Tag Archive | Phóng sự – Tư liệu

Hồ Chí Minh và những ngày đi tìm đường cứu nước

Ở bến Nhà Rồng – TP Hồ Chí Minh có một khu di tích quy tập những hình ảnh về cuộc đời và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cũng dễ hiểu, bởi từ nơi đây, ngày 5/6/1911, một người thanh niên yêu nước Việt Nam có tên là Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước.

Nhà Rồng (nơi Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước). Ảnh: Phạm Lợi.

Mang tên mới: Văn Ba, anh xin được chân người phụ bếp trên một chiếc tàu biển của Pháp Latusơ Tơrêvin. Từ đây, hoà mình trong đời sống của thợ thuyền, người thanh niên Văn Ba bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước thoát khỏi ách nô lệ của chế độ thực dân.

Cuộc hành trình 30 năm ròng, đi qua 28 quốc gia, làm nên sự nghiệp lớn, xuất phát từ một anh phụ bếp Văn Ba trên một chiếc tàu vận tải hàng hải. Tuy lao động vất vả suốt ngày, suốt tháng không có ngày nghỉ, ông chủ chỉ trả cho anh mỗi tháng không quá 50 phrăng, là thứ tiền công rẻ mạt nhất cho một lao động, nhưng anh không nản lòng, chê trách. Mà trái lại, với thái độ cởi mở, lễ phép với mọi người; từ người lao động đến những du khách thượng hạng đi trên tàu, ai cũng quý mến anh, sẵn sàng giúp đỡ mỗi lần anh muốn biết về một điều gì đó. Xong việc, anh tranh thủ học thêm hoặc đọc sách hay tự học ngoại ngữ. Tàu cập bến một số nước, anh Ba lên bờ, không phải như những người khác, bao nhiêu tiền dồn vđo việc ăn chơi phung phí; anh dành thời gian đi sâu tìm hiểu hiện trạng thực tế xã hội. Anh chợt nhận ra rằng, mỗi quốc gia mỗi vẻ khác nhau về phong cảnh và con người; nhưng về xã hội thì đâu đâu cũng có người nghèo, người giàu, đâu cũng có các tệ nạn xã hội, đâu cũng có người tốt và kẻ xấu.

Anh tiêu tiền hợp lý, chỉ sử dụng tiền khi cần thiết, còn dành một ít tiền gửi về cho người cha ở nhà đang còn gặp nhiều khó khăn. Trên đất Pháp, anh viết thư gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp xin vào học Trường Thuộc địa. Đây không chỉ là trường đào tạo học sinh sau này phục vụ chính sách cai trị của Pháp mà còn đào tạo một số nghề chuyên môn như điện báo, kế toán, xưởng trưởng… Anh ký tên Nguyễn Tất Thành, trong thư anh ghi: “ý muốn trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức”. Song lời yêu cầu thiết tha đó không được chấp nhận. Một lần nữa, anh lại xuống tàu tiếp tục cuộc hành trình qua những châu lục khác.

Trên chiếc tàu biển của hãng Sácgiơ Rêminy nước Pháp, Nguyễn Tất Thành bắt đầu chuyến hành trình qua các nước bên bờ biển châu Phi. Khi tàu cập bến, anh thường tranh thủ thời gian rỗi lên thăm thành phố cảng, dạo ngắm phong cảnh châu Phi và tìm hiểu đời sống kinh tế, xã hội của lục địa đen này. Anh đã được chứng kiến nhiều cảnh đau xót. Thân phận của nô lệ da đen thật kinh khủng. Họ là người mà không được sống cuộc sống của con người. Họ bị hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần, họ là thứ hàng hoá trao đổi mua bán giữa các ông chủ buôn người công khai được pháp luật thừa nhận. Bọn chủ xem tính mạng những người nô lệ da đen là thứ trò chơi tiêu khiển, là những đồ dùng khi cần thì sử dụng, khi không cần thì vứt đi không tiếc. Trước những cảnh đời đau xót đó, Nguyễn Tất Thành đã có lúc xúc động và khóc. Người đau nỗi đau chung của nhân loại cho thân phận người nô lệ, cho số phận của người dân Việt Nam bị áp bức, bị mất quyền tự do của con người.

Tàu Đô Đốc Latútsơ Tơrêvin, nơi Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước.

Rời châu Phi, để lại nỗi buồn của những cảnh đời, những băn khoăn suy tư về một câu hỏi lớn: Làm thế nào để trên thế giới bớt đi sự bất công? Từ châu Phi, anh đến châu Mỹ, đi qua Mactinich, Urugoay, Achentina, rồi lần đầu tiên đặt chân lên nước Mỹ, nơi anh thường được nghe về một tuyên ngôn độc lập nổi tiếng cả thế giới. Người muốn dừng chân trên đất Mỹ một thời gian để tìm hiểu bản chất của sự độc lập kiểu Mỹ như thế nào.

Thời gian đầu Nguyễn Tất Thành đến nhận một công việc làm bánh tại một gian bếp của khách sạn Omni Parker House ở thành phố Boston. Tại đây, anh thường lui tới khu vực Háclem, nơi ở của người nghèo, chủ yếu là người da đen. Anh làm quen với các phong trào đấu tranh với giới chủ, từ những cuộc quyên góp tiền gửi về giúp đỡ quê hương châu Phi. Có lần khi trả lời nhà báo A.Luy Xtơrông, Bác Hồ nhớ lại thời kỳ này: “Khi ấy tôi chưa hiểu lắm về chính trị, nhưng tôi cảm thấy họ đều là những người nghèo khổ đang mong muốn được tự do. Họ có bao nhiêu tiền cũng bỏ ra trong lúc quyên góp, thế là tôi dốc cả tiền túi của mình ra góp vào đấy”.

Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời nước Mỹ sang nước Anh. Thời kỳ đầu gặp nhiều khó khăn về kinh tế nên phải tạm xin việc quét tuyết cho một trường học, rồi chuyển sang làm nghề đốt lò. Tiền thu chẳng được bao nhiêu vừa đủ tiền thuê nhà, tiền học thêm tiếng Anh, còn lại chỉ đủ những bữa ăn thanh đạm. Sau đó nhờ có người giới thiệu, anh chuyển đến làm thuê ở khách sạn Cáclơtơn. ở đây có ông vua đầu bếp nổi tiếng Excôpphiê người Pháp. Anh Thành nhận việc rửa bát đĩa, xoong nồi, lao động chăm chỉ, tính tình cởi mở, đặc biệt rất có ý thức trong công việc. Mỗi lần phục vụ bữa tiệc lớn của những người giàu có, thức ăn thừa nhiều, anh Thành không vứt những thức ăn còn có thể dùng được, mà gói lại mang ra đường cho những người nghèo.

Việc làm đó được ông Excôpphiê rất chú ý. Là người có tư tưởng tiến bộ nên ông rất quý anh và ông đã giúp anh cách làm bánh – một bí quyết nghề nghiệp. Có công việc mới, anh Thành vừa đỡ vất vả lại có thời gian để học thêm tiếng Anh. Lúc này ở nước Anh đã hình thành một tổ chức gồm những người châu á, có tư tưởng tiến bộ, gọi là “Hội những người lao động hải ngoại”. Anh Thành trở thành hội viên của Hội vì Hội này ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam.

Thời kỳ ở nước Anh, ngoài điều kiện thuận lợi cho anh học tiếng, điều kiện xã hội và chính trị đương thời còn giúp anh hiểu biết nhiều về chế độ chính trị của xã hội tư bản, về đấu tranh giai cấp giữa công nhân và tư sản… Tuy điều kiện rất tốt song có điều những thông tin về quê hương quá ít, ở nước Pháp – nước đang trực tiếp đô hộ dân tộc mình – sẽ có nhiều thông tin về quê hương. Hơn nữa nhờ liên lạc được với cụ Phan Chu Trinh và một số người Việt Nam đang ở Paris, Nguyễn Tất Thành càng hiểu hơn điều kiện thuận lợi khi mình có mặt ở Paris, do đó anh quyết định trở lại nước Pháp.

Thời kỳ này cụ Phan Chu Trinh đang ở Pháp cũng rơi vào hoàn cảnh khó khăn chung. Cụ phải làm nghề ảnh để có thu nhập sinh sống. Thời kỳ mới đến Paris, nhờ sự quen biết trước nên cụ Phan đã giúp anh Thành làm nghề thợ ảnh. Để giảm bớt khó khăn chung, cụ Phan cùng đến ở nhà của Phan Văn Trường tại số 6 Vila đờ Gôbơlanh, quận 13 Paris. Dần dần ngôi nhà này trở thành nơi hội tụ của người Việt Nam ở Paris. Thủ đô Paris là trung tâm chính trị xã hội không những của châu Âu mà còn của cả thế giới. Các đảng phái đại diện quyền lợi chính trị, kinh tế của giai cấp mình đua nhau thi thố làm cho không khí xã hội Paris càng thêm sôi động.

Qua một thời gian theo dõi diễn biến chính trị xã hội ở Pháp và tích cực liên hệ với những người Pháp, người Việt có tư tưởng tiến bộ, đặc biệt anh nhận thấy trong nhiều đảng phái chính trị thì Đảng Xã hội Pháp là Đảng tiến bộ – giương cao ngọn cờ của cuộc Đại cách mạng tư sản Pháp – Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Do đó, Nguyễn Tất Thành tự nguyện tham gia Đảng Xã hội Pháp vào đầu năm 1919.

Chiến tranh thế giới kết thúc. Nhiều tổ chức chính trị tiến bộ gửi yêu sách, nguyện vọng đến Hội nghị. Những người Việt Nam ở Pháp có Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Tất Thành đã thảo luận thống nhất Bản yêu sách tám điểm của những người yêu nước An Nam, ký tên Nguyễn Ái Quốc và từ đó tên gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện. Nhờ nhạy cảm về chính trị và được sự chuẩn bị chu đáo, bản yêu sách đã được công bố công khai trên báo chí trước ngày khai mạc Hội nghị Vecxay. Do đó, nó nghiễm nhiên được đặt trước các nguyên thủ quốc gia tham gia Hội nghị và nhất là công luận đã lên tiếng thì nhân dân Pháp và các lực lượng tiến bộ sẽ ủng hộ. Nội dung yêu sách nói lên nguyện vọng của các dân tộc nhược tiểu, hy vọng những lời cam kết chính thức và quan trọng của các cường quốc về chế độ nhân đạo, công lý sẽ được thực hiện, những yêu sách này là những nguyện vọng chính đáng và nhu cầu tối thiểu cần được hưởng của một dân tộc, của một con người bình thường được sống trong thời đại.

Một sự kiện chính trị lớn khác trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn ái Quốc, đó là ngày 16 và 17-7-1920, trên Báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp đăng bài “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I Lênin đã gây xúc động lớn đến Nguyễn ái Quốc. Sau này Người nhớ lại: “Trong luận cương ấy có những chữ chính trị khó hiểu, nhưng cứ đọc đi, đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đày đọa đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta”. Từ đó tôi hoàn toàn theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.

Nhờ những hoạt động tích cực đó mà Đảng Cộng sản Pháp mới có những động thái như thông qua “Lời kêu gọi những người bản xứ thuộc địa” do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, vạch trần những chế độ hà khắc của chủ nghĩa thực dân đối với những người bản xứ, phải chịu hai tầng áp bức – một là người lao động, hai là người bản xứ – kêu gọi đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung. Trong cuộc đấu tranh của những người lao động bản xứ có sự ủng hộ của Đảng Cộng sản Pháp… Lời kêu gọi được Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Việt, in truyền đơn, bí mật gửi về Việt Nam, thức tỉnh phong trào cách mạng trong nước.

Nguyễn Ái Quốc (người ngồi hàng đầu bên trái) với một số đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V (7/1924).

Cũng trong những ngày trên đất Pháp, Người còn sáng lập ra “Hội Liên hiệp thuộc địa”, nhằm tạo hợp lực lượng, đoàn kết các dân tộc thuộc địa với giai cấp công nhân chính quốc để đấu tranh chống kẻ thù chung. Đây là mặt trận liên minh các lực lượng dân tộc bị áp bức, lần đầu tiên xuất hiện ở Pháp do một lãnh tụ thuộc địa, đó là Nguyễn ái Quốc đứng ra tổ chức. ảnh hưởng của anh càng lớn lao trên diễn đàn quốc tế bao nhiêu thì mật thám càng ráo riết theo dõi hoạt động cách mạng của anh bấy nhiêu.

“Hội Liên hiệp thuộc địa” được chính thức thành lập ngày 26/6/1921 tại Paris. Hội xây dựng chương trình, điều lệ và cử ra Ban Chấp hành của Hội. Hội ra bản tuyên ngôn do Nguyễn ái Quốc soạn thảo. Đặc biệt Hội đã cho ra tờ báo Người cùng khổ (Le Paria). Nguyễn ái Quốc vừa là chủ nhiệm kiêm chủ bút, viết bài, sau này cả phát hành báo.

Ngày 1/4/1922, báo ra số đầu tiên. Trang đầu đăng lời kêu gọi giống như một tuyên ngôn của báo. Tài chính của báo do sự ủng hộ nhiệt tình của các đồng chí Pháp cũng như trụ sở báo, phương tiện… Nhà văn nổi tiếng Pháp H. Bácbuýt nhận đỡ đầu cho báo, các đồng chí M.Casanh, G.Lêuy… tham gia viết bài cho báo. Từ lúc ra đời cho đến lúc dừng hoạt động (4/1926), toàn bộ báo ra được 38 số là một sự cố gắng lớn, trong đó vai trò của Nguyễn Ái Quốc rất quan trọng.

Ngoài việc lo hoạt động của báo, Người còn viết nhiều bài trên các lĩnh vực: xã luận, bình luận, truyện ký, tiểu phẩm, tranh vẽ, đưa tin, dịch thuật… là một cây viết chính, là linh hồn tồn tại và phát triển của báo. Những bài viết của Nguyễn Ái Quốc tập trung tố cáo chế độ bóc lột của thực dân trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Vạch trần những thủ đoạn, mánh khoé bóc lột tư bản như đặt ra nhiều thứ thuế phi lý, sinh ra các tệ nạn xã hội như thuốc phiện, rượu, bắt lính, chiếm đoạt ruộng đất… Người kêu gọi, muốn xoá những chế độ bất công đó không có gì khác hơn là đoàn kết các dân tộc, đứng lên đấu tranh giai cấp. Hoà cùng tiếng nói với Báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp, Báo Người cùng khổ đã tạo thành một mặt trận thống nhất chung của nhân dân thuộc địa với giai cấp vô sản và nhân dân lao động Pháp chống chủ nghĩa tư bản.

Như vậy là từ một người yêu nước nhiệt tình cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước và dấn thân vào cuộc đấu tranh để thực hiện thắng lợi con đường đó. Sáu năm hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc từ người đi tìm đường trở thành người dẫn đường. Là đảng viên Cộng sản, trở thành người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, sau này sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân năm 1930. Năm 1941, sau vừa đúng 30 năm xa Tổ quốc, Bác Hồ của chúng ta đã trở về Tổ quốc lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua bao thác ghềnh và giành được độc lập vào mùa thu năm 1945

Xuân Ngọc – CAND Xuân 2011
cand.com.vn

Advertisements

Người kĩ sư ở Pháp theo Bác Hồ về nước kháng chiến

Sáu mươi lăm năm đã qua, còn nhiều bí mật phía sau số phận của một trong 4 trí thức người Việt từ Pháp cùng Bác Hồ về nước tham gia kháng chiến, đó là kỹ sư Võ Quí Huân.

Mùa hè năm 1946, trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bác Hồ đã thực hiện chuyến thăm lịch sử tới nước Pháp nhằm hậu thuẫn cho Hội nghị Fontainebleau mưu cầu nền độc lập, thống nhất bền vững cho Việt Nam. Tuy nhiên, do tư tưởng thực dân của giới cầm quyền Pháp, Hội nghị đã thất bại; Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Việt Nam chuẩn bị cuộc trường kỳ kháng chiến. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, 4 trí thức người Việt đã thành danh ở Pháp gồm: Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa), Trần Hữu Tước, Võ Quí Huân và Võ Đình Quỳnh, đã cùng Bác Hồ về nước tham gia kháng chiến…

Chân dung người kĩ sư Việt kiều yêu nước

Ông Võ Quí Huân sinh năm 1912 trong một gia đình giáo học huyện Thanh Chương (Nghệ An). Lớn lên trên quê hương giàu truyền thống yêu nước, năm 1935-1937, Võ Quí Huân tham gia phong trào Bình dân, làm Chủ nhiệm Báo Đông Dương hoạt động (L’activité Indochinoise) xuất bản song ngữ Việt – Pháp. Đây là một tờ báo tiến bộ đương thời, nên bị thực dân Pháp đóng cửa; Võ Quí Huân phải trốn sang Pháp và đi học. Ông đã giành được 3 bằng kĩ sư các ngành: cơ điện, đúc và kỹ nghệ chuyên nghiệp. Sau đó, ông làm việc cho hãng tàu thủy Compagnie Translatique (Pháp) và một số nhà máy lớn. Ông cũng là kỹ sư trưởng tại nhà máy nghiên cứu sản xuất động cơ máy bay Potef… Ông tham gia Tổng Công đoàn Pháp (CGT), trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp từ năm 1939.

Giữa năm 1946, ông Võ Quí Huân đã tham gia tổ chức các hoạt động nghênh đón, phục vụ Hồ Chủ tịch và phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong cuộc hoà đàm với nước Pháp… Trung tuần tháng 9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký kết bản Tạm ước 14-9 với đại diện Chính phủ Pháp, nhằm kéo dài thời gian hoà bình cho Việt Nam, rồi trở về Tổ quốc. Trước lúc rời nước Pháp, Hồ Chủ tịch đã mời một số trí thức tiêu biểu đến gặp. Người ôn tồn nói: “Bác sắp về nước. Các chú chuẩn bị để vài ngày nữa chúng ta lên đường. Các chú đã sẵn sàng chưa?”.

Trong số 4 trí thức cùng Hồ Chủ tịch về nước, ông Võ Quí Huân có vợ và con gái mới tròn 2 tuổi. Vợ ông Huân là bà Vo Qui Irenè, gốc Nga. Bà là Tiến sĩ Ngôn ngữ học, nói và viết thành thạo 7 ngoại ngữ. Cô con gái có tên là Vo Qui Viet Nga (Võ Quí Việt Nga), mới tròn 2 tuổi; nhưng trước nghĩa vụ với Tổ quốc, ông đã nén tình cảm riêng, quyết tâm trở về Việt Nam phục vụ đất nước. Lúc chia tay lên đường vội vã, ông Huân ôm cô con gái cưng vào lòng và trân trọng hứa: “Moumou yêu quý của ba, ba đi công việc vài ba tháng sẽ trở lại!”. Bé Việt Nga mếu máo rồi oà khóc níu áo ba, hai cha con nghẹn ngào giây phút biệt ly…

Bác Hồ bế con gái kĩ sư Võ Quí Huân (Paris, tháng 7/1946), người theo Bác về nước.

Dấn thân vào cuộc trường kì kháng chiến của dân tộc, 4 trí thức Việt kiều được giao những trọng trách để phục vụ đất nước. Ông Võ Quí Huân đảm trách Giám đốc Sở Khoáng chất kĩ nghệ Trung Bộ. Với sự chủ trì của ông, chiều 15/11/1948, mẻ gang đầu tiên từ quặng sắt đã được luyện, chảy vào khuôn trong sự reo hò của cán bộ, công nhân nhà máy… Từ thành công này, những quả lựu đạn, trái mìn và nhiều loại vũ khí “Made in Vietnam” đã được xuất xưởng đại trà bởi nhà thiết kế Trần Đại Nghĩa và gang của kĩ sư Võ Quí Huân, góp phần vào những thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kì 9 năm.

Cuộc trùng phùng sau 6 thập kỷ

Như đã đề cập ở phần trước, sau khi về nước, ông Võ Quí Huân đã dồn hết tâm sức phụng sự Tổ quốc. Cuộc kháng chiến ngày càng khốc liệt và cơ hội của ông Huân trở lại nước Pháp đón vợ con về Việt Nam là điều không thể… Một thời gian sau, ông Võ Quí Huân lập gia đình với bà Tạ Kim Khanh và sinh được 4 người con. Sau khi về tiếp quản Thủ đô, kĩ sư Võ Quí Huân tiếp tục được giao nhiều trọng trách… Năm 1967, ông Võ Quí Huân lâm trọng bệnh…

Trong một buổi chiều Hà Nội dầm dề mưa lạnh, tôi đã rất xúc động khi chị Võ Quí Hoà Bình, con gái của ông Võ Quí Huân với người vợ sau, cho tôi xem đoạn clip và những bức ảnh gặp lại người chị gái cùng cha khác mẹ Võ Quí Việt Nga tại một ngôi làng nhỏ ở Pháp. Chị Võ Quí Hoà Bình nhớ lại: “Khoảng tháng 8/1967, sức khoẻ ba tôi giảm sút nghiêm trọng. Nằm trên giường bệnh, ông thường lấy ra một số bức ảnh, tần ngần ngắm kĩ rồi thở dài; trong đó có bức ảnh anh trai tôi đang du học ở CHDC Đức và bức ảnh cỡ 9x12cm, là một đứa trẻ con Tây. Tôi hỏi thì ba tôi nói: “Đây là cháu ngoại của ba!”… Thì ra, sau khi về tiếp quản Thủ đô năm 1954, ông Huân đã âm thầm viết thư nối lại quan hệ với bà Irenè và con gái Việt Nga. Việt Nga lúc này đã lập gia đình và sinh được một cậu con trai đầu lòng. Bà Irenè đã hồi âm và gửi kèm tấm ảnh đứa cháu ngoại của ông bà.

Những ngày cuối đời, nằm trên giường bệnh, ông Huân nắm tay con gái Hoà Bình, nói: “Khi ba theo Bác Hồ về nước kháng chiến, ba có hứa với bà Irenè và chị Việt Nga là chỉ vài tháng sau sẽ quay lại. Con biết đấy, với một đứa trẻ hai tuổi, lời hứa đó rất quan trọng. Vậy mà ba đã không thực hiện được, ba rất ân hận. Cũng vì chờ đợi một cách vô vọng mà bà Irenè không lập gia đình; chị gái con cũng rất vất vả vì thiếu cha, chỉ học hết tú tài, cuộc sống sau đó rất khó khăn”. Ông Huân căn dặn: “Ba chết không nhắm mắt vì nỗi ân hận với bà Irenè và không chăm sóc được chị gái con. Các con nhất định phải tìm lại bà ấy và Việt Nga, thì ba mới an lòng nơi chín suối”. Sau khi trải hết lòng mình với vợ và con gái, cuối tháng 9/1967, người kĩ sư trí thức Việt kiều Võ Quí Huân đi vào cõi vĩnh hằng ở tuổi 56, khi mà trí tuệ và lòng yêu nước của ông vẫn vẹn nguyên như thuở ban đầu được gặp Bác Hồ.

Từ đó, Võ Quí Hoà Bình luôn tâm niệm phải tìm được bà Irenè và chị Việt Nga, nối lại sợi dây tình cảm đã bị gián đoạn. Trở lại những manh mối đầu tiên để đi tìm người chị gái nơi trời Tây, chị Hoà Bình kể: Năm 1975, khi lục tìm những tư liệu cũ, tôi phát hiện một lá thư của ba tôi ghi địa chỉ bà Vo Qui Irenè. Tôi bèn nhờ thầy giáo dạy tiếng Pháp viết hộ bức thư gửi kèm những bức ảnh về Việt Nga (để làm tin) mà cha tôi còn giữ được, cùng các bức ảnh anh em tôi ở Việt Nam. Chị Việt Nga có hồi âm, nhưng giữ một thái độ khá xa cách: “Với chị, hai từ Việt Nam gợi lên nỗi đau mất cha. Chị không dễ vượt qua nỗi đau của quá khứ để có thể gặp mặt các em”…

Con tạo xoay vần, sau khi con gái, rồi con trai của chị Hoà Bình lần lượt sang Pháp du học, họ tiếp tục viết thư thăm hỏi bác Việt Nga. Song, một cuộc gặp gỡ như ước nguyện của người cha Võ Quí Huân vẫn chưa thể thực hiện; mọi bức thư chỉ dừng lại ở mức xã giao.

Trong một lá thư hồi âm cho cháu gái Thuỳ Dương, chị Việt Nga tái khẳng định: “… Sẽ rất đau đớn cho bác nếu phải kết giao lại với gia đình ở Việt Nam. Bác không thể làm được điều này vì nó làm bác quá đau lòng. Bác rất muốn trao đổi thư từ thỉnh thoảng với cháu. Thế thôi!”.

Trước thực tế này, những người thân trong gia đình và ngay cả hai người con của chị Hoà Bình đều khuyên: Bác Việt Nga tuy mang dòng máu của ông, nhưng là người Pháp hoàn toàn. Nếu người Pháp đã không muốn, thì rất khó lay chuyển; họ rất cần được tôn trọng sự riêng tư… Tuy nhiên, càng khó khăn thì chị Hoà Bình càng quyết tâm phải gặp bằng được người chị gái của mình.

Chị Võ Quí Hoà Bình (thứ tư từ trái qua) và gia đình chị Võ Quí Việt Nga (thứ hai từ trái qua).

Tháng 10/2007, chị Hoà Bình sang Pháp lần thứ tư. Cả 3 lần trước, dù đã liên hệ qua điện thoại nhưng chị Việt Nga đều khước từ việc gặp gỡ. Chị Hoà Bình kể lại: Con trai tôi đã ở Pháp nhiều năm, nên mày mò tìm kiếm được địa chỉ của bác Việt Nga. Đó là một ngôi làng gần thành phố nhỏ có tên là Autun, cách Paris khoảng 500km. Chúng tôi được một người lái taxi nhiệt tình chở đi và hỏi thăm đường tới làng Moux en Morvan… Nghe chúng tôi kể về người chị gái bị thất lạc đã nhiều lần khước từ không gặp người thân, ông lái xe tỏ ra xúc động và nói: “Kì lạ thật. Lát nữa gặp nhau có cần tôi vào nói giúp không?”… Xe dừng lại trước một ngôi nhà ở cuối làng, cháu Quân xuống xe bấm chuông, tôi vẫn ngồi lại và nói với người lái taxi: “Nếu lần này chị ấy vẫn từ chối, thì chúng tôi sẽ về luôn”.

Chị Việt Nga, khi ra mở cổng, đã sững sờ đứng lặng hồi lâu mới mời khách vào nhà. Quân hỏi: “Cháu có thể mời mẹ cháu vào được không?”. Bác Việt Nga lúc này đã không thể từ chối tình cảm ruột thịt, chị Hoà Bình bước vào khu vườn và ôm lấy người chị gái của mình… Chị Việt Nga chỉ im lặng lắng nghe những lời tâm sự của người em gái… Mãi sau, chị mới thốt lên: “Cha đã làm việc vất vả lắm phải không?”. Trong nước mắt, chị Hoà Bình đã nói: “Ba rất nhớ bà Irenè và yêu chị. Ba rất ân hận vì đã không trở lại với hai mẹ con chị. Trước lúc mất, ba dặn chúng em phải tìm được bà Irenè và chị… Hai mẹ con chị Hoà Bình được anh Michel (chồng chị Việt Nga) dẫn lên căn gác nhỏ đầy ắp những hình ảnh, kỉ niệm về người cha Võ Quí Huân và mẹ Vo Qui Irenè, còn có một thùng gỗ đầy ắp những bức thư và ảnh từ Việt Nam gửi sang. Chị Việt Nga khi ấy mới thổ lộ: “Có điềm gì đó, khoảng 2 tuần nay, ông ấy (anh Michel) cứ tẩn mẩn tìm lại những kỉ niệm, những bức ảnh, và sắp xếp theo trình tự thời gian, như là chờ ai tới thăm!”.

Sau cuộc gặp gỡ này, chị Hoà Bình đã thêm 2 lần sang nước Pháp thăm chị gái Việt Nga và anh rể. Chị cho tôi xem một bức thư mà chị Việt Nga vừa gửi ngày 6/8/2010, có đoạn: “Em gái thân yêu của chị! Chị gửi cho em ba tấm hình để chúng ta có thể biết được nhau nhiều hơn. Chiều nay chị đã đến Autun và chị đã nghĩ về em rất nhiều, vì đó là lần đầu tiên chúng ta gặp nhau và cũng là nơi chị đã chở em và Quân về khách sạn. Chị cảm ơn em từ tận sâu đáy lòng đã đến để tìm chị và để chúng ta có thể biết được nhau và lấy lại khoảng thời gian đã mất… Ký tên: Moumou”.

Khi tôi đang viết những dòng này, thì nhận được điện thoại của chị Hoà Bình. Chị khoe: “Sáng nay (13/12/2010), bác Việt Nga đã gọi điện chúc mừng sinh nhật chị. Chị mừng quá. Giờ chị cũng đang chuẩn bị thiếp và quà để gửi mừng bác Việt Nga và gia đình nhân dịp Noel”

Trần Duy Hiển

cand.com.vn

Kỷ niệm về những lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tiến Sĩ Ngữ Văn Nicôlai Niculin

Tôi và Yuri Cuznhexôv được đưa tới một phòng ngủ rộng rãi với chăn đệm tuyệt vời, nơi mà ngày trước chỉ có các viên tướng toàn quyền Pháp ở Đông Dương mới được sử dụng. Tới lúc đó tôi hết sức ngạc nhiên về tất cả những gì đã diễn ra với mình. Cuộc gặp gỡ tuyệt vời đó với Bác Hồ đã đem lại cho tôi niềm vui và sự khai ngộ, cảm hóa chúng tôi bởi lòng nhân hậu, sự quan tâm của con người vĩ đại mà chúng tôi đã quen nhìn qua chân dung và phim ảnh tài liệu.

Từ những năm 1970-2000, Nicôlai Niculin là Tiến sĩ Ngữ văn, chuyên gia cao cấp của Liên Xô và Liên bang Nga về văn học Việt Nam. Nhân kỷ niệm lần thứ 120 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã in bài viết này trong sách “Người Nga nói về Hồ Chí Minh” xuất bản 2010 ở Moskva. Nhân kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 100 năm Người ra đi tìm đường cứu nước, chúng tôi xin chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Nga bài viết của ông.

Vào một ngày hè đẹp trời năm 1954, tôi được mời tới gặp Alêxanđr Anđrêevich Lavrisev – người vừa được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đại sứ dáng người cao, hơi mập, tiếp tôi rất lịch sự, chăm chú nhìn tôi, rồi hoàn toàn bất ngờ là đến cuối cuộc đàm luận ông thân mật và cởi mở mỉm cười với tôi. Những câu hỏi và câu trả lời cô đọng, ngắn gọn diễn ra trong vòng năm phút. Tôi đã sống và có thể nói là rất mê say Việt Nam, nên khi nói về đất nước này, đặc biệt là với Đại sứ, thì đó là một niềm hứng thú lớn với tôi. Tôi bước ra ngoài phòng khách, một phút sau người thư ký của Đại sứ xuất hiện. “Anh sẽ đến Việt Nam” – anh tươi cười nói với tôi.

Bác Hồ với thiếu nhi Liên Xô khi Bác thăm đất nước Lênin – 1957.

Còn tôi thì thật bàng hoàng vì hạnh phúc quá bất ngờ. Người thư ký bắt chặt tay tôi: “Chúc may mắn! Anh sẽ được nhìn thấy đất nước của Hồ Chí Minh. Tôi cũng rất muốn, nhưng… Tôi khuyên anh một điều: Trong những cuộc gặp gỡ với Hồ Chí Minh sắp tới, mà anh sẽ luôn luôn được gặp, hãy tự nhiên, chân thành, giản dị và hoạt bát như hôm nay với đồng chí Đại sứ. Chúc lên đường may mắn!”.

Ngày 29/10/1954, hai tuần rưỡi sau khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Đại sứ đầu tiên của Liên Xô đã tới thủ đô cổ kính của Việt Nam. Dọc đường suốt từ biên giới Việt – Trung đến Hà Nội là những cổng chào cao bằng tre được dựng lên, bên trên là những băng rôn chữ vàng trên nền vải đỏ thắm chào mừng lãnh đạo, nhân dân Liên Xô, Tòa đại sứ đầu tiên của Liên Xô ở Việt Nam và vị Đại sứ đầu tiên A.A.Lavrisev.

Tới Thủ đô, một cuộc mittinh nhanh gọn chào đón đã diễn ra. Chúng tôi được đưa về nơi ăn chốn ở và làm việc. Nhưng Đại sứ quán thì sửa chữa chưa xong. Mà ngày 7/11, ngày kỷ niệm lần thứ 37 Cách mạng Tháng Mười vĩ đại – ngày quốc lễ của nhân dân Liên Xô thì đang đến gần.

Dĩ nhiên là tất cả mọi người đều nghĩ rằng, trong tình hình quốc tế như thế này không thể chỉ tổ chức kỷ niệm trong khuôn khổ tiếp khách ngoại giao hạn hẹp, mà cần phải tổ chức với quy mô lớn và trọng thể. Bởi vì đó không chỉ là uy tín của Nhà nước Xôviết. Trong những ngày đó, báo chí phương Tây rất muốn mô tả cuộc sống của những người tham gia kháng chiến trở về Hà Nội và ban lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam như ở trong một pháo đài bị bao vây không thể hoạt động bình thường và cả với các cơ quan nhà nước cũng như các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài.

Theo tôi nhớ thì lúc đó, đầu tháng 11/1954, ngoài Đại sứ quán Liên Xô ở Hà Nội còn có Đại sứ quán nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và còn có khá nhiều phái đoàn đại diện từ Ấn Độ, Canada, Ba Lan đến Việt Nam theo Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Do vậy, Đại sứ quán Liên Xô dù thế nào thì cũng phải được tổ chức tốt theo các điều luật và nghi thức ngoại giao quốc tế, và tiếp đón trọng thể trên diện rộng với các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, với Ủy ban quốc tế giám sát thực hiện Hiệp định Giơnevơ cũng như với các nhà ngoại giao quốc tế.

Bác Hồ gặp gỡ các chuyên gia Liên Xô sang giúp Việt Nam năm 1960.

Rõ ràng là những buổi tiếp như vậy trên phương diện chính trị không thể tiến hành giống như những hoạt động thông thường, làm quen theo nghi thức bình thường để thắt chặt mối hợp tác quốc tế. Mà buổi tiếp khách trọng thể của Đại sứ quán Liên Xô cần phải thực hiện một vai trò quan trọng khác nữa. Nó sẽ phải là một sự kiện thể hiện khẳng định vị thế mới của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trẻ tuổi trên trường quốc tế, vị thế ổn định vững chắc của nó ở miền Bắc Việt Nam. Và một sự trùng hợp thật đặc biệt mang tính biểu tượng là ngày lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười.

Điều hiển nhiên là toàn bộ nhân viên của Đại sứ quán đều tham gia công tác chuẩn bị. Vấn đề địa điểm tổ chức buổi tiếp khách nhanh chóng được quyết định: Cả ban lãnh đạo Việt Nam và Đại sứ quán Liên Xô đều nhất trí chọn hội trường rộng rãi của Câu lạc bộ quốc tế cạnh Phủ Chủ tịch. Việc này đã được sắp xếp xong. Tuy nhiên vấn đề là sẽ có hàng trăm vị khách mời và sẽ tổ chức bữa tiệc chiêu đãi lớn, mà khu nhà bếp nơi đây chật hẹp quá, bất lợi.

Thì bỗng nhiên có một đề xuất rất hay mà khó có ai nghĩ tới (mà theo tôi chắc là của Hồ Chí Minh). Có lẽ đây là một việc “chưa từng có trong lịch sử” mà không một nước nào hay một ai nghĩ ra. Trong các hồi ức của mình tôi thường phải dùng cụm từ “chưa từng có trong lịch sử”. Vì quả thực đây là một quãng thời gian thật đặc biệt mà chúng tôi lúc đó mới bắt đầu nhận thấy. Nhận thức rõ điều này không phải để ngạc nhiên hay giải trí, mà là để hiểu rõ hơn nữa quá khứ, hiện đại và hình dung cho mình cả tương lai.

Một đề nghị khác thường đã được đưa ra: dùng phòng bếp tầng trệt của Dinh Chủ tịch để làm nơi nấu nướng vì tại đây đã có đầy đủ tiện nghi, cho dù đã cũ. Dinh thự này trước đây là nơi làm việc của các viên toàn quyền Pháp, do đó mà khu bếp của viên toàn quyền rất rộng rãi và thoáng đãng.

Người chủ mới của dinh thự này là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ núi rừng Việt Bắc trở về Hà Nội, vẫn với thói quen khiêm tốn và bản tính giản dị, tính dân chủ tự nhiên, sự tinh tế và văn hóa ứng xử cao mang tính truyền thống của Việt Nam nên Người không muốn làm việc tại các gian phòng sang trọng của dinh thự này mà chỉ dùng làm nơi tiếp khách và tổ chức các sự kiện trọng đại của nhà nước. Còn chính Chủ tịch thì sống và làm việc tại một ngôi nhà khiêm tốn trong khu vườn cách đó không xa.

Vậy là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho phép sử dụng nhà bếp của Dinh Chủ tịch làm nơi Đại sứ quán Liên Xô chuẩn bị tiệc chiêu đãi khách vào ngày 7/11 tới. Người đầu bếp của Đại sứ quán Xôviết là chị Nhina Yanôvna chỉ huy nhóm đầu bếp giỏi của Việt Nam. Chị còn trẻ, đầy sức sống, nhân hậu và đáng yêu, cởi mở, dáng người hơi cao và mập như nhiều đầu bếp khác.

Nhưng lại có một trục trặc bất ngờ: Chị Nhina không biết một ngoại ngữ nào, còn các người Việt phụ giúp chị thì không biết tiếng Nga. Nhưng đã nhanh chóng tìm ra cách giải quyết. Đã có hai chàng trai được đưa tới giúp chị: đó là thực tập sinh Nicôlai Niculin và tùy viên Yu.Cuznhexôv. Phải công nhận rằng, chúng tôi rất sẵn sàng vào nhà bếp với tâm trạng rất hào hứng, nhưng cũng rất lo lắng vì vốn tiếng Việt còn hạn chế, nhất là những từ và thuật ngữ về món ăn Việt Nam với chúng tôi hoàn toàn còn chưa biết.

Tuy nhiên những lo lắng của chúng tôi là vô ích. Trong gian bếp rộng của Dinh Chủ tịch, dù mọi người chưa biết tiếng của nhau nhưng lại tràn ngập bầu không khí sôi nổi, hiểu biết lẫn nhau và háo hức làm việc. Chị Nhina đã quen dần và giải thích, hướng dẫn cho các bạn Việt Nam chủ yếu bằng cử chỉ, động tác. Còn các bạn Việt Nam thì đã học được một số từ tiếng Nga cần thiết.

Nhina Yanôna cũng đã đạt được mấy thành công bước đầu về tiếng Việt. Khi chị nói được những từ “tot lam” hay “khong tot”, “them ơt”, “them nươc”… thì ai cũng hiểu được và không ai để ý tới những lỗi phát âm. Tôi và Yu.Cuznhexôv bị cuốn hút vào công việc không chỉ với vai trò phiên dịch mà còn là người giúp việc nấu nướng. Tất cả cùng làm việc vui vẻ và thân mật.

Thế rồi tới gần 1 hay 2 giờ đêm, Bác Hồ nhẹ nhàng bước vào nhà bếp. Tôi nghĩ rằng các vị Tổng thống của các nước rất ít, thậm chí là chẳng bao giờ xuống nhà bếp. Nhưng đây lại chính là vị Chủ tịch của nhân dân – Bác Hồ! Đây quả thật là một sự kiện rất bất ngờ đối với chúng tôi – những cán bộ của Đại sứ quán Liên Xô và cả các đầu bếp Việt Nam. Và chúng tôi đã đi hết từ bất ngờ này đến ngạc nhiên khác.

Nói hay không thì ai cũng thấy rằng, sự xuất hiện của Bác Hồ ở đây chứng tỏ rằng cuộc tiếp khách ngày mai có ý nghĩa rất trọng đại.

Hôm đó không phải là lần đầu tôi được gặp Hồ Chí Minh. Cuộc gặp lần đầu của tôi với Người là trước đó một ngày, ngày 5 tháng 11, khi Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tất cả các nhà ngoại giao của Đại sứ quán Liên Xô. Lúc đó tôi đang là thực tập sinh nên không có trong danh sách được mời và chỉ nhận được giấy mời trước buổi tiếp 30 phút.

Những dòng chữ vàng lấp lánh duyên dáng ghi trong thiếp mời: “Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rất hân hạnh mời thực tập sinh N.I.Niculin tới dự buổi tiếp đón nhân dịp Đại sứ Liên Xô đến Việt Nam”.

Cụm từ “rất hân hạnh” là một nghi thức ngoại giao bình thường. Nhưng khi nó được kết hợp với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh thì âm hưởng của nó thiêng liêng biết bao. Buổi tiếp diễn ra dưới hình thức chiêu đãi chính thức cùng với việc trao đổi diễn từ của hai bên. Là thành viên trẻ nhất trong đoàn Đại sứ quán Xôviết, tôi ngồi cách xa Hồ Chí Minh, nhìn Người trò chuyện với A.A.Lavrisev và các chiến hữu của mình.

Còn bây giờ thì trong nhà bếp của Dinh Chủ tịch là một Bác Hồ hoàn toàn khác. Bác mặc chiếc áo cổ bẻ đã bạc màu, miệng ngậm điếu thuốc lá, mỉm cười sảng khoái và đôn hậu. Bác Hồ đi quanh khắp bếp, bắt tay chào bếp trưởng Nhina Yanovna, tôi và Yuri Cuznhexôv. Bác chăm chú nhìn khắp gian bếp, hỏi thăm công việc chuẩn bị tới đâu. Được biết rằng tất cả công việc đã hoàn tất, Bác gật đầu hài lòng và ân cần nhìn chúng tôi với ánh mắt của một người cha.

– Các cháu có chỗ ngủ đâu chưa? – Bác Hồ đột nhiên hỏi chúng tôi thật ân cần và đơn giản.

Bối rối trước sự quan tâm chu đáo của vị Chủ tịch tới tiện nghi sinh hoạt của mình, chúng tôi thưa rằng sẽ đi bộ về nơi ở của mình.

– Không được, giờ đã muộn rồi, – Chủ tịch dịu dàng nói. – Ở Dinh Chủ tịch vẫn còn chỗ cho hai chàng trai Xôviết đấy! Thành phố đã vào đêm yên tĩnh nhưng cần nên cảnh giác. Các chú hãy thu xếp chu đáo cho hai thanh niên này nhé! Người nói và gật đầu với mấy cán bộ cùng đi.

Cũng như khi đi vào đây, Người thư thả nhìn tất cả khắp lượt rồi đi ra khỏi nhà bếp.

Tôi và Yuri Cuznhexôv được đưa tới một phòng ngủ rộng rãi với chăn đệm tuyệt vời, nơi mà ngày trước chỉ có các viên tướng toàn quyền Pháp ở Đông Dương mới được sử dụng. Tới lúc đó tôi hết sức ngạc nhiên về tất cả những gì đã diễn ra với mình. Cuộc gặp gỡ tuyệt vời đó với Bác Hồ đã đem lại cho tôi niềm vui và sự khai ngộ, cảm hóa chúng tôi bởi lòng nhân hậu, sự quan tâm của con người vĩ đại mà chúng tôi đã quen nhìn qua chân dung và phim ảnh tài liệu. Trong tôi trào dâng lòng biết ơn về sự quan tâm mà Bác Hồ đã dành cho chúng tôi. Chiều hôm sau, ngày 7/11, tôi lại được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh ở cửa vào Câu lạc bộ quốc tế, nơi sắp diễn ra buổi tiếp khách trọng thể. Người đã nhận ra tôi và chào tôi như gặp người quen cũ.

– Cháu trẻ quá!

Người nói với tôi như với người thân, rồi tới gặp vị Đại sứ

Hồng Nhật (Dịch từ nguyên bản tiếng Nga)

cand.com.vn

Chúng tôi đón Bác về lại Thủ đô

Ông Tạ Quang Chiến, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng cục Thể thao, nguyên cán bộ Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Ngày 14/10/1954, Bác rời thị xã Sơn Tây về Hà Nội. Không khí những ngày Thủ đô mới được tiếp quản thật náo nhiệt, cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ đỏ rực đường phố. Những ngày đầu về Thủ đô, Bác ở và làm việc tại ngôi nhà trong nhà thương Đồn Thuỷ (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội). Vì là địa điểm được chuẩn bị trước nên công tác bảo vệ không những đảm bảo chặt chẽ mà còn có nhiều thuận lợi…

Cách đây 2 năm, ngày 19/8/2009, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ tổ chức lễ khánh thành nhà truyền thống tại số 1- Lê Hồng Phong, Ba Đình, Hà Nội. Ban tổ chức buổi lễ có mời ông Tạ Quang Chiến, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục thể thao đến dự buổi lễ khánh thành, vì ông có 12 năm công tác trong lực lượng Cảnh vệ và là người vinh dự được bảo vệ Bác Hồ; ông là một trong 8 chiến sỹ cận vệ được Bác Hồ đặt tên: Trường – Kỳ – Kháng – Chiến – Nhất – Định – Thắng – Lợi. Tên tuổi của ông đã đi vào lịch sử Cảnh vệ.

Trong sự kiện quan trọng ấy, vì lý do sức khỏe ông không đến được, nhưng một tháng sau, với tâm huyết của người nghiên cứu lịch sử (trước đây ông làm Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu lịch sử Đảng) và muốn về thăm đơn vị cũ, ôn lại những ngày vinh dự được bảo vệ Bác Hồ, ông đã đến tham quan nhà truyền thống của Bộ Tư lệnh Cảnh vệ.

Tôi và một số đồng chí làm công tác nghiên cứu lịch sử và truyền thống Cảnh vệ đã được “tháp tùng” ông trong chuyến thăm và được ông tham gia góp ý về sưu tầm tư liệu, sắp xếp trưng bày tư liệu hiện vật. Đặc biệt, gần đây ông cung cấp rất nhiều tư liệu quý báu về công tác bảo vệ Bác Hồ.

Hỏi về những ngày vinh dự được bảo vệ Bác Hồ, như sống lại những ngày trai trẻ, ông kể lại: Trong 12 năm được vinh dự bảo vệ Bác Hồ, tôi có rất nhiều kỷ niệm về Người. Nhưng kỷ niệm sâu sắc nhất là được bảo vệ Bác về tiếp quản Thủ đô Hà Nội tháng 10/1954. Ngày ấy, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi, Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao cùng các cơ quan Trung ương, Chính phủ rời căn cứ địa Việt Bắc về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh đi đến thống nhất nước nhà.

Bác Hồ đến thăm và nói chuyện với Đại đoàn quân Tiên Phong tại Đền Hùng. Ảnh tư liệu.

Kế hoạch bảo vệ Bác Hồ về tiếp quản Thủ đô được Trung ương chỉ đạo thống nhất và hết sức chặt chẽ. Trung ương giao cho đồng chí Lê Thanh Nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh văn phòng, thành lập một tổ công tác tiền trạm để gấp rút tiến hành những công việc chuẩn bị đón Bác, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan Trung ương, Chính phủ về Hà Nội.

Đồng chí Lê Thanh Nghị trực tiếp chỉ định những đồng chí trong tổ công tác tiền trạm gồm: đồng chí Phan Văn Xoàn, đồng chí Quách Quý Hợi (Cục Cảnh vệ), đồng chí Nông Đức Chiến (Bộ Tổng Tham mưu), đồng chí Tạ Đình Hiểu – Chính uỷ Trung đoàn 600 thuộc Đại đoàn 350 và tôi (ngày đó tôi công tác tại Văn phòng Phủ Thủ tướng, phụ trách thanh niên xung phong) làm tổ trưởng.

Chúng tôi nhanh chóng xây dựng kế hoạch bảo vệ trên đường về, tính toán từng trạm nghỉ dừng chân trên đường, phối hợp với Ban Tài chính Quản trị Trung ương lo địa điểm nơi ở và làm việc của Bác, bố trí lực lượng trinh sát và phối hợp với lực lượng quân đội, Công an các địa phương có liên quan phối hợp bảo vệ.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, chúng tôi được lệnh quay lại chiến khu Việt Bắc để đón Bác Hồ về Hà Nội. Đoàn bảo vệ Bác và một số đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng ngay từ đầu tháng 8/1954 đã chuyển địa điểm từ Yên Sơn (Tuyên Quang) về thôn Vai Cầy, xã Văn Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên theo đường mà chúng tôi chuẩn bị trước. Tại đây Bác đã triệu tập toàn bộ CBCS bảo vệ và phục vụ để căn dặn trước khi về Thủ đô Hà Nội.

Như người cha già dặn dò con cháu khi đến công tác tại một môi trường mới. Người nói: “Bác cháu ta cùng quen chịu đựng gian khổ, nay về Hà Nội địch chiếm đóng lâu năm đầy rẫy cảnh sống xa hoa, trụy lạc nên dễ nảy sinh tư tưởng thèm muốn hưởng thụ. Vì vậy, Bác dặn các cô các chú phải vững vàng, đừng sa ngã trước “viên đạn bọc đường”. Lời dạy của Bác có ý nghĩa giáo dục vô cùng to lớn với lực lượng Công an và quân đội về tiếp quản Thủ đô.

Trong những ngày lưu lại ở Vai Cầy, chúng tôi bảo vệ Bác đến thăm Đền Hùng tại xã Hy Cương, huyện Lâm Thao (nay là huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ). Tại đây, Bác đã nói chuyện với Đại đoàn Quân Tiên Phong (tức Sư đoàn 308 – lực lượng chủ lực về tiếp quản Thủ đô); Người đã căn dặn CBCS: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Nói chuyện xong, Người trở lại Vai Cầy, nơi dừng chân cuối cùng ở căn cứ địa Việt Bắc trước khi trở về tiếp quản Thủ đô.

Ông Tạ Quang Chiến (người đeo kính) đang tham quan nhà truyền thống Bộ Tư lệnh Cảnh vệ tháng 9/2009. Ảnh PV.

Ngày 12/10/1954, chúng tôi bảo vệ Bác rời Đại Từ (Thái Nguyên) về thị xã Sơn Tây. Tại thị xã Sơn Tây, Bác ở và làm việc tại một trạm thuỷ lợi ngay chân đê thuộc thôn Phù Xa, xã Viên Sơn. Địa điểm này là ngôi nhà cấp 4 nhưng rất thoáng mát, bảo vệ tiếp cận nơi nghỉ của Người gồm đồng chí Hoàng Hữu Kháng, Long Văn Nhất, Nguyễn Văn Dũng, Phạm Văn Nền kiêm lái xe.

Ngày 14/10/1954, Bác rời thị xã Sơn Tây về Hà Nội. Không khí những ngày Thủ đô mới được tiếp quản thật náo nhiệt, cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ đỏ rực các đường phố Hà Nội. Những ngày đầu về Thủ đô, Bác ở và làm việc tại ngôi nhà trong nhà thương Đồn Thuỷ (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội).

Phòng Bác ở và làm việc là một gian đầu hồi trên tầng hai có cửa sổ nhìn xuống cổng phía đường Trần Khánh Dư, ở vị trí này rất dễ quan sát khi có động tĩnh lại thoáng mát. Vì là địa điểm được chúng tôi chuẩn bị trước nên công tác bảo vệ không những đảm bảo chặt chẽ mà còn có nhiều thuận lợi. Lực lượng vũ trang của Trung đoàn 600 có một trung đội bảo vệ vòng ngoài, các lối đi, cổng ra vào đều bố trí trạm gác, tuần tra, bên trong do lực lượng bảo vệ tiếp cận canh gác thường xuyên 24/24 giờ.

Bác ở và làm việc tại nhà thương Đồn Thuỷ đến ngày 19/12/1954, đúng 8 năm sau ngày toàn quốc kháng chiến, Trung ương mời Người về khu Phủ Chủ tịch ở và làm việc. Theo ý định của Trung ương muốn mời Bác về ở và làm việc tại ngôi nhà Phủ Toàn quyền được sửa sang tu bổ lại sạch sẽ để tiện chủ trì các cuộc họp Chính phủ, tiếp khách trong nước và nước ngoài.

Khi nghe đồng chí Nguyễn Lương Bằng báo cáo ý định này của Trung ương, Bác đến xem, Người khen ngôi nhà to và đẹp nhưng quyết định không ở và đề nghị tu sửa lại căn nhà ba gian gần bờ ao cách Phủ Chủ tịch khoảng 300 mét để ở. Căn nhà này vốn là nơi ở của người thợ điện làm việc cho chế độ cũ nay bỏ không. Người nói: “Một mình Bác ở như vậy là vừa rồi, lại gần Phủ Chủ tịch khi hội họp tiếp khách đi bộ sang cũng tiện”.

Công tác bảo vệ Bác tại đây có nhiều thuận lợi, lực lượng vũ trang của Trung đoàn 600 bảo vệ vòng ngoài; vòng trong lực lượng Cảnh vệ lập các trạm gác hoá trang, có bảo vệ tiếp cận ngày đêm nơi Bác ở và làm việc…

Có thể nói mặc dù tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội ở Thủ đô Hà Nội những ngày mới giải phóng hết sức phức tạp, bọn phản động tay sai đế quốc Mỹ và Pháp như Đại Việt, Việt Nam quốc dân đảng, Phục quốc… tích cực chống phá ta, tìm cách cài lại bọn tay sai để thực hiện âm mưu phá hoại, nhất là tìm cách ám hại lãnh tụ. Nhưng với sự chỉ đạo thống nhất và chặt chẽ của Trung ương và trực tiếp là Bộ Công an, lực lượng Cảnh vệ đã phối hợp với lực lượng quân đội và các lực lượng có liên quan bảo vệ an toàn Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước những ngày về tiếp quản Thủ đô Hà Nội

Nguyễn Đức Quý

cand.com.vn