông tiếp họ rồi viết báo cáo bằng tiếng Pháp gửi lên chiến khu Việt Bắc.

Trong kháng chiến chống Pháp, GS. Hồ Đắc Di, người Hoàng tộc, khi khánh thành trường Đại học Y ở Chiêm Hóa, đọc một bài diễn văn hùng hồn bằng tiếng Pháp, kêu gọi sinh viên hết lòng vì nước. Trong núi rừng chiến khu, bác sĩ Tôn Thất Tùng nhớ thủ đô Hà Nội làm một bài thơ tiếng Pháp đầy tình cảm ca ngợi anh bộ đội đi chân đất:

Khu rừng đầy ánh nắng, sau đêm giá lạnh
Nói với anh về giang sơn Việt Nam muốn sống
Anh cất tiếng ca và lòng rạo rực
Bay theo hai tiếng thần kì: Tổ quốc và Tự do

(1948)

Ghi chú

Hẳn nhiều độc giả, nhất là những người biết tiếng Pháp và ở Pháp, tìm đọc nguyên văn bài thơ tiếng Pháp của Tôn Thất Tùng. Chúng tôi xin in lại sau đây.

En se souvenant de Hà Nội

BS. Tôn Thất Tùng

Tu ne reverras plus le temps des accordailles,
Les amants enlacés sous les pruniers en fleurs
Les pruniers ne sont plus. Une aube de terreur
Se lève à l’horizon où gronde la mitraille.
Nous avons remisé dans leurs plus beaux cartons
Nos rêves quotidiens et nos joies coutumières,
Nous qui n’avons connu ni su ce qu’est la guerre,
Nous avons tout quitté en nous disant: Partons!
Frère, est-ce toi, héros pur de la délivrance
Qui passes en chantant, les pieds nus sans souliers?
L’azur de notre ciel couleur de liberté
Chante avec ta chanson l’honneur et l’espérance.
La brousse ensoleillée après les soirs glacés
Lui parle chaque fois du Việt Nam qui veut vivre
Il chante sa chanson et son âme s’enivre
Aux mots ensorceleurs: Patrie et Liberté.
O bonheur de bâtir sur une aube nouvelle
Le pays retrouvé à l’heure du destin!
Et voici notre offrande au Việt Nam de demain
Et voici notre sang pour une aube éternelle.
Alors nous reverrons ce tranquille bonheur
De vivre pauvrement dans nos calmes chaumières.
Le riz reverdira sur nes vertes rizières,
Les amants s’en iront sous les pruniers en fleurs.

Ngày 24/3/1948

Dịch thơ

Nhớ về Hà Nội

Em sẽ không còn thấy những ngày mừng cưới;
Bao cặp tình nhân ôm nhau dưới tán mai vàng.
Mai vàng không còn. Chỉ còn một bình minh ghê rợn,
Ló lên phía chân trời, nơi súng máy gầm vang.
Chúng ta cất trong những rương đẹp nhất
Bao ước mơ và niềm vui thường nhật
Chúng ta, những người chưa hiểu biết gì chiến trận,
Bỏ hết mọi thứ, cùng tự nhủ: “Lên đường!”
Bạn ơi, có phải anh, người anh hùng giải phóng
Vừa qua đây hát vang, không dép chân trần?
Bầu trời xanh của chúng ta màu Tự Do
Ca cùng bài ca của anh Quang Vinh và Hy Vọng
Cánh rừng tràn nắng sau những chiều lạnh cóng
Nói với anh mỗi khi, Việt Nam quyết sống
Anh ca bài ca của mình và tâm hồn bay bổng
Theo những từ say mê quyến rũ: Tổ Quốc, Tự Do.
Ôi! hạnh phúc được xây trong bình minh tươi mới
Đất nước hồi sinh vào phút giờ lịch sử!
Và đây hiến dâng của chúng ta cho Việt Nam ngày mai
Và đây dòng máu của chúng ta cho một bình minh vô tận.
Khi ấy, chúng ta sẽ hưởng lại hạnh phúc thanh bình
Được sống nghèo trong những nhà tranh yên tĩnh.
Lúa lại xanh trên những cánh đồng xanh
Và bao cặp người yêu lại bên nhau dưới tán mai vàng.

BS. Trịnh Phúc Nguyên dịch

honvietquochoc.com.vn

Advertisements