Tag Archive | Quốc khánh

Người phụ trách âm thanh trong Ngày Độc lập

Cách mạng Tháng Tám

Ông chủ cửa hiệu radio Hà thành Nguyễn Dực trực tiếp tham gia chuẩn bị cho sự kiện trọng đại của đất nước: Phụ trách âm thanh trong ngày Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập, 2/9/1945. Tiếp tục đọc

Dự báo thiên tài và “ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cách mạng Tháng TámQĐND – Để giành và giữ chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những dự báo thiên tài, nhìn trước được thời cuộc và tình hình để “ứng vạn biến” hiệu quả. Ngày 6-6-1938, Nguyễn Ái Quốc ký tên “Line” trong thư gửi lãnh đạo Quốc tế cộng sản mong muốn được về nước, chuẩn bị cho việc giành chính quyền. Cũng năm đó, Bác đã dự báo Chiến tranh Thế giới lần thứ hai sẽ nổ ra, do những hành động châm ngòi của người Đức. Người khẩn thiết đề nghị được về nước qua đường Trung Quốc. Ngày 20-6-1940, được tin Pa-ri thất thủ, chính phủ Pê-tanh đầu hàng Đức, Bác Hồ chỉ thị hai đồng chí: Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp không đi Diên An nữa, mà cùng về nước chuẩn bị thời cơ giành chính quyền.

Tiếp tục đọc

Thiêng liêng hai tiếng “đồng bào”

Cách mạng Tháng TámQĐND – “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?…”. Câu hỏi như một lời tâm tình ấm áp thiết tha của Bác trong buổi sáng Ba Đình 68 mùa thu trước, vẫn văng vẳng bên tai mỗi người con đất Việt hôm nay và mai sau, nhất là mỗi độ thu về. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), hai tiếng “đồng bào” được Bác nhắc đến với tất cả tình cảm thiêng liêng cao quý.

Tiếp tục đọc

Đoàn Đại biểu Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng, liệt sỹ

DSC 5427Nhân dịp kỷ niệm 68 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (2/9/1945 – 2/9/2013), sáng ngày 30/08/2013, Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đến Lăng đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ lòng biết ơn vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam.

Tiếp tục đọc

Chuẩn bị lực lượng vũ trang giành chính quyền trong Cách mạng Tháng 8

Cách mạng Tháng TámQĐND –  Bước vào năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Đảng Cộng sản Đông Dương, phong trào cách mạng của nhân dân ba tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình phát triển mạnh mẽ, rộng khắp. Để bảo vệ cách mạng, hỗ trợ quần chúng đấu tranh chính trị, chống khủng bố, đàn áp, Liên khu tỉnh ủy Hà-Nam-Ninh chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang, khi có thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền.

Tiếp tục đọc

Thời đại Hồ Chí Minh sinh ra trước hết từ chủ nghĩa yêu nước

Thời đại Hồ Chí Minh - thời đại mới của dân tộc Việt Nam

Lợi dụng thời cơ ngàn năm có một, nuôi dưỡng và phát động tinh thần dân tộc, Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã lãnh đạo nhân dân trên cả nước làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi.

Chiều 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình, thay mặt Chính phủ Lâm thời, Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do. Thời đại mới mở ra từ đây. Thời đại đó được gọi theo tên người khai sinh ra nó – thời đại Hồ Chí Minh.

Thời đại Hồ Chí Minh sinh ra trước hết từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, từ tinh thần dân tộc Việt Nam, được nuôi dưỡng và thăng hoa bằng tinh thần dân tộc hay như chính Hồ Chí Minh đã từng ý thức: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”.

Nhưng “cây muốn lặng, gió chẳng đừng”. Nhân dân Việt Nam sung sướng hưởng sự độc lập và tự do chưa được bao lâu thì thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23-9-1945, nhân dân Sài Gòn, thay mặt nhân dân cả nước, đứng dậy chiến đấu bảo về nền độc lập dân tộc vừa mới giành được. Hành trình dân tộc đến với độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất Tổ quốc bắt đầu từ đây, vắt qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại, hết chống Pháp đến chống Mỹ, ròng rã trong ngót 30 năm mới tới đích.

Cả nước vừa chống giặc đói, giặc dốt vừa dốc sức bằng phong trào “Nam tiến” chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam chống ngoại xâm. Thế và lực chúng ta lúc đó còn chênh vênh và mỏng nên không thể ngăn chặn được quân thù, song cũng đã kịp làm một số việc lớn chưa từng có trong lịch sử: Tổng tuyển cử bầu những người đại diện của mình vào Quốc hội, thành lập Chính phủ mới và thông qua Hiến pháp năm 1946. Hào khí Cách mạng Tháng Tám được phả vào đây một cách sống động và tự nhiên mà sau đó các thế lực chống đối muốn chối bỏ cũng không thể nào làm được bởi tính hợp pháp, hợp hiến của nó.

Rồi giặc Pháp trở lại Hà Nội hợp sức với các thế lực thù địch khác và dùng mọi thủ đoạn, quyết tâm tiêu diệt Chính phủ Hồ Chí Minh, cũng tức là muốn đánh sập ý chí độc lập tự do của dân tộc ta. Đại diện cho ý chí của toàn dân tộc, Hồ Chủ tịch dõng dạc tuyên bố lời thề chém đá “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Quân dân Hà Nội chiến đấu cầm chân giặc cho cuộc rút lui chiến lược của Chính phủ Hồ Chí Minh lên Việt Bắc tổ chức kháng chiến không cân sức tựa như “châu chấu đá voi”. Cả nước theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh, bỏ lại phía sau những cánh đồng xanh ngát, kinh thành bốc cháy, ra bưng biền, lên rừng núi đánh giặc trường kỳ. Người Hà Nội hào hoa dứt khoát “ra đi, đầu không ngoảnh lại”. Công nhân nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo “xẻ” nhà máy thành những bộ phận nhỏ, gồng gánh, mang vác đưa lên chiến khu dựng lại tiếp tục sản xuất, phục vụ kháng chiến. Những chí sĩ như Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại…, những trí thức như Nguyễn Văn Tố, Hoàng Đạo Thúy… cả những trí thức lớn từ Pháp mới về như Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng… các văn nghệ sĩ như Văn Cao, Nguyễn Huy Tưởng… lên chiến khu, tham gia dựng lại cơ đồ, mở mang sự nghiệp. Thủ đô kháng chiến Tân Trào, Thái Nguyên, Tuyên Quang thắp sáng niềm tin cho toàn dân tộc: “Ở đâu đau đớn giống nòi/ Trông lên Việt Bắc mà nuôi chí bền”. Một lần nữa, sự cố kết dân tộc, tinh thần dân tộc được đẩy lên cung bậc cao nhất: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công!”.

Sau hơn bốn năm xây dựng, tích trữ lực lượng, Thu – Đông 1950, quân đội ta xông trận. Thắng lớn, cánh cửa biên giới thông thương với các nước trong phe dân chủ, với thế giới mở toang. Cuộc phá vây ngoạn mục đã hoàn thành trên thực tế (Trên bình diện ngoại giao, từ tháng 1-1950 bởi sự công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam của Trung Quốc, Liên Xô…). Thế và lực chúng ta vững hơn, mạnh lên. Từ đó, chúng ta chủ động trên chiến trường, khiến quân Pháp điều binh khiển tướng chạy theo như đèn cù, hết Tây Bắc đến Thượng Lào… và cuối cùng gom quân Pháp tại lòng chảo Mường Thanh và giáng trận Điện Biên “chấn động địa cầu”, buộc Pháp ngồi vào bàn Hội nghị Giơnevơ. Ta chưa được toàn vẹn lãnh thổ, nhưng ta đã có được nửa nước, đặc biệt Hà Nội – mảnh đất nghìn năm văn hiến, Thủ đô muôn đời – đã về với ta. Cũng trên Quảng trường Ba Đình sang sảng tiếng Bác đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày nào, giờ đây, ngày 1-1-1955, Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh ra mắt và chào nhân dân Thủ đô sau hơn tám năm kháng chiến ở rừng núi. Hào khí Thăng Long – Hà Nội hội tụ với hào khí thắng giặc Pháp trở thành âm hưởng chủ đạo của thời đại. Châu Á, Châu Phi và Mỹ La tinh luôn vang mãi một cụm từ bất tử: “Việt Nam – Điện Biên Phủ – Hồ Chí Minh – Võ Nguyên Giáp”.

Ở miền Nam, Pháp đi, Mỹ tới. Chính quyền Sài Gòn do Mỹ dựng lên phá hoại Hiệp định Giơnevơ, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước chúng ta. Chúng tàn sát những người yêu nước, những người kháng chiến cũ bằng Luật 10/59 tàn bạo, bằng máy chém, bằng cực hình, bằng lao tù. Những vụ tàn sát Vĩnh Trinh, Phú Lợi thức tỉnh lương tri, kêu gọi hành động khẩn cấp. Cả nước một lần nữa “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” và cùng với phong trào “Đồng Khởi” miền Nam tạo thành khúc dạo đầu của bản giao hưởng chống Mỹ, cứu nước, không chỉ lay động trái tim, khối óc toàn dân tộc ta, mà còn thức tỉnh lương tri nhân loại. Hai con đường huyền thoại trên bộ, trên biển (Đường Hồ Chí Minh xuyên Trường Sơn với những con đường nhánh có độ dài trên 7 nghìn km, Đường Hồ Chí Minh trên biển khởi đầu từ bến Vạn Hoa, Đồ Sơn, Hải Phòng) hình thành, chi viện sức người sức của cho chiến trường miền Nam. Quân và dân miền Nam lần lượt đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bằng trận Ấp Bắc, Bình Giã, đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” bằng cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 và buộc Chính quyền Washington ngồi vào bàn Hội nghị Pari tháng 5-1968. Cục diện chiến tranh xoay chuyển, vừa đánh vừa đàm, có lợi cho ta. Nếu như Hội nghị Giơnevơ năm 1954, chúng ta bị sức ép từ nhiều phía nên thắng lợi không như ta mong muốn thì tại Hội nghị Pari này, ta chủ động và tự quyết định hoàn toàn vận mệnh của Tổ quốc ta bằng sự kết hợp khéo léo sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại.

Các quyết định ở bàn Hội nghị Pari, lúc hai bên, lúc bốn bên, đều tùy thuộc ở chiến trường. Những nhà ngoại giao Xuân Thủy, Lê Đức Thọ, Nguyễn Thị Bình dựa vào nền tảng tựa như bàn thạch từ những chiến thắng quân sự trên cả hai chiến trường Nam, Bắc mà ung dung ngồi vào bàn đàm phán. Trên chiến trường miền Nam, quân dân ta đã thắng lớn trong chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, chiến dịch Trị – Thiên Xuân – Hè 1972. Ở miền Bắc, quân dân ta với trí thông minh và lòng quả cảm đã đánh thắng cuộc chiến tranh phá họai bằng không quân và hải quân tàn bạo của đế quốc Mỹ với tham vọng ngông cuồng của tướng Curtis Emerson Le May “đưa người Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá”. Và cuối cùng, bằng sức mạnh của tinh thần Việt Nam, quân dân ta đã giăng lưới thép tầng thấp, tầng trung, tầng cao “vít cổ” pháo đài bay B52 mà chính quyền Mỹ đem ra hù dọa những kẻ yếu bóng vía trên thế giới vào những ngày tháng Chạp năm 1972 trên đất Hà Nội mà thế giới biết tới là “Trận Điện Biên Phủ trên không”. Hoa Kỳ đã hết “vở”, buộc phải trở lại Hội nghị Pari và ngày 27-1-1973, Kítsinggơ, Cố vấn an ninh, sau trở thành Ngoại trưởng Hoa Kỳ, phải cầm bút ký vào bản Hiệp định Pari, công nhận nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của chúng ta và rút hết quân đội Mỹ và chư hầu về nước.

Chính sách đối ngoại hai bước của Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn Quân, toàn Dân thực hiện trọn vẹn. Bước 1: “Đánh cho Mỹ cút”. Bước hai: “Đánh cho ngụy nhào”, được khởi động thận trọng, nhưng khẩn trương chuẩn bị mọi điều kiện cho cuộc vùng dậy cuối cùng. Chiến dịch Phước Long cuối năm 1974 như chiến dịch trinh sát chiến lược, chúng ta toàn thắng. Thắng lợi Phước Long trùng vào lúc Hội nghị Bộ Chính trị đang họp nên Bộ Chính trị coi cả năm 1975 là thời cơ, nhưng chín muồi lúc nào là cơ hội lúc đó để tiến hành bước hai – đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất Tổ Quốc như khát vọng của toàn dân tộc, của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Bước hai được ấn nút vào tháng Ba, “mùa con ong đi lấy mật” ở Tây Nguyên bằng cuộc tấn công vào Buôn Mê Thuột. Buôn Mê Thuột thất thủ, Tây Nguyên “nóc nhà của Đông Dương” bị bỏ ngỏ. Thừa thắng xốc tới, ta mở chiến dịch Huế – Đà Nẵng với khí thế “thần tốc, thần tốc… một ngày bằng hai mươi năm” của Quân ủy Trung ương. Thế và lực của ta mạnh hơn bao giờ hết. Các đoàn quân chiến thắng với năm mũi tiến công, đang túc trực trước cửa ngõ Sài Gòn, chờ lệnh. Thời cơ chín muồi cho cuộc xung trận cuối cùng đã xuất hiện. Chiến dịch mang tên Hồ Chí Minh tiến công vào dinh lũy cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, bắt đầu. Trưa ngày 30-4-1975, lá cờ Giải phóng của ta đã phấp phới bay trên nóc Dinh Độc lập. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam đã hoàn toàn được giải phóng. Năm 1976 hai miền Nam Bắc thống nhất, non sông về trong một mối sau 21 năm chia cắt.

Như Hồ Chí Minh, người khai sinh nền cộng hòa dân chủ, đã từng nói (đại ý): Nước độc lập mà dân không được ăn no, mặc ấm, không được học hành thì độc lập không có nghĩa lý gì. Và trong những ngày gồng mình đánh giặc, Hồ Chí Minh đã nói tới viễn cảnh: Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Sau hơn 13 năm thử nghiệm, tìm tòi, cuối cùng, năm 1986, Đảng ta đã tìm thấy con đường ấm no, hạnh phúc và giàu mạnh của dân tộc bằng công cuộc “Đổi mới”, bắt đầu từ đổi mới tư duy, trước hết trong lĩnh vực kinh tế, sau đó sang lĩnh vực chính trị và văn hóa rồi đến hội nhập quốc tế mà thực chất là mở cửa “làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”. Hào khí trong kháng chiến chống ngoại xâm bây giờ biến thành hào khí trong dựng xây đất nước giàu mạnh. Cả nước thành một đại công trường xây dựng. Đất nước thay da, đổi thịt mỗi ngày. Mức sống của nhân dân được cải thiện và nâng lên từng năm, từng năm. Ta đã vượt qua dưới hạn của nước nghèo và vững tin gia nhập vào các nước đang phát triển. Hào khí thời đại Hồ Chí Minh đang cộng hưởng nâng ta tiếp bước trong thời đại hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa.

Hào khí thời đại Hồ Chí Minh có một cội nguồn từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, từ tinh thần dân tộc Việt Nam. Hào khí đó sẽ tiếp tục nâng bước ta đi tới tương lai – xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải nước ta như vua Lê Thánh Tông từng răn đe quần thần thuở trước: “Kẻ nào dám lấy một thước đất, một tấc đất của Thái Tổ để lại, để làm mồi cho giặc sẽ bị tru di tam tộc”./.

Theo PGS.TS. Phạm Xanh
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tầm vóc lịch sử và hiệu ứng xã hội của Cách mạng tháng Tám năm 1945

(TCTG) – Thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của cuộc cách mạng làm thay đổi số phận của cả một dân tộc. Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nhân dân ta đã vùng dậy, lật đổ ách thống trị của thực dân đế quốc và phong kiến, lập nên chính quyền cách mạng do nhân dân làm chủ trong cả nước, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập tự do. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi cùng với bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo và tuyên đọc đã khai sinh ra chế độ Dân chủ cộng hòa của Việt Nam. Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, chế độ thực dân phong kiến bị xóa bỏ, từ đây, Tổ quốc được độc lập, dân tộc và nhân dân ta được hưởng quyền tự do, hạnh phúc.

Ngót một thế kỷ với ách thống trị tàn bạo của đế quốc thực dân, nhân dân ta sống trong cảnh bị đọa đầy, đau khổ, bị chìm đắm trong những đêm dài tăm tối… đã chấm dứt. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thực sự là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc vĩ đại làm thay đổi số phận của cả một dân tộc, đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ tới tự do và làm chủ. Giải phóng để phát triển, giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc, mở ra những tiền đề và điều kiện để dân tộc ta chẳng những hồi sinh mà còn vững bước đi tới tương lai, trên con đường lớn của lịch sử Độc lập – Tự do và Hạnh phúc.

Là một cuộc cách mạng kiểu mới và điển hình trong một xã hội thuộc địa thực dân nửa phong kiến, Cách mạng tháng Tám, năm 1945 của Việt Nam được cổ vũ và chịu ảnh hưởng sâu sắc của Cách mạng tháng Mười Nga, năm 1917 và thời đại mới do chính cuộc cách mạng đó sinh thành. Cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng chống đế quốc thực dân và phong kiến, đập tan mọi xích xiềng nô lệ, khẳng định những quyền cơ bản thiêng liêng của con người – quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Cách mạng đã thực hiện những quyền đó trên nền tảng của quyền tự quyết dân tộc, độc lập chủ quyền của dân tộc là cơ sở để thực hiện các quyền tự do, dân sinh và dân chủ của con người.

Tuyên ngôn Độc lập trở thành một văn kiện chính trị – pháp lý và thấm nhuần sâu sắc các giá trị nhân văn của thời đại mới đề cao dân chủ và tự do, công bằng và bình đẳng xã hội. Với con người – đó là quyền được tồn tại thực sự xứng đáng với những con người tự do, quyền được phát triển như một chủ thể nhân cách sáng tạo, ở đó, phẩm giá làm người được tôn trọng và những đè nén, áp bức, bất công làm nhục con người, thống trị dân tộc trong tình cảnh nô lệ bị xóa bỏ. Đi vào lịch sử và sống mãi với thời gian, Tuyên ngôn Độc lập gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, với ý chí và khí phách của dân tộc Việt Nam “Thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Bản Tuyên ngôn ấy thực sự là Tuyên ngôn Lập quốc, Tuyên ngôn Dựng nước của dân tộc Việt Nam trong thời hiện đại. Nó kế thừa truyền thống anh hùng, bất khuất của ông cha ta qua mọi triều đại, nó tiếp nối và phát triển sức sống mãnh liệt, giá trị và bản sắc văn hóa cũng như bản lĩnh chính trị của dân tộc ta qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước để làm thăng hoa trí tuệ và tâm hồn Việt Nam, chân lý và đạo lý Việt Nam trong kỷ nguyên độc lập tự do, trong thời đại mới mang tên Thời đại Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Tuyên ngôn Độc lập mang tinh thần cách mạng triệt để, thấm đượm một triết lý phát triển đồng thời là thông điệp phát triển của Việt Nam trong thời đại mới. Đó là một áng thiên cổ hùng văn tiếp nối liền mạch với các áng thiên cổ hùng văn trước đó của ông cha ta với những âm hưởng hào sảng của Lý Thường Kiệt, dũng khí mãnh liệt của Trần Quốc Tuấn, trí tuệ và nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, trù tính định liệu việc lớn để an dân trị quốc của Nguyễn Huệ – Quang Trung.

Cách mạng tháng Tám đã dẫn tới Tuyên ngôn Độc lập và Tuyên ngôn Độc lập đã tổng kết và nâng cao tầm vóc của cuộc Cách mạng vĩ đại này, không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn có vị trí và ý nghĩa xứng đáng trong lịch sử chính trị thế giới hiện đại. Lịch sử càng lùi xa, những tư tưởng, giá trị và những bài học kinh nghiệm của các cuộc cách mạng chân chính do sức mạnh đoàn kết và sáng tạo của nhân dân làm nên càng trở nên sâu sắc và sống động.

Nhớ lại hơn 80 năm về trước, khi Đảng còn chưa ra đời, cách mạng còn đang ấp ủ những mầm mống sinh thành, trong tác phẩm nổi tiếng “Đường Kách mệnh” (1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã viết: Cách mệnh là phá cái cũ lỗi thời, lạc hậu đổi ra cái mới tiến bộ, phát triển. Người còn nói rõ, muốn làm cách mệnh xã hội, trước hết phải cách mệnh chính bản thân mình đã.

Bởi thế, muốn cho cách mệnh thắng lợi và đến nơi (tức là triệt để) thì Đảng cách mệnh, người cách mệnh phải có chủ nghĩa làm cốt, phải giữ chủ nghĩa cho vững và phải ít lòng tham muốn (ham muốn) về vật chất.

Trong hình thức dung dị của ngôn từ, đây thực sự là những quan niệm, những định nghĩa kinh điển về cách mạng và nhân cách của người cách mạng.

Với tư cách là tư tưởng, đây thực sự là những tư tưởng lớn, những dự cảm sâu sắc, ở tầm chiến lược, được vạch ra bởi một thiên tài – kết tinh sâu sắc và tốt đẹp nhất những tinh hoa của dân tộc và thời đại. Thiên tài ấy là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Thế kỷ XX – một thế kỷ anh hùng và bi tráng, thế kỷ đã sản sinh ra những cuộc cách mạng điển hình, mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, tiếp nối bởi Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Việt Nam, Cách mạng 1949 của Trung Quốc cũng như Cách mạng Cuba những năm 60 và những cuộc cách mạng khác…

Theo GS.TS Hoàng Chí Bảo
Hội đồng Lý luận Trung ương
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

66 năm Cách mạng tháng Tám năm 1945 (19/8/1945) và sự ra đời của một bài ca bất hủ

Cố nhạc sỹ Xuân Oanh

Cách đây 66 năm, tháng 8 năm 1945, cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 đi vào giai đoạn kết thúc. Sau khi tiêu diệt phát xít Đức, Liên Xô chuyển sang tấn công tiêu diệt phát xít phương Đông là Nhật Bản. Phong trào đấu tranh chống Nhật bùng lên mạnh mẽ khiến Nhật Bản lâm vào tình trạng vô cùng nguy khốn. Thời cơ cách mạng đang mở ra trước con đường giải phóng của các dân tộc, Đảng ta đứng trước một cơ hội lịch sử ngàn năm có một, giờ phút có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh của đất nước.

Trong hoàn cảnh đó, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) trong 2 ngày 14 và 15 tháng 8 năm 1945 đã giải quyết một vấn đề trọng đại: Quyết định tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Đại biểu các Đảng bộ từ Bắc, Trung, Nam, từ các chiến khu và khu giải phóng về dự đông đủ. Hội nghị họp vào lúc phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh liền thành lập “Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc” để lãnh đạo khởi nghĩa trong cả nước. Trong tình hình hết sức khẩn trương, Đảng quyết định phát động và lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọn bù nhìn tay sai của chúng trước khi quân đồng minh Anh, Pháp vào nước ta.

Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào ngày 15/8 gồm hơn 60 đại biểu thuộc các thành phần dân tộc, tôn giáo và các đoàn thể, đảng phái tề tựu trước mái đình Hồng Thái để bàn việc cứu nước, ý chí quyết chiến dâng lên mãnh liệt tại Đại hội Tân Trào. Các đại biểu đều tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng. Đại hội quy định quốc kỳ, quốc ca, 10 chính sách lớn và cử ra Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, tức là Chính phủ lâm thời sau này. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc, sau bao năm đấu tranh kiên cường vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đã được Đại hội nhất trí bầu làm Chủ tịch.

Nắm được thời cơ thuận lợi, nhiều địa phương đã nổi dậy giành chính quyền từ ngày 14-8. Ngày 15, Xứ ủy Bắc Kỳ trực tiếp chỉ thị cho Hà Nội khởi nghĩa. Hà Nội sống trong những ngày rạo rực chuẩn bị nổi dậy, các tầng lớp nhân dân nhất là thanh niên, hăng hái gia nhập các đoàn thể cứu quốc, tuyên truyền cho Việt Minh, thành lập các Đội Tự vệ chiến đấu.

Chiều 17, cuộc biểu tình của Tổng hội công chức biến thành cuộc mít tinh lớn của Việt Minh. Cờ đỏ sao vàng xuất hiện trên tầng hai Nhà hát Thành phố, đại biểu Việt Minh kêu gọi nhân dân đứng dậy giành chính quyền, lật đổ chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim. Ngọn lửa cách mạng bùng cháy, cả Hà Nội bừng bừng khí thế đấu tranh theo lời kêu gọi của Đảng.Cuộc biểu tình làm cho kẻ thù càng thêm hoảng hốt. Trái lại, quần chúng cách mạng phấn chấn, ráo riết chuẩn bị khởi nghĩa.

Sáng ngày 19, hàng chục vạn nhân dân thành phố rầm rập tiến về Quảng trường Nhà hát Lớn. Đúng 11 giờ trưa, cuộc mít tinh bắt đầu. Lời kêu gọi khởi nghĩa của Đảng được quần chúng đón mừng bằng những tiếng reo hò và những khẩu hiệu hô vang khắp quảng trường:

Thành lập chính phủ Cộng hòa Dân chủ Việt Nam
Việt Nam hoàn toàn độc lập
Đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim.

Cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu tình tuần hành vĩ đại. Dòng người chia thành nhiều ngả, có các Đội Tự vệ chiến đấu dẫn đầu đi chiếm các công sở và chiếm lĩnh các vị trí xung yếu. Cổng phủ khâm sai đóng, nhiều người vượt qua hàng rào sắt nhảy vào bên trong chiếm lấy trụ sở cơ quan đầu não của địch. Cờ đỏ sao vàng được kéo lên cao tung bay trước gió. Ở trại Bảo an ninh, bọn Nhật cho xe tăng và quân lính chặn các ngã đường nhưng chúng không thể ngăn cản được làn sóng người đang cuồn cuộn tiến bước, sẵn sàng đạp bằng mọi trở ngại. Nhân dân Hà Nội đã hoàn toàn làm chủ thành phố của mình. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội đã cổ vũ tinh thần đấu tranh của toàn dân và tác dụng mạnh mẽ đến phong trào cách mạng của cả nước.

Trong vòng 10 ngày từ 19 đến 28 tháng 8 hầu hết các tỉnh và thành phố đều nổi dậy khởi nghĩa. Phát xít Nhật thua trận, chế độ quân chủ bị lật đổ. Chính quyền trong cả nước hoàn toàn về tay nhân dân ta. Từ đó, ngày 19/8 đi vào lịch sử của dân tộc, là ngày khởi nghĩa của Hà Nội, ngày đánh dấu cao trào Tổng khởi nghĩa trong cả nước, ngày Cách mạng tháng Tám thành công. Thắng lợi Cách mạng tháng Tám chính là kết quả của một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh và khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng lòng yêu nước là những nhân tố căn bản nhất làm nên thành công của cuộc Tổng khởi nghĩa lịch sử.

Mùa thu này, ca khúc bất hủ “Mười chín tháng Tám” lại vang lên vào một dịp đặc biệt của cả dân tộc Việt Nam, đó là những ngày rạng ngời niềm vui kỷ niệm chiến thắng Cách mạng tháng Tám lịch sử.

“Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày
Thề đem xương máu quyết lòng chiến đấu cho tương lai
Mười chín tháng Tám khi quốc dân căm hờn kêu thét
Tiến lên cùng hô mau diệt tan hết quân thù chung
Mười chín tháng Tám ánh sáng tự do đưa tới
Cờ bay nơi nơi muôn ánh sao vàng
Máu pha tươi đều trên lá cờ bay khắp chốn giang sơn”.

Nhạc sỹ Xuân Oanh – người đã viết nên những lời ca tiếng hát đi cùng lịch sử dân tộc ấy, nay đã không còn. Một chứng nhân lịch sử của dân tộc đã đi xa nhưng ca khúc để đời của ông còn mãi vang vọng theo chiều dài lịch sử dân tộc!

“Đã hơn 60 năm qua đi, nhưng tôi vẫn nhớ như in diễn biến những ngày ấy. Tôi khi đó đang là một chàng thanh niên 23 tuổi, sớm giác ngộ cách mạng, được nhà văn Nguyễn Đình Thi và một số đồng chí khác dìu dắt, hướng dẫn tham gia công tác tuyên truyền cách mạng, cụ thể là đi phát hành các Tờ báo Hồn nước, Cờ giải phóng. Tâm trạng của lớp trẻ chúng tôi lúc đó – nhất là những người ham hoạt động – luôn sôi lên bầu máu nóng muốn làm một điều gì đó đóng góp vào công cuộc cách mạng chung. Sáng sớm ngày 19/8, tôi nhập vào đoàn người đi từ Văn Điển lên Nhà hát Lớn Hà Nội. Mọi người hối hả, khẩn trương và vô cùng phấn khích. Là người yêu thích âm nhạc, trước đó đã từng sáng tác, tôi nảy ý định sáng tác một bài hát ngay trên đường đi. Thế là vừa đi, tôi vừa sáng tác. Được câu nào tôi dạy ngay cho những người quanh tôi hát và nhập vào đoàn người hôm ấy. Họ thuộc và hát trôi chảy, tôi lại nghĩ tiếp câu sau cho đến hết bài. Không hiểu sao, tôi cho ra đời bài hát khá dễ dàng, có thể nói là không mất công nghĩ ngợi nhiều. Sáng tác gần như một mạch. Chính cái không khí lịch sử, tình cảm của đồng bào đã giúp tôi sáng tác nhanh như vậy. Sau đó, tôi cũng không phải sửa chữa gì thêm, bởi mọi người rất hưởng ứng, tâm đắc, chẳng ai có “ý kiến” chỗ nào” – Cố nhạc sỹ Xuân Oanh nhớ lại.

Với giai điệu hào hùng nhịp nhịp bước, ca khúc vang lên người nghe không khỏi bồi hồi xúc động xen lẫn niềm tự hào dâng tràn:

“Người Việt Nam ta giữ vững trong tim lời thề
Mười chín tháng Tám chớ quên là ngày khởi nghĩa
Hạnh phúc sáng tô non sông Việt Nam
Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày
Thề đem xương máu quyết lòng chiến đấu cho tương lai
Mười chín tháng Tám khi quốc dân căm hờn kêu thét
Tiến lên cùng hô mau diệt tan hết quân thù chung”

Khi hỏi về tên bài hát, nhạc sĩ rất “thật thà”: Thú thực, lúc sáng tác trên đường, chẳng nghĩ gì đến tên bài hát, chỉ cố làm sao cho số đông người dễ hát, dễ thuộc. Sau khi hướng dẫn xong cả bài, khi mọi người đã hát trôi chảy, bỗng có một người nói: “Này nhạc sĩ ơi, thế bài hát này tên là gì?”. Khi ấy, tôi mới sực nhớ là chưa có tên. Tôi nghĩ mãi chẳng ra được tên gì, cuối cùng bèn nói: “Hôm nay là ngày 19/8. Lịch sử sẽ ghi nhớ mãi ngày này. Thôi, chẳng cần tìm kiếm gì cho mất công, tên bài là 19 tháng 8”. Sau đó tôi hỏi: “Mọi người thấy thế nào, được không?”. Tất cả thống nhất: “Được đấy, đúng rồi. Hay đấy!”. Thế là tôi yên tâm đặt tên cho đứa con tinh thần của mình. Bài hát Mười chín tháng Tám ra đời “một cách kỳ lạ” như vậy.

Chiều 19-8-1945, bài hát in ở một hiệu sách và phát trên sóng phát thanh lúc nào, ông không biết. Anh em, bạn bè thông báo ông mới hay. Không ai biết, chính những giây phút xuất thần trong thời điểm lịch sử giúp nhạc sĩ Xuân Oanh sáng tác thành công ca khúc “Mười chín tháng Tám”, là bản hùng ca thời đại, cũng là bản hùng ca bất hủ, mãi mãi âm vang đi cùng năm tháng, cổ vũ, động viên toàn dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường đi lên phía trước./.

Phương Thúy (tổng hợp)

bqllang.gov.vn

Bài học về lãnh đạo quần chúng làm cách mạng

Chỉ trong vòng nửa tháng, từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhân dân đã nổi dậy đồng loạt tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, “lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(1). Nhận định về nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, đồng chí Trường Chinh khẳng định: “Cuộc khởi nghĩa tháng Tám 1945 đã đạt được mục đích giành chính quyền, mục đích trực tiếp của mọi cuộc cách mạng, vì nó là sự nghiệp của toàn dân đoàn kết, kiên quyết chiến đấu để tự giải phóng, do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo”(2).

Cách mạng tháng Tám để lại những bài học lịch sử quý báu. Một trong những bài học luôn có ý nghĩa thực tiễn là bài học về phát động, tổ chức, hướng dẫn quần chúng tạo thành những cao trào sôi nổi hoàn thành những nhiệm vụ lịch sử của cách mạng.

1. Ý Đảng hợp lòng dân là một cơ sở quyết định để có cao trào cách mạng

Đảng ta là một đội tiên phong của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Mục tiêu phấn đấu của Đảng cũng là nguyện vọng của đông đảo quần chúng. Đường lối, chủ trương của Đảng không phải dựa trên ý muốn chủ quan của một bộ phận mà căn cứ vào tình hình thực tiễn của đất nước, khả năng, nguyện vọng của quần chúng.

Vào thời kỳ tiền khởi nghĩa, nguyện vọng bức thiết của cả dân tộc lúc bấy giờ là thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của phát xít Nhật. Ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp, Đảng phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Ý Đảng hợp với lòng dân, khẩu hiệu cứu quốc có sức cổ vũ lớn đối với mọi giai cấp, mọi tầng lớp, mỗi người dân yêu nước. Khắp các địa phương, từ rừng núi đến đồng bằng, thành thị đều nô nức khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa cướp chính quyền. Được lệnh khởi nghĩa, toàn dân đồng loạt vùng lên với khí thế mãnh liệt của lực lượng chính trị quần chúng đông đảo và lực lượng vũ trang, bán vũ trang. Ở một số địa phương, do điều kiện thông tin liên lạc nên lệnh khởi nghĩa của Trung ương tới muộn, đảng bộ và Mặt trận Việt Minh căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương, vào phương hướng hành động của Đảng đã chủ động lãnh đạo quần chúng nổi dậy khởi nghĩa.

Bài học ý Đảng hợp với lòng dân thể hiện rất điển hình trong Cách mạng tháng Tám và được phát triển trong những thời kỳ cách mạng sau đó, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (khóa II) đến với sự mong chờ khát khao của đồng bào miền Nam đã làm bùng lên phong trào Đồng Khởi. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước đáp ứng nguyện vọng của nhân dân đã tạo nên những phong trào cách mạng trên nhiều lĩnh vực, đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới.

Những sai lầm, vấp váp của Đảng trong tiến hành cải cách ruộng đất, trong việc đề ra kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở Đại hội IV (1976) của Đảng đều có nguyên nhân do Đảng chủ quan, không nắm vững thực tiễn, không nắm bắt được nguyện vọng, khả năng của quần chúng nhân dân. Sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề với sự lãnh đạo của Đảng. Muốn phát huy được tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân, trước hết đường lối, chủ trương của Đảng phải coi lòng dân là một điểm xuất phát quan trọng hàng đầu.

2. Chăm lo đáp ứng nguyện vọng trước mắt và lâu dài của nhân dân

Vào đầu năm 1945, nạn đói diễn ra khủng khiếp ở các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Hai triệu người chết đói, hàng triệu người khác đang bị đói và có nguy cơ chết đói. Trước tình hình đó, Mặt trận Việt Minh kêu gọi: “Phá kho thóc Nhật cứu đói”. Hàng triệu nông dân nghèo dù chưa giác ngộ cao nhưng để cứu bố mẹ, vợ con và bản thân mình khỏi chết đói đã rầm rộ tham gia cuộc đấu tranh phá kho thóc Nhật. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quần chúng nhân dân từ hình thức đấu tranh cho quyền lợi kinh tế hằng ngày đến giác ngộ chính trị, đấu tranh cho độc lập dân tộc. Đi theo Việt Minh cứu nhà cũng chính là đi theo Việt Minh để cứu nước. Đó là nhận thức cụ thể, sâu sắc và biện chứng của nhân dân. Nhân dân được phát động vùng dậy với khí thế hừng hực khởi nghĩa chống Nhật giành chính quyền. Qua sự kiện lịch sử này, đồng chí Lê Duẩn đã rút ra kết luận: “Một khẩu hiệu sát đúng với tình thế cụ thể có sức dấy lên cả một phong trào”(3).

Trong cách mạng XHCN, chúng ta ngày càng nhận thức rõ lợi ích vật chất là động lực trực tiếp. Đảng và Nhà nước ta đã có đường lối, chính sách thường xuyên chăm lo đời sống của mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, mỗi người cần nhận thức đúng đắn mối quan hệ hài hoà giữa quyền lợi vật chất với quyền lợi tinh thần, lợi ích kinh tế với những vấn đề chính trị xã hội, quyền lợi trước mắt của bản thân, gia đình với mục tiêu chung của đất nước, của cách mạng. Đặc biệt, cần chống những quan niệm sai trái coi lợi ích vật chất là duy nhất, chỉ lo “ích kỷ phi gia”, bàng quan với cuộc sống khó khăn của người xung quanh, với sự nghiệp cách mạng của đất nước, của dân tộc.

3. Nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu xả thân vì nước của cán bộ, đảng viên.

Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, người cán bộ, đảng viên vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dám xả thân mình để hoạt động cách mạng. Họ tuyên truyền, vận động, tổ chức và hướng dẫn quần chúng đấu tranh. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người cán bộ, đảng viên đều nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu. Những nơi đòi hỏi phải hy sinh, khó khăn gian khổ thì “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Trong đoàn biểu tình, cán bộ, đảng viên đi hàng đầu. Trong chiến đấu, đảng viên xung phong lên phía trước. Đảng viên luôn nêu gương sáng dẫn dắt, cổ vũ quần chúng đi theo cách mạng. Nhờ vậy, trong Cách mạng tháng Tám, chỉ với 5.000 đảng viên mà Đảng đã phát động, tổ chức, lãnh đạo được phong trào cách mạng rộng lớn của toàn dân.

Sau khi cách mạng thành công, nhất là trong cách mạng XHCN, đảng viên, cán bộ thường được giao các cương vị công tác “có chức có quyền”. Từ đó, xuất hiện không ít “quan cách mạng” như Bác Hồ đã cảnh báo từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị suy thoái về phẩm chất đạo đức, quan liêu, tham nhũng, không những mất uy tín trước nhân dân, làm suy giảm uy tín của Đảng, mà còn đang là lực cản phong trào cách mạng của quần chúng. Tệ nạn này đã trở thành quốc nạn. Đảng phải thực sự dựa vào dân, kiên quyết loại trừ những “quan cách mạng”, làm trong sạch đội ngũ, khôi phục niềm tin của dân với Đảng.

Thấm nhuần nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo cuộc Cách mạng tháng Tám thắng lợi, để lại những bài học quý giá luôn nóng bỏng tính thời sự mà chúng ta cần nghiêm túc vận dụng có hiệu quả, đưa cách mạng nước ta tiếp tục giành những thắng lợi mới./.

—————–

(1) Hồ Chí Minh, toàn tập, NXBCTQG, H.1995, tập 6, tr.159.
(2) Trường Chinh, Cách mạng Tháng Tám, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tập 1, tr.374.
(3) Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội. 1975, tr.46-47.

Huyền Trang (st)
Theo Tạp chí Xây dựng Đảng

bqllang.gov.vn

Cách mạng tháng Tám và bài học xây dựng nhà nước pháp quyền

Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ rũ bùn đứng dậy làm chủ nhân đất nước. Dẫu buổi đầu đầy cam go thách thức nhưng người dân Việt Nam đã tự tay thực hiện quyền làm chủ, cầm lá phiếu bầu nên Quốc hội, chọn những người ưu tú nhất vào bộ máy nhà nước để lãnh đạo nhân dân chống thù trong giặc ngoài giữ vững nền độc lập.

Những kinh nghiệm trong buổi đầu lập nước ấy đang được kế thừa và phát huy trong quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN theo đường lối của Đảng.

Năm nay đã vào tuổi 93, Giáo sư Lưu Văn Đạt, Chủ tịch Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam dường như gắn trọn đời mình với sự nghiệp cách mạng mà ông đã nhiệt tình tham gia từ những năm đầu của cuộc kháng chiến kiến quốc. Mấy mươi năm công tác, dù ở cương vị nào, Giáo sư Lưu Văn Đạt cũng thể hiện sự uyên bác của một chuyên gia về pháp luật. Việc ra đời một nhà nước dân chủ ngay sau khi lật đổ ách thống trị thực dân phong kiến là một thành công vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cương vị người cầm lái con thuyền cách mạng. Chính Người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho đường lối xây dựng nhà nước pháp quyền khi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc. Bằng mục tiêu trong sáng, bằng uy tín, tài năng, đạo đức và tinh thần quyết tâm “dù có đốt cháy cả dải Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một di sản quý giá về tinh thần đoàn kết, hòa hợp dân tộc trong quá trình xây dựng nhà nước cách mạng.

Giáo sư Lưu Văn Đạt chia sẻ: “Điều mà tôi tâm đắc nhất là tinh thần đại đoàn kết dân tộc, trọng nhân tài của Hồ Chủ tịch. Bác nói là ai có tâm huyết thì Bác sẵn sàng tiếp nhận để làm việc cho đất nước. Lúc bấy giờ Đảng viên có bao nhiêu đâu, những người ngoài Đảng thì rất đông. Nhưng những người ngoài Đảng đều là những người ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Đảng và Hồ Chủ tịch. Hầu hết trí thức lúc bấy giờ đều đứng dưới lá cờ của Hồ Chủ tịch, sẵn sàng làm mọi việc giúp ích cho đất nước”.

Nhờ vậy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng được một Chính phủ đủ sức lãnh đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc thành công. Những trí thức phong kiến như Phạm Khắc Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn… rồi những trí thức mới như Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng… đều là nhân tài Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài cũng trở về góp sức xây dựng đất nước.

Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc – nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh phân tích: Thắng lợi lớn nhất, triệt để nhất của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là đánh đổ chế độ nô lệ, xây dựng nhà nước kiểu mới, nhà nước do dân và vì dân. Cuộc bầu cử Quốc hội tháng 1/1946 và sau đó là thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu là một bước đi có tính chiến lược, thể hiện sự tài ba của Bác. Bài học lớn trong xây dựng nhà nước của cuộc Cách mạng tháng Tám là sự thay đổi bản chất nhà nước. Nói như Bác Hồ là: “Nhà nước ấy không phải để đè đầu cưỡi cổ dân như chế độ thực dân phong kiến, mà bộ máy Chính phủ từ trung ương đến địa phương phải là công bộc của dân, phục vụ nhân dân”.

Theo Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc, tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đến khi Người gửi bản yêu sách 8 điều đến Hội nghị Versaill xây năm 1919. “Tám điểm yêu sách, đầu tiên Cụ chú ý vấn đề pháp luật, trong đó có một câu là “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Trong tác phẩm Đường kách mệnh thì Cụ lại nói là cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều. Đấy chính là quyền làm chủ, quyền lợi, quyền lực. Cuộc bầu cử tháng Giêng năm 46 để khẳng định cơ sở pháp lý của nhà nước. Nhà nước này là Nhà nước hợp hiến, hợp pháp, do dân cử, xác định không những cơ sở thực tế mà còn là cơ sở pháp lý của Nhà nước trong đối nội và đối ngoại” – Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc nói.

Phó Giáo sư Sử học Lê Mậu Hãn cho rằng thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã khẳng định tư thế của một dân tộc khát khao tự do, một quốc gia khát khao độc lập. Cả đời bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh đạo cách mạng thành công đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ là để thực hiện cho được hoài bão xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tư tưởng ấy là bài học rất quý. Phó Giáo sư Lê Mậu Hãn cho rằng: “Thắng lợi đó là thắng lợi của tư tưởng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh mà Đảng tổ chức lãnh đạo. Và trong cuộc bầu cử đó toàn dân có quyền ứng cử và bầu cử. Cho nên đó là thắng lợi của tư tưởng dân tộc bình đẳng, dân chủ và đại đoàn kết. Đó là một bài học kinh nghiệm có giá trị đặc biệt khi hiện nay đặt vấn đề phải tích cực phát huy quyền dân chủ tự do cho nhân dân để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đang tiến lên trong điều kiện khó khăn”.

Theo Giáo sư Lưu Văn Đạt, để xây dựng nhà nước pháp quyền vững mạnh, không phải ở luật pháp – tức pháp trị, mà cái chính là đạo đức của người cán bộ cách mạng – tức đức trị. Tính vì dân của nhà nước phải được thể hiện bằng những việc hết sức cụ thể: “Có một phương châm Hồ Chủ tịch đề ra là cái gì có lợi cho dân thì hết sức làm, cái gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Điều này Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong kỳ nhậm chức cũng đã nhắc lại. Tôi nghĩ rằng nếu như tất cả công chức, viên chức của nhà nước, các nhà lãnh đạo luôn suy nghĩ đến phương châm đó chắc chắn là nhà nước pháp quyền của chúng ta sẽ thực sự là của dân, do dân và vì dân. Bởi vì cuối cùng là vì dân, vì dân là vì lợi ích của nhân dân, cái gì có lợi cho nhân dân thì làm”.

Nghị quyết Đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ XI xác định: Không ngừng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Việc nhanh chóng tổ chức bầu cử Quốc hội khóa XIII và hoàn thiện bộ máy nhà nước vừa qua đã thể hiện quyết tâm ấy của toàn Đảng toàn dân ta.

Đất nước đang kỳ vọng ở đường lối đổi mới của Đảng, vào quyết tâm của Chính phủ nói không với nạn quan liêu tham nhũng, quyết tâm xây dựng bộ máy công quyền hết lòng phục vụ dân, để nhà nước ta thực sự là nhà nước pháp quyền, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ./.

Huyền Trang (st)
Theo Vân Thiêng/vov.vn

bqllang.gov.vn

Người thiết kế Kỳ đài Độc lập

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại vườn hoa Ba Đình Ảnh: TL

Nhớ đến ngày Lễ Độc lập (2/9/1945), mỗi chúng ta đều không quên được hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng trên Kỳ đài giữa Ba Đình lịch sử, đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Người vinh dự được giao nhiệm vụ thiết kế Kỳ đài trong buổi lễ lịch sử đó là kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh quê làng Ngọc Lập, xã Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên.

Sáng 1/9/1945, kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh đang làm việc ở văn phòng thì được ông Phạm Văn Khoa, cán bộ của Ban Văn hóa Cứu quốc đến truyền đạt yêu cầu của Kỳ bộ Việt minh về việc thiết kế Kỳ đài để chiều 2/9 Hồ Chủ tịch lên đọc Tuyên ngôn Độc lập và Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào tại vườn hoa Ba Đình. Ông Phạm Văn Khoa nêu yêu cầu: Kỳ đài làm giản dị nhưng phải trang nghiêm; trên có thể đứng được hơn 30 người.

Nghe xong yêu cầu thiết kế Kỳ đài, ông Ngô Huy Quỳnh liếc nhìn đồng hồ và nhẩm tính: “Thời gian quá gấp”, tuy vậy ông vẫn hẹn ông Phạm Văn Khoa 12 giờ trưa hôm ấy đến xem bản vẽ phác thảo của ông. Nói xong, ông nhanh chóng chuẩn bị mấy thứ đồ nghề rồi vội đạp xe đến vườn hoa Ba Đình để khảo sát thực địa. Đứng ngắm toàn cảnh vườn hoa Ba Đình, khảo sát tất cả các địa điểm, mặt bằng, những hình khối xung quanh vườn hoa có liên quan rồi ngồi ngay tại hiện trường phác thảo nhanh 3 phương án thiết kế, xong lại hối hả đạp xe về văn phòng để kịp thời gian để ông Phạm Văn Khoa và anh em trong cơ quan tham gia ý kiến. Đúng 12 giờ trưa ngày 01/9, ông Phạm Văn Khoa và anh em trong văn phòng có mặt đông đủ để nghe kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh trình bày bản vẽ phác thảo Kỳ đài.

Sau khi nghe ông Quỳnh báo cáo, mọi người đều nhất trí chọn phương án thi công đơn giản nhưng lại toát lên được ý tưởng của tác giả đó là sự hài hòa giữa không gian của vườn hoa Ba Đình với biển người đứng trong khu vực, mọi người đều có thể nhìn được Hồ Chủ tịch và các thành viên Chính phủ lâm thời. Mọi người thống nhất cao và đúng 12 giờ 30 ngày 1/9/1945, Kỳ đài bắt đầu được thi công. Là người thiết kế nhưng vì thời gian quá gấp nên Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh trực tiếp cùng mọi người thi công Kỳ đài. Cũng buổi sáng hôm đó, ông Phạm Văn Khoa đến mời thêm ông Quyến là thợ mộc rất giỏi ở phố Hàng Hành để cùng với kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh thi công Kỳ đài.. Xem qua bản vẽ, ông Quyến tính số khung, số ván, số đinh và một số vật liệu khác để Ban Tổ chức chuẩn bị. Ông Phạm Văn Khoa nhờ luôn ông Quyến huy động thêm 10 người thợ mộc cùng 40 anh em ở Ban Cổ động, Ban Khánh tiết, Ban Khoa giáo đến giúp việc. Không khí làm việc khẩn trương, mọi người làm việc luôn tay, không thấy mệt, chỗ này cưa, chỗ kia dọc gỗ. Tiếng đục, tiếng đóng đinh chan chát vang cả không gian. Lúc bấy giờ vườn hoa Ba Đình chỉ là khoảng đất phẳng, nên mọi người chôn các trụ của Kỳ đài xuống đất, như thế vừa tiết kiệm gỗ lại không phải cưa và tạo cho Kỳ đài vững chắc.

Khi Kỳ đài vừa được dựng lên, anh em trong ban Khánh tiết bọc vải, ken hoa và chuẩn bị hệ thống âm thanh. Gần 6 giờ sáng hôm sau (ngày 2/9/1945) Kỳ đài được hoàn thành. Kỳ đài cao hơn 4m, rộng và sâu 4m, trên có 1 cột cờ cao hơn 10 m, hai bên có hai lư hương lớn bằng gỗ. Khi đứng trên Kỳ đài để kiểm tra lần cuối cùng, ông Ngô Huy Quỳnh thấy đồng bào khắp nơi đang đổ về với khí thế cách mạng hừng hực, cờ hoa, biểu ngữ giăng khắp. Mùi trầm từ hai lư hương lớn tỏa hương ngào ngạt, ông thấy lòng thanh thản vì vừa hoàn thành một trọng trách to lớn – Kỳ đài biểu tượng của ý chí độc lập dân tộc đã kịp hoàn thành phục vụ cho Lễ Độc lập đầu tiên của nước nhà, cứ thế nước mắt kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh trào ra vì sung sướng, hạnh phúc…

Hà Nội, mùa thu năm 2011
Đặng Bình Minh

bqllang.gov.vn