Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Những mẩu chuyện đầy xúc động và chân tình của Bác Hồ với phụ nữ

Đại biểu phụ nữ các dân tộc tỉnh Hà Giang về thăm Hà Nội vui mừng được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh 25-11-1965Đại biểu phụ nữ các dân tộc tỉnh Hà Giang về thăm Hà Nội 
vui mừng được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh (25-11-1965)

Suốt cuộc đời mình Bác luôn đứng về lẽ phải, đấu tranh bảo vệ cho những kiếp người cơ cực lầm than. Người đặc biệt quan tâm đến phụ nữ và trẻ em bởi theo Người đó là lớp người khổ nhất trong những người khổ cực. Như nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:

Bác ơi tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người

Trong những “kiếp người” lầm than đó Bác dành sự quan tâm đặc biệt cho phụ nữ. Bởi hơn ai hết Bác là người hiểu rõ rằng: Trong xã hội, người phụ nữ là người bị áp bức, chịu đau khổ và thiệt thòi nhiều nhất. Bác nhiều lần bày tỏ chính kiến trước công luận là phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến và đầu óc gia trưởng, tư tưởng trọng nam khinh nữ. Bác cũng chỉ rõ: “Luật lấy vợ lấy chồng nhằm giải phóng phụ nữ, tức là giải phóng phần nửa xã hội. Giải phóng người đàn bà”, “phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến”, tư tưởng “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (Một nam là có, mười nữ như không) trong người đàn ông. Bác phê phán tình trạng chồng đánh vợ và khẳng định đây là tệ nạn về mặt đạo đức và vi phạm pháp luật: “Đàn ông là người công dân, đàn bà cũng là người công dân, dù là vợ chồng, người công dân này đánh người công dân khác tức là phạm pháp”. Theo quan điểm của Bác, vấn đề giải phóng phụ nữ là một vấn đề xã hội to lớn, không phải chỉ là việc riêng của phụ nữ, mà là công việc quan trọng của Đảng, Nhà nước và đòi hỏi phải có sự tham gia của toàn xã hội, của tất cả mọi người. Việc giải phóng phụ nữ là phải tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội; Chỉ có đưa phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa… thì mới bảo đảm quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ. Muốn vậy phải tôn trọng phụ nữ, phải tính đến đặc thù của lao động nữ, phải thực hiện phân công sắp xếp lao động toàn xã hội, mở rộng các dịch vụ xã hội, tổ chức đời sống mới để phụ nữ có thời gian học tập và tham gia vào các hoạt động xã hội. Đảng và Chính phủ cần có những chủ trương chính sách phù hợp để phụ nữ tham gia vào các công việc của xã hội theo khả năng của họ. Song thực hiện bình đẳng giới, cũng không có nghĩa là “cào bằng” trong mọi việc, mà phải là, ngoài những cơ chế chính sách chung đối với người lao động, các cơ quan chức năng cần chú ý “quán triệt quan điểm giới” khi xây dựng chính sách, pháp luật đối với người lao động, nhằm bảo vệ sức khoẻ của phụ nữ, bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em khỏi những lao động độc hại và phi đạo đức, đồng thời đảm bảo phân phối công bằng cho cả hai giới, khi cùng làm một công việc và cống hiến như nhau. Bác Hồ cũng khẳng định, sự nghiệp giải phóng phụ nữ phụ thuộc vào chính bản thân người phụ nữ. Người đánh giá cao vai trò của phụ nữ khi nhìn nhận họ là một lực lượng lao động đông đảo của xã hội, làm việc không thua kém nam giới. Phụ nữ có thể đảm nhận và hoàn thành tốt những công việc lớn của cách mạng, của nhân dân. Tuy nhiên, để phát huy vai trò của phụ nữ, Người yêu cầu: “Chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng phụ nữ mà tự mình phải tự cường đấu tranh”. “Mỗi một người và tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng xã hội chủ nghĩa. Muốn làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ phải xóa bỏ tâm lý tự ti và ỷ lại, phải có ý chí tự cường tự lập, phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật”. “Phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu. Người phụ nữ phải tự khẳng định mình thông qua năng lực trình độ, thông qua sự hiểu biết và sự đóng góp của chính họ vào gia đình và xã hội. Từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao vị trí của người phụ nữ trong xã hội và thực hiện xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng và tiến bộ. Và trên thực tế, đã không ít tài liệu ghi lại những mẩu chuyện của Bác Hồ với phụ nữ đầy xúc động và chân tình.

Một lần, tới một Hội nghị, nhìn suốt dọc hội trường Bác hỏi: “Này các chú, phụ nữ đâu mà không thấy phụ nữ ngồi hàng đầu?” Rồi Bác lại hỏi tiếp: “Các cô gái có đấy không?” “Có ạ”.“Vậy mời lên đây ngồi. Ngay việc ngồi cũng không bình đẳng. Phụ nữ muốn được bình đẳng không phải bảo Đảng và Chính phủ hay nam giới mời lên ngồi mới ngồi mà phải tự đấu tranh phấn đấu giành lấy”. Đó chính là lời căn dặn của Bác với phụ nữ, bởi hơn ai hết Bác luôn quan tâm và giành nhiều tình cảm cho lớp người đã chịu nhiều lầm than này.

Một câu chuyện kể rằng vào tháng 1 năm 1963, trong phiên họp của Bộ Chính trị để bàn về những vấn đề quan trọng của cách mạng, Người đã đọc một bức thư của một phụ nữ trong cuộc họp này, đó là bức thư một nữ cán bộ cách mạng ở Vĩnh Phúc bị chồng đối xử đánh đập tàn tệ mà không được chính quyền đoàn thể can thiệp, cán bộ đảng viên thì lẩn tránh. Bác xem đó là tội ác, là tàn dư còn lại tồi tệ nhất của chế độ cũ và yêu cầu cuộc họp ưu tiên giải quyết trường hợp này trước.

Có lần tại một Hội nghị cấp huyện, Bác hỏi: Ở đây có Hải Phòng không? Có ạ!. Hợp tác xã các chú làm thế nào mà phải sang Hợp tác xã khác mượn lợn để lừa dối cấp trên? Có không? Có ạ. Vậy không nên làm như thế nữa”. Lúc đó, gần Tết, Bác kêu gọi tiết kiệm. Bác nói: Các chú phải có văn hóa không được đánh vần chữ “tiết kiệm” thành “tiết canh”. Phụ nữ người ta làm Chủ nhiệm đâu có đánh chén. Chủ nhiệm phụ nữ thật thà, phải đưa nhiều phụ nữ tham gia làm Chủ nhiệm”… Thế mới thấy được Bác rất coi trọng vai trò của phụ nữ Việt Nam. Thế nên khi đi thăm các nước, Bác thường nói với phụ nữ các nước đó: Phụ nữ Việt Nam làm được nhiều việc cho đất nước, phụ nữ Việt Nam thay thế nam giới thực hiện phục vụ cho chiến đấu, sản xuất. Đặc biệt, khi làm Chủ nhiệm Hợp tác xã, phụ nữ làm tốt hơn nam giới, cần cù hơn, không lãng phí, không đánh chén.

Một lần đến thăm một đơn vị nữ Thanh niên xung phong, Bác nghe báo cáo, đi xuống tận đơn vị sản xuất rồi góp ý với lãnh đạo đơn vị: “Đi chặt gỗ, việc ấy nặng nhọc, lúc hăng các cháu làm được hết; hay đi đắp đường, chỗ núi non khó khăn, các cháu cũng làm được. Nhưng lãnh đạo không nên để các cháu làm những việc như thế…phân phối công tác cho phụ nữ phải thích hợp…”. Lần ấy, các nữ Thanh niên xung phong đã rơi nước mắt trước nỗi lo toan rất đời thường của vị Chủ tịch nước.

Ngày lễ 2/9/1949, Bác đến thăm chị em cán bộ, nhân viên Văn phòng Trung ương Đảng tại chiến khu Việt Bắc. Người bước vào hội trường, ngồi xuống trước rồi bảo mọi người ngồi xuống theo. Các cán bộ nhanh chân đến trước vây quanh Chủ tịch. Các chị các cô vì có cháu nhỏ đi theo không chen kịp, đành ngồi phía sau hội trường, dù rất muốn được gần Bác.

Khi được báo cáo anh chị em đã đến đủ, Bác nhìn quanh nhận ra ngay điều bất hợp lý, liền nói:

– Để ổn định trật tự cho buổi “diễn thuyết” được thành công, các cô các chú phải ngồi đúng vị trí của mình. Riêng “diễn giả” được phép thay đổi chỗ.

Người đứng dậy đi đến cuối hội trường, hô:

 Đằng sau, quay!

Ngày ấy hội trường gồm toàn những ghế băng. Thế là các chị, các cô, các cháu nhỏ chỉ cần quay lại là được gần Bác nhất.

Chính sự quan tâm ngay cả những điều tưởng như nhỏ nhặt trong cuộc sống, đã làm cho hình ảnh của Người vốn đã vĩ đại càng trở thành bất tử.

Bác Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác kể lại rằng: “Vào tháng 5 năm 1968, Bác Hồ đọc lại bản Di chúc và thấy cần phải viết thêm mấy điểm về phụ nữ”. Thế rồi, trong bản Di chúc Bác viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất, Ðảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Ðó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”. Đó là những lời chân tình, chứa chan tình cảm và cũng là sự nhắc nhở, huấn thị của Bác với phụ nữ trước khi đi xa.

Bác không có gia đình riêng, nhưng Người hiểu và thông cảm sâu sắc với người phụ nữ làm bổn phận người vợ, người mẹ trong gia đình, người lao động của xã hội. Trong cuộc sống gia đình, người phụ nữ phải lo bộn bề công việc “không tên” nhưng chính nó lại tạo nên của cải tinh thần vô cùng to lớn, đó là không khí gia đình, là tổ ấm của mỗi người Việt Nam.

Sự quan tâm của Bác Hồ với phụ nữ Việt Nam thật nhân ái bao la. Bác từng viết: “Ông Các Mác nói rằng: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi ( Đường Kách Mệnh). Đối với Bác, tầng lớp phụ nữ luôn có vị trí quan trọng trong cuộc cách mạng chung của dân tộc và hoàn toàn có thể tự hào mà ngẩng cao đầu trước các đấng mày râu. Và quả thật vây, nhìn lại những chặng đường đã đi qua, những anh hùng lao động, những chiến sỹ thi đua, những tấm huân chương, những giải thưởng khoa học là bằng chứng ghi nhận công lao đóng góp của chị em phụ nữ, dấu ấn ghi đậm truyền thống phụ nữ Việt Nam dũng cảm, đảm đang. Chị em phụ nữ hôm qua, hôm nay và ngày mai sẽ viết tiếp những truyền thống hào hùng đó, sẽ làm rạng danh dân tộc Việt Nam để thoả ước nguyện của Người trước lúc đi xa.

Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Advertisements

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Phụ nữ

1 … Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người.

Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa.

… Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh.

Bài nói tại Hội nghị cán bộ thảo luận Luật Hôn nhân và gia đình
ngày 10-10-1959, sđd, t.9, tr 523, 524.

nhung nguyen tac va chuan muc 1Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nữ đại biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III,
tháng 9 năm 1960. (Ảnh tư liệu)

2. … Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã nêu rõ chính sách nam nữ bình đẳng, Hiến pháp ta đã xác định chính sách đó. Trong mọi việc, Đảng và Chính phủ ta luôn luôn quan tâm giúp đỡ phụ nữ. Vậy chị em phụ nữ ta phải nhận rõ địa vị làm người chủ và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để làm trọn nghĩa vụ mới của mình là góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội…

Bài nói chuyện tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ III
ngày 9-3-1961, sđd, t.10, tr. 296.

nhung nguyen tac va chuan muc 2Bác Hồ với các đại biểu phụ nữ các dân tộc Việt Bắc năm 1959. (Ảnh tư liệu)

3. Phụ nữ cũng là người chủ nước nhà. Để xứng đáng là người chủ thì chị em phải ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm…

4. Phụ nữ cần phải xung phong trong việc xây dựng đời sống mới. Ở miền núi đang còn những phong tục không tốt do bọn phong kiến để lại, như: ma chay, cúng bái rất tốn kém. Cưới vợ, gả chồng quá sớm. Vệ sinh phòng bệnh, v.v… còn kém. Đó là những mê tín và hủ tục nên xóa bỏ, để xây dựng mỹ tục thuần phong.

5. Đoàn kết là sức mạnh. Đồng bào miền núi, trước hết là chị em phụ nữ, cần phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Đoàn kết giữa dân tộc mình, đoàn kết giữa các dân tộc. Đoàn kết với đồng bào miền xuôi lên phát triển kinh tế miền núi…

6. Để làm tốt những việc nói trên, chị em phải cố gắng học tập. Học văn hóa, học chính trị, học nghề nghiệp. Nếu không học thì không tiến bộ. Có quyết tâm thì nhất định học được…

Nói chuyện Hội nghị cán bộ phụ nữ miền núi,
ngày 19-3-1964, sđd, t.11, tr. 215

(theo Một số lời dạy và mẫu chuyện về 
Tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Nxb Chính trị quốc gia)

Phuly.edu.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Câu chuyện gặp Bác Hồ và việc sản xuất nước lọc Penicilline tại Việt Bắc của cố Giáo sư Đặng Văn Ngữ

P1

GS Ngữ trình bày công trình chiết xuất Penicilline

Nhân một chuyến lên Việt Bắc cùng Giáo sư Đặng Văn Ngữ theo dõi tình hình thực hiện công tác tiêu diệt sốt rét, Giáo sư đã kể cho chúng tôi nghe câu chuyện gặp Bác Hồ và việc sản xuất nước lọc Penicilline tại An toàn khu (ATK) Việt Bắc. Giáo sư Đặng Văn Ngữ kể:

“… Lên đến Việt Bắc, tôi gặp Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên, Cụ Hồ Đắc Di, Giám đốc Trường Đại học Y Dược khoa, Bác sĩ Tôn Thất Tùng, Thứ trưởng Bộ Y tế; là những người tôi đã biết từ trước tại Hà Nội. Tôi trình bày nguyên tắc làm Penicilline ở thể bột và hơi lo ngại vì thấy ở Việt Nam lúc ấy không có máy móc, dụng cụ để làm được bột Penicilline. Bác sĩ Tùng bảo: “Ở đây anh không có dụng cụ nhiều bằng ở Liên khu IV (cũ), nhưng anh được sự lãnh đạo và giúp đỡ của Chính phủ Trung ương, lại có tập thể chúng tôi giúp đỡ, nhất định anh sẽ đạt nhiều kết quả hơn ở Liên khu IV.

Sau hai ngày đường leo đèo, lội suối, cùng với Ông Nguyễn Văn Huyên và Bác sĩ Tôn Thất Tùng, chúng tôi bước lên một nhà sàn. Trong nhà đã có 14 đến 15 người ngồi xung quanh bếp lửa nói chuyện với nhau rất vui vẻ. Tôi được giới thiệu và biết rằng những người đang ngồi đây là các vị Bộ trưởng và Thứ trưởng trong Chính phủ. Một lúc sau thì Bác đến. Mọi người đều đứng dậy vui vẻ chào. Bác bắt tay mọi người. Khi đến phía tôi, Bác chỉ cái cà vạt của tôi, vừa cười vừa nói: “A! Chú Ngữ đã đến, không cần phải giới thiệu, nhìn cà vạt ở cổ thì biết ngay người mới ở ngoại quốc về”. Sau đó Bác bảo mọi người cùng ngồi, rồi mở cho xem một tập ảnh của Đoàn đại biểu đi Varsovie mới mang về tặng Bác. Bác giản dị và chân tình. Gặp Bác, tôi không thấy bối rối lo sợ, lúng túng như tôi tưởng tượng; trái lại, tôi có cảm tưởng thân mật như một người con đi xa về gặp cha vậy.

Sau bữa cơm trưa hôm đó, tôi lại được gặp riêng Bác, Bác bảo:

– Bộ đội ta cần rất nhiều thuốc để chữa vết thương, chú phải cố gắng giải quyết vấn đề thuốc. Nghe nói chú biết làm Penicilline. Chú có kế hoạch gì không?

– Dạ có. Tôi rút trong túi ra một bản kế hoạch đã chuẩn bị sẵn với sự tham gia ý kiến của Bác sĩ Tùng và Bác sĩ Di. Trong kế hoạch có đề ra việc thành lập một Phòng nghiên cứu Trung ương. Phòng ấy sẽ chỉ huy một số Phòng nghiên cứu ở địa phương. Các phòng địa phương sẽ huấn luyện và cung cấp nhân viên làm nước lọc Penicilline cho các trạm phẫu thuật ở tiền tuyến.

Bác chăm chú nghe tôi trình bày. Nghe xong, Bác chỉ tay vào đoạn cuối cùng, phần huấn luyện của bản kế hoạch và bảo:

– Chú nên chú trọng về phần này, phần này phải làm trước. Chú phải huấn luyện cho nhiều y tá đi phục vụ ngay cho tiền tuyến. Các phòng thí nghiệm cũng cần thiết, nhưng chú sẽ có thì giờ làm sau, chú cần bao nhiều thời gian để huấn luyện một y tá có thể làm được Penicilline?”.

– Thưa Bác, chừng một tháng. Tôi trả lời.

– Thôi, cứ cho là 3 tháng, cho rộng rãi. Còn vật liệu, chú cần những gì?

– Thưa Bác, cần nhất là chai, lọ; nếu có thì chai bẹt càng tốt; nếu không tạm dùng chai tròn cũng được, nhưng phải có hàng nghìn chai mới sản xuất kịp.

Bác liền cho mời đồng chí Hoàng Quốc Việt, Chủ tịch Tổng Công đoàn; Ông Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Bộ Giáo dục; Ông Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y và Ông Lê Văn Hiến, Bộ trưởng Bộ Tài chính tới. Bác nhắc các vị ấy giúp đỡ tôi để công tác chung có hiệu quả.

Giáo sư kể tiếp “… Trên đường về, tôi ôn lại những lời Bác dạy. Tôi hơi tiếc vì Bác dạy chưa nên tổ chức Phòng nghiên cứu Trung ương vội, chỉ đào tạo cán bộ làm nước lọc Penicilline. Tôi tự nghĩ nếu có nghiên cứu mới thích thú, mới phát hiện được cái mới, chứ đào tạo cán bộ làm nước lọc Penicilline thì dễ quá. Nhưng tôi lại nghĩ lại, nếu tôi muốn nghiên cứu cao xa thì ở lại ngay Nhật Bản mà nghiên cứu, chứ đã về với kháng chiến thì tất nhiên phải góp phần vào kháng chiến, đưa sự hiểu biết của mình ra phục vụ cho bộ đội, cho nhân dân. Tôi lại kiểm điểm lại công việc tôi đã làm ở Liên khu IV, kiểm điểm lại chủ trương làm Penicilline bột với điều kiện kháng chiến khó khăn, phức tạp; nhưng không thực sự phục vụ trước mắt. Nếu có làm ra bột Penicilline, số lượng sản xuất trong một tháng có thể không đủ để chữa bệnh cho một người; vả lại Penicilline bột làm trong điều kiện kháng chiến chỉ là Penicilline vàng, nếu không có tủ lạnh thì không giữ được lâu. Như vậy sản xuất Penicilline ấy chẳng có ích lợi gì cho kháng chiến.

P2Bác sĩ Đặng Văn Ngữ giới thiệu kết quả kiểm tra nước lọc Penicilline với Bác sĩ,
Bộ trưởng Bộ Y  tế Hoàng Tích Trí tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang, năm 1952.

Tôi thấy rõ tôi mới ở ngoại quốc về mà được Bác giao cho nhiệm vụ như thế, thực tế hợp với khả năng của tôi và cũng là một vinh dự vô cùng to lớn. Bắt tay vào việc, mới thấy rằng không phải nghiên cứu gì cao xa, chỉ nghiên cứu làm được nước lọc Penicilline với điều kiện kháng chiến cũng là một vấn đề rất khó khăn, phức tạp. Về đến nhà, mở gói nấm để làm Penicilline ra xem lại thì thấy nấm không còn công hiệu nữa, những nấm khác ở ngoài đã lẫn lộn vào. Thật là một sự bất ngờ và rất đau đớn cho tôi. Trước khi đi tôi đã chú ý để giống nấm vào phòng sạch sẽ nhất ở Việt Bắc, là phòng mổ của Anh Tùng, thế mà vẫn bị tạp nấm rơi vào. Có người bảo ở Việt Nam nhiều tạp nấm lắm, nên không nghiên cứu về nấm được. Ngay ở Viện Pasteur có đủ phương tiện như vậy, bọn Pháp cũng không đặt vấn đề nghiên cứu nấm được, huống là ở Việt Bắc. Nhưng tôi đã hứa với Bác, đã có sự giúp đỡ của Chính phủ, và tôi tin tưởng ở sự tận tâm góp sức của các anh em đang làm việc với tôi lúc ấy. Chính vì vậy tôi đã quyết tâm loại cho kỳ được tạp nấm đã lẫn vào ống nấm Penicilline.

Giọng Giáo sư trầm hẳn xuống: “Ôn lại quãng đời của tôi, tôi chưa có khi nào lo lắng, và chưa có khi nào tôi thấy một cách rõ rệt trách nhiệm của tôi đối với công tác nghiên cứu bằng lúc này. Hồ Chủ tịch và Chính phủ đang hàng ngày, hàng giờ mong đợi kết quả của tôi, hàng nghìn thương binh, bệnh binh đang chờ nước lọc Penicilline”.

Giáo sư xót xa: “Ngày ngày tôi cấy hàng trăm cái nấm lấy ở ống giống ra để thử với vi trùng, nhưng ngày nào cũng như ngày nào, vi trùng đều mọc quanh cái nấm; chứng tỏ rằng nấm không còn tác dụng chống vi trùng nữa. Ròng rã suốt ba tuần lễ, tối nào trước khi đi ngủ cũng đầy hy vọng, mong chóng sáng để đọc kết quả thử nấm. Nhưng đến sáng lấy nấm ở tủ ấm ra xem thì lại thất vọng. Ở Nhật Bản, tôi đã bao nhiêu lần làm tinh khiết nấm và còn tinh khiết những nấm khó hơn nhưng không bao giờ bị thất bại cả; tôi nghĩ vẫn không thấy vì sao về Việt Nam lại thất bại. Các nấm mà tôi đã mất bao nhiêu công trình đưa từ Nhật Bản về đến Bangkok rồi đưa lên Việt Bắc, các nấm ấy bây giờ không còn giá trị nữa chăng? Bao nhiêu hy vọng phục vụ bộ đội được xây dựng trên ống nghiệm này sẽ tiêu tan cả chăng? Đã nhiều lần, tôi sắp viết thư lên báo cáo với Bác Hồ là nấm đã hỏng và chịu tội với Bác. Nhưng tôi nghĩ không thể làm như thế được. Tôi đã hứa với Bác, với các vị Bộ trưởng; nhất định tôi phải làm kỳ được.

Đêm đến, vấn đề nấm đeo đuổi tôi mãi không ngủ được. Một hôm tôi ngủ dậy vào lúc 3 giờ sáng, lấy nấm ra xem … Lúc này, gương mặt Giáo sư như bừng sáng. Giáo sư kể tiếp: “Tôi mừng đến trào nước mắt khi thấy tất cả các con nấm đều có công hiệu, vi trùng không con nào mọc được gần nấm cả. Bấy giờ tôi mới hiểu ra lý do thất bại của mình. Vì tủ ấm của tôi chỉ là một cái thùng sắt có đốt ngọn đèn dầu nhiệt độ không đủ, nấm lại bị lẫn với tạp nấm khác nên chỉ tác dụng trên vi trùng trong một thời gian ngắn, đến sau vi trùng mọc mạnh dần thì nấm không còn chống lại được nữa. Như thế là nấm chưa hoàn toàn mất, và lúc ấy tôi nắm được quy luật tác dụng của nấm trên vi trùng trong điều kiện tủ ấm của tôi. Nhất định thế nào cũng loại được tạp nấm ra, tôi theo dõi nấm mọc hàng giờ trong một đêm, một ngày. Sau một tuần lễ, tôi đã được nấm tốt trở lại, mạnh như cũ.

Xong giống nấm thì tôi nhận được 20 anh em y tá ở Quân y Cục gửi sang học làm nước lọc Penicilline. Cùng đi theo để học và để giúp đỡ các anh em y tá học tập có hai anh em sinh viên dược khoa là anh Tiến và anh Thiều. Tất cả đều chưa biết một tí gì về kỹ thuật nuôi cấy vi trùng và nấm. Nhưng tất cả đều có một lòng hăng hái vô cùng mãnh liệt. Sau một tuần lễ, anh em đã nắm được kỹ thuật căn bản và tôi đã chuyển dần anh em vào công tác nghiên cứu. Vấn đề nghiên cứu lúc bấy giờ là tìm một thứ nước để nuôi nấm. Nấm nuôi ở nước ấy phải nhả nhiều Penicilline và nước nuôi nấm ấy phải là một thứ nước dễ làm, để các anh em y tá có khả năng làm được và phải dùng nguyên liệu sẵn có trong nước.

Sau khi tìm ra được một thứ nước nuôi nấm rất tốt và rất rẻ tiền là nước thân ngô. Nguyên liệu dùng là thân ngô, sau khi đã bẻ bắp và trẩy hết lá. Nguyên liệu ấy ở đâu cũng tìm thấy và hoàn toàn không mất tiền mua. Những khó khăn về kỹ thuật đã được giải quyết xong. Nhưng còn một vấn đề cần bàn, cần giải quyết nữa mới thực hiện được chương trình; đó là vấn đề chai, lọ. Theo chỉ thị của Bác, Tổng Liên đoàn Lao động tích cực giúp đỡ vấn đề này, các Xưởng Thủy tinh đều cố gắng thổi nhiều chai bẹt để sản xuất Penicilline. Tôi đã gửi mẫu chai bẹt đi nhiều nơi. Sau ba tháng, nơi nào cũng có báo cáo là chưa làm được. Các xưởng thủy tinh đang vấp phải một khó khăn về khuôn để thổi chai. Khuôn thổi chai là một cái khuôn gồm hai mảnh bằng gang. Các xưởng đã thử rất nhiều khuôn nhưng không có gang tốt nên chỉ thổi vài lần là khuôn lại vỡ.

Chiến dịch Biên giới 1950 đã đến mà vẫn chưa có một chai bẹt nào cả. Tất cả các anh em đã học xong, chỉ còn có chai bẹt nữa là có thể ra phục vụ ngay được. Một ngày chậm là hàng trăm thương binh không có thuốc. Tôi họp anh em y tá lại và đưa vấn đề ra bàn. Tôi nói: “Anh em công nhân ở xưởng thủy tinh đã cố gắng nhiều mà chưa làm được chai bẹt, nếu ta giải thích cho anh em biết công dụng của chai bẹt trong việc sản xuất Penicilline, nhất định anh em sẽ phát huy sáng kiến và giải quyết được vấn đề”. Tôi cử một anh xuống Xưởng Thủy tinh của Cục Quân y trực tiếp trình bày vấn đề cho anh em công nhân. Quả nhiên sau khi thảo luận sôi nổi, anh em công nhân Xưởng Thủy tinh đã có sáng kiến xếp gạch thành khuôn và thổi được chai.

Suốt ba ngày Tết Nguyên đán, anh em thổi chai không nghỉ, và đến mùng 8 Tết, anh em thổi được 800 chai mới. Đây là một bài học mà tôi luôn luôn nhớ, nêu rõ khả năng vô tận của giai cấp công nhân. Các anh em đã thực hiện khâu cuối cùng trong công tác làm nước lọc Penicilline, một khâu mà tôi không làm được vì tôi phải ở xa và rất xa tiền tuyến để huấn luyện cán bộ và nghiên cứu thêm để cải tiến phương pháp. Nước lọc Penicilline được đưa ra phục vụ cho thương binh một cách rộng rãi với những kết quả tốt đẹp là nhờ Cục Quân y đã giúp đỡ nhiều để tổ chức các Trạm Sản xuất được nước lọc Penicilline, nhờ các đồng nghiệp ở các Phân Viện trong khi dùng nước lọc Penicilline đã tận tình theo dõi thương bệnh binh, nhận xét tỷ mỷ kết quả của nước lọc Penicilline trên các loại vết thương. Nhưng căn bản là nhờ sự tận tâm phục vụ của anh em y tá phụ trách sản xuất nước lọc Penicilline. Có anh đã có sáng kiến viết những tài liệu nhỏ để phổ biến công hiệu và cách sử dụng nước lọc Penicilline để phối hợp với các y sĩ đem ra phổ biến cho đơn vị, có anh đã đào tạo ngay tại chỗ cho anh em y tá khác để nhân thêm nhiều những Trạm Sản xuất nước lọc Penicilline.

P tong hop

Nước lọc Penicilline đã đem lại những kết quả rất tốt đẹp, giúp ta giải quyết khó khăn về khan hiếm thuốc trong lúc biên giới chưa mở rộng và trong lúc địch tăng cường bao vây ta, đặc biệt bao vây về phương diện thuốc men. Có bác sĩ quân y đã tuyên bố: “Lần này chúng tôi không lo sợ về số thương binh đưa về nhiều, vì chúng tôi đã có nước lọc Penicilline thừa dùng để chữa cho thương binh”. Các Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp, Hữu Chánh nhận thấy nước lọc Penicilline so với Sulfamide thì công hiệu hơn hẳn. Trong Chiến dịch Lý Thường Kiệt ở Nghĩa Lộ và Yên Bái, báo cáo của xưởng XFI cho rằng 80% thương binh đã trở về đơn vị sau khi dùng nước lọc Penicilline. Những vết thương trước phải điều trị lâu, ngày nay thời gian điều trị rút ngắn hơn. Có nhiều trường hợp so với trước thì rất dễ phải cưa tay, cưa chân; nhưng dùng nước lọc Penicilline không những vết thương lành liền mà còn làm cho thương bệnh binh chóng khỏi …

Mới đó mà đã 45 năm (1/4/1967 – 1/4/2012), kể từ ngày Cố Giáo sư Bác sĩ Đặng Văn Ngữ cùng một số anh chị em đồng nghiệp đã khác hy sinh trên chiến trường Thừa Thiên Huế tại chiến khu Hòa Mỹ, nay thuộc xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền khi đang ôm ấp hoài bão nghiên cứu vaccine chống sốt rét. Giáo sư đã ra đi nhưng sự nghiệp của Giáo sư vẫn còn sống mãi trong chúng ta, những người đang kế tục xuất sắc sự nghiệp phòng chống sốt rét hiện nay.

Theo Trang tin điện tử Viện sốt rét ký sinh trùng – Côn trùng Quy nhơn.

Phương Thúy (st)
bqllang.gov.vn

Tổ chức đặt đá quý trang trí khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thực hiện Quyết định số 2341/QĐ-TTg ngày 22/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án: “Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới”. Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đang triển khai thực hiện trang trí cảnh quan khu vực Lăng Bác để phục vụ đồng bào và khách quốc tế đến viếng Bác, tham quan khu vực Lăng.

Được sự nhất trí của Thường vụ Tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, ngày 19/7/2011, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp nhận 3 khối đá quý do Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An tặng. Sau một thời gian chế tác, ngày 20/10/2012, Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng Khoa học, Công nghệ và Môi trường cùng với các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng đã tổ chức trang trí 3 khối đá trên tại khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh theo kế hoạch, bảo đảm tuyệt đối an toàn.

Việc trao tặng ba khối đá quý trên để trang trí khu vực Lăng đã thể hiện tình cảm và lòng biết ơn vô hạn của Đảng bộ, nhân dân tỉnh Nghệ An đối với Bác Hồ kính yêu, vị Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh.

1Cẩu và đặt đá tại vườn số 8

2Xe nâng chuyển đặt đá tại Nhà khách quốc tế

4Các khối đá quý sau khi được đặt tại vườn số 1 và vườn số 8
Khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đỗ Long Văn
bqllang.gov.vn

Pa Pa Hồ với Chậu Xu-pha-nu-vông: Câu chuyện vượt thế kỷ…

Những năm 60 của Thế kỷ 20, tôi công tác tại Đại sứ quán Việt Nam ở Mát-xcơ-va, may mắn được ít lần đưa đón Hoàng thân Xu-pha-nu-vông. Sau này ông Vũ Kỳ kể thêm nhiều chuyện, chúng tôi rút ra nhận định: Từng lời nói, việc làm của Bác Hồ đều là những bài học, lời răn dạy quí báu cho các thế hệ con cháu Việt Nam trong quan hệ Việt-Lào.

Bác Hồ đoàn kết Việt – Lào – Cam-pu-chia

Bác Hồ không chỉ lo cho độc lập, thống nhất đất nước và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới mà Người còn quan tâm đặc biệt tới khối đại đoàn kết ba nước Việt – Lào – Cam-pu-chia. Người không tán thành ý tưởng thành lập “Liên bang Đông Dương” chắc hẳn chỉ với tư tưởng chủ đạo: Tôn trọng quyền độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia dân tộc, chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa nước lớn. Người chủ trương đặt tên Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ năm 1930. Năm 1951 tại Đại hội II, chủ trương đổi tên Đảng Lao động Việt Nam và đề xuất hai nước Cam-pu-chia, Lào thành lập đảng riêng ở mỗi nước của Bác được đại diện hai nước anh em rất hoan nghênh. Chính Sta-lin và Mao Trạch Đông được Bác thông báo tháng 1-1950 cũng rất tán đồng sáng kiến này.

Hiện nay còn lưu giữ trong kho tư liệu của Trung ương biên bản viết tay lời giải thích thêm của Bác, đại ý, lúc này – năm 1951, mà nói đến giai cấp vô sản chuyên chính, lập chính quyền Xô Viết v.v.. ở Miên (Cam-pu-chia), Lào là chống lại chủ nghĩa Mác(1). Được biết, chính Hoàng thân Xu-pha-nu-vông (Chậu Xu-pha – tên gọi thân mật trong Hoàng cung) cũng rất tán thành với Bác Hồ rằng Hoàng thân “chưa vội” vào Đảng thì có lợi hơn cho cách mạng.

Sau Đại hội II “giải thể” Đảng Cộng sản Đông Dương để thành lập đảng riêng ở 3 nước, đã tiến hành Hội nghị liên minh để thành lập khối liên minh chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương(2) Chậu Xu-pha là đồng Chủ tịch của Khối.

pa pa 1Bác Hồ với gia đình Hoàng thân Xu-pha-nu-vông. Ảnh tư liệu.

Ông Vũ Kỳ giải thích, sự kiện lịch sử chứng tỏ Bác Hồ từ khi còn là anh thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã có tầm nhìn xuyên thấu ba nước Đông Dương phải dựa vào nhau mới tránh được “mũi dao thọc sườn” của kẻ thù từ bên ngoài trong mưu thâm “chia để trị” của đủ loại ngoại xâm. Rõ nhất là từ năm 1928 Người về Thái Lan đã qua Lào “một công đôi việc”: Tổ chức hoạt động yêu nước trong Việt Kiều, đồng thời qua đây, tìm hiểu, gây mầm trong các dân tộc Lào, đặc biệt trong dòng tộc của Phó vương Bun Khoống qua nhiều đời đều có tư tưởng chống ngoại bang xâm lược.

Năm 1941 về nước, Bác chỉ thị “bắt mối” gây dựng cơ sở yêu nước cách mạng trong các bộ tộc Lào. Từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, với tư cách đại biểu dự Hội nghị Trung ương VIII tại Pác Bó, Cao Bằng, Người chỉ đạo hội nghị thông qua Nghị quyết khẳng định: Nhật, Pháp ngày nay không phải chỉ là kẻ thủ của công nông mà là kẻ thù của cả các dân tộc Đông Dương. Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương thoát khỏi ách của giặc Pháp Nhật… (3)

Việt Minh bí mật bảo vệ ông Hoàng

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, kỹ sư Chậu Xu-pha đang trông coi thi công cầu Yên Xuân – Nghệ An. Chủ tịch Ủy ban hành chính Đà Nẵng Lê Văn Hiến nhận lệnh bổ sung vào Đoàn đại diện Chính phủ dự lễ thoái vị của vua Bảo Đại, sau đó đón ông ta ra Hà Nội và qua Vinh thì mời ông bà Hoàng thân cùng đi chuyến xe. Dọc đường xe ông bà bị hỏng, được mời sang xe Bảo Đại. Bà Hoàng không muốn ngồi cùng xe với ông vua bị hạ bệ đầy tai tiếng, nên đề nghị ở lại sửa xe, ra sau, nhưng mặt khác, lại lo cho ông Hoàng ra Hà Nội sẽ ăn, ở đâu, Chính phủ Cụ Hồ đối đãi thế nào…?

Bà nóng lòng tìm gặp cho được chồng mình. Người cần vụ lễ phép dẫn bà vào Dinh Khâm sai, qua vài phòng cửa đóng then cài vắng teo, bà càng nghi ngại, nóng ruột. Một anh khác vội chạy tới báo: Hoàng thân đang dùng bữa dưới bếp – bà Hoàng càng chẳng hiểu ra làm sao, vội bước theo xuống… bếp. Tới cửa bà sững lại: Đúng là Chậu Xu-pha cùng Cụ Hồ y chang trong ảnh – đang ăn cơm vui vẻ. Hai vị buông đũa bát. Cụ Chủ tịch nhanh nhẹn đứng lên đỡ bà tới ngồi cạnh ông: Cô ăn cơm luôn! Bà chưa kịp định thần, dạ, dạ như một cái máy…

Theo lệnh Chủ tịch, một đĩa ruốc được bưng ra. Cụ nói: “Món đặc sản này đồng bào Hà Nội vừa cho tôi, chúng tôi đã dùng, cô ăn nhiều đi cho hồi sức mấy ngày đi đường mệt…”. Nghe lời Cụ Chủ tịch chân tình, giản dị quá, cổ bà cứ nghẹn lại, cố giữ cho nước mắt khỏi ứa ra… Anh cần vụ xới bát cơm đặt trước mặt bà. Cơm gạo đỏ rẻ tiền, muối mè, dưa chua và chút xì dầu như bữa ăn nơi cửa thiền. Vậy mà là bữa cơm ngon lành, hạnh phúc trong đời bà và chắc hẳn cả ông, chưa bao giờ cảm nhận được như thế!

papa 1Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng và Thủ tướng Vương quốc Lào
Su-va-na Phu-ma ký tuyên bố chung Việt Nam – Lào tại Hà Nội (1962).
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Xu-pha-nu-vông đứng sau chứng kiến. Ảnh tư liệu.

Cơm nước xong, Cụ Hồ chủ động mời: Để Chậu đưa cô đi nghỉ… Trên gác hai, một phòng rộng sang trọng, chiếc giường to quá cỡ còn phủ nguyên khăn trải giường phẳng phiu, trắng muốt. Trên nền sàn gỗ giữa phòng trải chiếc chiếu mộc, một gối mây dài hơn một mét. Ông Hoàng cho biết: Mấy đêm rồi, Cụ và ông ngủ chung, cùng gối cái gối này. Ông mừng quá “lộ” bí mật với bà về chuyện còn giật mình nữa kia mà không hay biết.

– Chuyện chi lạ dữ vậy mình? – bà vội hỏi

Thì ra, từ lâu, hai kẻ thù Nhật, Pháp gầm ghè tranh miếng mồi Đông Dương, ở Lào, các nhà yêu nước như anh em Hoàng thân Phết-xa-lạt, Xu-pha-nu-vông đều là mục tiêu hàng đầu trong sổ đen của chúng. Do đó, Việt Minh đã theo sát, bảo vệ anh em Hoàng thân mà người chỉ huy trực tiếp chính là Trần Đăng Khoa – bạn thân, đồng nghiệp của ông. “Và, Cụ Hồ… mình đã hay… là ai chưa? Cụ Nguyễn Ái Quốc đấy!…” Bà Hoàng thốt lên: “-Trời đất ơi! Bà con ta đồn đại không sai: Cụ Hồ là vị thánh sống, vị cứu tinh của các dân tộc Đông Dương…”.

Ông Hoàng còn nói, Cụ lo cả khả năng xấu từ phía “người… mình” tự phát trong những ngày sục sôi cách mạng nên “giấu kín” ông, ông “đâm lo”… (Hoàng thân quen dùng từ “mình” cả khi nói với chúng tôi: mỏ than Hồng Quảng của mình, cảng Tu-ran của mình v.v..)

Song, điều ông vui mừng nhất muốn khoe với bà là chỉ mới ít ngày gần Cụ mà lòng dạ, tầm nhìn ở ông đã sáng ra, đổi mới, hứa hẹn một tương lai mới cho các bộ tộc Lào và nhân dân anh em ba nước Đông Dương. Ông chưa thấy có sách báo nào, bậc vĩ nhân nào nêu được tấm gương chân thực như Cụ Hồ về lý tưởng độc lập tự do cho dân tộc, đạo đức, nhân cách lớn của con người. Ông khẳng định sẽ học tập, đi theo con đường của Cụ và đề nghị bà cùng gọi cụ là Pa Pa Hồ. Bà mừng: Sao mình nói trúng ý em thế…. Người Việt ta đã gọi “Hồ Chí Minh – vị cha già dân tộc… Người Lào cũng sẽ gọi PaPa Hồ…”.

Ba anh em phải chung lưng đấu cật

Một lần, Hoàng thân cùng dịp Thủ tướng Chu Ân Lai qua Mát-xcơ-va đi Thụy Sĩ chuẩn bị họp Hội nghị Giơ-ne-vơ về Lào, ông Chu mời Thứ trưởng Ngoại giao Liên Xô Cu-dơ-nhét-xốp (sau là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô) cùng Hoàng thân dự cơm thân mật. Đại biện lâm thời Sứ quán ta Nguyễn Hữu Ngô cũng được mời, tôi tháp tùng. Trong chuyện vui, ông Cu-dơ-nhét-xốp ví Chính phủ Lào hiện tại giống như mùa đông ba anh em đắp chung một cái chăn. Người nằm giữa – chỉ Hoàng thân trung lập Phu-ma không phải co kéo gì vẫn luôn được ấm, trong khi hai bên tả-hữu: Xu-pha-nu-vông và Hoàng thân Bun-ùm (thân phương Tây) – bên này kéo được ấm thì bên kia hở bị lạnh.

Hôm tôi dẫn Hoàng thân và nhà văn Xi-xa-nạ Xa-văn đi Ôs-tan-ki-nô thăm Triển lãm thành tựu kinh tế quốc dân Liên Xô, Hoàng thân chậm rãi nói: – Bác Hồ mình có hình tượng ba anh em tựa lưng vào nhau chống thù ngoài. Đó là Việt – Cam-pu-chia – Lào ba nước tựa vào dãy Trường Sơn… Bác nói sau Đại hội II, hôm đó có cả đại biểu Sơn Ngọc Minh của Cam-pu-chia cũng rất tán thưởng. Trong ngôn ngữ ba nước đều có câu chung ý nghĩa: “một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”- đó cũng chính là nội dung một học thuyết cơ bản của Hồ Chí Minh: Đoàn kết đại đoàn kết, thành công đại thành công.

Chuyện cho nghìn năm sau

Ông Vũ Kỳ theo dõi từ đầu đến cuối một chuyện lạ, sau đó hỏi thêm tướng Lê Chưởng tháp tùng hai vị lãnh đạo Bạn cho trọn vẹn. Ấy là vào đầu năm 1963, Hồ Chủ tịch tiếp Hoàng thân Xu-pha-nu-vông và Tổng Bí thư Đảng cách mạng Lào Cay-xỏn Phôm-vi-hản. Từ hôm trước, Bác chỉ bảo ông Vũ Kỳ chuẩn bị cho hai chiếc khăn len quàng cổ, không nói để làm gì.

Khách vừa an tọa, chủ thân mật hỏi: Ở Lào không rét như bên này thì phải. Sang đây các đồng chí có rét lắm không? Sao các đồng chí không quàng khăn cổ cho ấm?

– Dạ thưa, khi sang Hà Nội thì trời chưa trở gió mùa Đông Bắc ạ!

– Thế thì rét lắm! Có khăn quàng cổ đấy! Nói đoạn, Bác đứng lên vào phía trong lấy ra hai chiếc khăn mới, chậm rãi đặt xuống bàn, rồi cởi chiếc khăn đang quàng cổ ra, nói:

– Đồng chí Xu-pha-nu-vông và tôi tuổi cao, già cả nên hai chiếc khăn mới này dành cho chúng tôi mỗi người một cái. Người trao tay một chiếc cho Hoàng thân, một chiếc tự quàng cổ, rồi cầm chiếc khăn cũ đi lại bên phía đồng chí Cay-xỏn, nói: – Đồng chí Cay-xỏn, Bác trao lại chiếc khăn này của Bác cho đồng chí!

Có lẽ trong cuộc tiếp kiến còn nhiều chuyện, tới khi ngồi trong xe trên đường về, hai vị khách mới hồi tưởng không thể vô tình về 3 chiếc khăn. Hoàng thân bỗng quay sang đồng chí Bảy Cay – xỏn nói to:

– Chà, Bác Hồ với tôi, hai người già hai khăn mới…

– Còn tôi, tôi được “kế thừa” khăn Bác Hồ…

Không hiểu sao chỉ nói được đến đó, Tổng Bí thư Đảng anh em bỗng im lặng, trầm ngẫm suy nghĩ, hẳn là về hai chữ KẾ THỪA…

——————–

(1) GS. Trịnh Nhu. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Kỷ niệm 60 năm Đại hội II của Đảng. Tháng 2/2011 tại Kim Bình, Chiêm Hóa, Tuyên Quang.

(2) Hồ Chí Minh toàn tập. T.6. Trang 186. NXB CTQG. 2006.

(3) Văn kiện Đảng 1930 – 1945. Tập 3. Trang 195-196.

Trịnh Tố Long
Theo http://www.qdnd.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Tình cảm Bác Hồ dành cho phụ nữ Việt Nam

“Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta
trẻ cũng như già, ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”
– Hồ Chí Minh

Bác hồ với đại biểu phụ nữ dân tộc ít ngườiBác Hồ và đại biểu phụ nữ dân tộc ít người
tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ III, tháng 3 năm 1961
.

Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ vĩ đại, một con người tiêu biểu cho lòng yêu nước, yêu thương con người. Người có một tấm lòng yêu thương rộng mở với tất cả lớp người cùng khổ trên thế gian. Trong đó người đặc biệt dành tình cảm sâu nặng nghĩa tình, nâng niu quý trọng cho trẻ em và phụ nữ. Người cho đó là lớp người khổ nhất trong những người khổ cực.

Ngay từ khi bôn ba nơi đất khách quê người, tìm đường cứu nước, Bác của chúng ta cũng luôn quan tâm đến sự khổ cực, bất công mà phụ nữ ở các nước thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng phải chịu đựng. Trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” Người đã thẳng thắn lên án bọn cai trị đã đối xử hết sức bất công tàn bạo với phụ nữ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định rằng: “Nói phụ nữ là nói phần nửa xã hội”. Và không chỉ đánh giá đúng vai trò, vị trí của người phụ nữ trong xã hội, trong quá trình đấu tranh giành độc lập, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Bác Hồ luôn là nguồn động viên, cổ vũ cho phụ nữ Việt Nam phấn đấu vươn lên, khẳng định vị thế và những đóng góp của mình cho xã hội.

Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với con đường cứu nước của Lênin vĩ đại. Từ bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga, ý thức sâu sắc rằng, cứu nước là công việc chung của tất cả mọi người, hơn ai hết, Bác Hồ hiểu và đồng cảm với thân phận của người phụ nữ Việt Nam, để từ đó đánh giá đúng về họ, tin vào họ. Là người Việt Nam đầu tiên đặt nhiệm vụ giải phóng phụ nữ trong nhiệm vụ giải phóng dân tộc, Người khẳng định: Phụ nữ là một lực lượng hùng hậu trong sự nghiệp cách mạng qua mọi thời đại. Người coi sự nghiệp giải phóng phụ nữ cũng là một mục tiêu của cách mạng. Theo Người, sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ có ý nghĩa thực sự khi giải phóng được phụ nữ, bởi vì: “Phụ nữ chiếm một nửa nhân loại, nói đến phụ nữ là nói đến một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng xã hội chủ nghĩa chỉ một nửa”.

Quan điểm nam nữ bình quyền của Bác được xác định ngay trong bản Cương lĩnh đầu tiên của Đảng và mục tiêu này cũng được Người đưa vào chương trình hoạt động của Việt Minh năm 1941… Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Bác cũng khẳng định với toàn thể đồng bào và tất cả bạn bè thế giới về quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam với nam giới. Trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa chị em phụ nữ Việt Nam cũng được xếp ngang hàng với nam giới không phân biệt trong việc ứng cử cũng như bầu cử. Ngày 20 tháng 10 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam để tập hợp phụ nữ Việt Nam thành một khối thống nhất.

Suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Người luôn đề cao vai trò của phụ nữ. Trong diễn ca “Lịch sử nước ta” Bác đã khẳng định:

“Phụ nữ ta chẳng tầm thường
Đánh đông dẹp Bắc lắm gương để đời”

Và vì thế Người luôn tự hào rằng “Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng… Phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng”, cả trong kháng chiến chống Pháp. Rồi chống Mỹ “ta cũng có nhiều anh hùng là phụ nữ”. Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, với những đóng góp to lớn của họ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Từ trước đến nay phụ nữ Việt Nam ta đã có nhiều đóng góp cho cách mạng, phụ nữ ta rất đáng kính, phụ nữ ta đã có rất nhiều tiến bộ”. Tuy nhiên, hiểu rất rõ rằng cuộc cách mạng giải phóng phụ nữ không thể kết thúc một sớm, một chiều được, một mặt động viên chị em tự mình khắc phục khó khăn, cố gắng phấn đấu, mặt khác Người cũng “mong phụ nữ tiến bộ nhiều hơn nữa”. Bởi theo Người, muốn giải phóng phụ nữ, muốn biến sự bình đẳng nam nữ thành hiện thực sinh động trong cuộc sống thường ngày, thì phải có sự tiến bộ về nhiều mặt: Kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội…Đấu tranh để giải phóng phụ nữ thực sự là một cuộc đấu tranh to và khó, vì “trọng trai, khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại, vì nó đã ăn sâu trong đầu mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội”. Khó nhưng không có nghĩa là không thể thực hiện được, và từ trong thực tiễn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, phụ nữ Việt Nam đã ngày mỗi ngày một tiến bộ. Họ đã tỏ rõ vai trò người chủ, “xứng đáng mình là một phần tử trong nước Việt Nam mới”.

Đáp lại tấm chân tình của Bác giành cho phụ nữ Việt Nam, các thế hệ phụ nữ Việt Nam ta đã góp phần làm nên những chiến công hiển hách, xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ trao tặng: Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đangTrong thời chiến, chị em không hề thua kém cánh nam giới mà tham gia kháng chiến chống giặc cứu nước mạnh mẽ hơn, hiên ngang hơn, với hừng hục khí thế, sẳn sàng chống lại mọi bom đạn, ngục tù của quân thù… để kháng chiến thành công giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Hòa bình lập lại tất cả phụ nữ Việt Nam lại cùng chung vai, chung sức với nam giới để bắt tay vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta ngày càng giàu đẹp hơn, văn minh hơn.

Ngày 20 tháng 10 hàng năm là dịp để tôn vinh phụ nữ Việt Nam cũng là cơ hội để chị em tỏ lòng biết ơn với Bác kính yêu, cũng như nhìn lại những chặng đường lịch sử đã qua của dân tộc để cảm thấy tự hào về những gì mà phụ nữ Việt Nam đã làm. Đó là những tấm gương anh hùng lao động, những chiến sỹ thi đua, những tấm huân chương, những giải thưởng khoa học là bằng chứng ghi nhận công lao đóng góp của chị em phụ nữ, dấu ấn ghi đậm truyền thống phụ nữ Việt Nam giỏi việc nước, đảm việc nhà. Để từ đó nhận thức được vai trò trách nhiệm của mình, không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ chính trị, năng lực chuyên môn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Chứng minh rằng phụ nữ Việt Nam không chỉ là người mẹ hiền đảm đang giữ gìn hạnh phúc gia đình, mà còn là những nhà khoa học, những vị lãnh đạo tài năng có những cương vị cao trong các cơ quan Đảng và Nhà nước từ cơ sở đến Trung ương, xứng đáng với sự quan tâm và tin tưởng của Bác Hồ kính yêu./.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Người phụ nữ đặc biệt và bữa cơm với Hồ Chủ tịch

Mái tóc dài buông xõa, đôi hàng lông mày cong cong, khóe miệng tươi ghi dấu một thời xuân sắc, gặp bà Trương Thị Khuê ít ai có thể nghĩ trong cái thời “ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam” người phụ nữ ấy kiên gan cầm súng canh giữ từng tấc đất Vĩnh Linh. Bà đã cùng đồng đội sáu lần bắn rơi máy bay địch, ba lần vinh dự gặp mặt Bác Hồ…

Bắn rơi 6 máy bay địch

Nơi đầu sóng ngọn gió của thời kỳ chống Mỹ, năm 1945, Trương Thị Khuê sinh ra trong một gia đình nông dân xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Mảnh đất khói lửa ấy đã sớm được hun đúc nên một cá tính mạnh mẽ và quả cảm.

Mới lên chín tuổi thì mẹ mất, tới 18 tuổi bố bị bom Mỹ giết hại, hoàn cảnh gia đình đã rèn cho cô bé Khuê tính tự lập, đảm đang, không chỉ trong gia đình mà ở các hoạt động của cộng đồng như phụ trách đội thiếu nhi, đội du kích…

Năm 1965, ở tuổi 20, Trương Thị Khuê đã trở thành Xã đội phó kiêm Trung đội trưởng pháo 12 ly 7 xã Vĩnh Thủy, khu vực Vĩnh Linh. Trong thời gian này bà đã cùng đơn vị dũng cảm, tích cực tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Bà cùng đồng đội từng bắn rơi sáu chiếc máy bay địch, bắt giữ hàng chục lính Ngụy. Tuy nhiên khi nói về những thành tích này, bà chỉ khiêm tốn nói “của đơn vị đấy, chứ tôi có làm được gì đâu.”

Bởi bà tâm niệm giản dị rằng: “Đừng ai nói với tôi là sao bà lại có thể như thế này, như thế kia. Không phải là người phụ nữ Việt Nam thích chiến đấu đâu. Đơn giản là vì Mỹ mang quân đến Việt Nam xâm lược nên mình phải đánh trả lại thôi.”

Với những thành tích trong chiến đấu, bà Trương Thị Khuê đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và Huy hiệu Bác Hồ. Đặc biệt, tháng 8 năm 1968, dân quân xã Vĩnh Thủy đã được tuyên dương đơn vị Anh hùng, bản thân bà cũng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất và được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang.

Và bữa trưa với Bác…

Tuy nhiên, khi được hỏi trong chặng đường chiến đấu và kiên trung bảo vệ Tổ quốc phần thưởng cao quý nhất với bà là gì, bà Khuê nói, đó là những  lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, được ăn cơm cùng Bác, được kể chuyện chiến đấu cho Bác nghe, được hát phục vụ Bác.

“Tôi không bao giờ có thể quên, bây giờ những hình ảnh ấy vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi. Bác kể chuyện, đem kẹo cho chúng tôi ăn. Nhưng cảm động nhất là bữa cơm được ăn cùng Bác có đĩa cá tre mà trong tôi gọi là cá hẹ kho, đĩa gà luộc, đĩa rau muống luộc, cà muối. Bữa trưa có thế thôi nhưng ấm áp vô cùng,” bà Khuê bồi hồi nhớ lại.

Nhắc đến đây bà Khuê rưng rưng nói: “Cảm động nhất là Bác tự tay chia phần cơm cho chúng tôi khiến chúng tôi nghẹn ngào không ăn được. Vì nghĩ hoàn cảnh mình là trẻ mồ côi không có ai chăm sóc, nhìn Bác gần gũi và giản dị giống như ông nội, ông ngoại của mình thôi, chứ không giống một vị Chủ tịch nước.”

Cũng trong năm đó, bà Khuê được Bác Hồ cho phép ở lại Hà Nội học tập phục vụ xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Nhưng với tình yêu quê hương mãnh liệt, cùng mong muốn được kề vai sát cánh cùng đồng đội bảo vệ mảnh đất Vĩnh Linh khói lửa, bà lại trở về phục vụ kháng chiến. Chỉ đến khi hòa bình lập lại, bà mới rời tay súng tham gia công tác Hội Phụ nữ địa phương.

Hai lần được gặp Bác Hồ sau đó đều trở thành những dấu ấn, để lại nhiều bài học về lối sống cũng như nhân cách cao đẹp của vị lãnh tụ đáng kính và có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời bà Trương Thị Khuê.

Năm 1997, bà được tín nhiệm bầu là ủy viên Đảng đoàn – Phó Chủ tịch rồi đến Phó Chủ tịch thường trực, Phó Bí thư Đảng đoàn Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, nhiều năm liền bà là Đại biểu Quốc hội.

Trong gần 30 năm làm công tác Hội Phụ nữ, bà luôn tâm huyết và có trách nhiệm trước các phong trào của Hội. Bà trăn trở về thực trạng đời sống kinh tế, văn hóa của phụ nữ vùng sâu, vùng xa, những vấn đề còn bức xúc về lao động nữ trong các khu công nghiệp, sự bất bình đẳng giới diễn ra ở nhiều nơi.

Bởi trong mắt bà, vị thế của người phụ nữ cũng cần được củng cố và nâng cao trong cả gia đình và xã hội. Bà trở thành tấm gương sáng cho các cán bộ phụ nữ của cả nước và ngay tại quê hương mình.

Đến nay, khi đã bước vào tuổi “thất thập cổ lai hy,” cái tuổi lẽ ra đã được an nhàn vui vầy cùng con cháu thì bà Khuê vẫn cần mẫn tham gia các công tác xã hội địa phương. Bà tâm niệm “mình từng là cán bộ, phải gương mẫu chứ.”./.

Theo Xuân Mai (Vietnam+)
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 3)

Nói về người cách mạng và Đảng cách mạng, nhà đại văn hào Trung Quốc là ông Lỗ Tấn có câu thơ:

“Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ, Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu”.

Xin tạm dịch là:

“Trợn mắt xem khinh nghìn lực sĩ,

Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”.

“Nghìn lực sĩ” có nghĩa là những kẻ địch mạnh, thí dụ: Lũ thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ. Cũng có nghĩa là những sự khó khăn gian khổ.

“Các nhi đồng” nghĩa là quần chúng nhân dân hiền lành, đông đảo. Cũng có nghĩa là những công việc ích quốc, lợi dân.

Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”.

“Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam”, 3/3/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.184-185).

“…người đảng viên, dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp – ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng.

Mỗi đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành. Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo.

Mà muốn cho quần chúng nghe lời mình, làm theo mình, thì người đảng viên, từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu. Thế là làm cho dân tin Đảng, phục Đảng, yêu Đảng và làm theo chính sách của Đảng và của Chính phủ.

Đảng viên nào không được dân tin, dân phục, dân yêu thì chưa xứng đáng là một người đảng viên của Đảng Lao động Việt Nam.

Vì vậy, mỗi đảng viên phải luôn luôn cố gắng”.

(“Người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam phải thế nào?”, 25/3/1951, Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.189-190).

“Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân. Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân. Mỗi quân nhân phải là một cán bộ tuyên truyền bằng việc làm của quân đội. Trong mấy chiến dịch vừa qua, nói chung bộ đội ta đã biết giúp đỡ dân, thương yêu dân. Nhưng cũng còn có chú dọa nạt dân, mượn của dân không trả, mua rẻ của dân. Phải sửa chữa những khuyết điểm ấy. Dân như nước, quân như cá. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc”.

(“Bài nói tại Hội nghị kiểm thảo chiến dịch đường số 18”, 04/5/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.207).

“Cách mạng cũng như một bộ máy, phải có phân công, người làm việc này, người làm việc khác nhưng việc nào cũng cần thiết, cũng quan trọng. Thí dụ trong một cái đồng hồ, những cái kim thì chạy suốt ngày đêm, những chữ số thì suốt đời đứng một chỗ. Nếu những chữ số cũng muốn chạy như cái kim, hay là cái kim cũng muốn đứng lại như chữ số thì không thành cái đồng hồ nữa”.

(“Thư gửi lớp cán bộ cung cấp”, 02/9/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.296).

“Có người cho đạo đức cũ và đạo đức mới không có gì khác nhau. Nói như vậy là lầm to. Đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều.

Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngẩng lên trời. Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân”.

 (“Bài nói chuyện tại Trường Chính trị trung cấp quân đội”, 25/10/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.320-321).

“Để thực hiện chính sách, làm trọn nhiệm vụ, cán bộ chẳng những phải chịu khó giải thích, tuyên truyền, cổ động mà còn phải bàn bạc với quần chúng, hỏi han ý kiến, gom góp sáng kiến của quần chúng. Lãnh đạo quần chúng và hoan nghênh quần chúng phê bình…Tóm lại, phải đi đúng đường lối quần chúng. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, đối với Chính phủ, đối với nhân dân.

Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm”.

(“Tinh thần trách nhiệm”, 13/12/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.346).

“Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân. Đánh giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, quân đội ta không có lợi ích nào khác.

Quân đội ta biết rằng: Cơm quân đội ăn, áo quân đội mặc, vũ khí quân đội dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân tăng gia sản xuất, đóng thuế nông nghiệp mà có. Nhân dân thức khuya dậy sớm, ăn gió nằm sương, để đắp đường sửa cầu cho bộ đội đi. Nhân dân không quản trèo đèo lội suối, không quản khó nhọc gian lao, để chuyên chở súng đạn cho bộ đội đánh giặc. Tóm lại, quân đội sinh trưởng, thắng lợi, là nhờ nhân dân ra sức giúp đỡ. Vì thế, bộ đội rất biết ơn và yêu mến nhân dân.

Về phía nhân dân thì ai cũng biết rằng: Có quân đội đánh giặc và giữ làng giữ nước, mình mới được yên ổn làm ăn, Tổ quốc mới được thống nhất, độc lập. Trong công cuộc kháng chiến cứu nước, nhân dân hy sinh là hy sinh một phần của cải và thời giờ. Của cải hết, có thể lại làm ra; thời giờ qua, thời giờ lại đến. Nhưng bộ đội hy sinh là hy sinh xương máu, có khi hy sinh cả tính mệnh. Cụt chân, gẫy tay, chân tay không thể mọc lại; người chết không thể sống lại. Đó là một sự hy sinh tuyệt đối. Đồng bào biết rằng: Các chiến sỹ trong bộ đội ai cũng có cha mẹ anh em, ai cũng có gia đình thân thích. Nhưng họ đã không ngại rời cha mẹ, xa quê hương, ra xông pha bom đạn, để phụng sự đại gia đình dân tộc gồm cả gia đình của mỗi đồng bào. Do đó nhân dân rất biết ơn và yêu mến bộ đội”.

(“Tình đoàn kết quân dân ngày thêm bền chặt”, 3/3/1952, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.426-427).

“Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là nhân công làm đày tớ cho dân.

Đó là vinh dự cao nhất. Nếu có thành tích gì thì Chủ tịch và người nấu cơm phải chia nhau cái vinh dự ấy. Tóm lại không có việc sang, hèn. Công việc gì làm tròn, bổ ích cho kháng chiến, cho nhân dân đều là công việc sang, công việc gì bên ngoài có vẻ loè loẹt mà không làm tròn là công việc xấu”.

(“Bài nói tại Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất”, tháng 6 năm 1952, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.515).

“Quần chúng rất nhiều sáng kiến, họ hiểu biết rất mau, nhất là những cái thuộc về quyền lợi của họ. Cán bộ phải tìm hiểu quần chúng, phải học hỏi quần chúng để lãnh đạo quần chúng. Cán bộ phải kiên nhẫn, quyết tâm, phải chí công vô tư. Nếu tự tư, tự lợi, lập trường không vững, tư tưởng không thông, thì tài giỏi gì cũng vô dụng, vì quần chúng rất thông minh. Ai ra sức phục vụ, ai tự tư, tự lợi, họ biết ngay, không giấu được họ”.

(“Bài nói tại Hội nghị nông vận và dân vận toàn quốc”, 5/2/1953, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.7, tr.28).

“Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành tận tuỵ của nhân dân”.

(“Lời kêu gọi nhân dân Ngày Thủ đô giải phóng”, 10/10/1954, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.7, tr.361-362).

“Chủ nghĩa xã hội là cái gì? Là mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do. Nhưng nếu muốn tách riêng một mình mà ngồi ăn no, mặc ấm, người khác mặc kệ, thế là không tốt. Mình muốn ăn no, mặc ấm, cũng cần làm sao cho tất cả mọi người được ăn no mặc ấm, như thế mới đúng. Muốn như vậy, phải ra sức công tác, ra sức lao động sản xuất.

Tiền đồ của mỗi người nằm trong tiền đồ chung của dân tộc”.

(“Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục”, tháng 6 năm 1957, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.8, tr.396).

…Đảng viên và cán bộ ta nói chung là trung thành, tận tụy, hăng hái. Nhưng một số đảng viên và cán bộ còn có bệnh công thần, suy tị, ỷ lại, tiêu cực không gương mẫu, đầy rẫy chủ nghĩa cá nhân.

Từ nay về sau, tất cả các đảng viên, cán bộ và chi bộ phải thường thường ôn lại, tự liên hệ và giữ đúng những tiêu chuẩn của người đảng viên:

1. Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

2. Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa những tư tưởng sai lầm. Kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong chân ngoài.

3. Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Biết đem lợi riêng, lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng.

4. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và kỷ luật của Đảng.

5. Liên hệ chặt chẽ với quần chúng.

6. Luôn luôn cố gắng học tập, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình.

Phải giữ đúng những tiêu chuẩn đó mới xứng đáng là người đảng viên”.

(Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ Kiến An”, 18/1/1960, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.10, tr. 33-34).

Phải thấu suốt chính sách của Đảng và Chính phủ. Phải đi đúng đường lối quần chúng.

Phải thật sự gần gũi nhân dân, lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của nhân dân, học hỏi kinh nghiệm của nhân dân.

Phải biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của quần chúng.

Phải thiết thực quan tâm đến đời sống của nhân dân.

Phải cần, kiệm, liêm, chính. Phải gương mẫu. Phải có tinh thần trách nhiệm cao độ.

Phải chống quan liêu, mệnh lệnh, hình thức. Chống tham ô lãng phí.

Phải làm đúng những điều đó mới xứng là người đày tớ trung thành của nhân dân, người cán bộ tốt của Đảng và Chính phủ”.

(Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ Kiến An”, 18/1/1960, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.10, tr. 36).

“Những người được cử vào Quốc hội khóa II sẽ luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đày tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội”.

(Lời phát biểu tại Đại hội nhân dân Thủ đô chào mừng các vị ứng cử đại biểu Quốc hộitại Hà Nội ra mắt cử tri”, 14/4/1960, Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.10, tr. 132).

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn


>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 2)

Những “lát cắt” đặc biệt về giải phóng phụ nữ trong tư tưởng Hồ Chí Minh

“Nói đến phụ nữ là nói đến một nửa xã hội. Vậy nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người, nếu phụ nữ chưa được giải phóng, thì xã hội chưa được giải phóng, nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”. Đó là câu nói có tầm ảnh hưởng lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nữ giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ vai trò to lớn và tầm quan trọng của nữ giới trong đời sống xã hội. Dù ở bất kỳ thời đại nào hay một xã hội nào đi nữa, thì trong đấu tranh giải phóng đân tộc, không thể không giải phóng phụ nữ!

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu nữ tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, tháng 9-1960.
Ảnh tư liệu

Quan điểm giải phóng phụ nữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề giải phóng phụ nữ. Người từng nói: “Có người nghĩ rằng Bác không có gia đình, chắc không hiểu gì mấy về vấn đề này. Bác tuy không có gia đình riêng, nhưng Bác có một đại gia đình rất lớn, đó là giai cấp công nhân trên toàn thế giới, là nhân dân Việt Nam. Từ gia đình lớn đó, Bác có thể suy đoán được gia đình nhỏ… Muốn sản xuất nhiều thì phải có nhiều sức lao động. Muốn có nhiều sức lao động thì phải giải phóng sức lao động của phụ nữ…”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ có giá trị nhân văn to lớn và triết lý nhân sinh cao cả. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người đặc biệt quan tâm tới phụ nữ. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng giải phóng con người, trong đó, theo Người không thể không giải phóng phụ nữ, không giải phóng một phần nửa xã hội, thì không thể xây dựng và đi lên chủ nghĩa xã hội. Người nói: “Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ đã trở thành cán bộ chuyên môn các ngành và cán bộ lãnh đạo… Theo gương các bà, các mẹ và các chị anh hùng, nhiều cháu thiếu niên nhi đồng gái cũng rất ngoan… Như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam ta thật là anh hùng…”.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, trên khắp mọi miền của đất nước Việt Nam, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam khắc lên 8 chữ Vàng “Anh hùng – Bất khuất – Trung hậu – Đảm đang”, trở thành những “Tượng đài bằng đá” khắc ghi vào ký ức của mỗi người dân Đất Việt. Tượng đài đó đã được tự do, thoát khỏi xiềng xích và áp bức bóc lột, thoát khỏi sự bất bình đẳng, chế độ hà khắc của phong kiến và sự đàn áp của thực dân… Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc, hàng triệu người phụ nữ nước Nam giỏi việc nước, đảm việc nhà, đã đứng lên giành chính quyền và đòi độc lập tự do cho dân tộc. Tại Lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ngày 19-10-1966, Người nêu giá trị truyền thống yêu nước của người phụ nữ Việt Nam: “Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu dân cho đến ngày nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc”.

Với Người, vai trò của người phụ nữ là rất quan trọng, dù họ là người nông dân hay họ là nhà tri thức, khoa học, kỹ sư…, đều bình đẳng như nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống; dù công việc nặng hay nhẹ, người phụ nữ đều là chiến sĩ trên mọi mặt trận. Người nói: “Trong hàng ngũ vẻ vang những anh hùng quân đội, anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến đều có phụ nữ. Phụ nữ tham gia ngày càng đông và càng đắc lực trong các ngành kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Thế là dưới chế độ tốt đẹp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phụ nữ đã thật sự làm chủ nước nhà”.

Bác Hồ với đại biểu phụ nữ vùng cao. Ảnh tư liệu

Bên cạnh những tuyên dương, Người lại luôn yêu cầu và nhắc nhở chị em phụ nữ cần chú trọng: “Mỗi một người và tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng xã hội chủ nghĩa. Muốn làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ phải xóa bỏ tâm lý tự ti và ỷ lại, phải có ý chí tự cường tự lập, phải nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật”. Người đã thấy rõ phụ nữ là một lực lượng căn bản, một nhân tố phát triển của xã hội, việc giải phóng phụ nữ phải trên cả 2 lĩnh vực hoạt động sản xuất xã hội và trong hôn nhân gia đình, cần phải gắn nhiệm vụ với quyền lợi của người phụ nữ, phải bồi dưỡng, đào tạo chuyên môn, nâng cao trình độ kiến thức cho phụ nữ, cất nhắc, đề bạt họ vào các chức vụ quản lý kinh tế và xã hội….

Với phụ nữ, Người đã dành trọn vẹn tình cảm cho họ. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người đã căn dặn toàn Đảng, toàn dân: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”. Người phụ nữ trong gia đình luôn được coi trọng. Họ là nhân tố chính gây dựng tổ ấm hạnh phúc gia đình – tế báo của xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội. Xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội là phải chú ý đến hạt nhân cho tốt…”.

Phụ nữ Việt Nam giữ một vai trò, vị trí quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước, Họ có một thiên chức mà không ai có thể thay thế được. Chính vì lẽ đó, giải phóng và phát triển toàn diện phụ nữ là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng như giai đoạn hội nhập và phát triển hiện nay. Từ những quan điểm nêu trên, nội dung tư tưởng của Người về phụ nữ có thể phân tích hai lát cắt như sau:

Một là, giải phóng phụ nữ phải gắn liền với giải phóng dân tộc. Muốn giải phóng phụ nữ, theo Người, phải giải quyết ba mặt trong một vấn đề:

Thứ nhất, giải phóng về chính trị: Giải phóng phụ nữ là một bộ phận của giải phóng dân tộc. Giải phóng dân tộc là tiền đề để giải phóng phụ nữ. Giải phóng được phụ nữ là đã giải phóng được một nửa hệ thống chính trị. Dân tộc được giải phóng, chính quyền được giải phóng, thì phụ nữ cũng phải được giải phóng.

Thứ hai, giải phóng về xã hội: Phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong việc tham gia công việc xã hội, đồng thời bình đẳng trong hôn nhân. Người bác bỏ tư tưởng tư sản, trọng nam khinh nữ, đồng thời phải nâng cao vai trò và thiên chức của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Người nói: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ… Muốn có nhiều sức lao động để sản xuất thì phải giải phóng sức lao động phụ nữ…”.

Thứ ba, giải phóng tâm lý con người: Thật sự phải giải phóng được tư tưởng, tình cảm, tâm tư, năng lực để người phụ nữ vươn lên làm chủ chính mình, gia đình và làm chủ xã hội. Họ phải được tôn vinh giá trị to lớn mà tạo hóa cho họ cái gọi là “thiên chức” là người duy trì và phát triển nòi giống.

Hai là, giải phóng phụ nữ phải toàn diện, đồng bộ và triệt để.

Thứ nhất, giải phóng phụ nữ không chỉ là giải phóng thân thể, giải phóng tư duy, mà giải phóng cho họ cái gọi là quyền bình đẳng. Họ có quyền tham gia vào các hoạt động xã hội, phải tạo điều kiện để họ tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… thì mới đảm bảo quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ. Người khuyên giới nữ phải tự đấu tranh với bản thân mình, tự mình phải biết tôn trọng mình mới làm nên mọi việc. “Phụ nữ phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; phải xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cường, tự lập…”.

Thứ hai, phải tôn trọng phụ nữ, Đảng và Chính phủ cần có những chủ trương, chính sách phù hợp để phụ nữ tham gia vào các công việc của xã hội theo khả năng của mình. Vị trí và vai trò của phụ nữ phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Đảng ta đánh giá cao khả năng và sự cần thiết tham gia của phụ nữ, coi đó là yếu tố quan trọng bảo đảm sự thành công của cách mạng, sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Thứ ba, quan điểm, đường lối của Đảng phải bảo đảm và phát huy vai trò tham gia của phụ nữ vào mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo, bởi các quan điểm và đường lối này là những tuyên bố chính thức làm cơ sở bảo đảm hành lang pháp lý cho sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động của đời sống xã hội. Mặt khác, các quan điểm đó đều khẳng định một cách xuyên suốt nhất quán, phụ nữ có quyền bình đẳng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội.

Thứ tư, Đảng và Nhà nước phải đưa ra những chủ trương, chính sách, biện pháp phù hợp để phát huy mọi khả năng, tiềm năng của người phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, làm cho phụ nữ được được sống trong những quan hệ xã hội bình đẳng, tự do, dân chủ và có triển vọng phát triển lâu dài cả về đời sống vật chất, sinh hoạt văn hóa và tinh thần.

Những “Bông hồng vàng” thời hội nhập

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan trao tặng kỷ niệm chương cho những “Bông hồng Vàng” năm 2010

Ngày nay, xây dựng và phát triển nhân tố phụ nữ trong xã hội tương xứng với vai trò to lớn của họ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược của Ðảng. Phải khẳng định rằng, 82 năm qua, kể từ ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930) đến nay (20/10/2012), Nhà nước đã đặc biệt quan tâm và đánh giá cao sự cống hiến của phụ nữ trong quá trình phát triển xã hội. Phụ nữ đã nhận thức được vai trò trách nhiệm của mình, không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ chính trị, năng lực chuyên môn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Họ không chỉ là người mẹ hiền đảm đang giữ gìn hạnh phúc gia đình, mà còn là những nhà khoa học, nhà giáo, nhà lãnh đạo tài năng ở cương vị cao trong các cơ quan Đảng, Nhà nước. Họ là chủ những doanh nghiệp, là những doanh nhân ưu tú, những “Bông hồng vàng” trong vườn hoa khoe sắc. Đúng như lời dạy của Bác về việc nêu gương người tốt việc tốt “Mỗi người tốt, việc tốt là một bông hoa đẹp, cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”.

Trong bối cảnh suy giảm kinh tế toàn cầu hiện nay, với bản năng và đức tích năng động, chịu thương, chịu khó, những “bông hoa” doanh nhân đã luôn tìm tòi sáng tạo để tìm hướng đi và khẳng định vị thế của mình. Nhiều doanh nghiệp do người phụ nữ làm chủ đã thực sự thành công trên thương trường. Đó là những doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoạt động trên nhiều lĩnh vực như: kinh doanh, thương mại, dịch vụ, sản xuất, chế biến…

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, hơn bao giờ hết, chúng ta mà đặc biệt là chị em phụ nữ cần vận dụng và phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực tiễn và càng phải quán triệt, thực hiện có hiệu quả hơn nữa lời dạy của Người. Đó chính là lời hứa, đồng thời cũng là việc làm có ý nghĩa thiết thực nhất để thực hiện sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về nữ giới trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

ThS. Hoàng Anh Tuấn
dddn.com.vn

Những kỷ niệm tháng sáu trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng vô cùng oanh liệt và phong phú của Chủ tịch Hồ Chí Minh có biết bao nhiêu sự kiện quan trọng là bấy nhiêu ngày được ghi trong lịch sử cách mạng Việt Nam.

Tháng 6 là tháng có nhiều sự kiện quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Kỷ niệm 97 năm ngày Văn Ba – Bác Hồ ra đi tìm được cứu nước (5/6/1911- 5/6-2008); 85 năm ngày Nguyễn Ái Quốc rời nước Pháp, bắt đầu cuộc hành trình trở về Tổ quốc để lãnh đạo công cuộc giải phóng đất nước (13/6/1923 – 13/6/2008); 83 năm ngày báo Thanh niên, tờ báo do Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra số đầu tiên và cũng là Ngày báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2008); 60 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 – 11/6/2008). Xâu chuỗi lại, chúng ta thấy cả 4 ngày kỷ niệm trong tháng 6 đều thấy liên quan đến sự kiện xảy ra cách đây đúng 100 năm- sự kiện Nguyễn Tất Thành tham gia phong trào chống thuế của nông dân Trung kỳ năm 1908. Liên tưởng như thế bởi vì theo lô gích, sự kiện sau chính là kết quả tất yếu của sự kiện trước.

Trong thời gian sống cùng cha ở Huế, Nguyễn Tất Thành đã tham gia biểu tình của nông dân 6 huyện Thừa Thiên Huế đòi giảm sưu, giảm thuế, do bị mất mùa liên tiếp trong 3 năm. Đây là một hoạt động yêu nước đầu tiên của Nguyễn Tất Thành. Anh đã chứng kiến thực dân Pháp thẳng tay đàn áp những người nông dân hiền lành. Hàng vạn người tay không tham gia biểu tình chỉ với một yêu sách nhỏ là đòi giảm thuế. Họ đi tay không, không có khí giới. Họ chỉ yêu cầu giảm thuế. Để tỏ tình đoàn kết nhất trí, họ đều cắt tóc ngắn và gọi nhau là “đồng bào”. Nhưng bọn thực dân Pháp dùng khủng bố đại quy mô để trả lời họ. Chúng giết hơn một nghìn người cầm đầu và những người bị nghi là có dính dáng đến việc đó. Nhà tù chật ních người… Hầu hết những phần tử trí thức yêu nước đều bị bắt bỏ tù. Nhiều học giả nổi tiếng được nhân dân kính mến, cũng bị chém đầu. Thực dân Pháp gọi phong trào ấy là “án đồng bào cắt tóc” vì nông dân dùng hai tiếng “đồng bào” để gọi nhau.

Sự kiện nông dân Trung Kỳ nổi dậy năm 1908, mà Nguyễn Tất Thành được tận mắt chứng kiến và tham gia, đã để lại trong anh dấu ấn không thể phai mờ. Nguyễn Ái Quốc viết lại sự kiện này trong bài báo đầu tiên nhan đề: Vấn đề dân bản xứ, đăng trên báo L’ Humanité (Báo Nhân đạo – cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp), ngày 2-8-1919. Trong bài, khi tố cáo, lên án chính sách cai trị, những thủ đoạn đàn áp, cướp bóc của thực dân Pháp ở Đông Dương và sự phản kháng của nhân dân An Nam, Nguyễn Ái Quốc đã dẫn ra vụ nổi dậy của nông dân Trung Kỳ năm 1908: “Buộc phải bị kiềm chế bởi sức mạnh, nhân dân An Nam, mà lịch sử chân chính đã khởi đầu từ hơn 3000 năm, từng lúc từng lúc như có những đợt cồn cào chống đối, biểu hiện bằng những mưu toan nổi dậy rộng khắp, hoặc bằng hành động của những con người tuyệt vọng, như những cuộc biểu tình ôn hoà năm 1908… Đó là những cuộc phản kháng vô hiệu mà mỗi lần đều đem lại những trận đàn áp đẫm máu”.

Một cuộc biểu tình ôn hòa, với những đề nghị thỉnh cầu tối thiểu nhất, lại bị đàn áp dã man. Sau này, trong nhiều bài viết và báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đều dùng những chữ “ôn hòa”, “thỉnh cầu tối thiểu” để viết về tính chất, mức độ cuộc nổi dây của nông dân Trung Kỳ. Sự kiện tham gia vào phong trào chống thuế của nông dân 6 huyện tỉnh Thừa Thiên Huế đã đánh dấu một mốc quan trọng trong cuộc đời của Nguyễn Tất Thành. Cùng với hàng loạt phong trào yêu nước của nhân dân bị thất bại, sự kiện nông dân biểu tình đòi giảm sưu cao, thuế nặng đã tác động đến suy nghĩ của anh. Anh đã thấy sức mạnh của quần chúng nhân dân. Hành động của dân chúng đã vượt ra khỏi khả năng lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước tiến bộ, như sau này anh nhận định: “Quần chúng căn bản là có tinh thần nổi dậy, nhưng còn rất dốt nát. Họ muốn giải phóng, nhưng họ chưa biết cách nào để đạt được mục đích ấy”. Làm thế nào để các cuộc khởi nghĩa của đông đảo các tầng lớp nhân dân không bị đàn áp, bị chết chóc, tù đầy. Đó là câu hỏi đã làm cho Nguyễn Tất Thành trăn trở, suy nghĩ. Đây cũng là sự kiện tác động trực tiếp nhất đến Nguyễn Tất Thành để anh càng nung nấu quyết tâm đi ra nước ngoài xem người ta làm như thế nào, sau đó trở về giúp đồng bào mình. Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành, với tên mới Văn Ba, xuống làm phụ bếp trên chiếc tàu buôn của Pháp Đô đốc Latúsơ Tơrêvin, bắt đầu cuộc hành trình đi tìm chân lý. Cuộc lên đường này đã đánh dấu một quyết định táo bạo, nhưng hết sức đúng đắn của anh thanh niên yêu nước Ngưyễn Tất Thành, người sớm có chí đuổi thực dân, giải phóng đồng bào.

Rời Tổ quốc, hành trang theo Người là tấm lòng yêu nước, thương dân, quyết tìm cách cứu dân tộc khỏi bị nô lệ, lầm than. Lênh đênh bốn biển, từ Pháp sang Mỹ, sang Anh rồi lại trở lại Pháp. Làm đủ mọi nghề để kiếm sống, để thâm nhập đời sống của giai cấp công nhân, hòa mình trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc. Tại Pari, thủ đô của nước Pháp, trung tâm chính trị, văn hóa của châu Âu, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Nguyễn Ái Quốc tham gia Đảng Xã hội Pháp, hoạt động trong Ủy ban vận động ủng hộ Cách mạng Tháng Mười của Đảng Xã hội Pháp. Cũng tại Pari, vào một ngày tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã được đọc Luận cương của V.I Lênin về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Luận cương của V.I. Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do cho đồng bào. Sau này khi kể lại sự kiện quan trọng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: ” Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Đến với Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, với Luân cương của V.I Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã dứt khoát lựa chọn con đường, và cùng với những người cách mạng chân chính của nước Pháp, Nguyễn Ái quốc đã đã bỏ phiếu tán thành việc Đảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc tế thứ ba-Quốc tế Cộng sản, và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và Người cũng trở thành Người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Những hoạt động xuất sắc của Nguyễn Ái Quốc được Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đánh giá cao. Trung ương Đảng Cộng sản Pháp cử Nguyễn Ái Quốc đến Mátxcơva dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản. Điều này phù hợp với nguyện vọng cháy bỏng của Nguyễn Ái Quốc là muốn đến nước Nga, trung tâm của phong trào cách mạng thế giới để học tập kinh nghiệm lý luận và thực tiễn, chuẩn bị cho hành trình trở về tổ quốc. Và ngày 13-6-1923, Nguyễn Ái Quốc đã rời nước Pháp, để đến Mátxcơva, nước Nga. Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên có mặt trên đất nước Lênin, nơi nhân dân Liên Xô đã được tự do và đang xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, bình đẳng. Trên đất nước Lênin, quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Người đã học tập được kinh nghiệm xây dựng Đảng, và từng bước hoàn thiện việc khai phá con đường cứu nước.

Từ nước Nga Xô viết, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục vạch ra lộ trình của con đường cứu nước, Người trở về Quảng Châu, Trung Quốc, trung tâm của phong trào cách mạng châu Á, từng bước thực hiện tâm nguyện của mình: “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”. Tại Quảng Châu, Trung Quốc, từng bước thực hiện kế hoạch đã được vạch ra, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng cho sự ra đời một Đảng Mác xít ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã mở Lớp huấn luyện chính trị để chuẩn bị đào tạo đội ngũ cán bộ, chuẩn bị cho sự ra đời một chính Đảng. Cùng với việc đào tạo đội ngũ cán bộ, Nguyễn Ái Quốc chủ trương xuất bản báo chí làm phương tiện tuyên truyền. Và ngày 21-6-1925, Báo Thanh niên, cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và trực tiếp chỉ đạo ra số đầu tiên. Báo Thanh niên là tờ báo đầu tiên trong lịch sử báo chí vô sản nước ta góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác-lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức để tiến tới thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam vào đầu năm 1930.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã từng bước lãnh đạo công cuộc giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cách mạng Tháng tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Chính quyền non trẻ vừa ra đời, chưa có thời gian củng cố, thì lại phải đối phó với muôn vàn khó khăn: nạn đói nạn dốt, thù trong giặc ngoài. Và cả dân tộc Việt Nam lại phải bước vào cuộc trường chinh kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sau Chiến thắng Việt Bắc Thu Đông năm 1947, để động viên mọi lực lượng phục vụ công cuộc kháng chiến và kiến quốc, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 27-3-1948, Ban Thường vụ Trung ương đã ra Chỉ thị Phát động phong trào thi đua ái quốc. Chỉ thị vạch rõ: “Mục đích thi đua ái quốc là làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến thiết chóng thành công”.

Nhân dịp kỉ niêm 1000 ngày toàn quốc kháng chiến, ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi, chính thức phát động phong trào thi đua yêu nước nhằm động viên toàn dân tập trung sức lực cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Như vậy một sự kiện lịch sử nữa được Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định vào tháng 6-1948. Điểm qua một số mốc kỷ niệm trong tháng 6, chúng ta thấy một sự chỉ đạo nhất quán, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là việc phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, đánh giá cao vai trò của đông đảo nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Người đã nhìn thấy điều này từ khi tham gia phòng trào chống thuế năm 1908: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917″. Sau này Người viết: “Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai. Nay muốn tự cấp, tự túc, đi kịp người ta, thì chúng ta phải đi mau”. Đi mau bằng cách tham gia vào các phòng trào thi đua yêu nước. Sức mạnh của quần chúng, truyền thống yêu nước, ý thức tự lực, tự cường của dân tộc phải được tập hợp, tổ chức và động viên vào vào sự nghiệp cách mạng. Bởi vì “Tinh thần yêu nước cũng như thứ của quý, có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng, dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất dấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”. Cùng với những văn kiện đã đi vào lịch sử như Bản Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến(1946), Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát đi ngày 11-6-1948, đã đi vào lòng người như lời hịch cứu nước, bởi mục đích của thi đua là để: “Diệt giặc đói khổ, diệt giặc dốt nát, diệt giặc ngoại xâm”, làm cho “Dân tộc độc lập. Dân quyền tự do. Dân sinh hạnh phúc”. Để đạt được mục đích đó không có con đường nào khác là: “Dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân. Để gây hạnh phúc cho dân”.

Khơi dậy truyền thống yêu nước của dân tộc ta từ lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tạo nên sự gắn kết tự nhiên giữa yêu nước và thi đua, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Thi đua là yêu nước, vì yêu nước phải thi đua. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống đế quốc Mỹ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã có hàng trăm phong trào thi đua của các ngành, các cấp, các giới được phát động và động viên được toàn dân tham gia. Thi đua yêu nước đã đã góp phần làm nên những kỳ tích của nhân dân ta trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, trong công cuộc kiến thiết nước nhà. Ngày nay thi đua yêu nước vẫn sẽ là nội lực quan trọng giúp nhân dân ta giữ vững nền độc lập nước nhà, đưa nước ta ra khỏi cảnh đói nghèo, kém phát triển. Mục đích của thi đua là để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, như Nghị quyết của Đảng ta đã đặt ra.

Trong tình hình mới, điều kiện mới, phong trào thi đua yêu nước cần phải được tổ chức thường xuyên, có phát động, có kiểm tra, tổng kết, đúc rút kinh nghiêm, phổ biến sáng kiến, để động viên khen thưởng kịp thời; khen thưởng đúng người, đúng việc. Tránh phô trương, hình thức khi phát động gây lãng phí tốn kém không cần thiết.

Phong trào thi đua yêu nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng và phát động 60 năm về trước đã góp phần quan trọng đánh thắng giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc thành công. Ngày nay, rất cần nhưng phong trào thi đua trong toàn quốc, trong từng ngành, từng giới, tạo nên nội lực đẩy mạnh công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, xóa đói giảm nghèo, đưa nước ta ra khỏi những nước kém phát triển, vững bước sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ hàng mong muốn.

Nhớ lại những sự kiện tháng 6 trong cuộc đời hoạt động của Bác Hồ kính yêu, hiểu được ý nghĩa lớn lao sâu sắc của mỗi sự kiện đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, để tiếp tục đi theo con đường của Người, đó chính là một cách thiết thực nhất để góp phần thực hiện cuộc vận động: Học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh./.

Theo Phạm Thị Lai

baotanghochiminh.vn

Hồ Chí Minh – Hình ảnh của Người

Người là một người Cộng sản Việt Nam, nhưng khi qua đời cả nhân loại khóc thương Người. Một nhà thơ ở Châu Phi xa xôi đã viết những dòng sau để vĩnh biệt Người:

“Trong cái thế kỷ bạo tàn này, hình ảnh của Người đã đem lại cho chúng ta những kẻ bị tước đoạt quyền làm người và quyền sống, niềm hi vọng và sức mạnh để chiến đấu cho nhân phẩm tự do.

Hồ Chí Minh!

Người là Lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc và là một danh nhân văn hóa. Nhưng trước hết, trước mắt chúng ta, Người là hình ảnh của một con người”

qdnd.vn

Sôi nổi các hoạt động kỷ niệm Ngày thành lập Đảng

* Lãnh đạo Đảng, Nhà nước vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

QĐND – Kỷ niệm 82 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930/3-2-2012), sáng 3-2, Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam đã đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh-vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Dự lễ viếng có các đồng chí: Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng; nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm; cùng các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ, Phó chủ tịch Quốc hội và các đồng chí lão thành cách mạng.

Tiếp đó, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu Đoàn đại biểu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam đến đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng Liệt sĩ.

Cùng ngày, đoàn đại biểu các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và thành phố Hà Nội đã đặt hoa, vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đài tưởng niệm các Anh hùng Liệt sĩ. (TTXVN)

* Chiều 3-2, Đảng ủy Thành đoàn TP Hồ Chí Minh long trọng tổ chức mít tinh kỷ niệm 82 năm ngày thành lập Đảng. Tại buổi lễ, tuổi trẻ thành phố hứa quyết tâm, phát huy truyền thống, phấn đấu học tập, lao động tốt và được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Dịp này, Đảng ủy Thành đoàn cũng chúc mừng và tặng kỷ niệm chương cho các đảng viên có nhiều tuổi Đảng và đạt thành tích xuất sắc trong học tập, công tác. (HÙNG KHOA)

* Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn 1 đã chỉ đạo các đơn vị tiến hành nhiều hoạt động thiết thực lập thành tích cao nhất kỷ niệm 82 năm Ngày thành lập Đảng. Nội dung trọng tâm của các hoạt động trong dịp này là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống; chuẩn bị chu đáo mọi mặt cho năm huấn luyện và đón nhận chiến sĩ mới đợt 1-2012. (Vân Hà)

* Cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh đợt thi đua đột kích với chủ đề “Mừng Đảng, mừng Xuân”, các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đoàn 2 cũng đã có nhiều hoạt động thiết thực. Một trong những vấn đề được Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo là cấp ủy, chỉ huy các cấp tập trung nghiên cứu, nắm vững những vấn đề trọng tâm, cốt lõi được nêu trong Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) về công tác xây dựng Đảng, từ đó xây dựng kế hoạch, chương trình hành động phù hợp, sát thực, mang lại kết quả cao (Hồng Đại)

* Ngày 3-2, nhiều tổ chức đảng thuộc Đảng bộ Binh chủng Tăng-Thiết giáp tiến hành lễ kết nạp những quần chúng ưu tú vào Đảng. Cũng trong dịp này, Thường vụ Đảng ủy Binh chủng tổ chức lễ trao tặng Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng cho 30 đồng chí; phát thẻ đảng viên cho 51 đồng chí. (Mai Lan)

* Sáng 3-2, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi tổ chức buổi gặp mặt nhân kỷ niệm 82 năm ngày thành lập Đảng và quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (Khóa XI). Tại buổi lễ, các đại biểu cùng nhau ôn lại chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng; đồng thời quán triệt tinh thần các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI), nêu bật một số nội dung, chương trình trọng tâm trong triển khai thực hiện. (Đăng Lâm)

* Tỉnh ủy Khánh Hòa cũng đã tổ chức lễ kỷ niệm 82 năm Ngày thành lập Đảng và phát động thi đua tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2012. Tại buổi lễ, Tỉnh ủy Khánh Hòa kêu gọi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong tỉnh tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị; qua đó góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ năm 2012, phấn đấu đưa Khánh Hòa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2015. (Tiên Minh)

* Kỷ niệm 82 năm Ngày thành lập Đảng, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh Bình Định, đại diện các sở, ban ngành, đoàn thể, hội và các cấp ủy đảng, chính quyền các địa phương đã đến dâng hương, dâng hoa tại các Nhà lưu niệm thành lập các Chi bộ Cộng sản đầu tiên tại Bình Định. (Viết Ý)

* “Tự hào tiến bước dưới cờ Đảng” là nội dung buổi tọa đàm do Tỉnh đoàn Bình Thuận tổ chức sáng 3-2, thu hút sự tham gia của đông đảo các đoàn viên ưu tú, đảng viên trẻ trong tỉnh. Tại buổi tọa đàm, các đại biểu cùng nhau trao đổi về những kế hoạch xây dựng tổ chức Đảng, hướng phấn đấu rèn luyện để trở thành đảng viên. Đây là dịp để thế hệ trẻ bày tỏ mong muốn, nguyện vọng với Đảng, nỗ lực phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. (Hồng Hiếu)

qdnd.vn