Tag Archive | Hồ sơ – Tư liệu

Điệp viên “Lui-ix”, người anh hùng kiệt xuất nước Nga

QĐND – Ngày 20-7-1995, Tổng thống Liên bang Nga đã quyết định truy tặng Danh hiệu Anh hùng cho Mô-rít Kô-en do đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đặc biệt và lòng quả cảm của người chiến sĩ điệp viên Xô-viết. Một năm sau, người vợ huyền thoại của ông, điệp viên Lê-ôn-ti-na Tê-rê-da Pết-ka cũng được truy tặng Danh hiệu cao quý như thế.

Mô-rít Kô-en sinh ngày 2-7-1910 tại Niu Y-óoc trong gia đình Nga kiều. Trong hồ sơ cá nhân lưu giữ tại nhà, Kô-en viết: “Trong nhà thường xuất hiện những vị khách từ nước Nga hoặc từ U-crai-na đến, đem theo những đĩa hát và cùng nhau hát những bài dân ca Nga. Nhưng, ấn tượng hơn cả là họ kể những câu chuyện lý thú về xứ sở mà tôi chưa hề thấy bao giờ – nước Nga… Cứ mỗi lần vậy, trong tôi sinh khát vọng muốn tận mắt nhìn thấy Tổ quốc của mình. Lớn lên, khát vọng đó càng thôi thúc tôi mạnh mẽ hơn”. Năm 1936, Mô-rít Kô-en gia nhập Đảng Cộng sản Mỹ và bắt đầu tham gia công tác truyền bá sách báo của đảng, vận động thợ thuyền đấu tranh với chủ đòi quyền lợi chính đáng cho mình.

Tháng 5-1937, trong một lần tham gia mít-tinh ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Tây Ban Nha, các đồng chí của Kô-en đã giới thiệu cô Lô-na Pết-ka – một thiếu nữ trẻ đẹp cho anh.

Trong thời gian ở Tây Ban Nha, qua những hoạt động sôi nổi, Kô-en đã khiến cơ quan phản gián Xô-viết để mắt tới. Vào những ngày đầu tháng 7-1938 tại thành phố Bác-xê-lô-na, người phụ trách cơ quan tình báo Xô-viết ở nước ngoài – Alếch-xan-đơ Ơ-rơ-lốp đã mời anh đến hỏi chuyện và dần dà đặt vấn đề với anh về việc tham gia công tác bí mật của Tổ quốc. Mô-rít Kô-en đã hăng hái nhận lời. Trong quá trình hoạt động bí mật, Kô-en có nhiều bí danh, mà “ Lui-ix” là bí danh ông ưa thích nhất.

Tháng 11-1938, theo quyết định của Trung tâm, Kô-en rời Tây Ban Nha trở về Mỹ để nhận công tác giao liên cho tổ chức tình báo Xô-viết ngoại tuyến ở Niu Y-oóc. Về đến Mỹ, Kô-en lập tức gọi điện cho Lô-na Pết-ka. Người chiến sĩ thuộc Đoàn quân Quốc tế từ chiến trường trở về đã lay chuyển trái tim Lô-na. Ngày 4-7-1941 – ngày Độc lập của nước Mỹ – họ tổ chức đám cưới. Biết rõ mối quan hệ của chồng với cơ quan phản gián Liên Xô, Lô-na không những không phản đối, mà còn ra sức giúp chồng hoàn thành nhiệm vụ.

Trong hồi ký của mình, Mô-rít Kô-en viết: “Lần đó tôi đã phân vân rất lâu không thể quyết định nổi, có nên lôi kéo Lô-na tham gia công việc này hay không? Trong quan hệ vợ chồng không nên chơi trò úp mở, cần giải thích rõ để cùng nhau hoạt động”. Cặp vợ chồng điệp viên này bắt đầu hoạt động rất ổn định, trở thành đường dây liên lạc vững chắc giữa tổ chức tình báo Liên Xô ở Niu Y-oóc với cơ sở cấp tin. Một lần, hai người nhận được lệnh khai thác tin tức về việc sản xuất một kiểu đại liên mới của nhà máy sản xuất vũ khí trang bị cho máy bay. Ngay lập tức, Lô-na bắt quen được ngay với một kỹ sư trẻ trong nhà máy tên là “Phờ-ren-ka”, rồi họ tiến hành thực hiện một chiến dịch táo bạo. Làm theo hướng dẫn của Lô-na, chàng kỹ sư trẻ đã khôn khéo đem được hết các bộ phận của khẩu súng ra ngoài nhà máy. Sau đó vợ chồng Kô-en chuyển chúng tới Tổng lãnh sự quán Liên Xô tại Niu Y-oóc. Thắng lợi đó đã làm cho các cộng tác viên giàu kinh nghiệm nhất cùng Trung tâm phản gián Liên Xô hết sức sửng sốt. Khẩu súng mẫu đó được chuyển ngay về Mát-xcơ-va.

Năm 1942, Kô-en bị động viên vào quân đội và được điều sang châu Âu để tham gia chiến đấu chống phát-xít Đức. Còn vợ anh ở hậu phương vẫn tiếp tục tích cực cộng tác với tổ chức tình báo Xô-viết.

Bắt đầu từ năm 1943 tổ phản gián Liên Xô ở Niu Y-oóc được lệnh phải gấp rút thu thập thông tin về một đề án mang tên “Man-hat-tan”. Đó là đề án khởi thảo chế tạo trong phòng thí nghiệm một quả bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới tại Trung tâm nghiên cứu ở Lốt Ala-mốt. Các cộng tác viên của tổ tình báo đã thu thập được những tài liệu vô cùng quan trọng nói về năng lượng nguyên tử và việc sử dụng nó vào mục đích quân sự. Tới ngày 16-7-1945, một tiếng nổ nguyên tử hình nấm đã nổi lên trên sa mạc Niu Mê-hi-cô. Những số liệu chính thức về vụ nổ này đã nằm gọn trong hồ sơ của các nhà khoa học Xô-viết mà công lao chính trong việc này thuộc về bà Lô-na Pết-ka.

Tháng 11-1945 Mô-rít Kô-en xuất ngũ và quay trở về Mỹ. Tháng 12 năm đó ông đã nối lại đường dây liên lạc với cơ sở tình báo Nga. Bắt đầu giai đoạn hoạt động mới đối với những người làm công tác phản gián. Vợ chồng Kô-en đảm đương đường dây liên lạc giữa những nguồn cấp tin với tổ chức phản gián của Liên Xô ở Niu Y-oóc, khai thác được nhiều tin tức quý giá liên quan đến các kế hoạch chế tạo vũ khí hạt nhân của Mỹ.

Tình hình ở Mỹ lúc này mỗi lúc càng trở nên căng thẳng, không thuận lợi cho công tác tổ chức tình báo, nhất là sau vụ trỗi dậy của bọn quá khích Ma-ka-rơ. Năm 1948, quan hệ Xô-Mỹ đã bị giảm sút. Tổng Lãnh sự quán Liên Xô ở Niu Y-oóc bị đóng cửa. Các tổ chức tình báo ngoại tuyến phải nâng cấp bảo toàn đường dây liên lạc giữa Trung tâm với cơ sở. Năm 1949, theo quyết định của trên, vợ chồng Kô-en đã chuyển sang hoạt động bí mật dưới sự lãnh đạo của điệp viên nổi tiếng Vi-lem Phi-se-ra. Hoạt động gần 2 năm thì Kô-en và Lô-na được điều về Liên Xô để tránh sự truy bức từ phía Mỹ.

Sống tại Mát-xcơ-va 3 năm, vợ chồng Kô-en đã học xong khóa truyền tin mật mã vô tuyến. Năm 1954, hai vợ chồng Kô-en được lệnh chuyển sang Anh dưới danh nghĩa nhà buôn Tân Tây Lan để hoạt động bí mật. Ông bà đã mua một căn nhà nhỏ ở cách căn cứ BBS Nô-rơ-khon thuộc ngoại vi Luân Đôn để đặt trạm thiết bị vô tuyến liên lạc với Mát-xcơ-va. Phần lớn tin tức mật về các hạm thuyền Hoàng gia và các lực lượng hải quân NATO đang đóng quân gần đó cùng với chương trình bố trí tên lửa của họ đã được báo về Liên Xô. Thiếu tướng tình báo Va-xi-li Đô-da-lép, người thường vẫn duy trì mối quan hệ mật với các nhà buôn giả danh, đã có nhận xét sau: “Tôi cho rằng, Mát-xcơ-va có nhiều thông tin về hạm đội tàu ngầm của nước Anh không ít hơn so với Nữ hoàng Ê-li-da-bét. Ngoài ra, chúng tôi nắm được đầy đủ tình huống đang diễn ra, kịp thời thảo những dự án mới để trang bị cho quân đội. Trung tâm rất cần đến những tin tức đó”.

Tuy nhiên, đến giữa năm 1960, cơ sở của thương gia Go-rơ-đon Lon-xđây (biệt danh của vợ chồng Kô-en) bị phát hiện. Một trong số những người chỉ huy ngành tình báo Ba Lan là Gô-lê-nép-xki đã cung cấp tin cho Cục Tình báo Mỹ về việc Liên Xô cài người vào căn cứ hải quân Hoàng gia Anh ở Po-rơ-len-đe. Phía Mỹ đã thông báo cho cơ quan phản gián Anh về sự hiện diện của tình báo Liên Xô trên căn cứ Hải quân Hoàng gia Anh. Ngành phản gián Anh phải bỏ ra một năm trời để truy lùng điệp viên Liên Xô, kết quả là họ đã xác định được Công ty “Be-na” của thương gia Go-rơ-đon Lon-xđây là cơ sở của Tình báo Xô-viết.

Trong phiên tòa xét xử vụ Po-rơ-len-đe ngày 13-3-1961, Lon-xđây khẳng định rằng vợ ông không hề biết gì về việc hoạt động tình báo của mình. Mặc dù vậy, ngày 23-3-1961, tòa án Anh đã xử vợ chồng Lon-xđây 25 năm tù giam.

Tháng 8-1969, chính quyền Anh đã thỏa thuận trao đổi vợ chồng Kô-en lấy một điệp viên của Anh bị bắt ở Mát-xcơ-va cùng với hai tên buôn lậu ma túy người Anh. Ngày 24-11-1969, hai nhà tình báo đã được ra khỏi nhà tù. Những ngày cuối đời ông bà Kô-en vẫn tiếp tục làm việc cho ngành tình báo Xô-viết, tham gia đào tạo thế hệ tương lai.

Ngày 23-12-1992, Anh hùng Mô-rít Kô-en đã trút hơi thở cuối cùng tại Mát-xcơ-va. Ba năm sau đó – năm 1995 – bà Mô-rít Kô-en cũng theo chồng về nơi an nghỉ cuối cùng.

Vũ Đình Huy
qdnd.vn

Bại tướng Dư Quốc Đống

QĐND – Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ-Quân đội Sài Gòn, ngoài lực lượng chính là Quân đoàn l-Quân khu l, giới chóp bu Sài Gòn còn tăng cường hai lực lượng được xem là “thiện chiến” nhất trong quân lực Việt Nam cộng hòa là Sư đoàn Thủy quân Lục chiến và Sư đoàn dù. Tư lệnh Sư đoàn dù lúc đó là Trung tướng Dư Quốc Đống.

Dư Quốc Đống. Ảnh tư liệu

Dư Quốc Đống sinh năm 1932 tại tỉnh Rạch Giá. Y cầm súng theo thực dân Pháp từ khi còn rất trẻ. Tốt nghiệp Trường Sĩ quan Đà Lạt năm 1952, Đống được điều về Tiểu đoàn 4 Vệ binh Sơn cước đóng tại Plei-cu. Một năm sau, y tình nguyện xin về Tiểu đoàn 1 nhảy dù.

Con đường làm tay sai hết Pháp đến Mỹ của Dư Quốc Đống chủ yếu trong lực lượng “mũ nồi đỏ” khét tiếng gian ác từng gây nhiều tội ác đối với đồng bào ta. Từ năm 1953 đến cuối năm 1972, Đống lần lượt leo qua các chức Đại đội trưởng, Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng, Tư lệnh Lữ đoàn… đến Trung tướng, Tư lệnh Sư đoàn dù. Dư Quốc Đống từng tham gia chiến dịch tảo thanh lực lượng Bình Xuyên năm 1955, từng nhiều lần đụng độ với Quân Giải phóng trong trận Ia Đrăng, Tết Mậu Thân 1968, Đồi 1416 ở Đắc Tô, cuộc tiến quân sang Cam-pu-chia… và cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971.

Như vậy, cuộc đời binh nghiệp làm tay sai cho ngoại bang của Đống chủ yếu ở Sư đoàn dù, lực lượng “con cưng” của chính quyền Sài Gòn, được trang bị hiện đại, được quan thầy Mỹ tuyển chọn nhân sự và đào tạo bài bản, kỹ lưỡng. Vì có “thâm niên” nhất trong lực lượng, lại có vóc dáng cao lớn, thêm tính cách biết giữ chữ tín theo kiểu giang hồ nên y được cấp dưới vì nể. Nói một cách công bằng, Dư Quốc Đống được Pháp và Mỹ đào tạo cơ bản về chiến thuật của lực lượng dù, có kinh nghiệm trong hành quân tác chiến càn quét và đối phó với lực lượng Quân Giải phóng. Nhưng tại cuộc hành quân Lam Sơn 719, Sư đoàn dù do y chỉ huy đã bị Quân Giải phóng quần cho tơi tả.

Trong “Lệnh hành quân Lam Sơn 719” của Sư đoàn dù ký ngày 3-2-1971, Dư Quốc Đống ra lệnh cho thuộc cấp: “Nỗ lực chính trong cuộc hành quân hỗn hợp không lực theo trục DO, nhằm cắt đứt hệ thống tiếp vận của Công sản Bắc Việt, tìm diệt địch và phá hủy tối đa các quân dụng kho tàng của chúng trong căn cứ 604”. Hướng hành quân cũng được Đống chỉ rõ: “Xuất phát từ căn cứ Hàm Nghi, hành quân bộ theo dọc Đường 548 (Đường 9) và trực thăng vận xuất nhập các khu vực mục tiêu A Lưới, A Sầu, thiết lập các căn cứ hành quân và căn cứ hỏa lực, tổ chức hành quân tuần thám, lùng diệt địch, phá hủy các kho tàng trong khu vực trách nhiệm”.

Cuộc hành hành quân của Sư đoàn dù cũng được Đống chia làm 4 giai đoạn:

Giai đoạn l (Từ ngày 30-1 đến 7-2 năm 1971): Di chuyển toàn bộ sư đoàn nhảy dù và các đơn vị tăng phái đến phối trí xung quanh khu vực căn cứ Hàm Nghi.

Giai đoạn 2 (từ 8-2 đến 14-2): Sử dụng chiến đoàn đặc nhiệm làm nỗ lực chính, xuất phát từ Tà Bạt, tiến quân dọc theo Đường 548 (Đường 9) về phía tây, giao tiếp và hỗ trợ cho 1 tiểu đoàn nhảy dù trực thăng vận chiếm mục tiêu A Lưới (Bản Đông) và thiết lập căn cứ hỏa lực tại đây. Đồng thời Lữ đoàn 3 nhảy dù được trực thăng vận cấp tiểu đoàn chiếm các khu vực cao điểm 30-31 (điểm cao 450-543) phía bắc Đường 9 và thiết lập các căn cứ hỏa lực để hỗ trợ mặt Bắc cho cánh quân cơ giới, chiến đoàn đặc nhiệm.

Giai đoạn 3: Củng cố các căn cứ hành quân và căn cứ hỏa lực tổ chức hành quân lục soát, tiêu diệt lực lượng địch, khám phá và tiêu hủy tới mức tối đa các quân dụng cũng như kho tàng của địch trong phạm vi trách nhiệm.

Giai đoạn 4: Đoạn lệnh hành quân sẽ ban hành sau (sau này thành cuộc tháo chạy vội vã của Sư đoàn dù cũng như toàn bộ lực lượng địch tham chiến).

Tổ chức biên chế của Sư đoàn dù lúc này rất mạnh, gồm 9 tiểu đoàn thuộc 3 lữ đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh… đó là chưa kể các lực lượng của Quân đoàn 1 tăng cường cho Đống gồm Lữ đoàn 1 thiết kỵ, Tiểu đoàn 44 pháo binh (155mm) và tiểu đoàn 101 công binh chiến đấu.

Nhưng, cuộc hành quân hoang tưởng Lam Sơn 719 do quan thầy Mỹ sắp đặt bị thất bại thảm hại. Toàn bộ lực lượng của cái gọi là Cuộc hành quân Lam Sơn 719 trong đó có Sư đoàn dù của Dư Quốc Đống đã lọt vào trong thế trận giăng sẵn của quân và dân ta. Thất bại của chúng là điều không tránh khỏi.

Sáng 9-2-1971, 2 đại đội của chiến đoàn đặc nhiệm dù tại chốt 351 cầu Cha Kỳ bị Quân Giải phóng tiêu diệt. Cùng ngày, Tiểu đoàn dù 2 bị tập kích ở Xê Nam.

Từ ngày 11 đến ngày 13-2, Trung đoàn 64 thuộc Sư đoàn 320 Quân đội nhân dân Việt Nam liên tiếp tiến công khu vực điểm cao 456 và Đồi Không Tên, diệt 3 đại đội của Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn dù 6 (Lữ đoàn dù 3) chốt giữ căn cứ 31 (điểm cao 543), cách Bản Đông 7km về phía bắc.

Trưa 25-2, bằng trận tiến công hiệp đồng binh chủng, Trung đoàn 64 đã làm chủ căn cứ 31, tiêu diệt Tiểu đoàn 3 dù, bắt sống Đại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 dù và toàn bộ ban tham mưu lữ đoàn.

Ngày 12 đến ngày 17-3, Quân Giải phóng đại phá Bản Đông do 1 lữ đoàn dù và 2 thiết đoàn quân đội Sài Gòn chốt giữ. Lữ đoàn dù 3 bị xóa sổ.

Ngày 18-3, do bị thất bại nặng nề, quân đội Sài Gòn rút khỏi Bản Đông. Cuộc rút quân trở thành một thảm bại hỗn loạn. Binh sĩ vứt bỏ vũ khí chạy cắt rừng hòng thoát thân nhưng cuối cùng trúng vào các ổ phục kích của Quân Giải phóng.

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 là cuộc hành quân lớn nhất của Liên quân Mỹ-ngụy trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng, khi viết về cuộc đời cầm súng làm tay sai cho hết Pháp và Mỹ của Dư Quốc Đống, đám đàn em của y và thậm chí người cháu gọi Đống bằng cậu ruột là Trần Thái Văn hiện sống ở Ca-li-phoóc-ni-a (Mỹ) không một lời nhắc đến cuộc hành quân này. Đây là một trong những thất bại nặng nề nhất trong 26 năm khoác áo lính của Dư Quốc Đống mà thuộc hạ cũng như y muốn quên đi. Cũng có vài kẻ thân tín của y cho rằng, việc đặt Dư Quốc Đống và Lê Nguyên Khang, Trung tướng Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến dưới quyền của Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh Quân đoàn 1 – Vùng 1 chiến thuật là một sai lầm của Tổng thống Thiệu, vì hai viên tướng vốn ngổ ngáo lại quen được chiều chuộng rất coi thường Lãm. Bằng chứng là mặc dù toàn bộ Sư đoàn Thủy quân Lục chiến tham gia cuộc hành quân, nhưng Lê Nguyên Khang giao cho cấp phó chỉ huy, còn mình thì nằm chơi ở Sài Gòn… Sau này, mâu thuẫn giữa Đống và Lãm được bộc lộ trong kế hoạch phòng thủ Bản Đông. Chuyện đó có chăng cũng chỉ là một nguyên nhân nhỏ để bào chữa cho thất bại cay đắng của Đống và Sư đoàn Dù của y.

Trong hồi ký “Sư đoàn nhảy dù Việt Nam và cuộc hành quân Lam Sơn 719” của Trung tướng hồi hưu Giêm B.Vốt-tơ (James B.Vaught), nguyên Cố vấn trưởng Sư đoàn dù trong cuộc hành quân này cũng rất ít khi nhắc đến Đống. Sau khi ba hoa rằng mặc dù bị đối phương bao vây quyết liệt, nhưng cuối cùng nhờ tài cố vấn của mình, Sư đoàn dù đã “triệt thoái có quy củ khỏi đất Lào thành công”, Vốt-tơ chỉ nhắc Đống một chút, nguyên văn như sau: “Tướng Đống trong buổi họp tham mưu đã nói với toàn bộ các đơn vị trưởng trong Sư đoàn dù rằng, từ nay tôi được phép đề nghị các quyết định hành quân chiến thuật cần thiết và mọi người phải tuyệt đối thi hành. Và kể từ ngày đó tướng Đống không bao giờ phản đối bất cứ một đề nghị nào của tôi đưa ra…”.

Không biết Vốt-tơ khen hay… chửi Đống, xem vị tướng này như là bù nhìn dưới quyền điều hành của các cố vấn Mỹ.

Cuối năm 1972, Dư Quốc Đống rời chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn dù để thay Ngô Du làm Trưởng đoàn thương thuyết của Quân đội Sài Gòn trong Ủy ban liên hợp Quân sự bốn bên.

Tháng 11-1974, Dư Quốc Đống được Tổng thống Thiệu cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 3-Quân khu 3 bao gồm Sài Gòn và các tỉnh phụ cận. Sau đó 3 tháng, y phải từ chức khi để mất Phước Long vào tay Quân Giải phóng. Ngày 29-4-1975, khi chế độ Sài Gòn trong cơn hấp hối, Đống cùng gia đình vội vã rời khỏi Việt Nam sang tiếp tục sinh sống những ngày tàn cuối đời ở Mỹ. Ngày 22-4-2008, Dư Quốc Đống chết ở một Viện dưỡng lão ở Ca-li-phóoc-ni-a.

Khôi Nguyên (Theo báo chí nước ngoài)
qdnd.vn

Con cháu 10 nguyên soái Trung Quốc đảm nhiệm những công việc gì?

QĐND – Chu Mẫn, con gái nguyên soái Chu Đức, công tác ở Khoa Tiếng Nga, Trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh. Chị đã từng làm Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu giáo dục. Nghỉ hưu năm 1986, chị đã sáng lập Học viện Huấn luyện nhân tài lưỡng dụng quân dân Bắc Kinh (hiện nay đổi tên thành Học viện Chuyên tu quân dân Bắc Kinh), đảm nhiệm chức Viện trưởng. Các con trai Chu Mẫn là Lưu Kiến làm Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phòng hóa Quân Giải phóng Trung Quốc; Lưu Khang làm công tác giao lưu thương vụ giữa Trung Quốc và nước Đức; Lưu Mẫn phiên dịch viên tiếng Pháp; Lưu Võ, Đại đội trưởng Sở Nghiên cứu X Quân Giải phóng Trung Quốc).

Bành Cương, cháu gái nguyên soái Bành Đức Hoài, quân hàm Thiếu tướng, Ủy viên thường vụ Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung ương, Phó bí thư Ủy ban Kỷ luật Quân ủy Trung ương.

Con trai nguyên soái Lâm Bưu là Lâm Lập Quả, tốt nghiệp Khoa Vật lý, Trường Đại học Bắc Kinh. Tháng 3-1967, đảm nhiệm Chánh Văn phòng Đảng ủy Quân chủng Không quân. Ngày 17-10-1969, được bổ nhiệm làm Phó chủ nhiệm kiêm Phó trưởng ban Tác chiến Văn phòng Bộ tư lệnh Không quân Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc. Sáng sớm ngày 13-9-1971, theo cha mẹ đi máy bay vội vàng trốn chạy ra nước ngoài, dọc đường máy bay bị rơi ở Ôn-đô-nhan (Mông Cổ) và bị chết.

Lâm Lập Hằng con gái Lâm Bưu.

Con gái nguyên soái Lâm Bưu là Lâm Lập Hằng, đã từng đảm nhiệm Phó tổng biên tập Báo “Không quân”. Ngày 31-7-1974, Mao Trạch Đông trực tiếp phê chuẩn bãi bỏ thẩm tra cách ly đối với Lâm Lập Hằng. Tiếp theo, chị kết hôn với Trương Thanh Lâm, đồng thời được sắp xếp công tác trong một nhà máy sản xuất xe hơi tại Trịnh Châu. Sau Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 khóa 11 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, vấn đề của Lâm Lập Hằng được sự quan tâm của Trung ương Đảng, công tác và hộ khẩu tại Bắc Kinh của chị đã được giải quyết, đồng thời được phân công đến Viện Khoa học xã hội Trung Quốc công tác, chồng chị cũng được sắp xếp công tác tại ngành y tế thành phố Bắc Kinh. Từ đó, cả nhà Lâm Lập Hằng đã có cuộc sống bình yên. Ngày 18-5-2001, nhận lời mời của một công ty ở quê hương, chị ra làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Đại tửu lầu Hoàng Hạc.

Con trai trưởng của nguyên soái Lưu Bá Thừa là Lưu Thái Hành, đã từng làm Phó giám đốc Sở Nghiên cứu X Quân chủng Không quân, sau đó làm Phó trưởng ban Ban Tác chiến Bộ đội Tăng thiết giáp. Con trai thứ hai là Lưu Mông đã từng làm Cán sự tham mưu ở Bộ Tổng tham mưu, yêu thích văn học, đã tham gia công tác biên soạn cuốn sách “Truyện ký Lưu Bá Thừa”, sáng tác kịch bản văn học điện ảnh “Tuổi trẻ Lưu Bá Thừa”. Con trai thứ ba Lưu Thái Trì, quân hàm Thiếu tướng, Phó trưởng ban Ban Trang bị Bộ tư lệnh Không quân. Con gái Lưu Hoa Bắc, tháng 6-1945, bị quân địch ám sát khi ở Viện Bảo vệ giáo dục Diên An; Lưu Di Quần, quân hàm Thiếu tướng, Phó viện trưởng Học viện Chỉ huy Không quân; Lưu Giải Tiên, Bác sĩ Ban Chẩn trị số 1 Bệnh viện Tổng bộ Hậu cần tại Bắc Kinh; Lưu Nhạn Vũ, Chuyên viên Khoa học Y học hạt nhân Bệnh viện Trung ương Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, Ủy viên Hội đồng chuyên môn Y học hạt nhân Hội Y học Bắc Kinh.

Con trai nguyên soái Hạ Long là Hạ Bằng Phi, quân hàm Trung tướng, Phó tư lệnh Hải quân, đã từ trần. Con gái Hạ Tiệp Sinh, quân hàm Thiếu tướng, Phó trưởng ban Ban Nghiên cứu Bách khoa quân sự Viện Khoa học quân sự (chồng là Lý Chấn Quân, cựu Chính ủy Bộ tổng Cảnh sát vũ trang).

Con trai trưởng nguyên soái Trần Nghị là Trần Hạo Tô, đã từng làm Phó thị trưởng thành phố Bắc Kinh, hiện làm Hội trưởng Hội Hữu hảo đối ngoại nhân dân Trung Quốc kiêm Hội trưởng Hội Hữu hảo Trung – Nga. Con trai thứ hai Trần Đan Hoài, quân hàm thiếu tướng, Ủy viên Hội đồng khoa học kỹ thuật Tổng bộ Trang bị, Quân giải phóng. Con trai thứ ba Trần Hiểu Lỗ, là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Quản lý đầu tư quốc tế đại lý nhân sự Trung tâm khai thác nhân tài quốc tế Trung Quốc. Con gái Trần San San (chồng là Vương Quang Á, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc.)

Con trai nguyên soái La Vĩnh Hằng là La Đông Tiến, quân hàm Trung tướng, nguyên Phó chính ủy Bộ tư lệnh Pháo binh 2 Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Con trai của nguyên soái Từ Hướng Tiền là Từ Tiểu Nham, quân hàm Trung tướng, đã từng làm Trưởng ban Ban Thông tin Bộ Tổng tham mưu Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Con gái nguyên soái Nhiếp Vinh Trăn là Nhiếp Lực, quân hàm Trung tướng, đã từng làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng, hiện nay đảm nhiệm Phó chủ tịch thường trực Hội Phát minh Trung Quốc, Ủy viên thường vụ Quốc hội Trung Quốc (chồng là Đinh Hằng Cao, quân hàm Thượng tướng, Viện sĩ Viện Công trình Trung Quốc, đã từng làm Chuyên viên nghiên cứu, Phó chủ nhiệm, Chủ nhiệm Ủy ban khoa học Quốc phòng. Hiện nay làm Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật quán tính Trung Quốc).

Con trai trưởng của nguyên soái Diệp Kiếm Anh là Diệp Tuyển Bình, Phó chủ tịch Ủy ban mặt trận dân tộc Trung ương (vợ là Ngô Tiểu Lan, cháu gái của Ngô Ngọc Chương, làm Phó chủ nhiệm Hội đồng nhân dân thành phố Thâm Quyến. Con gái Diệp Tân, Tổng giám đốc Công ty Vạn Tín Hồng Công). Con trai Diệp Tuyển Ninh (Nhạc Phong), từng làm Trưởng ban Liên lạc Tổng bộ Chính trị Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc, quân hàm Trung tướng, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội. Con trai Diệp Tuyển Liêm, Ủy viên Ủy ban mặt trân dân tộc trung ương (Chính hiệp toàn quốc), Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Khải Lợi, một trong những người phụ trách Công ty Bảo Lợi Bộ Tổng tham mưu Quân giải phóng. Con gái Diệp Sở Mai, nguyên Phó cục trưởng Cục Máy cái Bộ Công nghiệp Cơ giới (Chồng là Trâu Gia Hoa, Phó thủ tướng Quốc vụ viện). Con gái Diệp Hướng Chân (chồng là La Đan, cháu ngoại của Tiền Tráng Phi). Con gái Diệp Văn San, Phó chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Đầu tư Hoa kiều Hải Nam, đã từng làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Bôn Đức Châu Á-Thái Bình Dương Hồng Công (chồng là Dư Phương con trai của Dư Thu Lý).

VŨ PHONG TẠO biên dịch
qdnd.vn

(Theo Báo mạng Trung Hoa)

Nguyễn Khoa Nam: Cô đơn và đoản mệnh

QĐND – Trong quân đội ngụy Sài Gòn, có hơn 160 người đeo lon tướng, thì Nguyễn Khoa Nam là một trong rất ít tướng được binh sĩ ca ngợi bởi vẻ học thức và sự “trong sạch”. Nhưng vào ngày tàn cuộc chiến, ông ta vẫn bị mê hoặc bởi một thứ “lý tưởng nhập khẩu” từ Mỹ và đã chọn con đường ngu ngốc: tự sát.

Nguyễn Khoa Nam-Viên tướng sống cô đơn, khép kín.

Huế giải phóng ngày 26-3-1975 thì chừng 16 giờ chiều hôm sau, Đoàn công tác đặc biệt của Bộ tư lệnh Pháo binh đã có mặt tại căn cứ Trần Cao Vân. Từ tối ấy, đoàn chúng tôi trú tại Nhà thờ họ Nguyễn Khoa cạnh chùa Bà La Mật, thuộc địa phận xã Phú Hương, huyện Phú Vang trên đường Huế đi Thuận An. Với 38 sĩ quan trung, cao cấp và hai chiến sĩ, vậy mà chúng tôi chỉ sử dụng hết một phần nhỏ diện tích của nhà thờ. Thuở học trường huyện, được tắm gội trong những áng văn của nhà lý luận phê bình văn học Hải Triều-Nguyễn Khoa Văn, mấy năm sau lại ở trong Nhà thờ họ Nguyễn Khoa, thế nên “eng” (anh) giải phóng vừa từ Hà Nội vào là tôi cứ đoán già đoán non tướng Nguyễn Khoa Nam bên kia chiến tuyến có thể là hậu duệ của cụ Tổ tại nhà thờ này, nên lò mò thu thập những điều người ta nói về Nam.

Trong đội ngũ bại tướng của quân đội Sài Gòn, có lẽ Nguyễn Khoa Nam là người được học hành đến nơi đến chốn và đậm chất nghệ sĩ nhất. Nam quê gốc làng An Cựu Tây, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, sinh ngày 23-9-1927, tại Đà Nẵng. Bố là Nguyễn Khoa Túc làm Thanh tra giáo dục thời Pháp thuộc tại Đà Nẵng (về hưu năm 1941 tại Huế); mẹ là Tôn Nữ Mộc Cẩn thuộc dòng Tuy Lý Vương. Gia đình có 5 anh chị em, hai anh mất sớm, năm 1975 chị gái là Nguyễn Khoa Diệu Khâm làm ngành y tại Sài Gòn, em trai là Nguyễn Khoa Phước theo ngành giáo dục. Nam học Tiểu học tại Trường École des Garcons (trường dành cho nam học sinh) ở Ðà Nẵng, sau đó ra Huế học Trường Khải Ðịnh, năm 1943 đậu bằng Thành chung và học lên Nhị cấp, năm 1947 tiếp tục học lớp Ðệ nhị Toán và lớp Hành chính tại Huế. Nam giỏi Anh ngữ và Pháp ngữ, lại có năng khiếu hội họa và âm nhạc. Thời gian 1947-1949, Nam tập trung vào hội họa. Chuyện rằng hồi đó Nam ngồi suốt ngày bên khung vải, cặm cụi cho ra đủ các loại tranh sơn dầu, bột màu, bút chì, một số bức tranh được trưng bày. Thời trai trẻ nghe bảo Nam từng yêu một mỹ nữ, về sau người này sang Pháp và lấy chồng là bác sĩ bên ấy, từ đó ông ta “kiêng kỵ” phụ nữ đến suốt đời, nhưng người thân và gia đình vẫn thấy trong các tác phẩm hội họa của chàng trai thất tình này luôn thấp thoáng bóng dáng người tình xưa. Năm 1951, Nam làm tại Sở Ngân sách Trung kỳ.

Tháng 4-1953, Nguyễn Khoa Nam vào học Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức thuộc “Quân đội Quốc gia Việt Nam” trong Liên hiệp Pháp. Mãn khóa, y đeo lon thiếu úy, từ đó con người sống thiên về nội tâm và rêu phong như lăng tẩm Huế đã bị cuốn vào đường binh nghiệp.

Năm 1955, y làm Ðại đội trưởng lính dù, sau đó đi học kỹ thuật khoảng 8 tháng ở Pau (Pháp), trở về đeo lon đại úy. Từ khi đeo lon úy cho đến khi đeo lon tướng vào năm 1972, làm Tư lệnh Quân đoàn 4 kiêm Tư lệnh vùng 4 chiến thuật, Nam sống độc thân khép kín, hầu như không mấy khi tâm sự với ai, thế nên người ngoài từ cấp trên đến cấp dưới đều khó hiểu, khó gần. Y thuộc tạng “xa lạ giữa những người thân thuộc”.

Việc Nguyễn Khoa Nam cho lập mật khu tử thủ tại Cần Thơ tháng 4-1975 và sau đó tự sát cùng với cấp phó của mình là Chuẩn tướng Lê Văn Hưng về sau được một số tàn quân viết trong hồi ký. Theo Lê Nguyên Bình, cựu đại tá ở Bộ Tham mưu Vùng 4 chiến thuật quân đội ngụy Sài Gòn thì: “Bộ tư lệnh vùng 4 và Quân đoàn 4 đã nỗ lực xây nhiều địa ốc kiên cố chuẩn bị cho Bộ Tổng tham mưu (Quân đội Sài Gòn) và các đơn vị khi cần có thể rút về giữ tuyến cuối cùng… Từ ngày 24 đến 30-4-1975, Quân Giải phóng đã chia cắt và chiếm nhiều đoạn dài trên lộ 4 (tức Quốc lộ 1A hiện nay). Tỉnh trưởng Long An nhiều lần gọi điện xin dùng thuốc nổ phá hủy hai cầu Tân An và Bến Lức nhằm cắt đứt bước tiến của Quân Giải phóng, nhưng Nguyễn Khoa Nam nhất quyết không đồng ý vì dự phòng phương án cho chính quyền Sài Gòn và Bộ Tổng tham mưu lui về Cần Thơ bằng đường bộ (!)… Sáng 30-4-1975, một số binh sĩ bỏ ngũ. Tại thị xã cảnh náo loạn đã xảy ra, kế hoạch tử thủ ở Cần Thơ của Nguyễn Khoa Nam cũng không thuận lòng dân địa phương…”.

Trưởng thành từ lính dù (một trong những lực lượng “con cưng” khét tiếng gian ác của quân đội Sài Gòn) từ đại đội trưởng đến lữ đoàn trưởng lữ đoàn nhảy dù, lại làm tay sai cho hết chủ Pháp rồi chủ Mỹ, bàn tay của Nguyễn Khoa Nam từng vấy máu đồng bào ta từ Quảng Ngãi, Kon Tum, Sài Gòn-Chợ Lớn… đến Tiền Giang, Cần Thơ. Thế mà, theo lời kể của Lê Văn Danh (trung úy, trợ lý của Nam), Nam lại là “tín đồ” của đạo Phật: “Tầng dưới sở chỉ huy nơi ông làm việc, khi bước vào cửa: bên trái là phòng thuyết trình cũng là nơi làm việc của tùy viên. Bên phải là phòng thờ Phật. Bàn thờ Phật đặt giữa bức tường phía sau, trên bàn thờ Phật có tượng Phật Thích Ca, phía bên phải bàn thờ Phật có một cái chuông nhỏ, giữa là lư hương được cắm nhang điện, bên trái là đĩa trái cây và hai cây đèn cầy bằng điện ở hai bên bàn thờ. Bên phải phòng thờ Phật là phòng ăn của ông, phòng rất dài, trên 10 thước, đặt một bàn ăn dài, trải vải trắng, tấm vải trắng này đã đắp cho ông sau khi chết… Buổi sáng trước 7 giờ, trước khi đi làm ông đến bàn thờ đốt nhang xá Phật, cắm hương vào lư nhang và gõ vài tiếng chuông, tối về trước khi đi ngủ ông đến bàn Phật đốt nhang như buổi sáng…”.

Phải chăng ghê sợ với chính tội ác của mình mà những ngày cuối cùng của cuộc đời, Nguyễn Khoa Nam đã tìm đến cửa Phật để cầu mong được xá tội?

Trong khi 5 cánh Quân Giải phóng đang như 5 dòng thác tiến về Sài Gòn, nhiều viên tướng của quân đội Sài Gòn đã theo Nguyễn Văn Thiệu chuồn ra nước ngoài, số đông còn lại không thể tháo chạy theo cầu hàng không nên đành ở lại mặt đất để mấy hôm sau chấp hành cải huấn. Thời gian đầu họ sống trong nơm nớp, đến hết thời gian cải huấn họ đã được sống tự do cùng gia đình. Bấy giờ, chính họ tự thốt lên rằng chỉ có “cuộc tắm máu” xảy ra trong hoang tưởng của họ mà thôi.

Riêng Nguyễn Khoa Nam dường như luôn lẻ loi với đời thường hay bị tiêm nhiễm luận điệu tuyên truyền từ bộ máy chiến tranh tâm lý của Mỹ-Thiệu, hoặc lo sợ trước tội ác của mình từng gây cho đồng bào nên đã chọn cái chết. Danh chứng kiến ngày cuối cùng của “chủ tướng” mình: “…Từ ngoài nhìn vô bàn Phật, ông ngồi trên ghế sô-pha phía bên phải, đôi mắt đăm chiêu nhìn lên bàn thờ. Anh Việt (tùy viên thứ hai của ông) bước ra cửa để về thăm vợ con, còn trung sĩ Hộ đang thập thò trước cửa. Ông đứng dậy đến bàn thờ lấy 3 cây nhang đốt, vái ba vái cắm vào lư hương, gõ 3 tiếng chuông… xong vái 3 vái tiếp rồi về ngồi lại nơi cũ, hai tay để trên thành gỗ sô-pha như không có chuyện gì sắp xảy ra, bất chợt ông xoay qua bảo:

– Danh ra ngoài bảo Việt dẫn vợ con đi đi.

– Dạ.

Tôi thầm nghĩ ông và tôi đều độc thân, chắc ông nghĩ cách khác. Tôi đẩy nhẹ cánh cửa bước ra sân hướng về phòng trung úy Việt. Vừa đi khỏi một chút, tôi nghe tiếng súng nổ từ hướng bàn thờ Phật. Tôi chưa kịp quay trở lại thì trung sĩ Hộ chạy ra la thất thanh:

– Ðại úy! Ðại úy ơi! Thiếu tướng tự sát rồi (trong lúc hoảng sợ trung sĩ Hộ đã gọi nhầm Danh là “đại úy” – GH)

Tôi vội chạy vào phòng hãi hùng chứng kiến: Ông ngã ngửa hơi lệch về phía sau sô-pha, đầu nghiêng về bên trái, khẩu Côn 45 vẫn còn trong tay buông thõng xuống, nhưng các ngón tay cầm súng đã nới lỏng, đầu đạn xuyên từ tai phải qua trái, mắt ngước nhìn lên trần nhà… Lúc đó là khoảng 7 giờ 30 phút sáng ngày 1-5-1975… (Về thời điểm Nguyễn Khoa Nam tự sát, có tài liệu ghi xảy ra đêm 30-4 rạng sáng 1-5-1975 – GH).

Giao Hưởng
qdnd.vn

(Tài liệu tham khảo: Hồi ký của Lê Ngọc Danh, Lê Văn Hưng đăng trên báo chí nước ngoài)

En-mô Dum-uôn và “hồi chuông màu da cam”

LTS: En-mô Dum-uôn (Elmo Zumwalt, 1920 – 2000) là đô đốc Hải quân Hoa Kỳ từng tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tên tuổi và gia đình ông ta cũng được người Mỹ coi là một trong những bi kịch lớn nhất của thời hậu chiến tranh Việt Nam.

Xanh, nâu và da cam

Trong chiến tranh Việt Nam, lực lượng dưới quyền Dum-uôn không phải là “Hải quân nước xanh” như Hạm đội 7 của Đô đốc Sác-pơ (Sarp), mà là “Hải quân nước nâu”, có nhiệm vụ tuần phòng bờ biển, bến cảng và sông ngòi ở Nam Việt Nam. Dưới quyền Chuẩn đô đốc Dum-uôn lúc đó có hơn 38 nghìn lính thủy Mỹ. Trong số các thuyền trưởng tàu cao tốc có con trai ông ta, Rút-xen Dum-uôn III (Russell Zumwalt III) và Giôn Ke-ri (John Kerry), sau này là thượng nghị sĩ Hoa Kỳ.

Quân Giải phóng nấp trong các rừng rậm ven biển và ven sông đã gây khó khăn cho các Thủy quân Mỹ và “Việt Nam cộng hòa” bằng các trận phục kích bất ngờ. Oa-sinh-tơn khi đó đã đề xuất Hải quân Mỹ sử dụng một loại thuốc diệt cỏ, gọi là Chất da cam (Agent Orange/dioxin), nếu được rải lên tán cây, có thể làm trụi những lùm cây, bụi rậm từng được đối phương sử dụng rất hiệu quả cho cách đánh của họ. Cho dù tác động của nó lên con người chưa được thẩm định, các công ty Mỹ sản xuất Chất da cam là Đao (Dow) và  Mon-san-tô (Monsanto) mong muốn giành được lợi nhuận kếch xù đã cam đoan rằng, chất này là an toàn cho người sử dụng???

Các nguồn của Hoa Kỳ cho rằng, Đô đốc Dum-uôn đã chấp nhận sử dụng Chất da cam không chỉ để bảo vệ con trai mình mà còn vì những người lính khác của anh ta khỏi một hiểm họa trực diện và rõ ràng. Nhưng trên thực tế, ông ta đã đưa họ vào thế bị phơi nhiễm bởi thứ hóa chất gây ung thư đó. Sử dụng Chất da cam trên chiến trường, ông ta đã dựa trên các nguồn tin có phần áp đặt và thiếu tin cậy. Bản thân cựu đô đốc Dum-uôn đã tự bào chữa với hãng Thông tấn The Associated Press năm 1985 rằng, ông đã lệnh cho sử dụng Chất da cam với kỳ vọng làm giảm thương vong cho quân đội Mỹ nhờ phát quang các quần thể thực vật, vốn là nơi ẩn nấp và hoạt động của đối phương[1].

Trên thực tế, đô đốc Dum-uôn hẳn đã bị dẫn dắt vào một “đoạn trường” đã bày sẵn. Theo sách “Tổng thống Ken-nơ-đi – giai đoạn cầm quyền” (President Kennedy, Profile of Power) tác giả Ri-sớc Ri-vơ (Richard Reeves, NXB Simon and Schuster, 1989), từ đầu thập niên 1960, Nhà Trắng đã bí mật phê chuẩn sử dụng Chất da cam để phát quang cây cỏ trên những lộ trình hoạt động của “VC”.

Cuối 1961, các tàu đại dương đã chuyên chở hàng trăm nghìn ga-lông Chất da cam trong những thùng phuy gửi cho tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Chúng được dán nhãn là “hàng phục vụ nông nghiệp” để tránh sự kiểm tra của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế… Trong 10 năm, đã có tới 20 triệu ga-lông (80 triệu lít) chất diệt cỏ và chất làm trụi lá được rải xuống Việt Nam, miền đông Lào, và một số nơi ở Cam-pu-chia. Nó chỉ được đình chỉ sử dụng năm 1971 dưới sức ép của dư luận tiến bộ quốc tế.

Lính Mỹ chiết rót chất da cam tại miền Nam Việt Nam.

Thăng – trầm

Trở thành Tổng chỉ huy Hải quân Mỹ tháng 7-1970, Dum-uôn là tướng Mỹ trẻ nhất từng giữ chức vụ này. Ông ta lập tức nổi tiếng vì “chương trình Z” (Z – Grams; Z là chữ đầu của danh tính Zumwalt), làm cho binh nghiệp trong Hải quân Mỹ trở thành hấp dẫn, sau khi ông ta nới lỏng những quy định của quân chủng này, từng làm cho các tân binh cho rằng, chúng “hạ thấp nhân phẩm và vô nghĩa”. Chẳng hạn, một trong 121 chỉ lệnh của “chương trình Z” đã khẳng định rằng, người da màu và phụ nữ được phục vụ trong hải quân Mỹ và được bình quyền với các đối tượng khác.

Tuy nhiên, theo tờ Thời báo Niu Y-oóc ra ngày 3-1-2000, nhiều nhân vật, kể cả các đô đốc hồi hưu đã cáo buộc khá quyết liệt rằng “chương trình Z” kiến tạo một không khí dễ dãi, buông lỏng kỷ luật nhà binh. Theo báo  Pít-xbớc (Pittsburgh Post – Gazette) 14-4-1996, “chương trình Z” không được lòng chính quyền Ních-xơn. Năm 1974, Dum-uôn nhận quyết định hưu ở tuổi 53.

Bản thân đô đốc hồi hưu Dum-uôn sẽ còn đụng độ với Ních-xơn và Kít-xinh-giơ khi đấu tranh cho quyền lợi của cựu chiến binh Mỹ[2].

Hậu Việt Nam

Sau 32 năm phục vụ trong hải quân, năm 1976, Dum-uôn đã lao vào một cuộc chạy đua bất thành vào Nghị viện Mỹ. Hiện chưa rõ thất bại nghị trường này là do ông ta ra lệnh cho sử dụng chất độc màu da cam hay do đã để xảy ra các vụ đụng độ chủng tộc trên các tàu chở máy bay Kít-ti Hốc (Kitty Hawk) và Công-xten-lê-sơn (Constellation) năm 1972, trong một thời gian đầy nhạy cảm trên chính trường Mỹ.

Con trưởng của đô đốc Dum-uôn, Rút-xen Dum-uôn III mất năm 1988, hưởng dương 42 năm. Anh ta từng thuộc trong danh sách gần 40 ngàn cựu chiến binh Mỹ là nạn nhân của chất độc màu da cam cho đến 1993, theo sách Phong trào đòi quyền được công nhận phế binh: từ bố thí đến đối đầu (The disability rights movement: from charity to confrontation), tác giả Đô-rít Phlét-sơ (Doris Fleischer), NXB Temple University Press, 2000, tr.178). Cháu nội đô đốc Dum-uôn, con trai Dum-uôn III, bị dị tật bẩm sinh do ảnh hưởng chất độc da cam, không thể cắp sách đến trường. Tờ Associated Press ngày 14-8-1988 cho hay, cựu Trung úy Rút-xen Dum-uôn III trước khi từ trần đã khẳng định rằng: tất cả các hội chứng loạn thần kinh, ung thư, bệnh da liễu… mà các cựu chiến binh Mỹ từng ở Việt Nam mắc phải, cũng như các bệnh bẩm sinh hiểm nghèo mà con cái họ phải chịu, là do nhiễm chất độc da cam.

Rút-xen Dum-uôn III là đồng tác giả “Cha con tôi”, cuốn tiểu sử của cha anh và chính mình, đã chấp bút nó dưới những ám ảnh và hành hạ của thần chết “áo màu da cam”. Cuốn sách thực ra là một tiểu sử tổng hợp, khi các thành viên của đại gia đình Dum-uôn bàn luận về bi kịch gia đình họ, bởi Chất da cam mà Trung úy Rút-xen Dum-uôn III đã nhiễm phải khi tham chiến ở Việt Nam.

La-ri Bớc-man (Larry Berman), người nổi tiếng vì những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam, đang viết cuốn sách: “Z lớn: Cuộc đời và thăng trầm của đô đốc Elmo Russell Zumwalt, Jr” . Tác giả Bớc-man cho rằng, một cột mốc lớn là chuyến đi Việt Nam năm 1995 của Đô đốc Dum-uôn, với cuộc gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp để bắt đầu những nỗ lực đầu tiên nhằm giải quyết vấn đề chất độc da cam bằng những phối hợp trong lĩnh vực y tế.

Hồi chuông màu da cam

Nhiều tiếng nổ của “bom hẹn giờ” mà nghị sĩ Mỹ Neo-xơn từng cảnh báo đã biến thành cuộc tranh đấu quyết liệt cho quyền lợi của nạn nhân chiến tranh của cả hai bên cuộc chiến. Đô đốc Dum-uôn và các con là cựu chiến binh Mỹ của ông đã và đang đi đầu trong sự nghiệp này. Con trai thứ hai của Dum-uôn, cựu chiến binh Giêm Dum-uôn (James Zumwalt) đã sang Việt Nam tới 50 lần trong 10 năm kể từ 1994, viết nên cuốn sách “Chân trần, trí thép: chuyện những người bên kia chiến tuyến ở Việt Nam” (Bare Feet, Iron Will ~ Stories from the Other Side of Vietnam’s Battlefields, NXB Fortis Publishing, 2010) về những người cách mạng Việt Nam, được dư luận tiến bộ đánh giá cao.

“Hậu quả việc Mỹ không thể thắng đã rõ ràng” là câu mở đầu những dòng cuối của chương “Trở về” của cuốn hồi ký toàn gia “Cha con tôi”, khi Đô đốc Dum-uôn khẳng định Việt Nam sẽ còn là tiêu điểm của cuộc tranh luận của nước Mỹ. Ông viết tiếp: “Với cá nhân tôi, sự thất bại của chúng ta ở Việt Nam đã làm cho tôi tràn ngập niềm đau xót, mất mát, về những cái chết, những thương tích, cả về thể xác và tâm hồn. Sự hy sinh của họ trở nên đau đớn và khó chấp nhận hơn, vì nước Mỹ đã thua một cuộc chiến tranh. Vô cùng bối rối, tôi đã suy nghĩ, đã tự chỉ trích nhiều lần. Tôi đã từng cho rằng, những lính thủy Mỹ tử trận trên sông nước sẽ được đền bù bằng việc có một số lượng lớn hơn sinh mạng lính Mỹ được an toàn, sẽ thúc đẩy được cuộc bình định châu thổ. Nhưng cuối cùng, các nỗ lực đã có tổng bằng không, các lính thủy đã hy sinh vô ích. Phân tích đến cùng, tôi cho rằng mọi cố gắng của chúng ta ở Việt Nam là tồi tệ. Giá như chúng ta đừng can thiệp vào Việt Nam thì tình hình sẽ tốt hơn nhiều. Những điều đã xảy ra với con trai tôi và cháu nội tôi, như là hậu quả của cuộc chiến tranh này, còn làm tôi đau lòng hơn bội phần…”.

Lê Đỗ Huy (tổng hợp)
qdnd.vn

Cùng hướng về mặt trời chính nghĩa

QĐND – LTS: Tháng 10-2003, NXB Si-mơn & Sút-xtơ (Simon & Schuster) xuất bản cuốn sách “Họ tiến về hướng mặt trời: Chiến tranh và hòa bình, Việt Nam và Mỹ, tháng Mười 1967”. Tác giả Đê-vít Ma-ra-nít (David Maraniss) đã song hành hai mặt trận khác nhau của cuộc chiến tranh ở Việt Nam: Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam và cuộc đấu tranh của các chiến sĩ hòa bình Mỹ. Trên chuyên mục điểm sách của Thời báo Niu-Yoóc, tác giả Phi-líp Ca-pu-tô (Philip Caputo) phê bình cuốn sách trên. SK & NC xin trích giới thiệu một bài bình văn tiêu biểu trong văn học Mỹ.

Trước khi đọc cuốn sách này, tôi đồ rằng mọi thứ nhân gian cảm nhận được về thời cuộc chiến tranh Việt Nam với thập kỷ 60 đã viết hết rồi: Nào là văn học hư cấu (fiction) nào là chuyện người thật việc thật (nonfiction), cả bằng văn hóa cao, lẫn văn hóa “lùn”, cả bằng thể phim truyện, cả bằng những phóng sự truyền hình.

Những “con sư tử đen” sa bẫy tại rừng Long Nguyên.

Tôi đã khá lưỡng lự khi mở cuốn Họ tiến về hướng mặt trời: Chiến tranh và hòa bình, Việt Nam và Mỹ, tháng Mười 1967. Lại một cuốn nữa, to như đá chặn cửa, về cuộc chiến tranh Việt Nam và những năm 60, tôi nghĩ. Nhưng mới đọc được ba trang thì tôi đã bị hút vào cho đến trang cuối…

Ma-ra-nít, một ký giả của Báo Bưu điện Oa-sinh-tơn (Washington) được giải Pu-lít-dơ (Pulitzer), cũng là tác giả của tiểu sử Bin Clin-tơn (Bill Clinton) và Vin-xơ Lom-bác-đi (Vince Lombardi-huấn luyện viên nổi tiếng), là một nhà văn bậc thầy về thức trần thuật. Trong “Họ tiến về hướng mặt trời”, Ma-ra-nít đã đặt song song các sự kiện của một trận đánh nhỏ nhưng ác liệt ghê gớm ở Việt Nam, với một cuộc tuần hành chống chiến tranh ở Đại học Uýt-con-xin (Wisconsin), trong hai ngày tháng 10-1967. Quả là một sự trùng hợp mà tác giả hẳn đã cảm thấy bị hút vào, không sao cưỡng lại.

Cuốn sách chứa một khối lớn, theo phong cách Tôn-xtôi (Tolstoi), các tuyến nhân vật, từ viên cai Uyn-li Giôn-xơn (Willie Johnson) tới Tổng thống Lyn-đơn Giôn-xơn (Lyndon Johnson), từ anh du kích Việt Cộng Nguyễn Văn Lam cho tới Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp; từ Bin-ly Si-mơn (Billy Simons), người lãnh đạo sinh viên phản chiến, đến Uy-li-am Si-oen (William Sewell), Hiệu trưởng Đại học Wisconsin. Còn lại là các doanh nhân, giáo sư, một dàn diễn viên mang tên Nhóm Kịch câm Xan-Phran-xi-xcô (San Francisco), các đảng viên Cấp tiến cánh tả Mới, và hai nghiên cứu sinh là Đích (Dick) và Lin-nơ Sơ-ni (Lynne Cheney).

Ma-ra-nít quả có bị thử thách khi cố làm cho toàn tuyến nhân vật hùng hậu ấy trở nên sinh động. Nhưng các nhân vật chính quả là sống động, tạo cho “Họ tiến về hướng mặt trời” một chất lượng kiểu mẫu cho tiểu thuyết. Đồng thời, tính sử thi của cuốn sách có lúc vượt quá tầm. Những cuộc du ngoạn trong các “cung điện” quyền lực ở Washington đã làm chậm, một cách không cần thiết, dòng chảy của sách, và làm tôi giật mình vì thấy chúng giống như nỗ lực xào xáo lại, một cách súc tích, cuốn sách “Những người tài hoa và cừ khôi nhất trần đời” (The Best and the Brightest)(1) của Đa-vít Han-bớc-xtam (David Halberstam)…

Ma-ra-nít đã phục chế lại những đường nét nguyên bản của bức tranh chiến tranh Việt Nam bằng cách rọi ánh sáng mới lên một sự thật bị quên lãng. “Phát ngôn ý thức hệ” (Ideological formulations) không phải là điều làm tác giả quan tâm, mà chính là “sự giao lưu giữa lịch sử và cuộc đời của các nhân vật, các biến cố, các tình tiết và các dự định, vừa thúc người ta lao lên phía trước, lại vừa níu họ, bắt cùng chôn chân tại chỗ”.

Chương chiến tranh của sách mở đầu bằng một tấm hình gây cảm tưởng như những bức ảnh được truyền đi bằng điện báo thời Thế chiến II, thể hiện hành trình của một con tàu chở hàng nghìn lính vượt Thái Bình Dương sang Việt Nam. Sau khi đoàn lính này đáp cảng Vũng Tàu, người đọc sẽ dõi theo những hành động chiến tranh của nó. Đó là một tiểu đoàn có cái tên đã di vào truyền thuyết là “Sư tử đen”, một phần của cái Sư đoàn bộ binh 1 đã được thần thánh hóa thành Anh Cả Đỏ.

Tiểu đoàn được chỉ huy bởi Trung tá Te-ri đơ la Mê-sa An-len Jr. (Terry de la Mesa Allen Jr.), sinh trưởng ở El Paso, Tếch-xát (Texas), trong một gia đình đã là thần tượng nhà binh: Thiếu tướng Terry Allen Sr. từng chỉ huy Sư đoàn 1 trong suốt những trận đánh ác liệt nhất của thế chiến II. Allen Jr. đã bày tỏ sẽ tiếp nối những bước đi hoành tráng của người cha. Nhưng vợ của Allen Jr. đã bỏ viên quan tư này để theo một võ sĩ đấu bò, khiến anh ta bị giày vò bởi những nghi ngờ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam và binh nghiệp của mình.

Tác giả chuyển cảnh, sang Sở chỉ huy của đối phương, để người đọc gặp Võ Minh Triết, chỉ huy một đơn vị thuộc một luồng sự kiện khác của sách: Trung đoàn 1, Sư đoàn 9 của Việt Cộng. Trung đoàn với 1.500 quân của ông Triết đang trú quân tạm thời tại một cánh rừng dữ dội, mang một cái tên dữ dội là ‘mật khu Long Nguyên”, nằm ở phía tây bắc Sài Gòn.

Chịu sức ép của thượng cấp trong cuộc chạy đua số lớn về đếm xác đối phương, Allen dẫn những con “sư tử đen” vào địa ngục. Một tiểu đoàn (Mỹ) thường có khoảng 800 quân, nhưng chiến trận, bệnh tật và các vấn đề cá nhân đã giảm quân số của tiểu đoàn “Sư tử đen” xuống chỉ còn một nửa. Một nửa của cái nửa ấy: Hai đại đội thiếu, cộng với đại đội trực thuộc sở chỉ huy đã kiệt sức, đã dấn vào cuộc hành quân “tìm diệt” cùng với Allen.

Lính của ông Triết, đông hơn nhiều, đang phục sẵn. Điều trớ trêu là, vẫn theo Tôn-xtôi, những trận đánh nhiều khi không thành hay bại bởi sự sáng suốt hay đần độn của người chỉ huy, mà bởi những sự tình cờ. Trung đoàn của Võ Minh Triết không được giao nhiệm vụ mai phục ở đấy, mà được lệnh hành quân đi Lộc Ninh. Nửa đường hết lương thực, đơn vị này đành tạm trú ở mật khu Long Nguyên để tìm gạo. Để hoàn thành nhiệm vụ tiến quân về Lộc Ninh, ông Triết phải chỉ huy bộ đội quét sạch lính Mỹ cản đường mình, điều mà ông đã thực thi với một cung cách kiểu mẫu, như trong tài liệu giáo khoa.

Cảnh sát đàn áp những người biểu tình chống chiến tranh. Madison, tháng 10-1967.

Sách của Ma-ra-nít đã diễn tả một cuộc chiến tranh của lục quân thực sự: Những tiếng nổ khủng khiếp, sự rối loạn, hỗn độn, các xác chết, những người hấp hối và những mảnh cơ thể vương vãi khắp nơi, máu tuôn trào khiến cho súng bị kẹt. 58 người trong số 200 quân của “Sư tử đen”, kể cả Allen, bị thiệt mạng. 61 lính Mỹ khác bị thương.

Tiểu đoàn “Sư tử đen” đã không còn tồn tại như một đơn vị còn sức chiến đấu, nhưng Ma-ra-nít đã đi xa hơn khi chỉ ra rằng bộ tuyên truyền của quân đội Mỹ đã cố nhào nặn các sự kiện để biến một thảm kịch thành một bài ca chiến thắng. Những lời nói dối khủng khiếp ấy đã tương phản cả với ký ức về trận đánh của những người lính còn sống sót của tiểu đoàn, được họ kể lại sau khi hồi phục ở quân y viện, lẫn những trải nghiệm đã đến với thân nhân của lính Mỹ tử trận, khi nhìn thấy bộ dạng khiếp đảm của người bưu tá cầm giấy báo tử.

Chương nói về cuộc chiến của những người chống chiến tranh, mà kết tinh là thành phố sinh viên Madison, cũng rất lôi cuốn. Cuộc tuần hành được tổ chức để ngăn chặn việc Công ty Đao (Dow) sản xuất bom na-pan tới tuyển nhân sự ở Làng đại học Madison. Tựa như những “sư tử đen” của Allen sa bẫy trong rừng rậm Việt Nam, những người phản chiến, cảnh sát, và các quan chức của đại học Wisconsin đã dấn vào một cuộc đụng độ bạo lực. Nguyên nhân là sự tính toán nhầm và thiếu giao lưu giữa các bên của cuộc xung đột Madison.

Hướng đạo bởi một thiểu số kiên định là những thành viên hăng hái nhất của phong trào phản chiến, bị bức xúc bởi sự khiếm khuyết của các hành động phản kháng hợp luật, những người biểu tình đã chiếm tòa nhà nơi các nhân viên của Công ty Đao đang tiến hành phỏng vấn. Sau khi không thuyết phục nổi những người phản đối chiến tranh rời khỏi tòa nhà trong hòa bình, Hiệu trưởng trường đại học đã viện đến lực lượng cảnh sát của Madison, dẫn đến những hậu quả thảm khốc. Maraniss đã tránh không “đúc khuôn” các thành viên ban giám hiệu, các chỉ huy cảnh sát, và các thành viên cánh tả Mới đã lãnh đạo những người phản đối chiến tranh… Những người biểu tình được mô tả có phần tròn trịa, bị kích động bởi một hỗn hợp của chủ nghĩa vị tha, cảm tính, chủ nghĩa cá nhân, và niềm tin vào công lý.

Cuối cùng, các vấn đề được tranh cãi nóng bỏng và kịch liệt 40 năm trước vẫn vang dội đến hôm nay: về vai trò của Hoa Kỳ đối với thế giới, về những tham vọng đế quốc, về sự rồ dại của mô hình “súng và bơ”(2), và về những di sản gớm giếc về đạo đức của chiến tranh…

Lê Đỗ Huy (trích dịch)
qdnd.vn

 (1): Trong “Những người tài hoa và cừ khôi nhất trần đời”, tác giả David Halberstam lý giải vì sao những người có học thức và khá giả trong xã hội Mỹ (tầng lớp thượng lưu), cũng như những “bộ óc điện tử” trong chính giới và giới quân sự lại có thể sai lầm một cách đáng kinh ngạc trong một thời gian dài như thế (so incredibly wrong for so incredibly long) của thời kỳ chiến tranh Việt Nam.

(2): Tổng thống Johnson vừa muốn theo đuổi hành động chiến tranh ở Việt Nam, chạy đua vũ trang, làm chiến tranh Lạnh, lại vừa muốn thực hiện Những chương trình xã hội lớn (Great Society programs) nhằm “xóa đói giảm nghèo” (!)

Không gian lịch sử Việt Nam và khu vực khi Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước

QĐND – Thứ Hai, 16/05/2011, 16:53 (GMT+7)

QĐND – Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành 21 tuổi nhận làm phụ bếp với lương tháng 45 phơ-răng (tiền Pháp) trên tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville) thuộc hãng vận tải Hợp nhất, rời Bến Nhà Rồng, Sài Gòn “đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”(1). Một vấn đề đặt ra là: Tại sao Nguyễn Tất Thành không thể tìm được con đường cứu nước ngay trên quê hương mình hoặc thậm chí ở các nước trong khu vực quanh ta, mà phải sang tận trời Tây? Trả lời thỏa đáng câu hỏi đó không phải là dễ dàng.

Trước hết chúng ta xem xét những gì đã diễn ra trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX trên không gian hẹp là nước Việt Nam. Như chúng ta đều biết, sau khi dập tắt phong trào Cần Vương – cuộc vùng dậy cuối cùng theo ý thức hệ phong kiến nhằm khôi phục nền độc lập dân tộc, thực dân Pháp bắt tay khai thác thuộc địa nhằm bòn rút của cải nước ta làm giàu cho chính quốc. Cùng với việc nhập ngoại giống cây trồng mới, đặc biệt là cây công nghiệp dài ngày, nền nông nghiệp truyền thống của ta nhạt dần tính chất độc canh vốn có của nó, nhiều trung tâm công thương nghiệp và các loại hình giao thông vận tải hiện đại… xuất hiện. Xã hội truyền thống Việt Nam bắt đầu có sự chuyển biến, khởi đầu từ địa hạt kinh tế, sau lan sang các lĩnh vực khác. Dường như cùng một lúc với những chuyển biến bên trong, từ bên ngoài, luồng tư tưởng dân chủ tư sản, theo những con đường khác nhau, đã chảy vào Việt Nam. Từ Trung Quốc, Nhật Bản, Tân văn, Tân thư được truyền vào Việt Nam, tạo nên những ảnh hưởng tư tưởng to lớn. Sau cùng tư tưởng dân chủ tư sản đến từ nước Pháp, quê hương của cuộc cách mạng tư sản điển hình. Trong guồng máy thống trị không chỉ có những tên thực dân tàn bạo, mà còn có cả những người Pháp chân chính, yêu tự do, đó là đội ngũ những thầy giáo, cô giáo, những nhà khoa học Pháp. Tư tưởng dân chủ tư sản được họ gieo vào đầu óc đám học trò đang ngồi trên nghế nhà trường Pháp-Việt, những người đồng nghiệp Việt Nam cùng làm việc với họ trong các cơ quan nghiên cứu khoa học, các công sở.

Nhà Rồng – nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: Tuấn Tú

Bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, tại Pháp, hằng năm đều có tổ chức những Hội chợ thuộc địa để quảng bá vẻ đẹp quyến rũ, nguồn tài nguyên phong phú của các xứ thuộc địa nhằm thu hút vốn đầu tư của tư bản Pháp. Các gian hàng Việt Nam được giới thiệu ở các hội chợ đó. Nhân đó, nhiều người Việt có dịp sang Pháp làm việc như Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Văn Vĩnh… đồng thời các phái đoàn sang Pháp “khảo sát chính trị” cũng được tổ chức. Các đoàn này thường được tuyển chọn trong đám quan lại cấp tỉnh và học sinh Trường Hậu bổ. Tháng 2-1906, đoàn khảo sát chính trị của Bắc Kỳ gồm 10 người, trong đó có Tri phủ Hoài Đức là Trần Tán Bình, sang Pháp. Năm sau, một đoàn khảo sát chính trị khác gồm 17 người (10 người Bắc Kỳ, 7 người Trung Kỳ, đáp tàu Himalaia sang Pháp). Đến Pháp, họ được đưa đi thăm nhiều nơi, nhưng chủ yếu tập trung khảo sát hai lĩnh vực quan trọng là kinh tế và giáo dục. Trở về nước, họ trở thành những người tuyên truyền cho nền văn minh Pháp.

Trong khi tư tưởng dân chủ tư sản tràn vào Việt Nam nhằm chuẩn bị về tư tưởng cho sự chuyển đổi hệ ý thức thì trong xã hội chúng ta lúc đó chưa hội đủ những điều kiện cần thiết nhất cho phong trào cách mạng theo khuynh hướng tư tưởng mới. Lúc đó, xã hội Việt Nam chưa xuất hiện một giai cấp tư sản làm bệ đỡ cho nó và lớp trí thức tân học đang ngồi trên ghế nhà trường, do vậy, lớp nhà nho yêu nước, thức thời đứng ra lãnh trách nhiệm tiếp nhận tư tưởng mới, đưa nó vào cuộc sống và biến nó thành phong trào cách mạng sôi nổi trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX. Dẫu vậy, sự vận động tư tưởng ở Việt Nam bằng phong trào Duy Tân đã bắt đúng nhịp đi và hòa cùng trào lưu “châu Á thức tỉnh” thời đó.

Phong trào Duy Tân ở nước ta đầu thế kỷ trước được phân thành hai nhánh: Ám xã và Minh xã. Ám xã (tổ chức bí mật) do Phan Bội Châu lãnh đạo, chủ trương sử dụng bạo lực, còn Minh xã (tổ chức công khai) do Phan Châu Trinh lãnh đạo, chủ trương tự cường bằng những hoạt động kinh tế, văn hóa – giáo dục. Điều đặc biệt lý thú là phong trào Duy Tân đầu thế kỷ do hai nho sĩ nổi tiếng lãnh đạo đã có sự phối hợp, liên kết bên trong với bên ngoài, giữa các lĩnh vực và giữa các vùng miền của đất nước, tạo thành một phong trào cách mạng có quy mô toàn quốc. Nhưng rồi, phong trào đó cũng bị bọn thực dân và tay sai dập tắt. Năm 1909, sau một thời gian hòa hoãn dài, thực dân Pháp và tay sai huy động một lực lượng quân sự lớn tiến công vào Yên Thế. Khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo đang đi dần tới những năm tháng tồn tại cuối cùng.

Tiếp đến, trên không gian lịch sử rộng hơn – không gian lịch sử các nước trong khu vực, đặc biệt các nước cùng cảnh ngộ như nước ta.

Nước Trung Hoa rộng lớn, văn hiến lâu đời, bị các nước tư bản phương Tây xâu xé cũng đang tìm lối ra. Tư tưởng dân chủ tư sản từ nhiều ngả đường khác nhau được truyền vào Trung Quốc và được lớp nho sĩ tiến bộ như: Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Dương Thâm Tú… tiếp nhận, dấy lên phong trào Duy Tân, rồi được ông vua trẻ Quang Tự đồng tình tiến hành cuộc chính biến Mậu Tuất 1898. Cuộc chính biến diễn ra được một trăm ngày thì bị phái bảo thủ trong triều đình Mãn Thanh do Tây Thái hậu cầm đầu phản công và dập tắt. Ngày 21-9-1898, Tây Thái hậu truất ngôi và bỏ ngục Vua Quang Tự, truy nã Khang, Lương và kết án tử hình Đàm Tự Đồng và Dương Thâm Tú, giải tán các học đường, học hội… Phong trào Duy Tân cuối thế kỷ XIX thất bại. Những người đang sống sót chạy ra nước ngoài cư trú chính trị, tiếp tục viết trước tác truyền về đại lục, tiếp tục nhen nhóm ngọn lửa cho những cuộc vùng dậy tiếp theo. Cho đến tháng 6-1911, Trung Quốc vẫn chưa tìm thấy lối thoát mà phải đến tháng 10-1911, Trung Quốc đã tìm thấy hướng đi bằng cuộc cách mạng Tân Hợi do Tôn Dật Tiên lãnh đạo.

Trên đất nước Ấn Độ bị thực dân Anh đô hộ, những nhà ái quốc Ấn Độ cũng đang tìm hướng giải thoát cho dân tộc mình. Tháng 12-1885, Đảng Quốc dân Đại hội (Đảng Quốc Đại), đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản dân tộc Ấn Độ, được thành lập, chính thức bước lên vũ đài chính trị. Mặc dù, Đảng chủ trương đấu tranh ôn hòa nhưng có vị trí đáng kể trong cuộc đấu tranh chống thực dân Anh như đòi cải cách về giáo dục, xã hội và mở rộng sự tham gia của người Ấn trong các Hội đồng tự trị… Ngày 16-10-1905, ngày đạo luật chia cắt Bengan có hiệu lực, nhân dân Ấn Độ coi đây là ngày quốc tang, đã dấy lên phong trào chống Anh mạnh mẽ, đặc biệt ở Bombay và Cancúta. Cuộc đấu tranh đó đã buộc thực dân Anh phải thu hồi đạo luật chia cắt Bengan, nhưng sau đó cũng không phát triển được.

Ở khu vực Đông Nam Á, phong trào giải phóng dân tộc cũng đang diễn ra rộng khắp, sôi nổi, liên tục.

Ở In-đô-nê-xi-a, nơi bị thực dân Hà Lan đô hộ, nhiều tổ chức yêu nước của trí thức tư sản tiến bộ ra đời, thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Từ năm 1905, nhiều tổ chức công nhân được thành lập và bước đầu truyền bá chủ nghĩa Mác. Cũng trong năm đó, tổ chức nghiệp đoàn đầu tiên của công nhân xe lửa được thành lập, kích thích sự ra đời của các nghiệp đoàn khác, từ đó, dẫn đến thành lập Hội liên hiệp Công nhân In-đô-nê-xi-a vào năm 1908.

Ở Lào, đầu thế kỷ XX, nhân dân các bộ tộc Lào đã nhiều lần nổi dậy chống thực dân Pháp. Năm 1901, nhân dân Xa-van-na-khệt, dưới sự lãnh đạo của Phacađuốc, đứng dậy đấu tranh. Và trong năm đó, một cuộc khởi nghĩa khác bùng nổ trên cao nguyên Bô-lô-ven cho đến năm 1907 mới bị dập tắt. Ở Miến Điện, cuộc kháng chiến chống thực dân Anh diễn ra anh dũng, nhưng cuối cùng bị đàn áp. Nghĩa quân phải rút vào rừng sâu hoạt động đợi thời cơ. Điểm qua tình hình Việt Nam và các nước trong khu vực như vậy để đi tới kết luận rằng, cả “châu Á đau thương”, trừ Nhật Bản và Xiêm, phong trào giải phóng dân tộc theo nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau diễn ra sôi nổi, liên tục, nhưng cuối cùng bị các thế lực thực dân và tay sai đàn áp và dìm trong máu. Khủng hoảng đường lối cứu nước không chỉ diễn ra ở Việt Nam, mà còn trong cả khu vực.

Ở Việt Nam, các bậc anh hùng nghĩa liệt thừa lòng yêu nước và lòng quả cảm, nhưng trước sau đều phải nhận lấy thất bại xót xa. Có nhiều nhân tố trong tình hình kinh tế-xã hội, chính trị-tư tưởng của đất nước lúc bấy giờ đã tạo nên những nghịch lý đó. Cuộc sống đang chứa đựng nghịch lý thì chính cuộc sống đang tạo ra những điều kiện vật chất để giải nghịch lý đó. Sự thất bại của các phong trào chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vừa chứng tỏ sự lỗi thời của hệ tư tưởng phong kiến, sự yếu ớt và bất lực của hệ tư tưởng tư sản, vừa từng bước chuẩn bị tiền đề cho một phương hướng cứu nước mới. Trong đội ngũ những nhà yêu nước đang hăm hở tìm đường cứu nước có một thanh niên trẻ tuổi mà buổi đầu xuất hiện đã vượt xa những nhà yêu nước đương thời về sự mẫn cảm của trí tuệ, về tầm nhìn. Đó là Nguyễn Tất Thành, người đã tự nguyện gánh lấy trách nhiệm ra đi tìm phương hướng cứu nước mới.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

————————

1. Trần Dân Tiên. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. NXB Chính trị Quốc gia và NXB Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr., 12.

Nguyễn Ái Quốc với đội ngũ thanh niên trí thức yêu nước thời dựng đảng

QĐND – Những năm 20 của thế kỷ 20 là những năm cực kỳ quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước, gắn chặt với tên tuổi Nguyễn Ái Quốc. Đó là thời kỳ nước ta trải qua một cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước và xuất hiện Nguyễn Ái Quốc như một vị cứu tinh của dân tộc.

Uy tín của Nguyễn Ái Quốc bắt đầu hình thành từ năm 1919 với Bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam gửi Hội nghị Versailles mà thời đó báo chí Pháp gọi là “quả bom chính trị nổ giữa Pa-ri”. Uy tín đó được củng cố và tăng lên qua những hoạt động chính trị của Người tại Pháp, đặc biệt từ khi thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa và cho ra đời tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) và cuốn sách Bản án chế độ thực dân Pháp. Những hoạt động chính trị đó không chỉ có tiếng vang trên đất Pháp, mà còn lan tỏa khắp năm châu, đăc biệt ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Tên tuổi Nguyễn Ái Quốc lan truyền nhanh chóng trên khắp đất nước, khích lệ những thanh niên trí thức trăn trở với vận nước tìm những con đường khác nhau ra nước ngoài tìm Nguyễn Ái Quốc. Sự háo hức của lớp trẻ thời đó đã tạo ra hai luồng xuất dương tìm đến Nguyễn Ái Quốc, trước hết là sang Pháp, sau đó qua Trung Quốc. Lớp thanh niên trí thức yêu nước sang Pháp tìm Nguyễn gồm Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Khánh Toàn, Bùi Công Trừng, Ngô Đức Trì, Trần Văn Giàu, Trần Đình Long, Dương Bạch Mai… Lớp trẻ sang Quảng Châu đến với Nguyễn là những “chàng trai bãi khóa” trong phong trào truy điệu và để tang nhà chí sĩ Phan Chu Trinh bị cảnh sát Pháp đàn áp, truy lùng như Lê Hữu Lập, Nguyễn Công Thu, Nguyễn Danh Thọ, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Sơn, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Hới, Nguyễn Văn Hoan, Trịnh Đình Cửu…(Bắc Kỳ), Lê Duy Điếm, Trần Phú, Nguyễn Ngọc Ba, Nguyễn Văn Lợi, Phan Trọng Bình, Phan Trọng Quảng… (Trung Kỳ), Ngô Thiêm, Lê Văn Phát, Nguyễn Mạnh Trinh… (Nam Kỳ). Lớp trẻ đến với Nguyễn Ái Quốc là đến với người tìm ra con đường cứu nước có hy vọng cho dân tộc, là đến với lãnh tụ cuộc cách mạng tương lai.

Bác Hồ với học sinh trường Trưng Vương-Hà Nội (năm 1956). Ảnh tư liệu

Nỗ lực của Nguyễn Ái Quốc sau 5 năm tìm được con đường giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức thực dân đã bắt đầu có chút thành quả: một lực lượng thanh niên trí thức trăn trở với vận mệnh đất nước tại Quảng Châu đã quy tụ bên Người, coi Người là thầy, là lãnh tụ, sẵn sàng theo thầy và xả thân vì đại nghĩa. Đó là một lực lượng chưa đông, nhưng vô cùng quan trọng để Người “gieo mầm cách mạng”. Và trong hoàn cảnh đó, người thầy, người hướng đạo phải làm gì để vươn tới tầm vóc mà các bậc cách mạng lão thành thuộc thế hệ cha chú như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh từng kỳ vọng?

Tháng 6-1923, khi rời nước Pháp sang Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc đã để lại cho những người bạn chiến đấu của mình trong Hội Liên hiệp thuộc địa và Tòa soạn báo Le Paria một lá thư thắm tình đồng đội, chan chứa sự đồng cảm của những người cùng cảnh ngộ và bày tỏ ý định của Người:

“ Chúng ta phải làm gì?…

Đối với tôi câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”.

Đoạn trích dẫn trên cho ta hình dung được bốn công đoạn (bước) mà Nguyễn Ái Quốc sẽ thực hiện trong tương lai: 1) Trở về nước; 2) Tổ chức; 3) Huấn luyện và 4) Đấu tranh.

Ở bước thứ nhất, trở về nước. Trong hoàn cảnh “các nhà hoạt động bản xứ đều bị giám sát và truy nã rất ráo riết tại chính nước họ. Nhưng ở một nước làng giềng họ có thể hoạt động dễ dàng hơn, vì có ít người biết họ”(1) và bầu không khí chính trị Quảng Châu thuận lợi dưới thời Tôn Trung Sơn. Nguyễn Ái Quốc, khi về đến Quảng Châu vào tháng 11-1924, đã quyết định biến mảnh đất này thành trạm đầu cầu của cách mạng Việt Nam. Từ đó, Quảng Châu trở thành trị sở của Tổng bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tòa soạn các tờ báo mà Người sáng lập, nơi tổ chức huấn luyện đội ngũ cán bộ cách mạng và tuyển chọn thanh thiếu niên gửi đi đào tạo ở các trường bạn. Nguyễn Ái Quốc dựa vào lực lượng thanh niên trí thức yêu nước để thực hiện những nhiệm vụ trọng đại đó.

Đầu tiên, Người tiếp xúc với những thành viên trong Tâm Tâm Xã tìm hiểu những tâm tư, nguyện vọng của họ, giác ngộ họ và đưa họ vào một tổ chức chính trị mang màu sắc tuổi trẻ – Việt Nam Cách mạng Thanh niên và cho ra đời tờ Thanh Niên làm cơ quan ngôn luận của tổ chức vào tháng 6-1925. Tổ chức cách mạng và tờ báo đó cùng với Người tiếp tục chuẩn bị về chính trị-tư tưởng và tổ chức để xây dựng một đảng Cộng sản ở Việt Nam. Tiếp đến, Người tung thanh niên về trong nước thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ: xây dựng một hệ thống tổ chức cách mạng từ chi bộ lên Kỳ bộ trên toàn quốc và lực chọn những thanh niên trí thức yêu nước sang Quảng Châu dự các lớp huấn luyện chính trị. Với sự nỗ lực của những người tiên phong, đến những tháng đầu năm 1927, một hệ thống tổ chức cách mạng Thanh Niên được phủ khắp đất nước. Không một tổ chức chính trị cùng thời nào (như Hưng Nam-Tân Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng…) có được mạng lưới rộng như vậy. Được thế, trước hết nhờ tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Đồng thời với việc mở lớp huấn luyện những người cổ động, những người tuyên truyền, những người tổ chức tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc, thông qua Phái bộ Bô-rô-đin, lựa chọn và làm thủ tục cho thanh thiếu niên Việt Nam sang học tại Trường Đại học Phương Đông và các trường khác trên đất nước Xô Viết. Đi theo ngả đường này đến nhập học Trường Phương Đông ở Mát-xcơ-va là Lê Hồng Phong, Trần Phú, Phùng Chí Kiên…Trong một lá thư gửi Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên Tiền phong trực thuộc Đoàn Thanh niên Cộng sản Liên Xô ngày 22-7-1926, Nguyễn Ái Quốc đã bày tỏ:

“ Chúng tôi có tại đây (Quảng Châu, Trung Quốc) một nhóm thiếu niên Việt Nam. Các em đều từ 12 đến 15 tuổi. Đó là những thiếu niên Cộng sản đầu tiên của Việt Nam bị chủ nghĩa đế quốc Pháp áp bức và ở đó mọi việc giáo dục đều bị cấm… Lúc chúng tôi nói với các em về cách mạng Nga, về Lê-nin và các bạn, những chiến sĩ Lê-nin-nít Nga nhỏ tuổi, thì các em rất sung sướng và đòi sang với các bạn để thăm các bạn, học tập với các bạn và để trở thành như các bạn-những chiến sĩ Lê-nin-nít nhỏ tuổi.

Rõ ràng, Nguyễn Ái Quốc đã có ý thức chuẩn bị cho cuộc cách mạng tương lai một đội ngũ cán bộ gồm những người trẻ tuổi đó.

Để lật nhào bộ máy thống trị thực dân-phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân sớm muộn phải cần tới bạo lực vũ trang, vì thế, ở một hướng khác, Nguyễn Ái Quốc từ rất sớm đã chuẩn bị cho cách mạng một đội ngũ cán bộ quân sự. Người đã gửi nhiều thanh niên Việt Nam theo học Trường Quân sự Hoàng Phố của Tôn Trung Sơn dưới sự huấn luyện của các chuyên gia quân sự Xô Viết, trong số đó có Nguyễn Sơn, Phùng Chí Kiên, Đỗ Huy Liêm, Nguyễn Tường Loan, Lê Thiết Hùng… và cho xuất bản báo Lính Cách mệnh. Trong một bài viết trên báo Lính Cách mệnh đã khẳng định tính tất yếu của con đường bạo lực vũ trang đối với cuộc cách mạng dân tộc nước ta: “Cách mệnh vô luận ở về thời đại nào, theo về hoàn cảnh nào, muốn cho thành công thì nhất định phải dùng vũ lực, bởi vì thống trị giai cấp nó đè nén mình, nó hà hiếp mình, là nó cậy nó có vũ lực của bọn nó, nên bây giờ cách mệnh cũng phải có vũ lực của cách mệnh để đánh cho bọn thống trị giai cấp thất thế đi, hết nọc đi thì cách mệnh mới thành công được”.

Ở thời dựng Đảng này, lực lượng thanh niên trí thức yêu nước, một bộ phận năng động và nhạy cảm nhất trong thanh niên là chỗ dựa cơ bản, chủ yếu của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình đưa chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam.Trước Nguyễn Ái Quốc, các lãnh tụ của phong trào cách mạng chỉ nhìn nhận và sử dụng thanh niên như một phương tiện để đạt tới mục đích của mình. Với Nguyễn Ái Quốc tình hình đã khác. Trong toàn bộ hoạt động cách mạng của mình, cả trên bình diện lý luận và thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn và thực sự đặt sự tin cậy vào lớp người trẻ tuổi, đặc biệt là lớp thanh nhiên trí thức yêu nước. Trên bình diện lý luận Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều tác phẩm như Trung Quốc và Thanh niên Trung Quốc, Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Cách mệnh, trong đó xác định vai trò to lớn của thanh niên trong tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc. Trên bình diện thực tiễn Người đã lập tổ chức cách mạng theo khuynh hướng mác-xít và cơ quan ngôn luận mang tên Thanh Niên. Người thu hút lực lượng trẻ, giáo dục họ, dìu dắt họ, thử thách họ qua công việc và cuối cùng trao cho họ những trọng trách trong các tổ chức cách mạng. Những người mà Nguyễn Ái Quốc đặt lên vai họ những trọng trách nặng nề đều thuộc lớp trẻ ở độ tuổi đôi mươi. Có thể kể ra một vài ví dụ: Nguyễn Đức Cảnh, Bí thư Tỉnh bộ Thanh niên Hải Phòng năm 19 tuổi; Nguyễn Văn Hoan, Bí thư Liên tỉnh bộ Thanh Niên Hà-Nam-Ninh năm 20 tuổi; Trần Văn Cung, Nguyễn Sĩ Sách, Phạm Văn Đồng… từng giữ những chức vụ công tác quan trọng trong Thanh niên cũng mới ngoài 20 tuổi đời hoặc Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng lúc mới 26 tuổi…

Lực lượng trẻ tuổi ấy từ những người tuyên truyền cổ động, những người tổ chức đã trở thành bộ khung quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930. Có thể nói không quá lời rằng, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nước ta chủ yếu do thế hệ trẻ được Nguyễn Ái Quốc giáo dục, rèn luyện, khởi xướng và tiến hành.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

(1) Hồ Chí Minh Toàn Tập. Tập 2. NXB Chính trị quốc gia. Hn,1980, tr 208.

 

 

 

Quân ta đã về!

QĐND – Tháng 10, Bắc Trung Bộ lũ chồng lên lũ. Tháng 11, Nam Trung Bộ, rồi Trung Trung Bộ chìm trong mưa lũ. Nơi đâu lũ lụt tàn phá nặng nề, nước ngập sâu cũng có bộ đội dầm mình cứu dân. Còn chòm xóm nào cô lập, còn người dân nào chới với trên nóc nhà là bộ đội tìm đến. Còn chiếc thuyền nào trôi giữa biển khơi bão tố là Bộ đội Biên phòng, Hải quân tìm mọi phương cách dò tìm, ứng cứu. Những miếng lương khô bộ đội, những bữa ăn quân dân xì xụp vội vã quanh nồi mì ăn liền…

Cán bộ, chiến sĩ Bộ CHQS tỉnh Quảng Ngãi và Đồn biên phòng 288 giúp nhân dân xã Bình Hải, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) khắc phục hậu quả sau đợt lũ tháng 11-2010. Ảnh: Trí Tín.

Bộ đội ta đã về miền Trung, quân-dân cá nước là đây. Dường như, vẫn là anh chiến sĩ năm xưa xuyên qua trận giặc đến với dân, bám dân rồi ôm súng lao lên nã đạn vào căn cứ địch. Dường như vẫn là anh chiến sĩ năm xưa, mặc bom rơi đạn réo vẫn ngâm mình hướng nòng pháo thẳng hướng máy bay, tàu chiến giặc trời, giặc biển che chở cho xóm làng. Con cháu Bộ đội Cụ Hồ năm xưa chính là Bộ đội Cụ Hồ hôm nay, khi đất nước quê hương hữu sự, khi nhân dân lâm nạn là bộ đội ta có mặt. Năm 2007, xả thân cứu dân, anh hùng Phạm Hữu Huyên đã hy sinh giữa dòng sông Gianh cuộn xiết. Năm nay, hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ noi gương anh lăn lộn ngang dọc trên khắp các con sông, biển nước miền Trung. Và Đoàn Trọng Giáp đã ngã xuống trên đường làm nhiệm vụ…

Sau thuyền, ghe bộ đội cứu hộ là thuyền, là xe bộ đội cứu trợ, là nườm nượp xe đồng bào các ngả từ Bắc vào, từ Nam ra. Xe bị lầy, thụt, lập tức có tre, có ván của dân từ xóm này xóm khác mang ra. Các thôn làng phía trong, phía xa cũng đang đói, thiếu. Có gì gợi nhớ năm xưa “xe chưa qua, nhà không tiếc”. Bức tranh chống chọi với thiên tai cứu làng, cứu dân là bức tranh đồng bào, đồng chí, quân dân máu thịt. Thời chiến-thời bình, nhiều sự, nhiều điều đã khác. Bây giờ, ai chẳng phải lo cơm áo, làm giàu, tiến thân, vun vén cho hạnh phúc riêng… Nhưng với Bộ đội Cụ Hồ, nơi đâu dân còn khổ đau, hoạn nạn, nơi đâu đất nước, nhân dân cần đến, vẫn trước sau tiên phong tấm lòng trung hiếu, sắt son.

Dằng dặc miền Trung chìm trong biển nước, cơn thủy tai thế kỷ, nhà nào, làng nào cũng ngập, đến thành phố cũng ngập mà không đâu hoảng loạn, hãi hùng, miền Trung cùng cả nước khẩn trương ứng cứu trong tâm thế bình tĩnh, tự tin. Có thế trận “4 tại chỗ” ở mỗi địa phương, có thế trận hiệp đồng quân-binh chủng cùng ba thứ quân, có thế trận hiệp đồng quân đội-công an-dân quân tự vệ cùng mỗi gia đình, làng xóm. Quân ta về trong thế trận ấy-thế mạnh của đất nước hòa bình, đang vươn lên phát triển mạnh mẽ.

“Các anh về mái ấm nhà vui. Tiếng hát câu cười rộn ràng trong xóm nhỏ…”. Tháng 12, biên giới, hải đảo, thôn quê, thị thành, đâu đâu cũng vui vầy ngày hội quân-dân. Qua đạn bom, qua gian lao vất vả, câu hát “Bộ đội về làng” tiếng hát-tiếng reo vui “Quân ta đã về, quân ta đã về!” càng nồng, càng đượm. Bây giờ đây, ngày đông tháng giá nhưng tình quân dân, nghĩa đồng bào trong cơn hồng thủy đã hòa quyện cùng đồng đất trở thành thứ phù sa ấm áp đang làm xanh lên ngô khoai, rau đậu suốt dọc dài miền Trung.

Anh Nguyễn
qdnd.vn

Tìm đường đi mới

QĐND – “Cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng, thiếu hụt trầm trọng cả vật tư đầu vào cho sản xuất lẫn lương thực và hàng tiêu dùng cho nhân dân. Từ thực tiễn ấy, Đảng ta đã tìm tòi, thử nghiệm những giải pháp mới, từng bước đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng. Những giải pháp ấy đã không ngừng được hoàn thiện trở thành đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Dưới đây là câu chuyện của Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam về hoạt động của các doanh nghiệp ở thời điểm “đêm trước” đổi mới…

“Xé rào”

Bà Phạm Chi Lan. Ảnh: Trần Hoàng.

Khi đó, các doanh nghiệp nước ta đứng trước những cơ hội về “cầu” to lớn để mở mang công việc sản xuất, kinh doanh nhưng lại vẫn bị cơ chế cũ trói buộc nặng nề. Khi vào miền Nam, nhiều doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có dịp nhìn thấy những hình thái, phương thức hoạt động kinh doanh khác hay hơn, hiệu quả hơn, những cơ hội làm ăn phong phú hơn. Từ đó, những ý tưởng mới, những mong muốn thay đổi thôi thúc họ. Còn với các doanh nghiệp phía Nam, dù cơ chế kinh tế mới có đè nén hoạt động của họ, thì cũng không thể bóp chết tư duy, ý chí kinh doanh và sức sống của cả một xã hội, cả một tầng lớp doanh nhân vốn đã rất quen với quy luật cung cầu của thị trường.

Không thể bó mình trong chiếc áo quản lý chật chội, một số doanh nghiệp tư nhân (DNTN), công tư hợp doanh và cả DNNN, chủ yếu là DNNN địa phương, đã tìm cách tự vùng vẫy. Họ lặng lẽ mở rộng sản xuất, làm ăn với nhau ngoài khuôn khổ được phép, tăng cường trao đổi hàng hóa “ngoài luồng”, nhất là luồng hàng Bắc-Nam. Hành động “xé rào” này giúp giảm đỡ phần nào những khó khăn do thiếu hụt nghiêm trọng nguồn cung các vật phẩm thiết yếu, nên được một số cơ quan và địa phương đồng tình, nới tay hoặc ngầm ủng hộ cho làm. Riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh, những vị lãnh đạo cao cấp nhất của Thành ủy và Ủy ban nhân dân thời đó như các ông Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ đã rất sớm ủng hộ hoạt động của các doanh nghiệp theo hướng thị trường. Các ông đã đề xuất việc để cho Thành phố Hồ Chí Minh được áp dụng cơ chế thị trường, và tuy điều đó không được Bộ Chính trị cho phép, các ông vẫn thực hiện một cơ chế kinh tế linh hoạt ở thành phố. Đến đầu thập kỷ 80, dựa trên Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương Đảng khóa IV (tháng 9-1979), một số quyết định theo tinh thần cởi trói cho sản xuất, kinh doanh được Chính phủ ban hành, chính thức mở đường cho các DNNN “bung ra”, bước đầu tiếp cận với thị trường. Trên cơ sở đó, hoạt động kinh doanh của DNTN trên thực tế cũng được nới lỏng hơn.

Bước đầu nới “độc quyền ngoại thương”

Trong công việc thực tế của mình rất gắn với hoạt động ngoại thương ngày đó, tôi nhớ mãi không khí phấn chấn khi sau hơn hai thập kỷ, trước sức ép của cuộc sống, “độc quyền ngoại thương”, theo kiểu chỉ hơn 20 công ty xuất nhập khẩu quốc doanh trực thuộc Bộ Ngoại thương được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu, bắt đầu được nới ra. Một đất nước thống nhất, vừa ra khỏi chiến tranh, có những nhu cầu và cơ hội cực kỳ to lớn về mở rộng quan hệ thương mại với thế giới bên ngoài, chắc chắn không thể giao toàn bộ quan hệ đó cho chỉ một bộ phụ trách, với chỉ hơn 20 công ty đảm nhận mọi hoạt động ngoại thương như trước.

Trung tâm Thương nghiệp quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh thời bao cấp đang bán hàng phân phối cho nhân dân. Ảnh tư liệu.

Từ năm 1976-1977, Nhà nước ta bắt đầu cho phép một số bộ phụ trách các ngành sản xuất và một vài địa phương được thành lập các công ty quốc doanh trực tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu để phục vụ nhu cầu của ngành, địa phương mình. Công ty xuất nhập khẩu hàng dệt may Textimex (trực thuộc Bộ Công nghiệp), Công ty xuất nhập khẩu than Coalimex (trực thuộc Bộ Điện-Than), ba Liên hiệp công ty xuất nhập khẩu gọi tắt là Unimex Hà Nội, Unimex Hải Phòng và Imexco Thành phố Hồ Chí Minh (trực thuộc Ủy ban nhân dân ba thành phố)… là những đơn vị đầu tiên ra đời trong những năm đó. Tiếp theo, những công ty xuất nhập khẩu quốc doanh ở một số ngành và các địa phương khác lần lượt hình thành. Khắp nơi đang khát vật tư, thiết bị đầu vào tối cần thiết cho sản xuất công nông nghiệp, thậm chí cả các vật phẩm cho nhu cầu cái ăn, cái mặc của người dân, nên sự cải thiện bước đầu này trong kinh doanh xuất nhập khẩu đã ngay lập tức nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của các ngành, các địa phương, các doanh nghiệp trên cả nước, thực sự mở màn cho những thay đổi lớn về ngoại thương và cả các hoạt động kinh tế gắn kết với nó, tiếp diễn trong những năm sau.

Các doanh nghiệp sản xuất, các công ty tư nhân, với bản năng và sự nhanh nhạy luôn tiềm ẩn, đã mau chóng chủ động bám sát các công ty xuất nhập khẩu, tham gia các cuộc giao dịch, đàm phán với các công ty nước ngoài nhiều hơn để phục vụ cho yêu cầu xuất nhập khẩu của mình. Các công ty được quyền trực tiếp xuất nhập khẩu, cũ cũng như mới, mau chóng mở rộng và thắt chặt quan hệ với các doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, tăng cường liên kết với nhau, tìm tòi các cách để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của các đơn vị trong nước. Dù trong cơ chế quản lý vĩ mô vẫn còn “cấm chợ ngăn sông”, nhưng dòng chảy của hàng hóa lưu thông giữa các tỉnh, các ngành trong nước vẫn mạnh dần lên, một phần lớn phục vụ cho nhu cầu trong nước, một phần khác tạo nên nguồn hàng ngày càng khá hơn cho xuất khẩu để trao đổi lấy hàng nhập từ nước ngoài về.

Các công ty xuất nhập khẩu cũng chủ động khai phá thêm quan hệ thương mại với nhiều bạn hàng ở các nước ngoài khối xã hội chủ nghĩa, trước hết là các bạn hàng Nhật Bản, Hồng Công (Trung Quốc), Xin-ga-po… Phần thương mại với các nước ngoài khối XHCN lúc đó tuy chưa nhiều, nhưng rất quan trọng để có thể nhập được một số thiết bị, phụ tùng, vật tư giúp cho các nhà máy ở miền Nam tiếp tục hoạt động. Bộ Ngoại thương và các cơ quan ngoại giao, thương vụ của ta ở các nước xung quanh cũng rất tích cực hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của chúng ta trong những công việc này.

Một số công ty nước ngoài, đặc biệt là các công ty đã có quan hệ thương mại với miền Bắc hoặc miền Nam Việt Nam trong chiến tranh, cũng lần lượt tìm đường trở lại buôn bán với chúng ta, bất chấp cấm vận kinh tế của Mỹ đối với Việt Nam tồn tại rất nặng nề trong thời kỳ đó. Trong số này có hai nhóm công ty tôi ấn tượng nhất, là các công ty Nhật Bản và các công ty Hàn Quốc. Doanh nghiệp Nhật có mặt rất sớm ở Việt Nam, thông qua các công ty con do chính họ lập ra để buôn bán với ta, thậm chí như Nissho Iwai còn trực tiếp vào nước ta làm ăn từ trước khi ta đổi mới. Các công ty Hàn Quốc bắt đầu vào nước ta từ năm 1982, mở đầu là Samsung, tiếp theo là Sunkyong, Daewoo, Lucky Goldstar (nay là LG), Hyundai…, đều là đại gia – “chaebol” theo tiếng Hàn. Các công ty này, cùng nhiều công ty khác đến từ một số nước ngoài khối XHCN, đã góp phần làm cho thị trường nước ta sống động lên với những hoạt động kinh doanh sôi nổi, thiết thực, khác hẳn cách làm “truyền thống” trong quan hệ gọi là “thương mại” nhưng hoàn toàn không có tính chất kinh doanh giữa ta với các nước XHCN thời đó.

Chắc hẳn phải có “đèn xanh” từ chính phủ họ, các công ty Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác mới có gan làm như vậy, nhưng rõ ràng sự có mặt khá sớm của các công ty này ở Việt Nam trong bối cảnh môi trường kinh doanh của nước ta còn đầy khó khăn trước đổi mới đã góp phần giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có thêm kênh làm ăn với các nước ngoài khối XHCN, vừa đáp ứng những nhu cầu trao đổi hàng hóa trước mắt, vừa làm quen dần với kinh doanh ở các thị trường tư bản bên ngoài. Cũng nhờ những mối quan hệ sớm hình thành đó, nên khi Liên Xô và các nước khối XHCN Đông Âu sụp đổ, phần thương mại của Việt Nam với khối đó-vốn chiếm tới 70-80% xuất nhập khẩu của nước ta-đã được nhanh chóng bù đắp bằng quan hệ với các nước trong khu vực.

Cuối năm 1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức phát động công cuộc đổi mới toàn diện, trước hết là về kinh tế, ở nước ta. Đó cũng là cột mốc quan trọng nhất đánh dấu chặng đường mới đi tới hình thành môi trường kinh doanh theo thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam. Ba trong những nội dung cốt lõi của đổi mới là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế theo hướng thị trường; phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, và mở cửa trong quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam với các nước khác trên thế giới. Trên tinh thần đổi mới, các chính sách, biện pháp cải cách kinh tế mạnh bạo được hình thành dần trong những năm cuối cùng của thập kỷ 80. Chỉ trong vài năm, công cuộc đổi mới đã mang lại những kết quả tốt đẹp, giúp Việt Nam chặn được đà của cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội kéo dài nhiều năm trước đó, dần dần ổn định lại và đứng vững được trước sự sụp đổ đột ngột vào đầu thập kỷ 90 của các nước trong Hội đồng Tương trợ Kinh tế mà Việt Nam là một thành viên…

Hoàng Tiến (Ghi theo lời kể của bà Phạm Chi Lan, nguyên Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam).
qdnd.vn

Chuyện viết thêm về danh sách Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân

QĐND – Trong các năm từ 1992 đến 1994, Ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân đã cùng một số cơ quan phối hợp xác minh danh sách 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại tá Nguyễn Huy Văn – bí danh Kim Sơn, nguyên cán bộ Cục Tác chiến (Bộ Tổng tham mưu), hiện là Ủy viên thường trực Ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân – đã kể lại những kỷ niệm xung quanh việc tìm kiếm thông tin về tên tuổi, quê quán của 34 chiến sĩ ngày ấy.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Nguyễn Huy Văn (ngoài cùng, bên trái) trong lần về thăm Cao Bằng (1992). Ảnh do nhân vật cung cấp.

Ngày 15-8-1992, khi tới dự cuộc họp của Ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân tổ chức ở Thái Nguyên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề cập đến sự cần thiết phải có những cuốn sách ghi lại tên tuổi cán bộ, chiến sĩ các đội vũ trang, các đơn vị Cứu quốc quân, nhất là các chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (VNTTGPQ). Tại cuộc họp, Đại tướng nhấn mạnh: “Bây giờ làm là chậm, nhưng vẫn còn kịp và vẫn phải làm”. Thực hiện lời căn dặn của Đại tướng, Ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân đã bắt tay vào việc thu thập tư liệu, gặp gỡ nhân chứng là các lão thành cách mạng và một số ít những đội viên còn sống ở thời điểm năm 1992.

Để có được danh sách sơ bộ về các chiến sĩ khi sự kiện thành lập Đội VNTTGPQ đã trôi qua gần nửa thế kỷ, việc đầu tiên các thành viên trong Ban liên lạc tiến hành là tham khảo tư liệu từ cuốn hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Từ đây, Ban liên lạc đã có được danh sách khoảng 20 chiến sĩ. Tiếp đó, Ban liên lạc đã tiếp cận một số nhân chứng là các lão thành cách mạng như: Đàm Quang Trung, Thu Sơn, Nông Văn Lạng… đồng thời sưu tầm tư liệu của các cơ quan, ban ngành, các bảo tàng ở trung ương và địa phương để tìm kiếm thông tin về quê quán, tên tuổi, bí danh của các chiến sĩ. “Cuối cùng, chúng tôi thu được 8 bản danh sách, sau khi đối chiếu, Ban liên lạc lọc ra những người trùng tên và có được danh sách lên tới… 74 người. Danh sách này mới chỉ dựa vào trí nhớ của từng người, hơn nữa các chiến sĩ trong Đội gặp nhau trong hoàn cảnh hoạt động bí mật, lại cùng chiến đấu trong khoảng thời gian không dài nên việc xác định rõ những người trong danh sách 34 chiến sĩ đầu tiên là việc làm rất khó”, Đại tá Nguyễn Huy Văn nhớ lại.

Trong quá trình tìm kiếm, sưu tầm thông tin quanh danh sách 34 chiến sĩ có khá nhiều ý kiến khác nhau. Có nhân chứng kể lại, hôm diễn ra buổi lễ thành lập có tới hàng trăm người, một số khác cho rằng, danh sách 34 người còn có cả đội viên nữ… Để làm sáng tỏ vấn đề, trong các năm từ 1992 đến 1994, Ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân đã tổ chức 3 cuộc họp và hội thảo tại Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Nội để rà soát lại danh sách. Tại hội thảo, lại có những ý kiến khác nhau về việc đưa người này, bỏ người khác. Sau đó các ý kiến đều thống nhất đánh giá hôm diễn ra sự kiện thành lập Đội VNTTGPQ (ngày 22-12-1944) tại Khu rừng Trần Hưng Đạo (tỉnh Cao Bằng), số người tham dự buổi lễ có tới gần 100 người nhưng chủ yếu là đứng xung quanh, chỉ có 34 chiến sĩ nam đứng giữa dự lễ tuyên thệ. Vì buổi lễ diễn ra vào khoảng 17 giờ, lại ở trong rừng và là mùa đông nên trời tối, nhiều người không nhìn rõ mặt. Đại tá Nguyễn Huy Văn kể: “Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong đội có một chiến sĩ người Mông. Các ý kiến tại hội thảo cũng nói khá nhiều về trường hợp này. Một thời gian sau, chúng tôi mới xác minh được chiến sĩ đó tên là Hồng Cô, do tập tục du canh du cư của đồng bào nên ông đã chuyển từ Cao Bằng về sinh sống ở Lạng Sơn. Thật tiếc là cho tới lúc mất, chiến sĩ người Mông này vẫn chưa được hưởng chế độ chính sách của Nhà nước. Nhiều lần con cháu ông lặn lội từ Lạng Sơn xuống Hà Nội làm thủ tục giải quyết chế độ, các cán bộ ở Viện Lịch sử Quân sự đã phải hỗ trợ tiền tàu xe để họ về quê”.

Với sự nỗ lực sau gần 3 năm tìm kiếm, xác minh thông tin, tháng 11-1994, Trưởng ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân Đàm Quang Trung đã báo cáo danh sách 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội VNTTGPQ lên Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các cơ quan chức năng. Vào đúng dịp chuẩn bị kỷ niệm 50 năm thành lập Quân đội, ngày 2-11-1994, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ký xác nhận bản danh sách này.

Đại tá Nguyễn Huy Văn bộc bạch: “Với lương tâm và trách nhiệm của những người lính già đầu bạc, Ban liên lạc chúng tôi nhận thấy đã phần nào thực hiện được tâm nguyện của Đại tướng, đồng thời góp phần làm sáng tỏ thêm tư liệu lịch sử về một tổ chức tiền thân của Quân đội ta”.

Minh Tuệ
qdnd.vn

Hà Nội 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Trong 12 ngày đêm từ 18-12-1972 đến 29-12-1972, quân dân Hà Nội đã lập một kỳ tích lịch sử: bắn rơi 23 máy bay B-52, bắt sống nhiều phi công Mỹ. Dư luận thế giới cho đây là một “Điện Biên Phủ trên không” tại Hà Nội. Sau sự kiện này, Tổng thống Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom trên toàn miền Bắc Việt Nam từ 30-12-1972, đi đến việc ký kết Hội nghị bốn bên về “chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam” tại Pa-ri ngày 27-1-1973.

Hệ thống phòng không S-75 trong trận “Điện Biên Phủ trên không” (1972) đã bắn rơi nhiều máy bay B-52 của Mỹ, bảo vệ bầu trời miền Bắc. Ảnh: Tuấn Tú.

Trước những thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam Bắc Việt Nam, ngày 22-10-1972, Tổng thống Ních-xơn phải ra lệnh ngừng ném bom và bắn phá từ Bắc vĩ tuyến 20 trở ra.

Thời gian này, Hội nghị bốn bên ở Pa-ri đã họp đến gần 160 phiên nhưng phía Mỹ vẫn dây dưa, lật lọng. Bộ Tổng tư lệnh đã lệnh cho các lực lượng vũ trang:

“Có nhiều khả năng địch sẽ đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn kể cả việc dùng B-52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng. Do đó nhiệm vụ của Quân chủng Phòng không-Không quân là tập trung mọi khả năng, nhằm đúng đối tượng B-52 mà tiêu diệt”.

Đúng vậy, ngày 14-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn ký phê chuẩn chiến dịch Lai-nơ Bếch-cơ 2, ra lệnh sẽ bắt đầu tập kích trên không vào Bắc Việt Nam bằng B-52 vào 7 giờ sáng ngày 18-12-1972 (giờ Hà Nội là 19 giờ ngày 18-12-1972).

B-52 là loại “siêu pháo đài bay chiến lược” do hãng Bô-inh sản xuất, chiếc đầu tiên được đưa bay thí nghiệm vào 16-4-1952 nên được gọi B-52. Sau 20 năm, năm 1972, B-52 đã được qua 8 lần cải tiến từ B-52A đến B-52G, B-52H. Mỗi chiếc B-52G hoặc H (loại bị bắn rơi tại Hà Nội tháng 12-1972) có thể mang trên dưới 100 quả bom với trọng lượng từ 17 đến 30 tấn cùng nổ chỉ trong phạm vi 3 đến 10 giây đồng hồ. Mỗi B-52 được trang bị 15 máy điện tử phát nhiễu chống các loại ra-đa của đối phương. Khi B-52 tấn công mục tiêu còn có máy bay EB66 gây nhiễu phía ngoài và nhiều tốp F4 thả nhiễu tiêu cực là những bó sợi hợp kim nhôm trong khu vực độ dài từ 40km đến 70km, dày khoảng 2km để gây nhiễu. Trung bình mỗi B-52 đi chiến đấu có 7 máy bay chiến thuật đi kèm.

Hoa Kỳ cho rằng “Đối phương không thể có cách chống đỡ và không còn một sinh vật nào tồn tại nổi dưới những trận mưa bom kinh khủng của loại B-52 bất khả xâm phạm”.

Thượng tướng, Phó tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài nhớ lại: “Từ mùa xuân năm 1968, Bác Hồ đã nói: sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ dùng B-52 ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Trước đây, trước khi ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Đêm 18 rạng sáng ngày 19-12-1972, đế quốc Mỹ cho 87 lần chiếc B-52, 135 lần chiếc máy bay chiến thuật ném bom Hà Nội. Đêm 19-12, chúng tổ chức tiếp 3 đợt bắn phá dã man Hà Nội với 93 lần chiếc B-52 và 163 lần chiếc máy bay chiến thuật. Đêm 20 rạng sáng 21-12-1972, không quân Mỹ đánh phá Hà Nội với 8 tốp B-52 (24 chiếc), gần 170 chiếc máy bay chiến thuật. Đêm đầu, quân dân Hà Nội đã bắn rơi 3 B-52 Mỹ, 4 máy bay chiến thuật, bắt sống 6 giặc lái. Chiếc B-52G đầu tiên rơi tại chỗ ở Phù Lỗ, Đông Anh. Sau đó ta hạ tiếp 7 B-52, bắt sống nhiều giặc lái. Tuy nhiên, tổn thất của ta cũng khá lớn: riêng Hà Nội đêm 18 rạng sáng 19-12-1972 đã có 300 người chết, 156 người bị thương.

Trong phiên 171 của hội nghị bốn bên ở Hội nghị Pa-ri tại Klê-be ngày 21-12-1972, vừa vào họp, trưởng đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa tuyên bố:

“Để biểu thị sự phản đối những cuộc ném bom cực kỳ dã man và thái độ đàm phán lật lọng của phía Mỹ, đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hòa với sự đồng ý của đoàn đại biểu Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam quyết định bỏ phiên họp lần thứ 171”.

Cả 2 đoàn Việt Nam rời hội nghị bỏ ra về. Cuộc họp chỉ kéo dài 58 phút.

Đêm 28-12-1972, được thông báo có B-52, Thượng úy phi công Vũ Xuân Thiều nhận lệnh xuất kích. Anh báo cáo với trung đoàn trưởng: “Bắn mà B-52 địch không rơi tại chỗ, tôi sẽ xin lao thẳng vào nó”.

21 giờ 45 phút ngày 28-12-1972, Vũ Xuân Thiều bắn bị thương chiếc B-52D của Lơ-uýt rồi anh đã lao thẳng chiếc Mig của mình vào B-52 địch. Phía Hoa Kỳ công nhận đây là chiếc máy bay cuối cùng của Mỹ bị không quân Bắc Việt bắn hạ tại chỗ.

Sau này liệt sĩ Vũ Xuân Thiều đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Một đường phố ở Hà Nội đã mang tên anh: phố Vũ Xuân Thiều.

Tính ra, trong những đợt không kích năm 1972, đế quốc Mỹ đã huy động hơn 40.000 lần máy bay bắn phá miền Bắc Việt Nam trong đó có hơn 3.250 lần chiếc B-52.

Với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, đến ngày 29-12, riêng Hà Nội đã bắn rơi 23 B-52, nhiều chiếc bị rơi ngay tại chỗ, bắt sống nhiều giặc lái.

Những chiến thắng này thuộc công lao của toàn thể cán bộ, chiến sĩ Phòng không-Không quân, từ Tư lệnh đến anh em các đơn vị tên lửa, cao xạ, ra-đa; của toàn thể lực lượng vũ trang, công an, tự vệ…

Ngoài ra, không thể quên công lao của các chiến sĩ áo trắng ngành Y. Ngay khi có báo động B-52, mặc cho bom rơi đạn nổ trên đầu, anh chị em không ngại hy sinh, nhanh chóng từ nhà đến bệnh viện cấp cứu những người bị thương do bom đạn giặc Mỹ. Hàng chục bác sĩ, dược sĩ, công nhân viên các bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức…, sinh viên Trường Đại học Y thực tập tại các bệnh viện đã trở thành liệt sĩ.

Trước những đống gạch đổ nát của Bệnh viện Bạch Mai, nữ bác sĩ Y-vo-nơ, chuyên gia huyết học người Pháp đã không cầm nổi nước mắt nói:

– Tôi chỉ là một bác sĩ, một người làm khoa học nhưng lúc này thấy cần phải làm chính trị để tố cáo tội ác man rợ của đế quốc Mỹ đã ném bom tàn phá một bệnh viện mà ở đó chỉ có tình thương.

Cũng tại đây, chị Giên Phôn-đa, một nghệ sĩ nổi tiếng người Mỹ bày tỏ:

– Tôi sẵn sàng từ bỏ những thu hoạch kinh tế lớn đến hàng trăm nghìn đô-la mỗi lần hợp đồng đóng phim của tôi để dành cho một việc làm chính trị: đấu tranh chấm dứt cuộc chiến tranh tàn bạo ở Việt Nam, chấm dứt những hành động bất nhân của những tên G.I. (có nghĩa là sen đầm quốc tế) khét tiếng.

Tổng thư ký Hội đồng hòa bình thế giới, ông Rô-mét Chan-đra nói:

– Cuộc chiến tranh của các bạn Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh mới trong lịch sử, trong từ điển của tất cả các thứ tiếng. Nó có nghĩa là lòng dũng cảm tuyệt vời, lòng quyết tâm và chủ nghĩa anh hùng, nó có nghĩa là tất cả những gì mà mọi người mong muốn tìm trên thế giới này.

Trước những thắng lợi to lớn của ta, ngày 30-12-1972, Hoa Kỳ buộc phải tuyên bố chấm dứt ném bom trên toàn miền Bắc Việt Nam.

Và đến 18-1-1973, Hội nghị bốn bên ở Pa-ri họp phiên công khai lần thứ 174, phiên họp cuối cùng tiến tới thắng lợi hoàn toàn của phía ta.

Ngày 27-1-1973, Bộ trưởng ngoại giao bốn bên dự Hội nghị Pa-ri ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Sau ngày thắng lợi giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, tôi đã có một số lần được gặp một số nhân chứng trong những sự kiện vừa nói ở bài viết này. Đó là Trung tướng Hoàng Phương, nguyên Chính ủy Bộ tư lệnh Phòng không-Không quân, Trung tướng Anh hùng phi công Phạm Tuân, người Việt Nam đầu tiên bay vào vũ trụ, Đại tá Anh hùng phi công Nguyễn Tiến Sâm, nguyên Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Phòng không-Không quân, Đại tá không quân Vũ Đình Rạng, các Đại tá Nguyễn Bắc, Nguyễn Thân, nguyên Phó tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Phòng không-Không quân, Đại tá Trần Quốc Hanh, nguyên bí thư Đảng ủy Học viện Không quân… các Giáo sư Đỗ Doãn Đại, nguyên Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai; Trần Đỗ Trinh, nguyên Viện trưởng Viện Tim mạch quốc gia Việt Nam; Tôn Thất Bách, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Y; Đặng Hanh Đệ, nguyên Chủ nhiệm khoa ngoại Bệnh viện Hữu nghị… là những người đã luôn có mặt tại bệnh viện cấp cứu cho những người bị thương do B-52 Mỹ gây ra trong những ngày “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972.

Những liệt sĩ đã vĩnh viễn ra đi như Anh hùng Không quân Vũ Xuân Thiều thì được các bạn chiến đấu và gia đình kể chuyện lại.

Toàn là những câu chuyện đã trở thành những bài ca không bao giờ quên của mười hai ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” của miền đất Thăng Long-Hà Nội vừa tròn 1000 năm tuổi.

Đỗ Sâm
qdnd.vn