Tag Archive | Nguyễn Sinh Cung

Hành trình sáng tạo tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng

images_05.Nhà văn Sơn Tùng cho biết, những gì viết trong “Búp sen xanh” chỉ là sự hé mở một phần về mối tình của bà Lê Thị Huệ, một người đã nguyện dành cả cuộc đời mình chờ đợi một thần tượng đã có sức toả sáng, lay động đến tận cùng tâm hồn mình.Hôm ấy, nhà văn Sơn Tùng bị vết thương hành hạ, những mảnh đạn trong đầu cựa quậy, các vết thương lại rỉ máu.

Ông phải nằm dưỡng sức ngay trên tấm phản, cạnh những giá sách có hàng ngàn cuốn sách về văn hoá đông tây, kim cổ.

Tôi ngồi bên, cầm lấy bàn tay mà các ngón đã co quắp lại vì mảnh đạn kẻ thù, lắng từng tiếng ông đều đều, thủ thỉ:

– Bác đã chuẩn bị đầy đủ tư liệu… Cố gắng để chống lại vết thương hoành hành và viết cho bằng được tiểu thuyết ” Bông Huệ trắng”…

Giọng ông như từ xa vắng dội về. Đôi mắt ông hướng vào trong, mạch hồi tưởng thức dậy cái chuỗi ngày ngót 60 năm về trước: Hồi ấy ông công tác tại Tỉnh đoàn Nghệ An, thường đến gặp bà Nguyễn Thị Thanh và ông Nguyễn Sinh Khiêm (chị gái và anh trai Bác Hồ) để tìm hiểu tư liệu.

Lúc đầu còn chưa biết gì về hoàn cảnh gia đình của Bác, nên hỏi mon men từ ông nội bà nội, sang ông bà ngoại và những bước thăng trầm của gia đình Bác Hồ trong tuổi ấu thơ cũng như những mối quan hệ để từ đó hình dung về mạch nguồn đã tạo nên nhân cách và thiên tư của Người.

* * *

Có một điều băn khoăn từ rất lâu, khi đã trở nên gần gũi và được tin cậy, chọn một thời điểm thích hợp, nhà văn Sơn Tùng hỏi bà Nguyễn Thị Thanh:

– O ơi, cháu có điều này xin được hỏi O, mong o hiểu … cháu muốn được thấu rõ những điều…

Bà Thanh tiếp lời:

– Cháu cứ hỏi, không phải e ngại, miễn là điều đó có thể nói được với cháu thì O sẽ nói .

Sau phút do dự, nhà văn thổ lộ điều tâm sự của mình:

– Cháu biết điều này không dễ gì… Nhất là lại hỏi với người bề trên… Nhưng mong O xá lỗi và cho cháu biết… Tại sao ba chị em O lại đều không xây dựng gia đình? Có gì ẩn khuất sau chuyện này không hả O?

Bà Thanh quay nhìn ra khu vườn xanh. Ngọn gió chiều lao xao trên tàu lá. Đôi mắt bà trở nên hoang vắng. Bà im lặng. Một niềm im lặng thẳm sâu mà như nói lên biết bao điều. Lúc sau bà cất giọng trầm, nén bên trong những rung cảm mãnh liệt:

– Hoàn cảnh nhà O… – Bà Thanh kìm một tiếng thở dài – Biết bao gian khó hiểm nghèo… Có nói ra cháu chưa chắc đã hình dung hết được… Cậu Thành thì đi xuất dương tìm con đường cứu nước. O và cậu Khiêm bị đi đày. Cậu Khiêm bị thực dân Pháp tra tấn dã man và tìm cách triệt nòi giống bằng cách tiêm thuốc… Khi ra tù thì tuổi đã cao, có những nỗi niềm u uẩn…

Bà Thanh như nghẹn lại, mắt ứa lệ:

– O đã già, không dễ gì ngồi nói lại những chuyện này với một người trẻ tuổi như cháu. Nhưng biết cháu là một người có thể thấu hiểu thì o mới nói- Cũng như cậu Khiêm, O cũng bị kẻ thù tra tấn dã man. Cháu có tưởng tượng được không? Chúng nung đỏ chiếc mâm đồng… Một chiếc mâm đồng nung đỏ mà chúng bắt O ngồi lên đó… Một nỗi đau đớn đến tận cùng xuyên sâu từ da thịt vào xương tủy… Nhiều ngày sau đó O không đi lại được… Vết bỏng đã làm biến dạng cả cơ thể, xoắn vặn cả tâm hồn O. Vậy thì, làm sao O có thể có gia đình được nữa…

Nhà văn Sơn Tùng lặng lẽ nhìn người chị gái của Bác Hồ. Dường như O Thanh vừa trải qua một cơn rùng mình. Chẳng biết nói gì hơn, ông kiên nhẫn đợi cho đến lúc bà Thanh bình tâm trở lại, giọng bà vẫn trầm trầm nhưng đã qua cơn ức nghẹn dần trở nên man mác:

– Tuổi xuân của O suy nghĩ về công việc cứu nước. Noi gương cụ Phan Bội Châu bỏ gia đình mà đi bôn ba hải ngoại… Hồi ấy O cũng có những đám hỏi. Cha O cũng đánh tiếng… Có một đám bên Hà Tĩnh… Người ta đã mang lễ vật đến… Nhưng O đội mâm đi trả. Một thời gian sau, cha O bị huyền chức đi luôn vào xứ Nam kỳ. Cậu Khiêm sau một thời gian hoạt động thì bị bắt…

Cậu Thành gác việc riêng lại để lo cứu nước. Khi cậu đi xuất dương O không biết. Chỉ biết trước đó cậu đã vào Phan Thiết, dạy ở Trường Dục Thanh, chỗ ông Hồ Tá Bang- người thân thiết của cha O hồi ở Huế.

Hồ Tá Bang làm ký lục tại Phan Thiết, đồng thời là sáng lập viên công ty nước mắm Liên Thành và Trường Dục Thanh. Trường Dục Thanh có nhiều thầy giáo là người khoa bảng có tư tưởng tiến bộ.

Cậu Khiêm ra tù năm 1920, và O đến năm 1922 cũng mới được ra, nhưng cả hai chị em đều bị quản thúc. Tin tức về những người thân trong gia đình đều bặt hết.

Mãi đến năm Kỷ Tỵ 1929, O đang bị quản thúc ở Kim Luông thì nhận được giây thép (bức điện) của gia đình cụ Hồ Tá Bang từ Sài Gòn ra, báo cho biết cha O đã qua đời tại xã Hoà An, Huyện Cao Lãnh, Sa Đéc. Và thế là O lo liệu vượt mọi khó khăn để vào hộ tang cha.

Hồi ấy vào Nam cũng giống như đi sang một nước khác. Không biết bao nhiêu là khó khăn chồng chất. Khi O vào đến nhà số 3, đường Ông Đốc Phương, có người của cụ Hồ Tá Bang dẫn O lên Gò Vấp.

Đó là một vùng mênh mông và hoang vu, trại cày của cụ Diệp Văn Cương (cha của nhà báo Diệp Văn Kỳ). Người ở đây nói hãy đợi Lê Thị Huệ lên dẫn O xuống Cao Lãnh. O muốn tự đi nhưng mọi người không đồng ý. O hỏi:

– Huệ nào?

Thì được trả lời: Đó là học trò của cụ phó bảng Sắc từ thời ở Huế.

Sau đó thì Lê Thị Huệ lên đưa O xuống mộ cha. Huệ kém cậu Thành vài tuổi. Gặp O, Huệ khóc. Lúc đó Huệ để tang cho cha O. O ở lại đó cho đến 49 ngày, tạ ơn những người lo tang cho cha O (phần nhiều trong số họ là học trò của cha O).

Trong thời gian đó, trò chuyện với Huệ, chị em hiểu nhau, và O mới biết Huệ là người thương của cậu Thành. Hai người đã có một tuổi thơ gắn bó từ hồi ở Huế. Cha Huệ làm bên bộ Công. Huệ mất mẹ. Thành cũng mồ côi mẹ. Cha O thì không tục huyền. Cha Huệ sau tục huyền với một người phụ nữ Huế, bà ta đanh đá, cảnh nhà không vui.

Khi vua Thành Thái bị đi đày, các quan dưới triều Thành Thái đều bị thuyên chuyển. Cha O vào Bình Khê, rồi vào lục tỉnh. Cha Huệ cũng bị thuyên chuyển, thế là Huệ với cậu Thành xa nhau…

Khi từ Phan Thiết vào Sài Gòn cậu Thành có gặp lại Huệ…

Huệ cũng cho biết, một lần cậu Thành có thư về. Thầy (cha O) gọi Huệ đến và cho biết. Khi đó cha O đang ở chùa, cắt thuốc giúp dân, một thời gian sau mới xuống hẳn Cao Lãnh.

Sau những lần trò chuyện, cuối cùng O dò hỏi xem Huệ sẽ tính liệu thế nào khi cậu Thành thì biền biệt bên trời Tây. Huệ nói với O, không giấu được xúc động: ” Có khi em đợi… Không đợi được thì em sẽ vào chùa…” .

O nắm lấy bàn tay Huệ không nói được gì. Sau đó thì O trở ra Bắc. Từ đó, O không còn gặp lại Huệ nữa. Mọi chuyện sau này ra sao O không được rõ…

Bà Thanh nhấn từng tiếng:

– Sau này yên hàn, nam bắc thông thương, cháu còn trẻ, nếu có dịp vào đàng trong, vào chỗ mộ cha O thì có thể lần ra được…

* * *

Chiến tranh liên miên. Cuộc sống bộn bề công việc trên các nẻo đường công tác. Năm 1967, đang làm phóng viên mặt trận dẫn đầu một tổ phóng viên cắm từ Thanh Hoá, Nghệ An đến Quảng Bình, Vĩnh Linh… ông (Sơn Tùng) được điều động lên Hà Giang để tổ chức mạng thông tín viên cho báo Tiền Phong và vận động bà con ở đây bỏ hút thuốc phiện.

Công việc đang tiến triển tốt thì ông lại được gọi về Hà Nội giao nhiệm vụ vào Nam lập báo Thanh niên giải phóng. Giữa lúc ấy ông nhận được tin bom Mỹ đánh vào cầu Giát, nơi vợ con ông đang sinh sống cả gia đình phải sơ tán, nhà cửa xóm làng tan hoang và tin em trai ruột của ông là Bùi Sơn Thanh hy sinh ở chiến trường Do Hải, Quảng Trị.

Vậy mà không một chút lưỡng lự, ông nhận nhiệm vụ và gấp rút chuẩn bị lên đường đi B.

Ngoài việc thực hiện những nhiệm vụ được giao, trong ông còn có một dự định không hé hở với một ai: Vào Nam, khi có cơ hội, sẽ tìm cho được Lê Thị Huệ và tìm hiểu thêm về những ẩn tích thời tuổi trẻ của Bác Hồ.

Đi bộ gần sáu tháng vượt Trường Sơn ông vào đến Nam Bộ. Báo Thanh niên giải phóng đóng ở Tây Ninh. Chiến tranh ác liệt, chưa có điều kiện xuống được Cao Lãnh. Một hôm có anh Lâm Văn Tẩy phụ trách Đoàn TNND Cách mạng từ Cao Lãnh lên, ông hỏi chuyện…

Anh Tẩy cho biết: Mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc trước đây ở miếu Trời Sanh. Lính Sài Gòn định phá, nhưng hàng trăm người vây xung quanh mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc, ngăn chặn hành động độc ác vô tri của chúng.

Một cuộc xô xát lớn xảy ra, 71 người đã bị thương nhưng tinh thần đấu tranh của người dân mỗi lúc một cao, cuối cùng chúng đành phải rút lui.

Năm 1971 nhà văn Sơn Tùng bị thương nặng, phải cáng ra miền Bắc. Ngoài nỗi buồn vì mang thương tật, mất 81% sức khoẻ, 3 mảnh đạn còn nằm trong hộp sọ, mắt chỉ còn 1 phần 10, hai bàn tay chỉ còn 3 ngón không co quắp và nhiều vết thương khác, trong lòng nhà văn Sơn Tùng có một nỗi buồn khác là việc tìm kiếm Lê Thị Huệ và những khát vọng sáng tác từ lâu ôm ấp càng trở nên xa vời hơn.

Nhưng ý chí đã giúp ông vượt qua thử thách ngặt nghèo nhất. Năm 1972, sau khi xin rút ngắn thời gian chữa bệnh từ Trung Quốc trở về, ông rèn luyện kiên trì và dần dần khắc phục tàn phế, dấn thân vào sáng tác.

Tháng chạp năm ấy, B52 đánh vào Khâm Thiên ông vẫn xông xáo, không quản nguy nan, là một trong những người đầu tiên đến tận hiện trường viết bài như lúc còn ở ngoài mặt trận.

* * *

Giải phóng Sài Gòn, giữa lúc mọi việc đang bề bộn, đầy bất trắc, ông xin giấy giới thiệu của Bộ Văn hoá, bán cả đồ dùng riêng tư để có tiền trở lại miền Nam tìm tư liệu về Bác Hồ, về cụ Nguyễn Sinh Sắc và bà Lê Thị Huệ.

Vào đến Cao Lãnh, nhà văn Sơn Tùng trú tại nhà ông Nguyễn Thành Mậu, Chủ tịch UBMT Giải phóng Tỉnh Sa Đéc, em ruột ông Nguyễn Thành Tây- một học trò của Nguyễn Tất Thành hồi còn ở Phan Thiết. Biết nhà văn vào tìm tư liệu về cụ Sắc, mọi người ai cũng hết sức vui mừng và yêu quý.

Từ những đầu mối mà ông Nguyễn Thành Mậu cho biết, nhà văn Sơn Tùng quay về Sài Gòn, tìm đến số 58C phố Cao Thắng, nhà của dược sư Hồ Tường Vân- Tổng thư ký Hội chữ thập đỏ của miền Nam, con gái cụ Hồ Tá Bang.

Sau đó tìm đến nhà 52 phố Bàn Cờ, nhà của bà Hồ Thị Liệt, chị gái của bà Hồ Tường Vân. Dược sư Hồ Tường Vân và bà Hồ Thị Liệt cho nhà văn biết thêm nhiều điều về bà Lê Thị Huệ.

Sau đó nhà văn Sơn Tùng tìm được nhà người cháu của bà Huệ và được đưa đến gặp bà Lê Thị Huệ trong một ngôi chùa cách Sài Gòn khá xa, trên đường đi Vũng Tàu.

Lúc đầu bà Huệ từ chối. Bà nói:

– Tôi làm sao có quan hệ với gia đình cụ Hồ được… Khéo người ta lại bảo tôi thấy sang bắt quàng làm họ…

Nhưng nhà văn Sơn Tùng vẫn rất kiên nhẫn thuyết phục. Ông tặng bà Huệ cuốn sách của mình viết về Bác Hồ có tên Nhớ nguồn do NXB phụ nữ vừa ấn hành và ảnh nhà văn được chụp cùng với Bác Hồ cũng như trình bày niềm mong ước gặp bà từ khi được O Nguyễn Thị Thanh kể hồi năm 1948.

Sau một khoảng lặng, nét mặt bà Huệ thay đổi. Bà trở nên thân tình hơn:

– Ông đã nói vậy và qua những gì tôi biết và cảm nhận về ông, tôi tin ông nói thật. Chắc ông cũng hiểu, có những kẻ xưng là người này người nọ nhưng sự thật thì không phải… Bây giờ tôi hỏi ông, xin ông cho tôi biết… Cụ Hồ đã qua đời thật hay chưa? Hay có chuyện gì …?

Bà Huệ lặng lại giây lát, gương mặt không giấu sự xúc động. Nhà văn Sơn Tùng không hiểu điều gì đang diễn ra trong tâm cảm của Bà Lê Thị Huệ. Chắc phải có một chuyện gì… một chuyện gì đây… khiến bà nghi ngờ…

Không phải đợi lâu, bên tai nhà văn giọng bà Huệ lại rành rọt:

– Khi anh Diệp Văn Kỳ nhận được thư cụ Hồ mời qua anh Hồ Tá Khanh (con cụ Hồ Tá Bang), anh Kỳ lại là bạn thân của Nguyễn Tất Thành… Vậy mà, anh Kỳ ra đến Lái Thiêu thì bị bắn chết. Từ đó, mất luôn mọi liên lạc với cụ Hồ.

Bà Huệ nhấn từng tiếng:

– Nói thật, tôi rất sợ liên quan đến chính trị. Tôi sợ ông đi thử nhân tâm. Với lại, có những điều đáng suy nghĩ lắm, sao có nhiều người tự xưng là người cách mạng, giải phóng mới có mấy tháng mà đã tranh nhau nơi ở… đã đối xử với nhau thiếu tình nghĩa con người…

Nhà văn Sơn Tùng thưa với bà Huệ:

– Cụ là một người tu hành, chắc cụ thấu hiểu rằng người đi tu rất nhiều, nhưng không phải ai cũng có thể thành Phật… Trong đội ngũ những người của cụ Hồ cũng có người thế này, thế khác…

Bà Huệ cười. Một nụ cười khô héo:

– Ông nói vậy, tôi cũng biết vậy. Qua những gì ông nói, tôi nhận thấy ông gần gũi với nhiều người trong gia đình cụ Hồ. Ông thực lòng muốn biết thì tôi nói để ông hiểu được cụ Hồ thời đó… – Giọng bà Huệ trở nên âm trầm, ẩn tàng bên trong niềm rung động thiêng liêng, nỗi xao xuyến mênh mông – Nguyễn Tất Thành là một thần tượng của tôi thời trẻ.

Cũng như Lục Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga… Cảnh ngộ chúng tôi đều mất mẹ… Qua những năm tháng sống gần nhau từ hồi ở Huế… có những kỷ niệm vô cùng đẹp đẽ… Chắc ông cũng hiểu rằng, Nguyễn Tất Thành phải có một cái gì đó thì tôi mới có thể chờ đợi và tôn thờ suốt cả cuộc đời mình…

Đôi mắt bà Lê Thị Huệ gợn lên một ánh buồn da diết.

– Sau này, khi anh Thành đi rồi… Tuổi trẻ của tôi u ám buồn và ngập chìm thương nhớ. Tôi mong ngóng chờ đợi một con người ở tận bên kia trái đất. Không gì có thể tả được cái nỗi lòng ngày ấy… Thỉnh thoảng anh Diệp Văn Kỳ gặp tôi có nói cậu Thành vẫn hoạt động bên Paris…

Bà Huệ lại lặng đi. Đợi lúc bà bình tâm trở lại, trước lúc chia tay, nhà văn Sơn Tùng thưa với bà:

– Từ những gì cụ nói hôm nay, cháu xin cụ được viết thành bài báo…

Bà Lê Thị Huệ nhìn thẳng vào nhà văn, vẫn giọng nhỏ nhẹ nhưng rành rọt:

– Không nên! Sau này tôi qua đời, ông có viết gì thì viết, nhưng đừng để người thời nay và cả sau này hiểu sai về chúng tôi ngày đó… Còn bây giờ thì không nên…

– Nhưng thưa cụ, cháu nghĩ, tình cảm của cụ với Nguyễn Tất Thành là một câu chuyện đẹp đẽ. Nguyễn Tất Thành vì việc Nước mà phải gác lại tình riêng, bôn ba khắp năm châu bốn biển tìm cho bằng được con đường giải phóng dân tộc.

Khi giành được Nước rồi, vẫn không xây dựng gia đình… Đến tận phút cuối cùng của cuộc đời cao cả ấy vẫn luôn nghĩ về miền Nam ruột thịt… Còn cụ, cụ vẫn giữ trọn vẹn mối tình trong trắng của mình qua bao thăng trầm của đời người, bao biến thiên của thời thế… Đó là một tấm gương lớn để giáo dục thanh niên, giáo dục con cháu ta cho mãi về sau…

Bà Huệ lắng nghe rồi lại từ tốn cất lời:

– Ông nói cũng phải, nhưng ông mới nói những điều thuận. Mà đời thì đâu chỉ có những cái thuận… Nếu ông viết, người ta sẽ nói là tôi điên. Một bà già sắp chết, đã đi tu để quên hết chuyện đời… Vậy mà bây giờ thấy người của Giải phóng đến lại còn kể về mối tình đầu để kiếm chác…

Sau buổi chia tay ấy với bà Huệ nhà văn Sơn Tùng giữ mãi lời nguyền: Sẽ không viết gì về mối tình này khi cụ đang còn sống.

***

Năm 1980 cụ Lê Thị Huệ qua đời. Năm 1981 Nhà văn Sơn Tùng bắt tay vào viết tiểu thuyết “Búp sen xanh” về thời tuổi trẻ của Bác Hồ. Trong tiểu thuyết này có nhân vật út Huệ và mối tình trong trắng không cất nên lời.

Cuốn sách này đến nay trở thành một trong những tiểu thuyết có lượng ấn hành lớn nhất ở nước ta với hơn nửa triệu bản. Tuy nhiên thời kỳ đó, có những quan điểm khác nhau về nhân vật út Huệ…

Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau khi đọc xong “Búp sen xanh” đã mời nhà văn Sơn Tùng lên trò chuyện thân mật. Thủ tướng có hỏi về nhân vật út Huệ…

Và chính Thủ tướng đích thân viết lời tựa cho “Búp sen xanh” khi tái bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, vì những lý do tế nhị, đầu năm 2005 lời tựa này mới được công bố. Trong lời tựa có đoạn: “Cuốn sách “Búp sen xanh” nêu lên một vấn đề: ở đây tiểu thuyết và lịch sử có thể gặp nhau không? Vấn đề này các đồng chí hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật và nói chung tất cả chúng ta cần suy nghĩ để có thái độ. Song ở đây cũng vậy, lời nói có trọng lượng rất lớn thuộc về người đọc, nghĩa là nhân dân”.

Nhà văn Sơn Tùng cho biết, những gì trong “Búp sen xanh” chỉ là sự hé mở một phần… Đó là lý do tại sao ông còn phải viết cuốn “Bông Huệ trắng”. Cuốn sách sẽ là một bản tình ca vô cùng trong trắng và thiêng liêng về mối tình của một con người đã nguyện dành suốt cả cuộc đời mình chờ đợi một thần tượng đã có sức toả sáng, lay động đến tận cùng tâm hồn mình. Người đó là Lê Thị Huệ…

Theo Tiền Phong Chủ Nhật

Hoàng Nhật Minh @ 12:37 05/04/2011

Advertisements

Giới thiệu tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng

Nhà văn Sơn Tùng sinh năm 1928, tại làng Hoa Luỹ (nay là Kim Luỹ), Diễn Châu, Nghệ An, một vùng đất ngay bên bờ biển. Sơn Tùng lớn lên trong cộng đồng dân chài lấy thuyền làm nôi và tiếng sóng vỗ bờ làm lời ru của mẹ. Chính cái mênh mông, phóng khoáng của biển cả đã hun đúc nên khí phách phóng túng pha chút ngang tàng của Sơn Tùng. Nhưng “gã thuyền chài” ấy lại được giáo dưỡng trong một gia đình nhà nho nghèo có truyền thống “trọng chữ hơn trọng miếng ăn”.

Nhà văn Sơn Tùng được phong Anh hùng lao động – Ảnh T.T. Sơn (dantri.com.vn)

Năm 1941, ở tuổi 16, tràn đầy nhiệt huyết, Sơn Tùng đeo ba lô hoà vào dòng chảy của cơn lốc cách mạng. Ban đầu ông hoạt động trong phong trào thanh niên, sinh viên thủ đô. Sau khi Hà Nội giải phóng, Sơn Tùng vào học tại trường Đại học nhân dân và sau đó trở thành cán bộ tuyên truyền của Đảng. Năm 1961 ông về viết cho báo Nông nghiệp và từ cuối năm 1962 là phóng viên của báo Tiền phong. Năm 1967 ông được điều vào Nam thành lập và phụ trách tờ Thanh niên giải phóng. Năm 1971 ông bị thương nặng và rời chiến trường miền Nam mang trên mình 14 vết thương, 3 mảnh đạn còn găm trong sọ não. Nửa người bên phải hầu như bị liệt, thần kinh chéo bị tổn thương nặng, mắt bên phải bị mờ. Ông được đưa sang Trung Quốc chữa bệnh và được vào viện điều dưỡng 3 năm liền. Sau đó ông xin về nhà và … luyện khí công. Với nghị lực phi thường, ông khổ luyện từ 2h sáng tới 8h tối, sức khoẻ ông dần dần bình phục. Trí nhớ cũng hồi phục dần. Khi tay phải duỗi ra được, chân tập tễnh bước thấp bước cao, Sơn Tùng đã lao vào công việc. Điều đầu tiên mà ông làm là truy tìm cho được tác giả của lá Quốc kỳ mà trong những năm tháng ở chiến trường miền Nam ông đã dày công tìm kiếm. Hàng chục chuyến đi, hàng ngàn giờ lao tâm khổ tứ, cuối cùng ông đã tìm ra được cho chúng ta tác giả Quốc kỳ: Nguyễn Hữu Tiến.

Một đời viết có duyên, đôi khi, chỉ cần để lại cho đời một câu thơ, một đầu sách, đã là đáng tự hào. Với Sơn Tùng, lẽ dĩ nhiên, ông để lại nhiều hơn thế, dù nhắc đến ông, điều đầu tiên người ta nhắc đến hẳn nhiên là ba chữ Búp sen xanh – một cuốn sách đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong ký ức của nhiều thế hệ bạn đọc bởi những trang viết kỹ lưỡng, chân tình, xúc động. Không chỉ “Búp sen xanh”, ông còn quyết dành trọn cả đời viết của mình cho đề tài gan ruột: Hồ Chí Minh, với cả chục đầu sách: Nhớ nguồn, Kỷ niệm tháng năm, Bông sen vàng, Trái tim quả đất, Bác về, Từ làng Sen, Hẹn gặp lại Sài Gòn, Hoa râm bụt, Sáng ánh tâm đăng, Bác ở nơi đây, Chuyện Bác Hồ cả trăm năm chưa hề thấu ngọn nguồn…

Với sự cố gắng phi thường, bất chấp bệnh tật, vết thương đau nhói hành hạ mỗi khi trái gió trở trời, từ năm 1974 đến 1990 ông đã cho ra đời 13 cuốn sách bằng tay phải chỉ còn 3 ngón co quắp. Tuy nhiên, công bằng mà nói, đề tài mà Sơn Tùng thể hiện thành công nhất vẫn là đề tài lãnh tụ, mà đỉnh cao là Búp sen xanh. Đây cũng là công trình mà ông bỏ ra nhiều thời gian và công sức nhất: bắt đầu từ năm 1948 và hoàn thành vào năm 1980. Bằng những chuyến đi không biết mệt mỏi, những cuộc tìm kiếm kiên trì, cuối cùng ông đã gặp được bà Lê Thị Huệ để rồi từ những câu chuyện với bà Huệ ở tuổi 80 ông đã tái dựng lại một trong những quãng đời gian khó, nhưng đẹp đẽ và thơ mộng nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phát hiện của Sơn Tùng đã mở ra một bước ngoặt, một cách tiếp cận hoàn toàn mới tới cuộc đời và sự nghiệp của Bác. Năm 1981 Búp sen xanh với 100.000 bản ra đời đã gây một tiếng vang lớn.

Cuốn tiểu thuyết lần lượt nhận đủ các loại giải thưởng và chuẩn bị tái bản lần thứ 2 thì không hiểu từ đâu xuất hiện một lời phán: cuốn sách “có vấn đề”. Ngày 23/6/1983, một tờ báo đã dành cả nửa trang phê phán Sơn Tùng dưới tiêu đề Vài ý kiến về Búp sen xanh: “…Không thể nào có một nhân vật Út Huệ yêu Bác, chờ đợi Bác, theo dõi con đường Bác đi cứu nước suốt hàng chục năm mà trong tư tưởng, hành động lại không có biểu hiện gì trước phong trào chung của cách mạng cả nước đang phát triển…”. Bài báo kết luận: “Điều nguy hiểm hơn là tác giả Búp sen xanh đã gắn sự kiện mối tình của Út Huệ và Bác với sự kiện cắm hoa huệ trong nhà sàn của Bác ở Phủ Chủ tịch, và gắn sự kiện đó với câu nói của Bác năm 1962 khi tiếp đoàn cán bộ miền Nam ra thăm miền Bắc: miền Nam luôn trong trái tim tôi”. May thay, cuối cùng thì một kết luận chính thức của cơ quan chức năng “Búp sen xanh không có vấn đề gì” đã dẹp bỏ những lời đồn đại và phê phán vô căn cứ đó. Lập tức 100.000 cuốn của lần tái bản thứ 2 đã ra mắt bạn đọc. Rồi mối tình của cô Út Huệ với chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã đựơc đưa lên màn ảnh bạc và ngày nay người ta tiếp nhận nó như một lẽ đương nhiên…

* Tác phẩm

————— Hết —————

(Theo Lê Thọ Bình – Vietnamnet 14/02/2004)


tennguoidepnhat.net

Lời Bác thắp sáng ước mơ



Trong hai ngày 4 và 5-6 tại TPHCM, Đại hội Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác năm 2011 đã diễn ra với nhiều hoạt động thiết thực. Mỗi bạn trẻ trong số hơn 300 thanh niên tiên tiến dự đại hội là một tấm gương gắn với cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác”.

Người hùng bình dị

Anh Lê Văn Điệp, Phó Bí thư Chi đoàn thôn Hà Lời, xã Sơn Trạch, tỉnh Quảng Bình, được người dân địa phương đặt cho cái tên rất trìu mến “Anh hùng sông Son”. Tháng 10-2010, toàn bộ xã chìm trong nước lũ. Lấy một chiếc thuyền thường dùng để đưa du khách tham quan động Phong Nha, anh Điệp lao vào dòng nước lũ, đưa bà con trong thôn đến nơi an toàn. Được cả nước biết đến nhờ thành tích cứu hơn 150 người trong trận lũ tại thôn Hà Lời, thế nhưng cuộc sống của người hùng Lê Văn Điệp vẫn còn những khoảng lặng. Con gái đầu lòng của anh vừa mới mất vì bạo bệnh, ngôi nhà bị lũ cuốn trôi vẫn chưa được xây dựng lại.

Nhìn vóc dáng thư sinh của thiếu úy Nguyễn Chí Ninh (Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Tây Trang, tỉnh Điện Biên), ít ai nghĩ rằng người y sĩ này lại là khắc tinh của tội phạm ma túy. Trong một chuyên án, thiếu úy Ninh bị đối tượng nhiễm HIV đâm khiến phải điều trị phơi nhiễm hơn 3 tháng. Nhiều lần đứng ở lằn ranh giữa cái sống và cái chết, anh không hề băn khoăn.

Anh kể: “Tôi luôn tâm niệm hai điều Bác dạy. Một là tận tụy với nhân dân, hai là cương quyết với kẻ địch. Tháng 4-2010, khi đánh chuyên án ma túy cùng với 4 đồng đội ở gần khu vực cửa khẩu quốc tế Tây Trang. Lúc ấy hơn 3 giờ sáng và sương mù dày đặc. Sau một lúc giằng co, chống trả quyết liệt, biết không thể thoát được, đối tượng đã liều lĩnh lao xuống vực (sâu hơn 30m) để tẩu thoát. Không kịp nghĩ ngợi, tôi lập tức lao theo giữ chặt đối tượng”.

Lan tỏa

Theo anh Trần Văn Toàn (Đồn Biên phòng Sóc Hà, Hà Quảng, Cao Bằng), thấm nhuần bài học gần dân của Bác, cán bộ chiến sĩ biên phòng luôn chủ động gần gũi nhân dân. Nhờ đó, người dân đã cung cấp rất nhiều thông tin, giúp các anh phá nhiều vụ án mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới, tiêu thụ tiền giả…

Anh Toàn chia sẻ: “Cuộc đời vĩ đại của Bác có vô số những bài học mà chúng ta không dễ dàng gì thấm nhuần hết được. Thế nên, trước hết cần phải suy ngẫm những gì gắn liền với chuyên môn, công tác của mình để học tập và làm theo. Tư tưởng, đạo đức của Bác như ngọn lửa soi đường cho thế hệ trẻ”.

Phát biểu tại Đại hội Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác, đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM, cho rằng, những thanh niên tiên tiến được tuyên dương lần này đã khắc họa hình ảnh thế hệ thanh niên thời kỳ mới, luôn trung thành tuyệt đối và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao lòng yêu nước và trách nhiệm công dân, dám dấn thân, tình nguyện vì cộng đồng, đến những nơi gian khó, đảm nhận những việc mới, việc khó với ý chí quyết tâm đưa đất nước vươn lên.

Thanh An

sggp.org.vn

Hành trình 40 ngày trên biển của Bác qua ảnh vệ tinh

(GDVN) – 100 năm kể từ ngày chàng trai trẻ Nguyễn Văn Ba lên tàu Amiral Latouche Tréville rời Bến cảng Nhà Rồng, bắt đầu hành trình 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Nhân sự kiện này, GDVN vẽ lại hành trình 40 ngày lên đênh trên biển của Người qua những hình ảnh vệ tinh.

a

Thương cảng Sài Gòn năm 1911 khá tấp nập, chỉ dài 600m. Có nhiều tuyến đường lớn chạy qua thương cảng này, đó là các đường Paul Blanchy (nay là đường Hai Bà Trưng),
Catinat (nay là đường Đồng Khởi), Charner (nay là đường Nguyễn Huệ), Krantz và Duperré (nay là đường Hàm Nghi). (Trong ảnh là Bến cảng Nhà Rồng với mô hình 3D của Google Earth ngày nay)

a

Thương cảng Sài Gòn khi ấy có 5 cầu tàu: 3 cầu tàu nhỏ ở đầu đường Đồng Khởi dành cho các hãng chuyên chở đường sông, 1 cầu tàu lớn ở đầu đường Nguyễn Huệ dành cho các tàu viễn dương và 1 cầu tàu nhỏ ở đầu đường Hàm Nghi dành cho hãng tàu người Hoa. Brébion đã mô tả Thương cảng Sài Gòn hồi 1911: “Trên bến Francis Garnier (nay là bến Bạch Đằng), phía bờ sông có nhiều loại cầu tàu chiếm chỗ. Một trong số cầu tàu lớn nhất là nơi cập bến các tàu
lớn thuộc hãng Chargeurs Resunis (hãng Năm Sao).
Trong ảnh là hình ảnh tư liệu về Bến cảng Nhà Rồng xưa.

a

Trưa 2/6/1911, chiếc tàu Amiral Latouche Tréville của hãng Năm Sao từ Hải Phòng cập cảng Sài Gòn. Bác xuống tàu và gặp viên thuyền trưởng Lui E-du-a Mai-sen. Ngày 3/6/1911, Bác chính thức xuống tàu làm phụ bếp với mức lương 50 phơ-răng Pháp. Đây là một trong những tàu lớn hồi đó vừa chở hàng, vừa chở khách. Tàu Latouche dài 124,1m, rộng 15,2m, chạy máy hơi nước, 2.800 mã lực với tốc độ 13 hải lý/giờ, trọng tải 5.572 tấn và có đủ nhiên liệu để chạy một mạch 12.000 hải lý.

a

Trưa 5/6/1911, con tàu Amiral Latouche Tréville đã rời bến sông Sài Gòn với 72 thủy thủ trên tàu. Trong ảnh, điểm chấm đỏ là cảng Nhà Rồng, mũi tên đỏ chỉ hướng tàu Amiral Latouche Tréville di chuyển.

a

Tàu Amiral Latouche Tréville di chuyển từ Sài Gòn tới Singapore trong 3 ngày (trong ảnh chấm đỏ chỉ đường di chuyển của tàu Amiral Latouche Tréville. Đường di chuyển của tàu Amiral Latouche Tréville bằng chấm đỏ chỉ mang tính tương đối)

a

Ngày 8/6/1911, tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Keppel của Singapore. Trong ảnh là cảng Keppel ngày nay được chụp bằng Google Earth.

a

Toàn cảnh về đêm trên cảng Keppel của Singapore ngày nay.

a

Từ cảng Keppel, Singapore, tàu Amiral Latouche Tréville tiếp tục hành trình của mình trên Ấn Độ Dương để tới Quốc đảo Sri Lanka.

a

Ngày 14/6/1911 tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Colombo, Sri Lanka sau 6 ngày lênh đênh trên biển. Trong ảnh là cảng Colombo, Sri Lanka được chụp bằng Google Earth.

A

Toàn cảnh cảng Colombo Sri Lanka ngày nay

a

Vượt qua phần còn lại của Ấn Độ Dương, tàu Amiral Latouche Tréville đi vào vùng biển đỏ, qua tiếp kênh đào Suez tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Said phía Bắc Ai Cập.

a

Tàu Amiral Latouche Tréville đã cập cảng Said, Ai Cập ngày 30/06/1911. Trong ảnh là cảng Said chụp bằng Google Earth

a

Một phần cảng Said, Ai Cập ngày nay

Said, Ai Cập

Từ cảng Said, Ai Cập, tàu Amiral Latouche Tréville tiếp tục hành trình vượt qua Địa Trung Hải để tới cảng Mác Xây (Marseille) Pháp ngày 06/07/1911.

a

Bến Đa – Răng trong cảng Mác Xây. Ngày 06/07/1911, Bác đã lần đầu tiên tới nước Pháp. Cũng chính nơi đây lần đầu tiên trông đời Bác thấy có những người Pháp gọi anh bằng “ông”. Trong ảnh là toàn cảnh cảng Mác Xây, Pháp chụp bằng Google Earth.

a

Một ngày ở lại Mác-xây, đi thăm phố xá, Bác nhận xét: Thì ra, người Pháp ở bên Pháp không ác như thực dân Pháp ờ Việt Nam. Thì ra, bên Pháp cũng có người nghèo như bên ta. Trong ảnh là một phần cảng Mác Xây, Pháp ngày nay.

a

Tàu Amiral Latouche Tréville không dừng lại ở Mác Xây, nó phải tiếp tục hành trình về phía Bắc của nước Pháp. Đó là cảng Le Havre

a

Ngày 15/07/1911, tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Le Havre, cảng chính ở phía Bắc nước Pháp kết thúc 40 ngày lên đênh trên biển. Do công việc dưới tàu cực khổ, 14 thủy thủ, nhân viên đã bỏ nghề lên các bến dọc đường. Khi tàu đến Le Havre, tổng số người làm trên tàu chỉ còn có 58 người, trong đó có Bác.

a

Bác đã thắng sóng gió và điều kiện làm việc cực nhọc dưới tàu biển để khởi đầu cho cuộc dấn thân trường chinh tìm đường cứu nước. Trong ảnh là toàn cảnh cảng Le Havre, Pháp ngày nay.

Nam Chấn (Hình ảnh chụp từ Google Earth)

giaoduc.net.vn

Sáng mãi con đường vì dân, vì nước

Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 – 5/6/2011)

oOo

(GD&TĐ) – Năm nay chúng ta kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 –5/6/2011). 100 năm trước đây, trên con tàu L’Amiral Latauche Trasvill, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời bến cảng Nhà Rồng với hoài bão mãnh liệt ra đi tìm đường giải phóng nước nhà khỏi ách nô lệ của thực dân. Sự kiện này là một dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử dân tộc. Tuy sớm thể hiện lòng yêu nước thương dân từ thuở còn đi học, nhưng đến thời điểm quyết tâm rời xa Tổ quốc tìm đường cứu nước, người thanh niên yêu nước có chí lớn và đầy nhiệt huyết Nguyễn Tất Thành đã dứt khoát chọn lẽ sống của đời mình là vì dân vì nước. Và Người đã dâng trọn đời mình cho lẽ sống cao đẹp này. Có thể nói ngày Bác Hồ rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước là điểm khởi đầu sự nghiệp cách mạng to lớn của Người – sự nghiệp của một lãnh tụ cách mạng, người anh hùng giải phóng dân tộc.

(ảnh minh họa: Internet)(ảnh minh họa: Internet)

Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, người Việt Nam chúng ta không bao giờ quên được trang đen tối cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi đất nước ta chìm đắm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Không chịu khuất phục, bao người con ưu tú của đất nước như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… bằng cách lựa chọn của mình, đều đã tìm đường cứu nước nhưng đã không thành công. Bài học thất bại của những nhà yêu nước lớp trước đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành ra nước ngoài tìm hiểu để lựa chọn, xác định một con đường đúng đắn có thể đập tan xích xiềng nô lệ của thực dân, giải phóng đất nước, mang lại độc lập tự do cho dân tộc mình, mang lại ấm no hạnh phúc cho đồng bào mình.

Trên hành trình tìm đường cứu nước của mình, nhà yêu nước Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc đã bôn ba qua châu Âu, châu Mỹ, châu Á, châu Phi, đã sống, làm việc, hoạt động ở gần 30 nước. Chính sự trải nghiệm và tầm nhìn được mở rộng như vậy cộng với tài năng thiên phú, khả năng tự học, tự nghiên cứu cao và trái tim vốn giàu tình thương yêu con người, Nguyễn Ái Quốc đã đi đến một nhận thức quan trọng: Chính chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc là nguyên nhân đẩy người lao động cần lao ở các nước thuộc địa cũng như chính quốc rơi vào cuộc sống lầm than. Từ đó Người đã tìm đến với Chủ nghĩa Mác – Lê nin, xác định được con đường cứu nước, cứu dân đúng đắn. Sau này, Nguyễn Ái Quốc, khi đó đã là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhớ lại: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức, những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Với việc tìm đến với Chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã phất lên ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội cho cách mạng Việt Nam.

Tìm hiểu sâu thêm tư tưởng, tình cảm và con đường mà Hồ Chí Minh đã đi, chúng ta có thể hình dung chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh đã được hình thành và dựa trên nền tảng của một chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc, một tình yêu thương con người bao la như biển cả. Người nói nhiều đến nhân dân, nhân dân đất nước mình và nhân dân thế giới. Đối với nhân dân đất nước mình, Người hay dùng từ “đồng bào” rất đỗi thân thương. Khi đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Lễ Quốc khánh đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945, Người dừng giữa chừng và bằng giọng trầm ấm thân thiết hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Kể cả khi nói và khi viết về nước hoặc về dân, Người thường gắn liền nước với dân, dân với nước, yêu nước gắn với thương dân, thương dân nước mình và yêu thương nhân loại với cái tâm hướng tới một thế giới đại đồng, thế giới xã hội chủ nghĩa. Người khẳng định: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Yêu nước thương dân nên phải làm cách mạng để giành độc lập tự do cho đất nước, mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Đó là mục đích, là lẽ sống, là con đường mà lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chọn, đã đi và đã truyền lửa cho lớp lớp cháu con tiếp bước. Chúng ta có thể điểm qua những dấu ấn, những sự kiện quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh kể từ khi Người tìm đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, nghĩa là sau khi Người đã xác định được con đường đúng đắn cứu dân, cứu nước. Cuối năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp. Ngày 21/6/1925 Báo Thanh niên được thành lập; Báo do Người sáng lập nhằm chuẩn bị đường lối chính trị cho một tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Năm 1925, Người lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên; và khi điều kiện chín muồi, ngày 3/2/1930, Người đã chủ trì Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản thành một Đảng thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Mùa xuân năm 1941, Người về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Tháng 8/1945, Cách mạng thành công thể hiện sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện. Sau thành công của Cách mạng tháng Tám 1945, nhân dân ta tiếp tục tiến hành thắng lợi kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Hồ Chủ tịch. Các sự kiện nêu trên đã ghi dấu trong lịch sử dân tộc và khẳng định tính đúng đắn của con đường cứu nước, cứu dân mà Hồ Chí Minh đã chọn và sau đó đã suốt đời đi theo hy sinh, phấn đấu để biến ước mơ, hoài bão, lý tưởng vì nước, vì dân của mình trở thành hiện thực.

Đã 100 năm kể từ ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và 42 năm kể từ ngày Người mãi mãi đi xa. Xin kính dâng Người một nén tâm nhang. Tháng 5 đến rồi, khắp đất nước mình, khói hương đang mang mang dâng lên tưởng nhớ Người. Với công lao như trời biển với dân, với nước, Người đã hiển thánh trong lòng dân tộc. Dù Người đã đi xa nhưng hình ảnh của Người, sự nghiệp của Người vẫn còn mãi mãi. Chúng con vẫn hằng soi vào tấm gương trong của Người để tâm hồn mình thêm trong sáng và để được tiếp thêm sức mạnh bước tiếp trên con đường mà Người đã tìm ra và đi trọn cuộc đời. Con đường vì dân vì nước của Người sẽ sáng mãi, cuốn hút, thúc giục toàn dân tộc bước tiếp, hướng tới một ngày mai tươi sáng, vì một Việt Nam dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng  văn minh, có thể sánh vai cùng các cường quốc năm châu như điều Người hằng mong ước.

TS. NGUYỄN DANH BÌNH

gdtd.vn