Tag Archive | Hồ sơ – Tư liệu

Kỷ vật của hai nhà báo liệt sĩ

Các phóng viên (từ trái sang): Nguyễn Đức Toại, Ngọc Nhu và Lê Đình Dư tại Vĩnh Linh. Ảnh tư liệu

Năm 1965, tôi và hai đồng chí Ngọc Nhu, Lê Đình Dư (còn có bút danh Hồ Thừa) đều mới ngoài ba mươi, trong danh sách những cây bút xông xáo lúc bấy giờ của Báo Quân đội nhân dân.

Mùa hè năm 1967, chúng tôi tổ chức một bữa liên hoan tiễn đưa nhau lên đường ra mặt trận. Tôi được cử lên sân bay Hòa Lạc để viết về những gương và những trận chiến đấu đánh chặn máy bay giặc Mỹ của các phi đội Mig 17 của ta. Còn Dư và Ngọc Nhu thì được cử vào Vĩnh Linh, Quảng Trị. Gọi là một bữa liên hoan, nhưng chúng tôi đi mua về một mớ cá rô đem rán giòn để cùng uống bia Trúc Bạch. Đồng chí Tô Ân, Phó trưởng phòng quân sự cũng ghé vào góp vui. Ăn uống xong, Dư đưa tôi bức tượng cô giáo bằng gỗ và nói: “Các tài liệu, sách báo, tớ đã gói gọn nhét dưới gầm giường, chỉ có bức tượng này, cậu giữ hộ cho tớ, nếu xảy ra chuyện máy bay ném bom và bắn phá vào khu trung tâm Hà Nội, cơ quan phải đi sơ tán, cậu nhớ mang theo đừng để thất lạc, mất của tớ”. Dư có vợ tên là Kim, một cô giáo dạy cấp II ở bên Thuận Thành (Bắc Ninh). Hai vợ chồng đã có một cháu gái. Chỉ là một bức tượng gỗ, nhưng tôi hiểu rõ, đây là một vật kỷ niệm quý của Dư. Bởi vì tôi biết chuyện trong một dịp đi chơi với nhau ở Hà Nội, Kim đã ghé vào một cửa hàng mua bức tượng này đưa cho chồng và nói thẳng những điều sâu kín: “Ta thật sự đánh nhau với Mỹ rồi. Anh và các anh ở tòa soạn chắc chắn phải đi vào những nơi ác liệt, em rất lo… Anh giữ lấy bức tượng này để… luôn luôn có em bên cạnh anh”. Bức tượng chỉ ở trên bàn làm việc của Dư được vài tuần lễ thôi và bây giờ trước giờ phút đi vào tuyến lửa, anh giao lại cho tôi cất giữ…

Dư đưa bức tượng cho tôi xong thì Ngọc Nhu lại nháy tôi và kéo lên buồng làm việc của cậu ta. “Đánh nhau với Mỹ, đừng có đùa”. Ngọc Nhu vừa cười vừa nói thêm: “Tớ đi chuyến này, lành nhiều mà dữ cũng không ít. Dư nó nhờ cậu giữ bức tượng cô giáo, tớ cũng nhờ cậu cất giữ mấy thứ này, nhưng nhớ kín miệng cho tớ”. Đầu tiên là một lọ hoa nho nhỏ, xinh xinh, màu nâu sẫm có điểm những nụ hoa màu trắng. Điều đáng nói, lọ hoa này thường được Q. công tác ở Báo Phụ nữ, một bạn gái rất thân của Ngọc Nhu, mang đến cắm một bông hoa trắng. Cậu ta đưa thêm một phong bì khá dày và nói nhỏ giọng: “Tớ chả giấu cậu làm gì, trong này có một số bài thơ của Q. viết về tình yêu, về cuộc đời tặng mình, cậu cất giùm cho tớ. À, còn cái thẻ phóng viên của tớ nữa, tớ trao luôn cho cậu…”.

Tối hôm đó, trước ngày lên đường, chúng tôi sôi nổi bàn luận về nội dung bài vở của đợt công tác sắp tới. Dư nêu lên một mong muốn giản dị mà sâu sắc: “Truyện ký vừa rồi, mình lấy tài liệu gián tiếp qua một số cán bộ chỉ huy và một số gương chiến đấu được ra ngoài này báo cáo điển hình, vì vậy nó vẫn chưa sâu. Lần này nhất định phải bám sát một đơn vị trực tiếp quần nhau với Mỹ, mình hy vọng sẽ có nhiều tài liệu sống, nhiều chi tiết sống về sự chỉ huy tài tình của ta, về những con người chiến đấu giỏi của ta, làm sao bài viết phải trả lời được câu hỏi: Đế quốc Mỹ to lớn hùng mạnh nhưng không thể đè bẹp được nước Việt Nam nhỏ bé, lính Mỹ cao to nhưng nhất định bị dũng sĩ Việt Nam nhỏ bé quật ngã, mình phải sờ mó được “cái hồn”, cái bên trong của các trận đánh, của các gương chiến đấu…”. Ngọc Nhu cũng thẳng thắn góp ý: “Lâu nay nội dung các bài vở viết về các trận đánh, các gương chiến đấu na ná giống nhau. Tớ hoàn toàn đồng ý với Dư, phải sờ mó được “cái hồn”, cái “bên trong” của những điều mà mình muốn viết. Muốn được vậy, không còn cách nào khác phải trực tiếp sống và chiến đấu với anh em, phải bám sát một đơn vị…”.

Nhưng rồi hai tháng sau đó, Lê Đình Dư và Ngọc Nhu cùng hy sinh trên mặt trận Cửa Việt. Cả hai đã không bao giờ “sờ mó” được nữa “cái hồn” và cái “bên trong” của các trận đánh, của các gương chiến đấu, mà chính tôi lại cảm nhận sâu sắc “cái hồn” và cái “bên trong” của sự ra đi không trở về của hai bạn. Cả hai đi vào tuyến lửa, lòng thanh thản nhẹ nhàng, để lại bức tượng gỗ cô giáo, để lại lọ hoa hồng, thanh thản nhẹ nhàng mang theo hình ảnh người vợ yêu quý, mang theo hình ảnh người bạn gái yêu thương, thanh thản nhẹ nhàng với ước mong cháy bỏng, làm sao những bài báo sẽ được viết “có hồn”, có cái “bên trong”, sẽ được viết thật hay, thật tốt.

Ngọc Nhu và Lê Đình Dư ơi, “cái hồn” và cái “bên trong” của hai cậu vẫn theo mình suốt những năm tháng ở chiến trường B3, chiến trường Cam-pu-chia, Tây Nguyên… và bây giờ mỗi lần nhìn bức tượng gỗ cô giáo, nhìn lọ hoa hồng mình vẫn “thắp nhang” tưởng nhớ các bạn, tưởng nhớ một thời trai trẻ trong sự nghiệp phục vụ Báo Quân đội nhân dân.

Kim Đồng
qdnd.vn

Việt Nam sau ngày tiếp quản Hà Nội

Năm 1969, NXB Phrê-đê-rích A-prây-gơ (Frederick A. Praeger Publishers) phát hành cuốn sách General Giap Politician and Strategist (Tướng Giáp – Chính trị gia và chiến lược gia) của Tiến sĩ sử học  Rô-bớc Ô-neo (Robert O’Neill). Đây được xem là tác phẩm đầu tiên của phương Tây viết chuyên về một lãnh đạo quân sự của “phía bên kia” trong tiến trình chiến tranh ở Việt Nam…

Dưới đây là phần đầu chương 9, nói về thời kỳ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ.

… Trong mấy tháng đàm phán tại Giơ-ne-vơ, người Việt đã tránh tạo những điều kiện để Pháp thực thi một mưu đồ tuyệt vọng cuối cùng là tìm cách bắt giữ Ban lãnh đạo Việt Minh. Chính phủ Việt Nam đã ở lại Việt Bắc gian lao nhưng an toàn cho đến ngày quân Pháp phải rời Hà Nội theo Hiệp định Giơ-ne-vơ quy định. Nhóm đầu tiên của lãnh đạo Việt Minh về đến Hà Nội ngày 3-10-1954 để xúc tiến nhận bàn giao chính quyền thành phố này từ tay người Pháp. Ngày 9-10, khi những lính Pháp cuối cùng rời Hà Nội, bộ đội Sư đoàn 308 đã vào thành phố để tổ chức cuộc duyệt binh vào ngày hôm sau…

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một đơn vị bộ đội miền Nam tập kết (1957). Ảnh tư liệu

Mấy ngày sau, các lãnh tụ cấp cao mới về Hà Nội. Được phái đi trước Hồ Chí Minh, vào ngày 12-10, Võ Nguyên Giáp mới xuất hiện lần đầu. Ông tới thanh tra bộ đội cảnh vệ Thành Hà Nội, khu vực vừa tiếp quản từ tay quân Pháp. Đây hẳn là một thời điểm mà Tướng Giáp đã hằng mơ ước khi chịu đựng những gian khó của cuộc sống và chiến đấu trong rừng suốt 8 năm vừa rồi. Nhưng bản chất của những chức trách mới mà Tướng Giáp phải đảm nhiệm đã buộc ông phải vội vã tới Nhà máy điện Yên Phụ, để thẩm định những điều khoản Hợp đồng ký với các kĩ sư Pháp tại đây, những người Pháp này đồng ý ở lại làm việc cho tới cuối năm. Các công việc quân sự sẽ trở thành phần nhỏ hơn trong công việc của Tướng Giáp trong 4 năm tới, vì các nền móng của một chế độ Cộng sản cần được thiết lập để đủ sức đương đầu với những căng thẳng chiến tranh sẽ xảy đến. Hồ Chí Minh ở Hà Nội từ ngày 17-10, tại lễ đón vị nguyên thủ nước ngoài đầu tiên thăm chính thức Việt Nam, Thủ tướng Ấn Độ Nê-ru, đang trên đường sang Bắc Kinh hội đàm với Ban lãnh đạo Trung Hoa.

Các hoạt động kỷ niệm chiến thắng đã được hoãn đến đầu năm sau. Ngày 1-1-1955, trước sự hiện diện của công chúng gồm khoảng 200 nghìn người, Hồ Chí Minh đã chào mừng cuộc diễu hành trọng thể, được tổ chức công phu, kéo dài tới 5 tiếng rưỡi đồng hồ. Các nhà lãnh đạo tề tựu trên một lễ đài cao hơn 6 phít, trang hoàng bởi một chân dung lớn của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Diễu qua trước lễ đài là một lực lượng đông đảo các đơn vị quân đội và các khối dân chính, đi đều và vẫy cờ hoa, giương cao chân dung của Mác, Lê-nin, Sta-lin, Mao và các vị lãnh đạo khác của khối Cộng sản, cùng các biểu ngữ. Tướng Giáp, cùng với Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, lúc đó là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, xuất hiện thường xuyên, và đọc những diễn văn chủ yếu trong ngày lễ trọng đại này của lịch sử nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Theo tinh thần Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết giữa đại diện tối cao của Việt Minh và Pháp, quân đội của hai phía sẽ tập kết về miền Bắc và miền Nam, trong thời hạn 100 ngày. Đây không phải là luồng chuyển dịch lớn của quân Việt Minh, giống như cuộc triệt thoái quân Pháp, vì chiến sự phần lớn diễn ra ở miền Bắc. Nhưng Tướng Giáp không định mất chân đứng của mình tại miền Nam-những nơi từng phải tranh đấu vô cùng gian lao mới giành được, nên những chỉ thị đã được phát đi cho những cán bộ còn ở lại vùng do đối phương kiểm soát, yêu cầu họ đi vào bí mật trong một vài năm, cho đến khi họ lại được cấp trên gọi ra. Vì vậy, mặc dù các trung đoàn chủ lực đã tập kết ra Bắc, bộ phận quan trọng nhất của hạ tầng cơ sở cách mạng vẫn được duy trì nguyên dạng về thực chất ở miền Nam. Các đơn vị chính quy Việt Minh, thường giấu quân trong các căn cứ xa khu vực dân cư đông đúc, rồi xuất hiện bất ngờ ở những khoảng cách khó xác định từ khu căn cứ, để thực hiện những cuộc đột kích và phục kích. Bộ đội thường không được sử dụng vào các sứ mạng chính trị chuyên trách như các cán bộ dân chính cơ sở. Nhưng dường như Tướng Giáp cũng hài lòng khi bộ đội được tập trung tại miền Bắc, để tiến hành huấn luyện các phương thức tác chiến mới, phù hợp hơn với nhiệm vụ đánh đổ chính quyền thân Mỹ ở miền Nam.

Tình trạng lộn xộn ở miền Nam phát sinh sau khi Ngô Đình Diệm về cầm đầu chính phủ, cùng những chống đối do các giáo phái, nhất là Bình Xuyên, đã giúp các cán bộ Việt Minh ở lại miền Nam “điều lắng” khá thành công. Các căn cứ chính của Việt Minh, như các chiến khu C và Đ, nằm ở phía bắc và phía đông bắc Sài Gòn, rồi Phước Tuy ở phía đông nam, và chiến khu miền Tây Nam Bộ chạy từ sông Hậu ra phía vịnh Thái Lan tại vùng cực Nam của Việt Nam, hiện vẫn chưa bị quân đội Sài Gòn làm khó dễ, do đó còn có thể lén vận chuyển vào những nơi đó một lượng vừa phải các hàng cung cấp gồm vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ và điện đài vô tuyến, để sử dụng trong tương lai. Các hầm hào, địa đạo vẫn được bảo trì ở mức tương đối, cho dù không được phát triển thêm, và sự tò mò của quân đội Quốc gia (Sài Gòn) bị hạn chế bởi số lượng lớn hầm chông, cạm bẫy tại các chiến khu này, nay đã vắng bóng người…

Lê Đỗ Huy (lược dịch)
qdnd.vn

Cái mới và dấu ấn Trần Công Mân

Bây giờ thì Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân đã khang trang hơn trước rất nhiều. Một tòa nhà 8 tầng bề thế, kiến trúc khá đẹp, mọc lên ở nơi trước kia là hội trường kiểu thời bao cấp, tường gạch, mái ngói, trước hiên là sân cầu lông, xung quanh có mấy dãy ghế đá núp dưới bóng cây phượng, đỏ rực hoa mỗi khi hè về. Phía trước tòa nhà 8 tầng này, ngôi biệt thự Pháp 3 tầng tại số 7 Phan Đình Phùng nhìn bên ngoài vẫn giữ được nét xưa, nhưng bên trong đã thay đổi cấu trúc và tiện nghi. Sự đổi thay theo hướng đi lên là tất yếu, nhưng khó cắt nghĩa nổi là làm sao tôi cứ nhớ da diết cảnh cũ, người xưa. Bao nhiêu người đã ra đi từ ngôi nhà này, trong đó có không ít người ra đi mãi như các bác, các anh: Dân Hồng, Nghiêm Túc, Bùi Biên Thùy, Huỳnh Mai, Vũ Linh, Phan Hiền, Hồ Sĩ Thoại, Trần Khôi, Trần Hoàn, Văn Quýnh, Quang Khánh, Phan Huỳnh, Hải Đức…

Bản thân tôi, sau gần 30 năm phục vụ trong quân đội và cũng ngần ấy năm công tác tại Báo Quân đội nhân dân, tới đầu năm 2008, được cấp trên điều động đi nhận nhiệm vụ Tổng biên tập Báo Hànộimới và hiện nay đảm đương nhiệm vụ Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội. Nhà tôi ở gần Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân, nên dường như không có ngày nào tôi không đi ngang qua tòa soạn, và lúc nào cũng vậy, như có một sức hút vô hình, tôi lại hướng mắt vào nơi đó. Trong những căn phòng thấp thoáng ánh điện dưới những lùm cây, các đồng nghiệp mặc áo lính thân yêu của tôi ngày đêm vẫn miệt mài làm việc vì chất lượng từng số báo một.

Những ngày này, khi Báo Quân đội nhân dân kỷ niệm 60 năm ngày ra số báo đầu tiên (20-10-1950/20-10-2010), tên tuổi, tính cách của bao con người đã từng coi ngôi nhà số 7 Phan Đình Phùng như nhà của mình, coi nghề báo như lẽ sống của mình lại được trìu mến nhắc đến. Trong mỗi câu chuyện như vậy trong tiết thu heo may Hà Nội, nhà báo Trần Công Mân luôn được những người cầm bút từ mọi miền đất nước hội tụ về tưởng nhớ với vẹn nguyên một lòng cảm phục và kính trọng.

Tổng biên tập Trần Công Mân tiếp các nhà báo quốc tế năm 1987. Ảnh do tác giả cung cấp

Ông ra đi mãi mãi đã hơn 12 năm rồi (25-3-1998), thế mà mỗi lần nhớ đến ông, lòng tôi vẫn nhói lên một nỗi đau mất mát ấy, trào lên một nỗi nuối tiếc ấy – tiếc nuối một con người đức độ, một trí tuệ uyên thâm, một ngòi bút sắc sảo, một phong thái lịch lãm…

Tôi như vẫn thấy bóng ông khoan thai đi ngang qua đường Lý Nam Đế, mái tóc bạc như mây dưới tán lá xanh rì của những cây sấu già quen thuộc, như vẫn thấy dưới bóng đèn khuya, ngọn bút của ông lao đi gấp gáp như bay trên những trang bản thảo, đuổi bắt cho được những ý tưởng lóe sáng, như vẫn nghe giọng nói ấm áp, trầm tĩnh của ông trong những câu chuyện bình dị về cuộc đời, về nghề nghiệp. Như vẫn còn đây dáng ông nhẹ nhàng lên xuống cầu thang bằng gỗ đã mòn vẹt qua năm tháng, tay cầm tập bản thảo, vẻ mặt trầm tư như đang nghĩ ngợi điều gì.

Phòng làm việc của ông kê hai chiếc bàn rộng ghép vào nhau, xung quanh là hàng chục chiếc ghế mây giống nhau. Đây vừa là nơi ông xử lý công việc hằng ngày, vừa là nơi hội họp của lãnh đạo cơ quan. Từ ngày tôi khoác ba lô về tòa soạn, được anh Cù Ngọc Đức đưa lên “gặp cụ” – như lời của anh Đức – cho đến ngày ông rời tòa soạn về hưu, rồi chuyển sang công tác bên Hội Nhà báo Việt Nam, hầu như mọi đồ dùng trong phòng làm việc của ông vẫn vậy, không mua sắm thêm thứ gì. Tất cả đều giản dị, thanh đạm. Sau này, khi tòa soạn “nâng cấp trang bị”, thay thế loạt ghế mây kia bằng ghế giả da, thật tình, tôi không khỏi cảm thấy tiếc nuối khi tòa soạn không giữ được chiếc ghế mây ông đã ngồi bao nhiêu năm tháng trong ngôi nhà số 7 thân thương.

Trong một phần tư thế kỷ công tác ở Báo Quân đội nhân dân với cương vị Phó tổng biên tập rồi Tổng biên tập, nhà báo Trần Công Mân đã để lại một dấu đậm nét trong việc tạo ra một bản sắc và phong cách riêng cho tờ báo được toàn quân và toàn dân yêu mến, tin cậy. Ông thường tâm sự với chúng tôi: Làm báo mà chỉ để không sai thì không khó, nhưng làm sao cho tờ báo vừa đúng vừa hay, vừa hấp dẫn, thiết thực, thật sự có ích cho cuộc sống; nói trúng, nói đúng những vấn đề bạn đọc đang mong chờ, có sức lay động và thuyết phục, tạo ra một sức mạnh mới trong nhận thức và hành động vì những giá trị tốt đẹp mới là một bài toán khó, đòi hỏi người làm báo phải lao tâm khổ tứ, cực nhọc và gian nan lắm. Càng trưởng thành về nghề nghiệp, qua bao nhiêu lần cọ xát, va chạm, thấm trải cay đắng, ngọt bùi của nghề cầm bút, chúng tôi càng thấm thía lời ông.

Là người rất kiệm lời, không thích hô hào, ghét thói khoa trương, ông lặng lẽ hiến mình cho công việc làm báo, từng ngày, từng ngày một, từng bài báo, từng số báo một. Và một phong cách làm báo Trần Công Mân đã lặng lẽ hình thành trong lòng bạn đọc! Nó không chói lòa gây choáng ngợp, nhưng sức thuyết phục thì rất ngọt, rất sâu. Thuyết phục trước hết vì tinh thần trách nhiệm với nhân dân và đất nước; thuyết phục vì tình đời, tình người; thuyết phục vì sự sắc sảo mà cẩn trọng; thuyết phục vì tính chính xác, sự giản dị trong cách thể hiện nhưng lại vẫn ánh lên sự sang trọng của ngôn từ.

Làm báo chuyên nghiệp là một nghề, hẳn như vậy rồi. Nhưng đối với ông, Tổng biên tập càng phải là một nghề. Ông không ưa, hay nói đúng hơn là không chấp nhận, kiểu làm báo “chính trị chay”, nghĩa là một kiểu làm báo xơ cứng, giáo điều, nặng về “tầm chương trích cú”, lúc nào cũng lên lớp dạy dỗ, xa rời thực tế, không có tính phát hiện, thiếu tinh thần chiến đấu…

Trong ông ẩn chứa một năng lực trí tuệ, một năng lực ứng phó đầy bản lĩnh mà đôi khi trong phức tạp, cam go, rối rắm của tình thế, được ông chỉ bảo bằng những lời ngắn gọn và bình dị, bỗng thấy mở ra một lối đi sáng rõ. Trong ông cũng ẩn chứa một khả năng thuyết phục, lôi cuốn người khác bằng phong thái điềm tĩnh, tư chất trầm sâu của một người đã đạt tới một độ chín của tư duy, độ vững vàng của bản lĩnh. Khả năng thuyết phục đó thường không tạo ra một thứ lửa hừng hực mà là một sức cảm hóa len lỏi, lan tỏa, hòa quyện với tốc độ nhiều khi không ý thức được, nhưng cứ bồi đắp lâu dần thành một khát vọng vươn tới.

Những người dưới quyền ông tự coi mình là học trò của ông, bao giờ cũng cảm thấy bổn phận phải cố gắng hơn, phải tiến bộ hơn thì mới đáp ứng được điều mà ông chờ đợi ở từng người, mặc dù hầu như không thấy ông bộc lộ đòi hỏi đó bằng lời. Bài viết nào được vị tướng này phê một chữ “được” nho nhỏ ở góc bài thì tác giả của nó có thể tự coi như một lời khen sâu sắc và có thể lặng lẽ tự bằng lòng về công sức của mình. Hầu như ai đưa bài nào cho ông duyệt cũng đều thấp thỏm chờ đợi ý kiến của ông. Có những đồng nghiệp cao niên tâm sự với tôi rằng, thường nộp bài cho “cụ” xong là lén nhòm qua khe cửa xem “cụ” có đọc ngay không, hễ thấy “cụ” cầm bút lên chữa bài là ổn, nếu thấy “cụ” đọc nhanh rồi đặt sang một bên thì coi như “đứt”, chắc chắn phải viết lại, hoặc bỏ hẳn.

Đó là gì nếu không phải là một thứ uy lực trí tuệ nơi ông? Làm việc với ông dần theo năm tháng, ai cũng thấy mình lớn lên.

Trí tuệ và bản lĩnh là hai phẩm chất cần thiết hàng đầu đối với một nhà báo, đặc biệt đối với cương vị Tổng biên tập một tờ báo chính trị lớn. Ở vị tướng – nhà báo Trần Công Mân, hai phẩm chất này rất sáng, rất nổi trội, xoắn quyện lấy nhau – điều khiến ông trở thành một cây bút lớn, một Tổng biên tập tài năng.

Các nhà báo thường có thói quen như một cái “tật” là ít khi đủ kiên nhẫn để chịu ngồi yên từ đầu đến cuối ở các hội nghị, nhất là những hội nghị nặng về hình thức, đậm lễ nghi, nhạt thông tin. Nhưng ở Báo Quân đội nhân dân, mỗi lần được thông báo có buổi nói chuyện của Tổng biên tập Trần Công Mân thì ai cũng háo hức đến nghe và lúc nào thời gian dường như cũng quá ngắn đối với những điều muốn được nghe từ con người điềm tĩnh, sắc sảo và uyên bác ấy.

Đội ngũ làm Báo Quân đội nhân dân dưới sự dẫn dắt của ông đã kế tục và phát huy được truyền thống vẻ vang của những người đi trước. Tờ báo trong nhiều năm ánh lên được vẻ đẹp của cốt cách tinh thần người chiến sĩ quân đội nhân dân, đạt tới tầm vóc một tờ báo chính trị quan trọng của quốc gia, có ảnh hưởng rộng rãi đối với dư luận trong nước và quốc tế. Nhiều vị khách nước ngoài khi tới thăm tòa soạn đã nói rằng không nước nào có một tờ báo quân đội có ảnh hưởng tới xã hội và vị trí đặc biệt như tờ Báo Quân đội nhân dân của Việt Nam.

Cuối những năm 80, đất nước ta sống trong cơn lốc của những thay đổi lớn lao trên bình diện toàn cầu. Đây là thời điểm mà nếu ngồi yên với tư duy ứ đọng thì các nhà tư tưởng sẽ bị tụt hậu, các nhà chính trị sẽ bị đo ván, các nhà kinh doanh sẽ bị mất thị trường và thậm chí cha cố cũng sẽ mất hết con chiên. Một cuộc biến động xã hội-chính trị toàn cầu diễn ra song song với những bước tiến như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật trong xu thế toàn cầu hóa, khi toàn thế giới bước vào nền văn minh thứ ba. Cả hai xung lực này đẩy thế giới chuyển động theo những quỹ đạo không còn giống như trước, tác động mạnh đến vận mệnh của mọi quốc gia, đời sống của mọi gia đình.

Điều mà các đồng nghiệp đánh giá cao nhất ở ông là sự mẫn cảm nhạy bén với những tình thế mới đang ló rạng, nhưng lại đón nhận và xử lý chúng một cách điềm tĩnh, chủ động và đầy bản lĩnh. Tôi còn nhớ vào giữa những năm đầy bão tố đó, khi ở bên Liên Xô và Đông Âu bắt đầu tiến hành cải cách, cải tổ, ông thường hạn chế đăng những bài ca ngợi quá mức M.X. Goóc-ba-chốp và những biện pháp cải tổ “để có nhiều CNXH hơn nữa” như ông ta vẫn hô hào. Một buổi chiều cuối thu năm 1989, khi những hàng cây trên đường Phan Đình Phùng xao xác lá vàng bay trong tiết heo may, ông cho gọi nhóm viết chuyên luận gồm Đại tá Phan Hiền, Đại tá Tạ Duy Đức, anh Trần Nhung và tôi lên hội ý. Tôi cảm thấy giọng của ông trầm xuống vì một nỗi lo lắng về thời cuộc. Hình như ngay từ hôm đó, ông đã linh cảm thấy một biến động ghê gớm sẽ diễn ra trong nền chính trị thế giới. Theo lệnh của ông, mỗi chúng tôi viết một bài chuyên luận nhằm phân tích, dự báo và định hướng tư tưởng trước nguy cơ một cuộc đảo lộn lớn. Loạt bài chuyên luận đó của Báo Quân đội nhân dân đã gây một tiếng vang lớn trong dư luận xã hội. Lần đầu tiên trên báo chí ta, có những bài chính luận phân tích sâu sắc chiến lược “diễn biến hòa bình”. Tôi hiểu Tổng biên tập Trần Công Mân là linh hồn của bài chính luận “Cuộc chiến tranh có tên gọi hòa bình” của tôi. Bài viết đó, tôi phải viết đi viết lại nhiều lần mới được ông cho đăng. Đó là bài viết đầu tiên đánh dấu sự trưởng thành bước đầu của bản thân tôi trong công việc viết bình luận. Báo Quân đội nhân dân dưới sự chỉ đạo của ông những ngày đó đã trở thành ngọn lửa ấm áp, tin cậy trong lòng bạn đọc khi cơn lốc thế sự toàn cầu gây choáng cho không ít người.

Trong 10 năm liền, tôi may mắn được dự nhiều cuộc ông tiếp khách nước ngoài, từ các nhà ngoại giao, các nhà nghiên cứu, các học giả đến các nhà văn, phóng viên báo chí. Những nhà báo, nhà văn phương Tây nổi tiếng như: Clốt Pô-mông-ti của Báo Thế giới (Pháp); nhà văn nữ Ma-đơ-len Si-phô thân thiết với nhân dân Việt Nam; phóng viên tự do Giăng Clốt La-bê có vợ là một phụ nữ Pháp gốc Việt, cháu của giáo sư Hoàng Xuân Hãn; nhà văn Mỹ lừng danh Nin Si-hân, tác giả cuốn sách chấn động nước Mỹ Lời nói dối choáng lộn viết về chiến tranh Việt Nam; phóng viên các tờ báo lớn, các hãng tin lớn như TASS, Tân Hoa xã, AFP, AP, Roi-tơ… cứ mỗi lần tới Việt Nam là tìm tới thăm ông. Sự thông tuệ, từng trải của ông tạo cho họ lòng tin cậy, mến phục; sự sắc sảo cởi mở của ông gây cho họ bất ngờ, hứng thú. Đoán biết được nhu cầu cũng như tâm lý của người đối thoại, ông không bao giờ tỏ ra là người lên lớp hay áp đặt. Lâu dần tôi mới phát hiện ra một biệt tài ở ông: đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính chặt chẽ và nguyên tắc trong định hướng chính trị và sự uyển chuyển khoáng đạt trong lý giải và cung cấp thông tin. Biệt tài này làm cho các vị khách nước ngoài cảm thấy rất thoải mái khi đối thoại với ông, tin ở những điều ông nói. Tôi đã đọc nhiều bài báo của các phóng viên nước ngoài viết về Việt Nam, trong đó tác giả trích dẫn ý kiến của ông hay chia sẻ hoặc chịu ảnh hưởng quan điểm của ông-cũng có nghĩa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta-về những vấn đề quốc tế phức tạp liên quan tới Việt Nam thời đó như: cuộc xung đột ở Cam-pu-chia và quân tình nguyện Việt Nam, quan hệ Việt-Mỹ, vấn đề POW-MIA, quan hệ Việt-Trung, vấn đề Biển Đông…

Một ngày cuối thu 1989, khi tiếp vợ chồng nhà văn Mỹ Nin Si-hân, Tổng biên tập Trần Công Mân đã phân tích rất hay về vai trò của QĐND Việt Nam trong chiến tranh và trong thời bình. Hôm sau, ông cử tôi đưa vợ chồng nhà văn Mỹ lên Sơn Tây. Đứng trên bờ một thửa ruộng ngay gần nơi đã xảy ra cuộc đột kích bất thành của Mỹ để giải cứu các phi công, Nin Si-hân đứng lặng ngắm nhìn một người nông dân nhỏ bé đang miệt mài đánh trâu bừa dưới ruộng như để cố tìm một mối liên hệ giữa cuộc đột kích động trời đó với những con người cần mẫn trên mảnh đất bình yên này. Sau khi đi thăm Nông trường trồng dứa 1A của quân đội, tâm đắc với những phân tích của tướng Mân chiều hôm trước, Nin Si-hân nói rằng: “Quân đội Mỹ chỉ biết tiêu phí tiền của, còn quân đội Việt Nam lại biết làm ra tiền. Đó là điều rất khác biệt”.

Nhiều người không giấu nổi sự ngưỡng mộ đối với tầm cao và sự uyên bác trí tuệ của ông, lại càng cảm phục hơn khi biết ông đã từng là Chính ủy Trung đoàn công binh đào đường hầm đặt khối thuốc nổ nghìn cân trong lòng đồi A1 ở Chiến dịch Điện Biên Phủ lẫy lừng năm xưa. Có phóng viên Mỹ, sau khi được ông tiếp, đã hỏi tôi: Nguồn lấy vào sĩ quan quân đội là từ đâu, trong quân đội Việt Nam có nhiều người như tướng Mân không? Người phương Tây, nhất là người Mỹ thường thiếu thông tin về đất nước Việt Nam, con người Việt Nam. Trước mắt họ là một vị tướng Việt Nam bằng xương bằng thịt. Vị tướng dáng cao gầy này nói tiếng Pháp thông thạo, cách diễn đạt, dùng thuật ngữ rất Pháp làm cho nhiều người Pháp phải ngạc nhiên. Ông thông kim bác cổ, nhất là các vấn đề chiến lược trong quan hệ quốc tế. Các đồng chí ở cơ quan đối ngoại của ta đã nhiều lần nói với tôi rằng khi phải đón những vị khách nào hơi “hóc” một chút là thường phải “cậy nhờ tới bác Mân”.

Tự học, tự rèn trong trường học lớn quân đội đã tạo nên những phẩm cách đáng quý đó ở ông. Ông vừa là nhà quân sự, vừa là nhà báo lại có dáng dấp một chính khách.

Mỗi lần cấp dưới nộp bài, ông thường hỏi: “Có gì mới không?”. Đã lăn lộn với nghề báo, không ai không hiểu rằng, có được cái mới trong bài viết đâu phải dễ. Nhưng đây lại chính là tiêu chuẩn hàng đầu để kiểm định chất lượng một bài báo, chưa nói đến chuyện hay mà trước hết để xem có “đứng” được hay không. Lấy đâu ra mà đòi hỏi “mới” nhiều thế! Như thông hiểu được khó khăn lúng túng của người viết, ông ôn tồn giải thích: “Mới” đối với báo chí là mới về thông tin, mới về cách đề cập, mới về vấn đề phát hiện, mới về cách lập luận, mới về cách diễn đạt… Cái mới luôn nằm ở vị trí trung tâm trong lao động báo chí của ông. Đọc các bài viết của ông, từ những bài chính luận lớn dưới bút danh Tuấn Minh cho đến những bài báo ngắn, vài ba trăm chữ, đôi khi là một thư góp ý, bao giờ người đọc cũng thấy ánh lên một bút pháp sắc sảo, một cái nhìn mới mẻ, đầy trách nhiệm với xã hội, đất nước, dân tộc.

73 năm trên cõi đời này, ông đã có hơn 50 năm hoạt động cách mạng, ngót 50 năm viết báo miệt mài, trong đó có hơn 30 năm làm báo chuyên nghiệp. Càng hiểu nghề cầm bút, thấm thía nỗi cực nhọc của nó, tôi càng cảm thấy may mắn khi được làm việc dưới quyền một tổng biên tập như tướng Trần Công Mân, gặp được một người thầy như ông. Các giải báo chí của thế hệ làm báo chúng tôi, trong đó có 9 giải báo chí toàn quốc và quốc gia về thể tài chính luận mà tôi vinh dự được nhận từ năm 1991 đến năm 2009 đều có công lao của Tổng biên tập Trần Công Mân, đều có bóng dáng của ông trong cách đặt vấn đề, trong những lập luận, trong bút pháp.

Chúng tôi thường nói với nhau: được làm việc dưới quyền ông là một may mắn lớn. May mắn lớn không phải chỉ ở chỗ học hỏi được nhiều điều ở ông. Lao động báo chí là một loại lao động cực nhọc, đầy thách đố, đôi lúc hiểm nguy. Được ông giao nhiệm vụ, cảm thấy yên tâm, yên tâm trước hết ở sự xác đáng trong quyết định của ông. Lúc gặp khó khăn, rắc rối luôn tìm thấy ở nơi ông một chỗ dựa tin cậy. Nhắc tới điều này, chúng tôi dường như thấy tái hiện lại không khí sôi nổi của thời kỳ Báo Quân đội nhân dân là một trong những tờ báo tiên phong trên mặt trận chống tiêu cực với những bài viết thực sự gây chấn động dư luận xã hội lúc đó liên quan đến một số cán bộ cao cấp có chức, có quyền. Có bạn đọc viết thư đến nói rằng Báo Quân đội nhân dân đã nổ những phát đại bác công phá vào dinh lũy của chủ nghĩa quan liêu, đặc quyền đặc lợi, tạo được niềm tin to lớn đối với bạn đọc trong cuộc chiến đấu gay go chống hiểm họa này.

Cái khó nhất của nghề báo là phải biết trước, phải nói trước thiên hạ, nhưng lại phải nói đúng, đầy tinh thần trách nhiệm để định hướng dư luận xã hội. “Có gì mới không?”, trong tôi lại vang lên câu hỏi quen thuộc đó của Tổng biên tập Trần Công Mân. Cực nhọc, cam go cũng vì cái mới, vinh quang cũng nhờ cái mới! Trong giới hạn mỏng manh, điểm chạm nhạy cảm đó là ẩn chứa những đặc thù của lao động báo chí. Nhìn ở phương diện nào, cả những người viết báo cũng như người quản lý chỉ đạo báo chí, vị tướng làm báo Trần Công Mân luôn là tấm gương tiêu biểu.

Hồ Quang Lợi (Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, nguyên Phó TBT Báo Quân đội nhân dân)
qdnd.vn

Sầm Nưa ngày ấy…

Nhà báo Khắc Tiếp (bên phải) phỏng vấn Đại úy Coong-le, chỉ huy quân nổi dậy chống Mỹ ở Cánh Đồng Chum năm 1960. Ảnh do tác giả cung cấp

Trong hai cuộc kháng chiến lâu dài, trong mấy chục năm làm Báo Quân đội nhân dân, tôi hình như có duyên với đất Phật Triệu Voi. Lúc ở Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Cánh Đồng Chum, lúc ở đường số 9 Sê-pôn. Lúc đi cùng quân tình nguyện ở Lào, lúc đi với quân Pa-thét Lào. Có lần còn đi với quân “trung lập” của lực lượng nổi dậy. Lúc bám sát diễn biến hội nghị 3 phái (yêu nước-trung lập-thân Mỹ) ở thung lũng Văng Viêng, lúc giúp Báo Quân đội nhân dân Lào ở Thủ đô Viêng Chăn… Biết bao kỷ niệm đẹp về mối duyên Lào-Việt, mà năm tháng trôi qua không dễ làm cho phai mờ.

Tôi nhớ nhất những ngày đại quân Lào-Việt xuất trận xuân hè 1953. Lần đầu tiên, những đại đoàn thiện chiến của Việt Nam đồng loạt lên đường sang phối hợp cùng quân đội bạn. Hoàng thân, Chủ tịch Xu-pha-nu-vông, Bộ trưởng Quốc phòng Cay-xỏn Phôm-vi-hản (sau này là Tổng bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào), Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, đã thân chinh ra trận, đi cùng đại quân; có đêm tôi còn thấy các vị cưỡi ngựa đội mưa đi qua hàng quân đang xốc tới chiến trường. Đường qua Tây Bắc sang Lào dài hơn 300 cây số. Núi cao đèo dốc hiểm trở. Quân chiến đấu mang vác nặng đã đành, báo chí, điện ảnh đi theo cũng vất vả không kém. 11 ngày gạo tẻ, 2 ngày gạo nếp, vũ khí nhẹ… ngót nghét hơn 20kg trên vai. Không ai biết đi đâu và đánh ở đâu trên Tây Bắc mênh mông bí hiểm này. Đến Mộc Châu mới biết chiến trường là Sầm Nưa trên đất bạn. Vùng biên cương hai nước, chiều chưa đến, sương mù đã dày đặc. Có đêm mệt quá tôi bước hụt, tụt xuống một hố khá sâu gần ngập đầu (chắc là hố tránh phi pháo của các đơn vị đi trước), và cứ nguyên ở đó, ngủ thiếp đi một giấc dài, tỉnh dậy phải vắt chân lên cổ để đuổi kịp đoàn quân đã đi xa.

Đề phòng địch có thể đánh bài chuồn nếu phát hiện đại quân ta đang tiến sát, bộ chỉ huy chiến dịch đã ra lệnh cho các cánh quân tăng hết tốc độ hành quân, để kịp bao vây tiêu diệt. Thế mà vẫn không kịp. Khi đơn vị đi đầu đến sát Sầm Nưa thì đã thấy lửa bốc cao ngùn ngụt trong các cứ điểm địch. Thì ra toán địch đầu tiên bỏ chạy đã được 19 giờ, toán cuối cùng cũng đã được 8 giờ, trước khi đại quân ta đến.

Thế là cuộc tiến công Sầm Nưa lập tức biến thành cuộc truy kích đường dài, lớn chưa từng có của quân đội ta. “Đuổi địch đến cùng, nó chạy xa 200, 300 cây số cũng đuổi, hết lương thực cũng đuổi, có máy bay địch cũng đuổi”. Đó là quyết tâm của đại quân ta suốt 7 ngày 7 đêm liên tục, bất chấp đèo cao dốc đứng, thủy thổ xa lạ, mưa nắng thất thường, thiếu cơm thiếu nước. Chưa đầy một tháng trên đất bạn, chiến dịch Thượng Lào kết thúc đại thắng. Gần 3.000 tên địch, bằng 1/5 tổng số binh lực địch ở Lào bị tiêu diệt. Toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và Phông Sa Lỳ bằng 1/5 diện tích nước Lào với 30 vạn dân được giải phóng. Và điều quan trọng nhất là sinh lực của ta hầu như còn nguyên vẹn, đầy sức chiến đấu. Từ đây, Việt Bắc-Tây Bắc của Việt Nam và Thượng Lào đã được nối liền một dải, hậu phương kháng chiến của hai dân tộc được mở rộng.

Tại cầu Hỉn Hợp chia đôi hai miền Lào trong chiến tranh năm 1961: Bên trái là chiến sĩ cảnh giới Pa-thét (Lào), bên phải là phóng viên Báo Quân đội nhân dân. Ảnh do tác giả cung cấp

Sầm Nưa là một thị trấn xinh đẹp, hầu như còn nguyên vẹn. Những căn nhà cổ kính, những hàng cây xanh tươi, những vườn hoa đầy hương sắc. Lễ chiến thắng được tổ chức tại một tòa nhà giữa thị trấn. Hoàng thân Xu-pha-nu-vông nói trong buổi lễ: Sầm Nưa giải phóng là kết quả của tình đoàn kết Việt-Lào, của giúp đỡ không điều kiện của nhân dân và quân đội Việt Nam tiêu diệt kẻ thù chung. Ông có kể lại là trước khi triển khai chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh có gửi tặng ông hai món quà làm kỷ niệm: một tấm lụa và một thanh gươm. Tấm lụa là tượng trưng cho tình nghĩa bền chặt đoàn kết keo sơn. Thanh gươm là tiêu biểu của tinh thần chiến đấu kiên cường chống kẻ thù chung của hai dân tộc.

Gọi là tiệc cho đúng chữ nghĩa. Thực sự là một buổi vui gia đình-đại gia đình Lào-Việt. Bà Xu-pha-nu-vông – cô gái xứ Thanh xinh đẹp-tự tay chuẩn bị bữa ăn cho các bạn Việt Nam: món xôi được nấu theo kiểu của Hoàng gia. Mọi người hát dân ca Lào, múa lăm-vông đến khuya. Tôi được đồng nghiệp Hoàng Thái giao cầm đuốc soi sáng cho anh quay phim. Nhà văn Vũ Cao còn nhắc tôi “cẩn thận không cháy râu của cụ Xu” (trong kháng chiến, Chủ tịch Xu-pha-nu-vông thường để râu rất dài).

Đại quân ta chiến thắng lần lượt trở về nước. Chỉ để lại mấy trung đoàn, tiểu đoàn giúp bạn bảo vệ, củng cố vùng giải phóng. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân cùng nhà quay phim Hoàng Thái được lệnh ở lại, tiếp tục công việc của mình. Đi vào các bản làng, ghi hình ảnh và lấy tài liệu. Về lịch sử các dân tộc Lào, về phong cảnh đất nước, lòng dân, về tình gắn bó keo sơn Lào-Việt. Gặp gỡ các tình nguyện quân Việt Nam đã nằm gai nếm mật ở đây hàng năm; các chiến sĩ Pa-thét Lào đã bám dân, bám đất bất chấp sự dụ dỗ mua chuộc, khủng bố của kẻ thù; các chị, các mẹ Lào đã nuôi dưỡng che chở Bộ đội Cụ Hồ như con cháu ruột thịt… Những thước phim nhựa của anh Hoàng Thái là vô cùng quý giá, có một không hai. Những tài liệu tôi thu thập được đã giúp tôi viết được một số bài và ra được một cuốn sách nhỏ “trên đất nước Triệu Voi” sau đó.

Một tháng “du ngoạn” của hai phóng viên trên vùng Xiềng Khọ tuyệt đẹp. Lạ nước, lạ dân, vùng giải phóng chưa được mấy ngày, nhưng chúng tôi không gặp một nguy hiểm nào, không một lúc nào bị đói. Số là sau buổi liên hoan chiến thắng, trước khi lui về căn cứ, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông đã gặp các phóng viên ở lại xem có yêu cầu gì không, có khó khăn gì không? Chúng tôi bộc bạch tấm lòng: gian khổ không ngại, khó khăn không sờn, ở bao lâu cũng được, chỉ lo… đói thôi. Vì chúng tôi hoạt động đơn độc, không chốn ở cố định, trên không có thủ trưởng, dưới không có hậu cần. Hoàng thân cười tươi: “Có gì đâu, dễ thôi”. Và tự tay ông viết giấy giới thiệu, nội dung rất đặc biệt: “Các huyện trưởng, xã trưởng có nhiệm vụ dẫn đường, cung cấp thức ăn, bố trí nơi ở, bảo vệ an toàn cho các phóng viên Việt Nam”. Dĩ nhiên, các huyện trưởng, xã trưởng nói đây đều là của chính quyền cũ-số đông họ đều được giữ lại làm việc, vì vùng mới giải phóng quá rộng lớn, quá mới mẻ, nên cách mạng chưa có đủ cán bộ phụ trách. Nhờ lá bùa hộ mệnh đó, chúng tôi ung dung làm việc, hoàn thành nhiệm vụ trên giao, không những không đói giữa rừng thiêng mà còn nhiều lần được “ăn cơm Tây”, ngủ giường nệm tại nhà các chức sắc chính quyền cũ vốn có nhiều kinh nghiệm tiếp đãi các quan Tây đóng đồn hay các phìa tạo đi tuần tra. Càng thấy thấm thía uy tín của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông, của cách mạng Lào lớn đến thế nào.

Mấy tuần lễ trôi qua, thước phim cuối cùng của Hoàng Thái đã hết. Giấy bút tôi mang theo cũng đã cạn. Chúng tôi tự đánh giá là đã hoàn thành “xuất sắc” nhiệm vụ và tự quyết định cho phép mình về nước. Lễ buộc chỉ cổ tay kết nghĩa đầy lưu luyến. Những giỏ xôi thơm phức trao tay. Những ánh mắt yêu thương như muốn nhìn nhau mãi. Chúng tôi vượt qua biên giới hai nước lúc nào cũng không biết (vì làm gì có mốc như bây giờ). Sông núi, cảnh vật, con người hai nước sao mà hòa quyện với nhau đến thế.

Khắc Tiếp
qdnd.vn

Về một bài báo và bóng dáng tác giả

Nhà báo Trần Việt. Ảnh tư liệu

“Đường số 4 biên giới tháng 10-1950, bản làng cháy đen, và rừng còn ngút lửa. Một trận đánh lớn vừa chấm dứt. Ven theo núi đá, hai cỗ quan tài đẽo thân cây gỗ, một vòng hoa dại hái dưới chân đèo và hàng trăm tù binh quân Pháp vây quanh. Phần lớn bọn họ là thương binh, đã được ta chăm sóc băng bó. Trong quan tài là thi hài Thiếu tá Sơ-crê-tanh (Scrétin) và thi hài Trung úy Pi-e Bác-ba-ra (Pierre Barbara) do vết thương quá nặng đã qua đời trong trạm quân y của ta. Việc khâm liệm có mặt hai võ quan Pháp, Đại úy Tít-xi-ê (Tissier), Trung úy Ma-ti-ơ (Mathieu) và đông đảo tù binh Âu, Phi. Trước khi chuyển quan tài tới núi 703 để trao trả cho Hội Hồng thập tự Pháp, một võ quan Việt Nam đã đặt vòng hoa và nói bằng tiếng Pháp tự nhiên, lưu loát:

“Ngày hôm qua các anh còn là kẻ thù của chúng tôi, xung kích của chúng tôi đã xông lên để tiêu diệt. Sau trận đánh, các anh bị thương và đã hạ khí giới. Chúng tôi không còn coi các anh là kẻ thù nữa và đã hết sức chạy chữa. Những người của chúng tôi hôm qua là xung kích thì hôm nay lại đi tìm gỗ ván để khâm liệm các anh. Và lát nữa chính họ sẽ khiêng các anh để trả lại cho Hội Hồng thập tự Pháp trao trả cho gia đình các anh. Cử chỉ này của chúng tôi chứng tỏ một lần nữa rằng chúng tôi không căm thù người Pháp. Chúng tôi chỉ chiến đấu chống bọn thực dân. Biết bao làng mạc chúng tôi bị đốt phá, bao thanh niên Việt Nam và thường dân Việt Nam đã hy sinh! Và biết bao thanh niên Pháp, Phi, Trung Âu đã bỏ mình ở Việt Nam! Chúng tôi và các anh chỉ là nạn nhân của một chính sách thực dân đã lỗi thời. Máu của các anh và máu của chúng tôi đã đổ vì bọn đế quốc. Trong thâm tâm chúng tôi và các anh chắc cũng đều cầu mong cho chúng ta được sống hòa bình, thân ái. Xin vĩnh biệt các anh”.

Hai cỗ quan tài ấy lên vai bộ đội ta ra chỗ hẹn. Nhưng đại biểu Hồng Thập tự Pháp lỡ hẹn không đến. Chờ đến 22 giờ đêm ngày 11-10, ngay chân đèo Lũng Phầy, bộ đội chúng ta đã mai táng thi hài các võ quan nói trên. Lúc hạ huyệt, Trung úy Ma-ti-ơ ôm mặt khóc, Đại úy Tít-xi-ê run tay làm dấu thánh giá. Hơn ba trăm tù binh có mặt rơm rớm nước mắt…”.

Phần giới thiệu trên đây là tôi dẫn theo bài ghi chép của phóng viên Trần Việt đăng trên Báo Quân đội nhân dân.

Trích đoạn bài viết của Trần Việt đăng trong số 1 Báo Quân đội nhân dân.

Thật lạ lùng là cho đến tận mãi gần đây tôi mới tìm đọc được bài ghi chép đặc biệt đó trên tờ Báo Quân đội nhân dân đã ố và sờn rách. Thực khó tả sự ngạc nhiên và xúc động khi tôi lần theo từng dòng chữ của Trần Việt. Bài anh Việt viết ngay sau khi chôn cất hai sĩ quan Pháp, ngày 11-10-1950 và đưa in trên Báo Quân đội nhân dân số ra mắt đầu tiên, “số 1, ngày 20-10-1950”. Đúng 60 năm rồi.

Đập mạnh vào tôi là những lời thẳng thắn, rõ ràng, ta tuyên bố trước hàng trăm quân lính Pháp đã hạ vũ khí.

Sáng suốt và nhân hậu là lời vĩnh biệt của anh sĩ quan Việt Nam trước quan tài hai sĩ quan quân đội thực dân Pháp, những lời nói đã biến thành con chữ xuất hiện trên giấy trắng mực đen của Báo Quân đội nhân dân xưa mà đến nay vẫn lung linh thời sự.

Năm 1950, tôi ở chiến trường miền Nam mới ra, vừa trình diện ở Báo Quân đội nhân dân thì được huy động đi phục vụ Chiến dịch Biên giới, “làm bất kỳ việc gì họ cần”. Còn anh Trần Việt thì đã là một cây bút chuyển từ Báo Quân du kích sang Báo Quân đội nhân dân. Với chúng tôi, anh thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp vào loại “siêu”. Có những trường hợp anh giao tiếp với sĩ quan địch đã trở thành giai thoại. Nhưng anh luôn khiêm tốn. Cụ thân sinh anh, xưa đã yêu cầu anh phải cố thi vào trường Tây mà học cho giỏi tiếng Anh, tiếng Pháp để hiểu con người và văn hóa Âu Mỹ.

Anh đã tham gia hoạt động trước ngày Cách mạng Tháng Tám, là chiến sĩ Trung đoàn Thủ Đô ngày khói lửa Toàn quốc kháng chiến, rồi vào vùng địch tìm hiểu chiến tranh du kích.

Anh là ưu tiên số một được chọn mỗi khi đi gặp gỡ tù binh Pháp để tìm hiểu, tranh luận, thuyết phục. Anh không chỉ là người đứng ngoài ghi chép, mà là người trực tiếp nhập cuộc, trong việc chôn cất hai sĩ quan Pháp ngày 11-10. Anh là linh hồn của lời phát biểu nhân hậu, sáng suốt trước quan tài hai kẻ địch xấu số.

Không lạ gì, mấy năm sau khi chuyển sang Điện ảnh Quân đội, anh đã dựng lên hàng loạt phim tài liệu trong chiến tranh đuổi Mỹ. Sinh động, sâu sắc, hình ảnh và lời bình có lý, có tình, cùng một nhịp đập chính nghĩa như thời chống Pháp và phim anh đã giành được một loạt giải Bông Sen Vàng.

Phú Bằng
qdnd.vn

Ia Đrăng trận đánh làm chấn động nước Mỹ

LTS: Trận Ia Đrăng là trận đánh then chốt quyết định nhất của chiến dịch Plây-me, là cuộc đụng độ quy mô lớn lần đầu của chủ lực ta với quân đội Mỹ. Trận đánh đã đi vào lịch sử, đánh dấu sự thất bại đầu tiên của Mỹ trên chiến trường miền Nam. Chúng tôi xin trích đăng bài viết của cố Thượng tướng Nguyễn Hữu An, nguyên Phó tư lệnh chiến dịch Plây-me, người chỉ huy trực tiếp trận đánh tại thung lũng Ia Đrăng 45 năm trước…

Mắt tôi vẫn dõi theo những đám khói xám đang tan để lại một vệt dài dọc theo sườn núi những cây cối đổ ngang ngửa. Từ hồi còn ở ngoài miền Bắc tôi đã đọc nhiều tài liệu tham khảo về nền quân sự Hoa Kỳ, bây giờ tận mắt nhìn thấy và đang đụng đầu với nó. Một chiếc B52 chở được 25 tấn bom, riêng ngày hôm nay chúng dùng 24 chiếc nối đuôi nhau quần xung quanh khu vực Chư Pông này. Tôi suy nghĩ về đối tượng tác chiến mới là một đội quân được trang bị rất mạnh, rất hiện đại mà đứng trước đối thủ là một đội quân “đói ăn” trang bị lạc hậu như vậy thì sự chủ quan “trong một thời gian ngắn sẽ đánh gẫy xương sống Việt Cộng” và việc đổ bộ ào ạt hiện nay để “cất vó” chủ lực của Tây Nguyên là điều dễ hiểu. Tôi ra lệnh dừng lại khu vực địch vừa ném bom B52 xong để nắm địch, nắm ta và chỉ huy trận đánh.

Tháng 10-1993, tại Ia Đrăng, Thượng tướng Nguyễn Hữu An (giữa) gặp tướng H. Mua-rơ (bên trái), nguyên trung tá chỉ huy lực lượng kỵ binh bay của Mỹ trong trận đánh ở thung lũng này vào tháng 11-1965. (Ảnh chụp lại)

Mãi tới chiều hôm ấy tôi mới gặp cán bộ chỉ huy Trung đoàn 66 – anh Lã Ngọc Châu, Chính ủy Trung đoàn. Châu cho biết đội hình trung đoàn bị địch chia cắt chưa liên lạc được, anh chỉ nắm được Tiểu đoàn 7 và tình hình địch ở gần Tiểu đoàn 7.

Nắm được tình hình qua Chính ủy Châu và báo cáo của trinh sát, chúng tôi biết bọn địch đứng sát Tiểu đoàn 7 là Tiểu đoàn 1 (thiếu) thuộc Lữ 3 kỵ binh bay. Tôi và anh Đặng Vũ Hiệp, Chính ủy Sở chỉ huy tiền phương hội ý chớp nhoáng quyết định dùng Tiểu đoàn 7 cơ động nhanh đánh vào Tiểu đoàn 1 Mỹ…

Tiểu đoàn 7 đã nổ súng tập kích địch từ 5 giờ rưỡi sáng 15-11. Khoảng 15 phút đầu, địch hỗn loạn nhưng sau đó chống trả quyết liệt. Chúng tôi nghe khá rõ tiếng súng liên thanh, lựu đạn nổ dữ dội. Trên bầu trời kể cả ngày lẫn đêm không phút nào vắng sự gào thét của các loại máy bay, đây đó tiếng bom lấn át mọi âm thanh khác.

Những quả pháo sáng soi rõ từng ngọn cỏ lối đi. Không gian chiến trường tưởng như trong nồi hơi, khí nén đã quá mức, lại còn tiếp tục dồn nén. Đầu óc, cơ thể mọi người dù chỉ là ngồi một chỗ cũng thấy căng thẳng như sợi dây đàn.

Tiểu đoàn 7 tiếp tục tiến công địch. Khoảng 12 giờ máy bay địch tới bắn phá, thả bom na-pan trùm cả lên đội hình của quân Mỹ. Tiểu đoàn 7 để lại một đại đội làm nhiệm vụ bao vây khống chế không cho địch rút chạy hoặc cơ động đi nơi khác. Số còn lại tạm rời trận địa lui lại phía sau để chấn chỉnh đội hình.

Sau một hồi lâu bắn phá, địch đổ bộ thêm một đại đội còn lại của Tiểu đoàn 1.

Ở Sở chỉ huy tiền phương chúng tôi lúc này nắm được tình hình chắc hơn. Dưới Trung đoàn 66 cho biết: Tiểu đoàn 9 đã liên lạc được với Tiểu đoàn 7. Như vậy tương quan lực lượng trong khu vực nhỏ này, mỗi bên có hai tiểu đoàn, nếu tính số lượng quân Mỹ trội hơn, chưa kể hai đại đội pháo và không quân chi viện.

Tối 15 tôi lệnh cho Chính ủy Lã Ngọc Châu (trung đoàn trưởng đi lạc chưa về) nhanh chóng củng cố lực lượng, cố gắng tập kích ở tọa độ X vào sáng ngày 16. Cùng thời điểm đó tôi cử Đồng Thoại, trợ lý tác chiến đi bắt liên lạc với Trung đoàn 33, gặp được tiểu đoàn nào thì giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn ấy tập kích vào hai trận địa pháo ở Quynh-co-la để phối hợp với Trung đoàn 66.

Tôi cho một tốp trinh sát đem lệnh cho Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66) nhanh chóng quay về đường cũ, sẵn sàng đánh địch đang hành quân ngược về phía Tiểu đoàn 8.

Tiểu đoàn 7 đã nổ súng khoảng 3 giờ sáng 17-11. Sau ít phút chiến đấu quyết liệt, Tiểu đoàn 7 đã đánh trúng tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 1 và đánh thiệt hại nặng hai đại đội quân Mỹ. Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 33 bị lạc đường không thực hiện được ý định đánh vào trận địa pháo.

Thấy Tiểu đoàn 1 có nguy cơ bị tiêu diệt, Lữ 3 kỵ binh bay hạ lệnh cho số còn lại hành quân bộ chạy về phía tây Ia Mơ co cụm ở gần trận địa pháo chờ lệnh.

Tôi ra lệnh cho các đơn vị (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 33) để khỏi bị lạc đường phải liên tục đánh địch cả ban ngày và ban đêm; gặp địch là khẩn trương tổ chức đánh ngay, bám thắt lưng địch mà đánh.

Trưa ngày 17, Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66) nhận được lệnh hành quân quay lại, đang nghỉ ăn cơm dọc sông Ia Đrăng thì có tin của trinh sát báo cáo: “Quân Mỹ đang tới gần”. Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi bình tĩnh đôn đốc tiểu đoàn nhanh chóng triển khai đội hình chiếm trận địa có lợi trước mặt và hai bên, hình thành thế bao vây ép địch vào giữa hai gọng kìm của tiểu đoàn. Sau khi dùng hỏa lực súng cối chế áp ngắm vào đội hình địch, quân ta dũng cảm đồng loạt xung phong chia cắt đội hình và đánh giáp lá cà với địch. Cả đôi bên lúc này đội hình xen kẽ nhau đến độ chỉ cho phép dùng tiểu liên bắn găm, dùng lưỡi lê, lựu đạn mà chiến đấu.

Nhà báo Gan-lau Uây đã miêu tả trận đánh: “…Khi các khẩu súng cối của họ phát hỏa, quân chính quy Bắc Việt Nam đang vận động dọc theo đội hình quân Mỹ, lập tức quay vòng lại và tiến công. Ở trung tâm của đội hình, đại đội Sác-li phải chịu hậu quả tồi tệ nhất, bị chết 20 và bị thương một số còn đông hơn thế ngay từ phút đầu tiên. Một số quân ta bắn như điên như dại về tứ phía và có đại đội khác đã phàn nàn là họ đã bị bắn bởi chính hỏa lực của quân mình.

Mãi đến lúc này, khi quân Bắc Việt Nam đang tăng cường sức ép tiến công mà Mắc Đết, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Lữ 3 Mỹ vẫn còn ngộ nhận tin rằng sự việc đang diễn ra chính là do quân Mỹ bắn loạn xạ vào nhau… Trung úy Slau-ren Guyn kể lại là Mắc Đết đã gọi điện đài lệnh cho các đơn vị ngừng bắn. Tình hình đã xấu lại trở nên xấu hơn. Đến bây giờ quân Bắc Việt Nam đã có mặt ngay trong hàng ngũ quân Mỹ và trên các ngọn cây cao. Bất cứ ai vận động lên đều bị bắn chết. Thiếu tá Hen-ry và trắc thủ pháo binh đã cố gắng dùng điện đài của họ để gọi pháo binh và không quân chi viện. Điều này đã làm giảm bớt sự chết chóc, nhưng với đội hình kéo dài giữa bãi cỏ cao rậm thì các quả đạn pháo và na-pan sát thương quân Bắc Việt Nam đồng thời cũng sát thương cả người Mỹ. Đơn vị đi đầu, đại đội An-pha phân tán rải ra khắp đoạn rìa của khu vực phát quang trước khi bị tiến công đã mất đúng hai trung đội, 50 người trong những phút đầu. Đến lúc rút ra khỏi khu vực này, nó chỉ còn lại 20 người trong tổng số 160 người. Đại đội Sác-li lúc tập hợp ở khu vực “tia X” để hành quân có 110 người thì lúc này đã bị chết 50 và bị thương 50”…

Mỹ đổ quân xuống thung lũng Ia Đrăng tháng 11-1965. Ảnh tư liệu

Nhận được lệnh của tôi, Trung đoàn 33 đã cho một tiểu đoàn hành quân cấp tốc ngược về phía Chư Pông. Trên đường hành quân Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 33) nghe thấy tiếng súng nổ phía trước mặt, biết chắc chắn quân ta đang chặn đánh địch, không ai bảo ai họ cố gắng vượt lên nhanh. Tới gần sát địch, một đại đội của Tiểu đoàn 1 gặp địch đang chạy lui về phía Chư Pông. Thế là hai đơn vị phối hợp đánh mạnh vào sau lưng tiểu đoàn Mỹ. Sự hiệp đồng tuyệt đẹp của cả hai tiểu đoàn, khiến đội hình quân Mỹ đang rối ren, nhanh chóng bị quân ta tiêu diệt.

Trận đánh kéo dài suốt từ 14 giờ ngày 17 đến 20 giờ ngày 18 mới kết thúc. Theo nhà báo Gan-lâu Uây đi theo hai tiểu đoàn 1 và 2, Lữ đoàn 3 quân Mỹ thì Tiểu đoàn 2 bị chết 155 người, 125 người bị thương và 5 bị mất tích. Như vậy trong 3 tiếng đồng hồ Tiểu đoàn 2 quân Mỹ đã mất 285 người trong tổng số 400, mặc dầu con số này còn xa sự thật. Ngay Đại tướng Oét-mo-len cũng phải thừa nhận đây là một tổn thất rất nghiêm trọng.

Trong ngày 18 địch vội vã điều động lực lượng tới nhiều nơi hy vọng sự giảm nhẹ nguy kịch của Tiểu đoàn 2 kỵ binh bay đang có nguy cơ bị tiêu diệt.

Ở Quynh-co-la địch đổ thêm Tiểu đoàn 3 và 2 đại đội pháo.

Hai trung đoàn dù ngụy nằm trong lực lượng tổng dự bị tức tốc được điều từ Sài Gòn tới cùng với một tiểu đoàn Mỹ hành quân bằng ô tô rồi tiến vào hướng đông nam Đức Cơ, bắc dãy núi Chư Pông để yểm trợ phía sau, đồng thời cố tạo ra một áp lực giả tạo làm thuốc an thần cho quân Mỹ. Rất tiếc Trung đoàn 320 ở hướng đó chỉ đánh tiêu hao, không diệt gọn được tiểu đoàn Mỹ nào.

Ngày 19, hàng chục máy bay tới ném bom bắn phá hồi lâu xung quanh Quynh-co-la, rồi cho trực thăng xuống bốc toàn bộ số quân còn lại về Bầu Cạn. Cuộc hành quân lần đầu tiên của quân Mỹ vào Tây Nguyên đã kết thúc bi thảm.

Kết quả cuối cùng ta đã giành được thắng lợi to lớn vượt xa dự kiến ban đầu, khoảng 1.200 tên Mỹ bị thương vong, ta tiêu diệt Tiểu đoàn 1 và 2 của Lữ đoàn 3 kỵ binh bay, tiêu hao nặng Tiểu đoàn 3 và một số đại đội, bắn rơi 26 máy bay và thu nhiều súng đạn.

Trận đánh ở Ia Đrăng đã làm chấn động đến toàn nước Mỹ, báo hiệu sự thất bại không thể tránh được của quân đội viễn chinh Mỹ. Tôi xin mượn câu nói của nhà báo Mỹ Gan-lâu Uây viết cho Tuần tin tức Mỹ sau đây: “Trận chiến đấu ở thung lũng Ia Đrăng đã làm cho nước Mỹ suy thoái vào một thập kỷ sa lầy đẫm máu, đã dẫn 58.000 người Mỹ vào những chiếc quan tài bằng nhôm sáng bóng do quân đội sản xuất, đã làm hỏng một đời tổng thống, đã mang lại vết nhơ sâu sắc cho các đời tổng thống khác và đẩy cả dân tộc đến chỗ đối lập với chính bản thân mình”.

Cố Thượng tướng Nguyễn Hữu An
qdnd.vn

65 năm trước Hội Hữu nghị Việt – Mỹ ra đời

Sau khi Thế chiến II kết thúc, đầu tháng 10-1945, Tổng thống Mỹ Tru-man tuyên bố chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ thời hậu chiến gồm 12 điểm, trong đó có đề cập Đông Dương là “không chống cũng không giúp Pháp lập lại sự kiểm soát ở Đông Dương”. Với kinh nghiệm của một nhà cách mạng từng trải, Chủ tịch Hồ Chí Minh không có ảo tưởng vào chính sách đó. Nhưng trong tình cảnh Hoa Kỳ đang có vai trò lớn ở khu vực Thái Bình Dương, Hồ Chí Minh cố gắng khai thác mặt tích cực trong Tuyên bố đó. Vì lẽ đó, ngày 12-10-1945, Người với tư cách Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước ta, đã gửi cho Tổng thống Mỹ Tru-man một bức thư hoan nghênh chính sách đối ngoại của Mỹ nhằm tranh thủ sự ủng hộ cho nền độc lập của dân tộc Việt Nam. Bức thư được gửi qua Bộ Quốc phòng, đến Văn phòng Tổng thống hồi 11 giờ sáng ngày 2-11-1945. Cũng trong ngày hôm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu với các nhà báo về chính sách đối ngoại 12 điểm của Tổng thống Mỹ:

“Nhân dân Việt Nam đối với lời tuyên bố của Tổng thống Tru-man rất hoan nghênh và chắc rằng nước Mỹ sẽ làm cho những lời tuyên bố ấy thực hiện ngay (1).

PGS.TS Phạm Xanh Lãnh tụ Hồ Chí Minh và đồng chí Võ Nguyên Giáp với nhóm đặc nhiệm “Con Nai” thuộc tổ chức OSS (Mỹ) tháng 7-1945. Ảnh tư liệu

Trong bối cảnh đặc biệt đó, Hội Hữu nghị Việt – Mỹ ra đời tại Hà Nội ngày 17-10-1945. Sự ra đời của Hội là kết quả của sự nỗ lực chung của những người Việt Nam yêu nước và có thiện cảm với nước Mỹ và những người lính Mỹ trong toán Con Nai của Cơ quan Phục vụ Chiến lược (OSS) đã từng sát cánh với Việt Minh chống phát xít Nhật trong rừng Việt Bắc. Cũng xin nói thêm rằng trên phương diện ngoại giao nhân dân, ngoại giao phi chính phủ, Hội Hữu nghị Việt-Mỹ là Hội Hữu nghị đầu tiên được thành lập trong lịch sử ngoại giao của nước Việt Nam mới.

Một cuộc gặp gỡ được tổ chức nhân dịp Hội ra mắt. Tham gia cuộc gặp gỡ thân mật này có những cán bộ cao cấp của ta, có tướng Ga-lâu-gơ, người đang có mặt bên cạnh quân đội Trung Hoa của tướng Lư Hán, các sĩ quan Mỹ khác và khoảng 200 quan khách. Ông Trần Văn Bính (Trịnh Văn Bính), Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt – Mỹ mở đầu bữa tiệc bằng một bài diễn văn ngắn gọn:

“Người Việt Nam đang sống ở nước ngoài tin rằng, tổ chức này được thành lập sẽ là môi trường giao tiếp sâu rộng giữa người Mỹ và người Việt. Hội sẽ làm cho nhân dân Việt Nam tiến tới hiểu biết người Mỹ và người Mỹ tiến tới hiểu biết Việt Nam… Chúng tôi rất quan tâm tới việc gửi sinh viên Việt Nam sang Mỹ và chúng tôi làm những gì tốt đẹp nhất để đạt được một trong những mục đích thiết tha của chúng tôi là trao đổi sinh viên giữa hai nước” (2).

Tiếp đó, tướng Ga-lâu-gơ đã đáp từ. Ông cảm ơn người Việt Nam đã tiếp đãi rất thịnh tình và xin lỗi vì bổn phận của ông nên không thể ở lại lâu. Tướng Ga-lâu-gơ kết thúc lời đáp từ bằng khẳng định rằng việc trao đổi sinh viên giữa hai nước là một ý tưởng tốt đẹp.

Và bữa tiệc trở thành một cuộc liên hoan đầy thú vị. V-A F.A Review (Tạp chí Hội Hữu nghị Việt – Mỹ) của Hội ra đời sau đó ít hôm đã tường thuật không khí buổi lễ ra mắt của Hội:

“Bữa tiệc được tiếp nối với sự góp mặt của các cô Kim Chung, Ái Liên, Lan Phương và bà Thân. Mỗi người hát một giai điệu và được yêu cầu hát lại. Trung úy Un-gơ, sĩ quan phụ tá của tướng Ga-lâu-gơ hát một bài tình ca bằng tiếng Pháp. Nhưng thành công lớn nhất thuộc về tướng Ga-lâu-gơ, ông theo đề nghị của sĩ quan phụ tá, một lần trong đời đã bước tới trước mi-crô và biểu diễn hết sức sôi nổi” (3).

Cuộc vui kéo dài đến tận 7 giờ tối.

Không đầy hai tuần lễ sau khi thành lập Hội, ngày 1-11-1945, Chủ tịch nước kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hồ Chí Minh gửi cho Ngoại trưởng Mỹ Giêm Biếc-nơ bức thư bày tỏ lòng mong muốn gửi sinh viên Việt Nam sang du học tại Mỹ. Lá thư có đoạn:

Nhân danh Hội Văn hóa Việt Nam, tôi xin bày tỏ nguyện vọng của Hội được gửi một phái đoàn khoảng 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ với ý định, một mặt, thiết lập những mối quan hệ văn hóa thân thiết với thanh niên Mỹ và mặt khác, để xúc tiến việc tiếp xúc nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác.

Nguyện vọng mà tôi đang chuyển tới Ngài là nguyện vọng của tất cả các kỹ sư, luật sư, giáo sư Việt Nam cũng như những đại biểu trí thức khác của chúng tôi mà tôi đã gặp” (4).

Thiện cảm của Chính phủ và nhân dân Việt Nam mong muốn Hội Hữu nghị Việt – Mỹ phát triển mạnh mẽ theo tôn chỉ của nó là “gieo trồng tình hữu nghị giữa hai dân tộc” đã không được đáp lại. Nước Mỹ từ thời Tổng thống Tru-man đã quay lưng lại và sa vào vũng lầy của cuộc chiến tranh chống lại nền độc lập của dân tộc Việt Nam. Phải nửa thế kỷ sau, với việc Tổng thống Mỹ Bin Clin-tơn bãi bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, một tinh thần hữu nghị Việt – Mỹ đã được nhen nhóm trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít trước đây đã trở thành hiện thực như lòng mong muốn của các nhà cách mạng Việt Nam bắt nguồn từ lợi ích của hai dân tộc và của nhân loại.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, tr. 83.

(2) Tạp chí Hội Hữu nghị Việt-Mỹ, tháng 10-1945 (Tiếng Anh)

(3) Như trên.

(4) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, tr.80-81.

Người nữ cứu thương nhân hậu

Trong dịp kỷ niệm 65 năm ngày chiến thắng phát-xít, Hội đồng các Bộ trưởng Quốc phòng thuộc khối SNG đã quyết định tổ chức cuộc thi viết về đề tài: “Chiến công của nhân dân Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh”, kêu gọi các cá nhân và tổ chức tích cực tham gia.

Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng xin đăng truyện “Người nữ cứu thương nhân hậu” của Andrei Saxtkii, tác phẩm tham gia cuộc thi này.

Nữ cứu thương Li-da đang cứu chữa thương binh trên chiến trường. Ảnh tư liệu

Bằng loạt đạn chính xác, khẩu 76mm của hạ sĩ Nur-ga-li A-kim-bê-tốp đã diệt gọn lũ phát-xít đang hùng hổ xông đến. Được gia nhập Hồng quân mùa xuân năm 1943, anh giáo viên toán trường làng A-kim-bê-tốp được điều đi học lớp pháo binh. Vốn sẵn có bẩm sinh toán học, người con tiêu biểu của dân tộc Ka-dắc đã tiếp thu nhanh chóng những kiến thức thông thái của môn khoa học quân sự này, vì thế lúc ra trận anh đã bắn những loạt đạn chuẩn xác vào quân thù, diệt gọn lũ giặc, không để cho chúng có cơ hội thoát thân. Các cấp chỉ huy luôn động viên cổ vũ tài năng của chàng hạ sĩ A-kim-bê-tốp; kết thúc chiến tranh trên ngực anh đã gắn đầy huân chương. Mà chuyện đó sẽ nói đến sau, còn lúc này đang là mùa thu năm 1944.

Công việc chuẩn bị cho cuộc tấn công thần tốc trên khắp mặt trận đang diễn ra gấp gáp. Lúc này quân địch cũng đã đánh hơi thấy mối hiểm họa đang đến gần, chúng bằng mọi thủ đoạn ra sức quấy phá quân ta, nhất là nhằm vào các chiến sĩ pháo binh Hồng quân. Máy bay phát-xít Đức liên tục bắn phá suốt ngày đêm, các trận địa pháo của địch không ngừng hoạt động trên khắp mặt trận, thăm dò những nơi phòng thủ yếu kém của Hồng quân để huy động xe tăng và bộ binh chọc thủng vòng vây, đồng thời tổ chức phản công nhằm ngăn chặn mũi tiến công chiến lược của Hồng quân Liên Xô về hướng Vác-sa-va. Phương diện quân U-crai-na số 1 phối hợp với Phương diện quân Bê-la-rút số 1 đã tổ chức  phòng thủ chặt chẽ trận tuyến trước cửa ngõ Vác-sa-va. Lúc này mật độ quân địch dồn đến mỗi lúc một đông. Chúng điên cuồng tấn công chiến tuyến của ta.

Vào một ngày tháng Mười năm 1944, máy bay Đức đã oanh tạc trận địa pháo Hồng quân. Khẩu đội pháo của hạ sĩ A-kim-bê-tốp bị phá hủy hoàn toàn. Bom địch ném trúng trận địa pháo, tạo ra một hố sâu khủng khiếp. Cỗ pháo giờ đây đã biến thành đống sắt vụn đen nhẻm. Số phận bi thảm của các chiến sĩ pháo thủ cũng không hơn gì.

May mắn thay, mà có thể là do số phận, chỉ một mình A-kim-bê-tốp là còn sống sót, nhưng anh bị trúng đạn vào chân, toàn thân bị liệt, nằm lịm bất tỉnh bao lâu không còn nhớ. Nhưng nhờ có sức khỏe phi thường mà chàng hạ sĩ vẫn còn hy vọng.

“Cảm giác có người lay nhẹ ở sau lưng, cha đã tỉnh lại trong giây lát – một lần anh kể cho đứa con gái nghe chuyện của mình khi còn là một chiến sĩ pháo thủ- Chung quanh lúc này tối đen như mực, ẩm ướt và lạnh lẽo. Hai chân không còn cảm giác. Trong đầu tiếng ong ong vang lên khủng khiếp, vẫn nghe thấy tiếng rú rít trong tai. Bỗng nhiên cha đã nhận ra rất rõ, có người đang kéo lê mình đi đâu đó. Một ý nghĩ khó chịu thoáng hiện trong đầu: “Miễn là không bị bắt làm tù binh… rồi cha lại tiếp tục mê man”.

Trong hoàn cảnh cam go trên trận địa, người nữ cứu thương mảnh mai ấy vẫn dìu đồng đội “trên tay”, mấy ngày liền đã băng qua rừng rậm và sình lầy, đi đường vòng để lẩn tránh bọn Đức đang phòng thủ gần đó. Và rồi một lần nữa số phận lại mỉm cười với anh.

Có lần thấy cô gái quá khổ sở vì phải lê lết kéo một chàng thanh niên to béo tới chỗ chiến hào quân mình, anh đã van xin cô bỏ anh lại trong rừng và khuyên cô hãy thoát khỏi nơi này. Bản thân chàng hạ sĩ khi đó chưa nhớ tới một điều – đó là  đức tính kiên trì, ý thức trách nhiệm đối với đồng đội và sự cưu mang lẫn nhau trong chiến đấu.

Bỗng đầu anh va mạnh vào một vật gì đó không cứng lắm khiến anh hồi tỉnh. Trời bắt đầu hửng sáng. Nhìn quang cảnh chung quanh, A-kim-bê-tốp đã nhận ra mình đang nằm trong chiến hào của quân ta. Qua những tiếng lao xao gần đó, anh nhận ra đó chính là tiếng nói thân thương – tiếng Nga “trọ trẹ”. Lần theo những câu trao đổi của đồng đội, A-kim-bê-tốp hiểu rằng, anh em đang gấp gáp chuẩn bị chuyển mình về hậu cứ cùng với người nữ cứu thương trẻ, cả hai đều đã bị liệt vào danh sách các chiến sĩ tử vong.

Tại chặng dừng chân đầu tiên, A-kim-bê-tốp đã kịp hỏi tên tuổi người nữ cứu thương nhân hậu ấy. Anh nói: “Mình cũng sẽ đặt tên cho con gái mình là Li-da!”.

Quá trình điều trị diễn ra khá lâu. Vết thương ở vùng xương hông đã làm chân anh bị thọt. Lần theo những chuyện kể của các thương binh từ mặt trận chuyển về, A-kim-bê-tốp biết rằng, dưới sự yểm trợ của trung đoàn pháo binh của anh, các chiến sĩ ta đã chiếm gọn Vác-sa-va và nhanh chóng tiến về Béc-lin. Ngoài ra, A-kim-bê-tốp còn biết tin, trong lúc rút khỏi Vác-sa-va, bọn phát-xít đã phá tan tành thành phố Vác-sa-va, sát hại hàng loạt dân lành. Thật đau xót được biết tin này, càng cay đắng hơn khi bản thân anh đang bị cột chặt vào chiếc giường bệnh viện. Tuy vậy, cái tên Li-da vẫn không rời khỏi đầu chàng hạ sĩ. “Không biết cô có còn sống?”. “Ai mà biết, chuyện gì sẽ xảy ra sau khi chiến tranh kết thúc!”.

Chỉ ít ngày sau khi phát-xít Đức hạ bút ký đầu hàng vô điều kiện, hạ sĩ Nur-ta-li A-kim-bê-tốp đã được xuất viện. Cầm trong tay tờ giấy chứng thương, anh mới nhận ra là mình đang ở vùng ngoại vi Béc-lin. “Vậy là cuối cùng cũng đến được tận nơi…” – Chàng thanh niên từ vùng Ka-dắc-xtan trầm ngâm suy nghĩ.

Vài năm tiếp sau đó với cương vị thượng sĩ, A-kim-bê-tốp đã tham gia huấn luyện lớp tân binh trẻ “mũ nồi xanh”, truyền đạt cho họ những kỹ xảo về pháo binh. Năm 1948, thượng sĩ Nur-ta-li A-kim-bê-tốp đã được xuất ngũ, trở về nhà, về vùng Ka-dắc-xtan thân yêu.

Trong suốt thời gian đóng quân trên đất nước Đức, thượng sĩ A-kim-bê-tốp không sao tìm ra được thiên thần cứu sống mình – người nữ cứu thương nhân hậu Li-da. Dù sao đi nữa, anh vẫn nhớ như in rằng cô gái ấy quê ở vùng  Kờ-rát-xnơ-đa. Và lời hứa hẹn với cô trong chiến hào lần ấy trước phút lên đường trở về hậu tuyến, anh vẫn không quên. Chàng pháo thủ  luôn tâm niệm: “Về nhà thu xếp mọi việc ổn thỏa, rồi nhất định lại đi tìm nàng”. Cuối cùng chàng cũng tìm thấy ân nhân của mình!

Những cuộc gặp gỡ nồng nàn đầy nước mắt đã diễn ra nơi xứ sở chan hòa ánh nắng mặt trời của vùng Kờ-rát-xnơ-đa. Biết bao nhiêu lời cảm ơn, chúc tụng hướng về Li-da – người nữ y tá của bệnh viện tỉnh Kờ-rát-xnơ-đa… Nhưng giây phút cảm động hơn cả là lúc trên bàn tiệc xuất hiện một bức ảnh bé gái xinh đẹp – đứa con gái của chàng thượng sĩ Nur-ga-li A-kim-bê-tốp có tên Nur-ga-li A-kim-bê-tốp-va Li-da!

Vũ Huy dịch

(Tạp chí Tri thức quân sự)
qdnd.vn

Sân bay Tân Sơn Nhất – những sự kiện lịch sử

QĐND – Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954), sân bay Tân Sơn Nhất (Sài Gòn – nay là TP Hồ Chí Minh) chỉ là một phi cảng nhỏ bé. Sau năm 1954, nhất là thời điểm từ cuối năm 1965, khi Mỹ ào ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và các nước chư hầu trực tiếp vào tham chiến trên chiến trường miền Nam, chúng đã xây dựng Tân Sơn Nhất thành một sân bay có tầm cỡ quốc tế, một căn cứ quân sự chiến lược quan trọng của Mỹ ở Đông Nam Á.

Sân bay Tân Sơn Nhất trước ngày giải phóng 30-4-1975 có chiều dài khoảng 8km, rộng 5km, chiếm 1.922 héc-ta. Sân bay Tân Sơn Nhất là một căn cứ hỗn hợp có nhiều đường bay cho các loại máy bay dân dụng và quân sự. Sân bay có khu sân bay quân sự, khu hàng không dân dụng và khu hàng không quốc tế, có khả năng chứa 400-500 máy bay. Trong sân bay có hệ thống ụ chìm, ụ nổi, các kho chứa bom đạn, xăng dầu… Theo thống kê, năm 1958 sân bay có 30.000 phi vụ cất cánh và hạ cánh thì đến năm 1966 đã tăng đến 50.000 phi vụ. Tại sân bay, có khoảng 20 hãng hàng không quốc tế tham gia sử dụng như: Pan American, American Airlines, Seaborn Transwerld, Continental Airlines, Flying Tiger, Nortwest Airlines, Cathay Pacific, Slich Airlines… và các hãng hàng không khác có hợp đồng với Bộ Chỉ huy không quân Mỹ…

Về mặt quân sự, sân bay Tân Sơn Nhất nằm trong thế bố trí tam giác chiến lược: Biên Hòa – Sài Gòn – Vũng Tàu của Mỹ – ngụy. Trong sân bay, khu nhà phía nam là “hang ổ” của Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Mỹ, nhà của tướng Oét-mo-len. Phía đông bắc, có tòa nhà 2 tầng sơn màu trắng của tướng Vốt, Tư lệnh không quân Mỹ ở Đông Nam Á, kiêm Phó tổng chỉ huy lực lượng Mỹ ở Đông Dương. Sân bay cũng là nơi đặt Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh không quân quân đội Sài Gòn, có nhà của tướng Nguyễn Cao Kỳ, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 Không quân, Bộ Tư lệnh quân dù quân đội Sài Gòn.

Để phục vụ cho guồng máy chiến tranh, hằng ngày tại sân bay có hàng ngàn người làm việc, trong đó có quân nhân thuộc Đệ nhất hạm đội và Lục quân Mỹ, nhân viên không lực ngụy Sài Gòn và nhân viên dân chính người Việt. Nhằm ngăn chặn sự “thâm nhập của Cộng sản”, mỗi người vào làm việc tại sân bay đều được điều tra kỹ về an ninh. Sân bay được bố phòng nhiều trang thiết bị hiện đại như máy vô tuyến bán dẫn báo động, xung quanh căn cứ được bao bọc bởi hàng rào kẽm gai bùng nhùng dày 22 lớp, xen kẽ các lớp rào là các loại mìn sáng, mìn díp, mìn cóc, claymo, các lon đồ hộp treo móc phát hiện tiếng động. Bao quanh sân bay có các đường nhựa bảo đảm cho xe cơ giới tuần tra liên tục ngày đêm. Phía trong hàng rào, sau các lớp hào sâu hơn 2m còn là hệ thống các lô cốt, công sự dã chiến của lực lượng bảo vệ, được trang bị đầy đủ súng ống, đèn pha chiếu sáng rực vào ban đêm. Lực lượng đặc biệt bảo vệ sân bay gồm 1 tiểu đoàn quân cảnh Mỹ có chó béc-giê do bọn Mỹ nói thạo tiếng Việt phụ trách, 1 tiểu đoàn an ninh phi trường, 1 tiểu đoàn quân cảnh trực tiếp canh giữ, bảo vệ nơi ở của các tướng tá Mỹ – ngụy. Bên ngoài sân bay, ngoài biện pháp “tảo thanh”, “phát quang”, tạo “vành đai trắng” luôn có mạng lưới thám báo, gián điệp hoạt động, trà trộn trong dân, dò tìm, phát hiện mọi động tĩnh của lực lượng cách mạng. Ngoài ra, sân bay còn có lực lượng pháo binh ở căn cứ Cổ Loa, Căn cứ Thiết giáp Phù Đổng, Trung tâm huấn luyện Quang Trung ở phía bắc, Yếu khu quân sự Ngã Năm (Vĩnh Lộc), Trại Hoàng Hoa Thám ở phía nam sẵn sàng ứng cứu khi có tình huống xảy ra.

Ngoại cảnh sân bay Tân Sơn Nhất hiện nay.  Ảnh: Tuấn Tú

Đối với lịch sử kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của dân tộc, Quân khu 7, Quân khu Sài Gòn – Gia Định, sân bay Tân Sơn Nhất là nơi ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng: Ngay từ những ngày đầu quân Pháp núp sau quân Anh gây hấn tái chiếm Nam Bộ (9-1945), sân bay Tân Sơn Nhất, nơi quân Anh làm nhiệm vụ cảnh giới đã bị du kích Sài Gòn tập kích. Tiếp theo là hàng loạt các trận đánh của lực lượng đặc công, Biệt động Sài Gòn vào khu vực sân bay: Trận 15-3-1952, tổ đặc công do Lê Văn Thọ chỉ huy đột nhập dùng mìn đánh kho bom An Hội (Gò Vấp) phá hủy 700 quả bom, diệt 182 tên địch; Trận 31-8-1952, Đại đội quyết tử 3721 (sau đổi tên là Đại đội đặc công 205) “dùng chất nổ hủy diệt 5.200 tấn bom đạn, 3 triệu lít xăng, trên 2.000 thùng dầu nhớt, gây thiệt hại nặng cho đại đội Âu – Phi canh giữ kho”. Đêm 30-5 rạng 1-6-1954, Tổ đặc công Bùi Văn Ba, Phạm Văn Hai gồm 12 người đột nhập kho đạn, xăng dầu Phú Thọ Hòa đặt mìn hẹn giờ “thiêu hủy 9.345 tấn bom đạn, 20 triệu lít xăng cùng 1 đại đội lính Âu – Phi chết và bị thương”. Các trận đánh đã có tác dụng cổ vũ toàn chiến trường Nam Bộ lúc bấy giờ.

Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết (7-1954). Sau lễ “Trao trả dinh Nô-rô-đôm” cho Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng nên, tướng Ê-ly, Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp cuối cùng, từ sân bay Tân Sơn Nhất cuốn gói về nước, chấm dứt sự có mặt sau gần 100 năm của quân đội xâm lược Pháp ở Đông Dương.

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1945-1975), mặc dù được Mỹ-ngụy tăng cường bảo vệ nghiêm ngặt, nhưng từ năm 1963-1966, sân bay liên tục bị Biệt động Sài Gòn, lực lượng pháo binh miền Đông Nam Bộ tấn công, diệt nhiều phi công Mỹ và nhân viên kỹ thuật, phá hủy hàng triệu lít xăng, hàng chục máy bay các loại. Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, các trận đánh, thế tiến công của người chiến sĩ Quân giải phóng miền Nam trên đường băng Tân Sơn Nhất đã được nhà thơ Lê Anh Xuân ca ngợi là biểu tượng cao đẹp cho “Dáng đứng Việt Nam”.

Cùng với những đòn tiến công quân sự của ta, sân bay Tân Sơn Nhất còn là minh chứng sinh động về đòn đấu tranh chính trị – ngoại giao mưu trí và dũng cảm của Phái đoàn quân sự Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên tại trại Đa-vít đòi Mỹ-ngụy phải thi hành Hiệp định Pa-ri, diễn ra liên tục 823 ngày đêm, từ tháng 2-1973 đến cuối tháng 4-1975.

Lịch sử được lập lại như đối với quân xâm lược Pháp trước đây. Ngày 15-3-1973, cũng tại sân bay Tân Sơn Nhất, tướng Mỹ 4 sao Uây-en phải làm lễ “Hạ cờ”, rút hết quân Mỹ về nước. Ngày 29-3-1973, những tên lính Mỹ cuối cùng lên máy bay rút khỏi sân bay Tân Sơn Nhất, đánh dấu mốc lịch sử sau 115 năm, kể từ năm 1858 khi quân Pháp nổ súng, mở đầu cuộc xâm lược nước ta, lần đầu tiên trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, quân đội của bọn đế quốc xâm lược đã bị quét sạch.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trước thế tiến công áp đảo của quân và dân ta, ngày 21-4-1975 Tổng thống ngụy Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức. Đêm 25-4-1975, từ sân bay Tân Sơn Nhất, Thiệu chạy trốn ra nước ngoài. Cùng với Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Biệt khu Thủ đô và Tổng nha cảnh sát (Bộ Tư lệnh cảnh sát quốc gia), căn cứ sân bay Tân Sơn Nhất được Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh chọn là mục tiêu chủ yếu. Sau những trận bão lửa của pháo binh ta từ Nhơn Trạch bắn vào sân bay, chiều 28-4-1975, Phi đội Quyết Thắng do Nguyễn Thành Trung dẫn đầu đã đánh bom xuống khu vực phía tây sân bay, phá hủy nhiều máy bay quân sự địch… 7 giờ 15 phút ngày 30-4-1975, toàn bộ các trận địa pháo của Quân đoàn 3 và Sư đoàn 10 đồng loạt nã đạn vào sân bay làm một số máy bay, kho bom, đạn địch nổ tung, bốc cháy. Từ 9 giờ 5 phút, Tiểu đoàn 1 – Trung đoàn xe tăng 273, các Tiểu đoàn 4, 5, 6 thuộc Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 tiến công vào cửa số 5 và số 4 của sân bay, đánh chiếm các mục tiêu: Khu truyền tin, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 Không quân, Bộ Tư lệnh quân dù, Bộ Tư lệnh Không quân ngụy, bắt liên lạc và bảo vệ an toàn phái đoàn quân sự ta ở trại Đa-vít. 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, Đại đội 11, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24 cắm cờ “Quyết Thắng” lên Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Không quân ngụy. Sân bay Tân Sơn Nhất hoàn toàn do ta làm chủ.

Sau ngày giải phóng, sân bay Tân Sơn Nhất – Sài Gòn – Gia Định được đón Chủ tịch Tôn Đức Thắng cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước từ Thủ đô Hà Nội vào dự lễ mừng chiến thắng, mừng non sông thu về một mối.

Từ một căn cứ quân sự, một phi trường “Bất khả xâm phạm” của Mỹ – ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất ngày nay đã được xây dựng hiện đại, là một trong những biểu tượng của Việt Nam mở cửa, hội nhập và phát triển.

Với ý nghĩa, nội dung lịch sử phong phú như vậy, nên chăng, Thành phố Hồ Chí Minh và Quân khu 7 cần nghiên cứu xây dựng tại khu vực sân bay một tượng đài hoặc bia bảng di tích ghi dấu chiến công, góp phần giáo dục truyền thống, tạo ấn tượng tốt đẹp trước bạn bè trong nước và quốc tế khi đến với thành phố mang tên Bác kính yêu.

Đồng Kim Hải
qdnd.vn

Mát-xcơ-va trong cách mạng tháng Mười

LTS: Khác với Pê-tơ-rô-gơ-rát, nơi cách mạng toàn thắng ngay ngày 7-11-1917, tại Mát-xcơ-va, các lực lượng phản cách mạng đã phản kích ác liệt, thậm chí đã chiếm điện Kremli và buộc một số thành viên Ủy ban Quân sự cách mạng (UBQSCM) phải nhân nhượng. Nhưng dưới sự chỉ huy của những người Bôn-sê-vích kiên định, Vệ binh Đỏ kết cục đã đánh bại các lực lượng thù địch. Sự kiện này đi vào lịch sử Nga như “Tuần lễ đẫm máu ở Mạc Tư Khoa”.

Tin về cuộc đảo chính ở Pê-tơ-rô-gơ-rát đã về tới Mát-xcơ-va sáng 25-10 (7-11 theo lịch hiện nay), và ngay buổi tối, trong phiên họp Xô-viết đại biểu công nhân và nông dân đã lập ra UBQSCM. Cùng ngày, theo sáng kiến của Đu-ma thành phố, đã lập ra Ủy ban an ninh xã hội (UBANXH), do chủ tịch Viện Đu-ma Mát-xcơ-va Rút-nép và Tư lệnh quân khu Mát-xcơ-va, Đại tá Ri-át-sép chỉ huy.

Vệ binh Đỏ Vùng bên kia sông Mát-xcơ-va

Trung tâm khởi nghĩa là tòa nhà Mốt-xô-viết trên quảng trường nay là Tơ-ve-xcai-a. Trung tâm kháng cự (phản cách mạng) là trường sĩ quan A-lếch-xan-đrốp-xki ở gần cổng Ác-bát, nay nằm trong khuôn viên Bộ Quốc phòng Nga. Tại đây đã lập ra các đơn vị tình nguyện của sinh viên được gọi là “Vệ binh Trắng” (Bạch vệ). Từ này, được dùng để chỉ lực lượng chống chính quyền Xô-viết, ban đầu chỉ mang nghĩa là “đội quân sinh viên”.

Đại tá V Ra đã tổ chức phòng thủ cho doanh trại Trường Học sinh sĩ quan số 1 tại Lefotovo từ học sinh sĩ quan các lớp lớn. Các học sinh sĩ quan và sĩ quan của trường sĩ quan A-lếch-xan-đrốp-xki, A-lếch-xép-ki, trường chuẩn úy số 2 sẽ là lực lượng chủ yếu của phe chống đối cách mạng.

Quân Trắng tập hợp được một lực lượng khá tinh nhuệ, từ 15-20 ngàn quân được huấn luyện tốt và vũ trang đầy đủ. Lực lượng quân Đỏ vượt lên với khoảng 30 nghìn nghĩa quân, bao gồm cả lính quân khu Mát-xcơ-va theo cách mạng. Một trong những ưu thế của quân Đỏ là trọng pháo. Công nhân của các nhà máy trước đó đã tự chế lựu đạn và bom mìn. Trong tường nhà máy Mi-hen-sơn có cả một kho vũ khí. Hôm 28-11, một công nhân thuộc lực lượng Vệ binh Đỏ tên là M. Mác-kin đã phát hiện trên đường sắt đoạn Sô-kôn-ni-ki một số toa chứa tới 4000 súng trường.

Rạng sáng 8-11 (theo lịch mới) thành phố bắt đầu xao động. “Công nhân lôi đại liên ra, chuẩn bị vào trận” (thơ S. Mikhalkov). Một đại đội của Trung đoàn quân dự bị 193 tiến về Kremli để tăng cường cho Trung đoàn số 56 vừa chạy sang hàng ngũ cách mạng, đang bảo vệ thành trì chính này của nước Nga.

Quân gioong-ke (học viên sĩ quan Quân đội Sa hoàng) lập tức chiếm Quảng trường Ma-ne-giơ, chặn đường gần nhất tới Kremli. Hội đồng an ninh xã hội đề xuất thỏa hiệp: phe Bôn-sê-vích rút đại đội tăng cường khỏi Kremli thì quân gioong-ke sẽ nới vòng vây Kremli. Sáng 27-10, đại đội tăng cường theo lệnh UBQSCM rút khỏi Kremli.

Ngày 9-11, S. Prơ-koo-vít, Bộ trưởng duy nhất của Chính phủ lâm thời không bị bắt, đã về tới Mát-xcơ-va để tổ chức kháng cự các lực lượng Bôn-sê-vích.

Tình hình của UBQSCM là rất gay go, bởi vì bị cắt rời khỏi Vệ binh Đỏ trên các khu lao động nằm ở vòng ngoài thành phố. Không thể liên lạc bằng điện thoại, vì quân gioong-ke đã chiếm trạm điện thoại của thành phố. Trên các phố, hầm hào được đào, các chiến lũy được dựng. Cuộc chiến quyết liệt giành khu trung tâm Mát-xcơ-va bắt đầu.

Máu đổ đầu tiên là trên quảng trường Đỏ, đêm 27 rạng 28-10. Đội quân gồm vài trăm lính của Hạm đội Bắc theo cách mạng (trong lịch sử gọi là lính Đvin-si), bị Chính phủ lâm thời bắt giam vừa được thả ra đã tiến về tòa nhà nơi Hội đồng Xô-viết thành phố trú đóng (Mốt-xô-viết, nay là viện Đu-ma thành phố Mát-xcơ-va). Tới Quảng trường Đỏ, họ bị quân gioong-ke ngăn lại. Hai bên bắn nhau. Riêng trận này quân Đỏ mất tới 70 người. Đại tá Ri-át-xép ra tối hậu thư cho UBQSCM: tự giải tán, bàn giao Kremli, giải giáp các đơn vị quân đội Nga ngả theo cách mạng. Thời hạn của tối hậu thư là 15 phút.

Chỉ huy đại đội bọc thép của trường chuẩn úy chuyên nghiệp số 6 đòi lính Trung đoàn 56 bảo vệ Kremli hạ súng. Bị đánh lừa rằng đại quân ủng hộ chế độ cũ từ mặt trận đã về và chính quyền Xô-viết đã thất thủ, lực lượng bảo vệ bị cô lập trong thành Kremli đã chấp nhận giải giáp. Khi nhận thấy chỉ có hai đại đội tiến vào Kremli, lính Trung đoàn 56 tìm cách giành súng trở lại, nhưng không được. Một hỏa điểm trọng liên bỗng nhả đạn vào đám lính không mang vũ khí, khiến nhiều người bị thương vong.

Đến thời khắc này, UBQSCM mới kêu gọi công nhân cầm vũ khí. Kết quả là từ 18-11 Mát-xcơ-va đột nhiên trở thành bãi chiến trường cho một cuộc chiến trên đường phố. Súng bắn vào tất cả những gì động đậy. Rền vang tiếng pháo, chủ yếu là 75mm và 150mm của quân Đỏ, bắn vào trung tâm thành phố. Những ngày này sẽ đi vào lịch sử Nga như “tuần lễ Mát-xcơ-va đẫm máu”.

Từ đầu phe Bôn-sê-vích đã thọc ngay từ vùng ngoại vi vào trung tâm thành phố. Họ nhanh chóng chiếm các mục tiêu chiến lược của khu vực bờ bên kia sông, như Nhà bưu điện, Nhà điện báo, và cơ quan hành chính Khu. Trên quảng trường Ka-lu-giơ-xkai-a từ sáng, các đội Vệ binh Đỏ tập hợp, họ vượt cầu Cơ-rưm-xki sang Ka-lu-giơ-xkai-a, đánh vào Bộ Tham mưu quân Trắng.

Các Vệ binh Đỏ đã cơ động đường vòng, qua Quảng trường Ku-đrin, theo các phố Pô-vác-xcai-a và Ni-kít-xcai-a về hướng Kremli.

Các lực lượng cách mạng từ các thành phố khác và thủy thủ hạm đội Ban-tích đã kéo về hỗ trợ cho UBQSCM Mát-xcơ-va. Còn các đơn vị từ mặt trận rút về hỗ trợ cho các lực lượng chống Bôn-sê-vích thì bị giải giáp khi về đến Mát-xcơ-va, hoặc chạy sang phía chính quyền Xô-viết.

Chiến sự ác liệt nhất là tại khu Ốt-xtô-gien-ka. Cho đến gần đây, tại góc nhà 13-12 còn một tấm biển đánh dấu nơi tử thương của chỉ huy đội Vệ binh Đỏ vùng bên kia sông Mát-xcơ-va, Pi-ốt Đô-brư-nin, mà tên tuổi được đặt cho vùng quanh Mê-tờ-rô Đô-brư-nin hôm nay.

Đêm 13-11 hai bên tuyên bố ngừng bắn một thời gian ngắn để thương lượng, nhưng sau đó các trận đánh lại bùng lên mãnh liệt. Chiều 14-11, quân cách mạng chiếm được các nhà ga còn lại, viện Đu-ma, các doanh trại khu Cơ-ru-tít-xki, các tòa nhà của Trường Thiếu sinh quân ở Lơ-phoóc-tơ-vô, tòa Mê-tơ-rô-pôn, và các Cục Lương thực. Mãi tới 15-11, quân Đỏ mới chiếm được Bộ tham mưu Quân khu Mát-xcơ-va, sau khi nó bị trọng pháo bắn cháy rụi.

Quân Đỏ chiếm được khu Ki-tai-gô-rốt, rồi bao vây Kremli. Viện quân từ mặt trận đã không thể về đến nơi. Định mệnh đã không để Mát-xcơ-va trở thành “tâm điểm chống chính quyền Xô-viết cho toàn Nga” như phe chống đối mong đợi.

Kremli đã được cố thủ lâu nhất, cho tới rạng sáng hôm sau, sau khi bị pháo kích khốc liệt. Lúc này khi các đơn vị Vệ binh Đỏ và lính thủy từ Pê-tơ-rô-gơ-rát và nhiều thành phố khác đã vào được Mát-xcơ-va, kết cục của cuộc chiến đã hiển nhiên.

Ngày 15-11, UBANXH đề xuất thương lượng. UBQSCM đồng ý thả các sĩ quan và sinh viên, với điều kiện họ phải nộp vũ khí. Ngày 16-11, quân Trắng rời khỏi Kremli và tòa nhà Trường sĩ quan A-lếch-xan-đrốp-xki.

Con số chính xác người chết trong “tuần lễ đẫm máu” hiện chưa rõ. Chỉ biết 10-11, tại Nghĩa trang Liệt sĩ chân tường điện Kremli đã chôn cất 238 thi thể những người lính thuộc quân Đỏ (Nghĩa trang đầu tiên ở Mát-xcơ-va dành cho liệt sĩ Cách mạng Tháng Mười này sau đó trở thành nơi chôn cất các nhà lãnh đạo trong suốt lịch sử Liên Xô).

Sự kiện phái Bôn-sê-vích chiếm được Mát-xcơ-va được đánh dấu bằng Thông cáo 15-11, có đoạn viết: “Kẻ thù của nhân dân, từng vũ trang chống lại cách mạng, đã bị thương vào đầu… Ở Mát-xcơ-va từ đây thiết lập chính quyền Xô-viết đại biểu cho công nhân và binh lính”.

Lê Đỗ Huy

(Lược dịch từ Tạp chí Đời sống Nga tháng 11-2007)
qdnd.vn

Tướng Uây-y-en và lối thoát khỏi cuộc chiến ở Việt Nam

LTS: Tướng Uây-y-en (1916 – 2010), Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ (1973 – 1976) được sách báo phương Tây đề cập nhiều trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam.

Cùng các lính Mỹ đầu tiên dấn vào chiến tranh cục bộ ngay từ năm 1965, Uây-y-en còn bộc lộ tư duy về chính trị, thể hiện trong vai trò cố vấn quân sự cho phái đoàn Hoa Kỳ tại Pa-ri (1969 – 1970). Quay lại Việt Nam, Uây-y-en làm tướng “Việt Nam hóa”, rồi tiễn các đơn vị Mỹ cuối cùng, trên cương vị tư lệnh “cuốn cờ” của Mỹ ở đây đầu năm 1973.

Trước khi từ trần, Uây-y-en đã chính thức xác nhận năm 1967 ông từng chủ động làm một vụ “Wikileaks”, vạch rõ tình thế sa lầy trong khi phe quân sự Mỹ đang tưng bừng về một “chiến thắng trong tầm tay”.

“Thổ công” chiến trường Nam Á

Khởi đầu binh nghiệp đầu Thế chiến II trong một đơn vị pháo bờ biển, một biên chế được xem là không có tương lai, chàng trai tốt nghiệp hệ sĩ quan dự bị F. Uây-y-en đã lọt vào ngành quân báo Mỹ sau một khóa học Chỉ huy – Tham mưu.

Tư lệnh Mỹ Oét-mo-len gắn thêm một sao lên lon tướng cho Uây-y-en,1967. Ảnh: Lưu trữ Quân đội Hoa Kỳ.

Uây-y-en tham gia chỉ đạo mạng tình báo quân sự chiến trường Trung Hoa – Miến Điện – Ấn Độ những năm 1944 – 1945, rồi trở thành trưởng ngành tình báo Hạm đội Trung Thái Bình Dương (Middle Pacific) ngay sau đó. Chuyển sang làm tiểu đoàn trưởng bộ binh “khi xe tăng Kim Nhật Thành vượt vĩ tuyến 38”, Uây-y-en kết thúc chiến tranh Triều Tiên trên cương vị Trợ lý tham mưu Sư đoàn 3 bộ binh Hoa Kỳ. Với hai huân chương trên ngực, Uây-y-en thách thức các sĩ quan “huênh hoang” đến từ Oét Poi (West Point), trong mỗi kỳ xét bổ nhiệm vào một cương vị trọng yếu.

Nhưng Uây-y-en kiên trì với một cung cách “ngoài mềm, trong rắn” trong suốt đời binh nghiệp. Trong “Lời nói dối hào nhoáng” (A Bright Shining Lie), Neo-lơ Si-han (Neil Sheehan) đã đặc tả Uây-y-en như sau:

“Uây-y-en có được ngoại hình thuận lợi: Đẹp trai, cao gần hai mét. Phong thái cởi mở một cách đúng mực, vừa trung thực vừa khôn khéo, không chuộng nghi thức, thân ái. Ông không chờ các sĩ quan trẻ hoặc binh lính chào mình, mà chào họ trước”.

Chân ướt, chân ráo trên cương vị tư lệnh Sư đoàn bộ binh 25 đóng tại đảo Ha-oai, Uây-y-en cùng “Tia chớp nhiệt đới” (biệt hiệu của sư đoàn này) tham chiến ở Đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1965. Từ năm 1967, Uây-y-en là phó, quyền, rồi tư lệnh Dã chiến quân II (II Field Force, Vietnam, tồn tại từ 1966 đến 1973), chịu trách nhiệm vùng chiến thuật III, gồm 11 tỉnh “vành đai” quanh Sài Gòn.

Là đơn vị cấp quân đoàn, nhưng Dã chiến quân II gồm tới 4 sư đoàn (“Anh cả đỏ” – Sư đoàn BB số 1; “Tia chớp nhiệt đới”; Sư đoàn BB Mỹ số 9, Sư đoàn không vận số 101), 5 lữ đoàn trong đó có Lữ đoàn thiết giáp số 11, Lữ đoàn không chiến số 12, 3 lữ đoàn kỵ binh bay và không vận; hai binh đoàn pháo binh, các đơn vị quân đội Ô-xtrây-li-a và quân đội Thái Lan, và các binh đội thuộc Sở chỉ huy đóng tại Long Bình. Các đơn vị này tham chiến trong phản công năm Mậu Thân, và cuộc xâm nhập Cam-pu-chia năm 1970.

Ngoài ra, trên cương vị tư lệnh Dã chiến quân II, Uây-y-en còn dùng chung các “quả đấm thép”, như Sư đoàn kỵ binh bay số 1, Lữ đoàn không vận 173, cùng với Dã chiến quân I (phạm vi tác chiến là vùng chiến thuật II, hay khu vực Tây Nguyên). Dã chiến quân I (1966 – 1971) gồm Sư đoàn BB 4 và hai lữ đoàn BB), có Sở chỉ huy đặt tại Nha Trang.

“Cứu tinh” của Oét-mo-len

Sách “Tết: bước ngoặt của chiến tranh Việt Nam” (xuất bản 1971) của Đon-Ô-bơc-đô-phơ (Don Oberdofer) liệt kê 7 khả năng mà nếu xảy ra, “Việt Cộng” đã có thể kết thúc thắng lợi cuộc chiến. Trong đó có một khả năng là: Nếu tướng Uây-y-en không chuyển các tiểu đoàn Mỹ quanh Sài Gòn trở lại trạng thái phản ứng linh hoạt.

Sách Năm 1968 (Nineteen Sixty-Eight. NXB Boston Publishing Company, 1983), cho hay Uây-y-en, một cựu sĩ quan tình báo, đã nghi ngờ về cung cách hoạt động của “Cộng quân” đầu năm dương lịch 1968 tại vùng ông chịu trách nhiệm (quanh Sài Gòn), và báo cáo lên Oét-mo-len hôm mồng 10 tháng Giêng. Oét-mo-len chấp thuận đánh giá của Uây-y-en, và lệnh cho rút 15 tiểu đoàn Mỹ đang triển khai ở ven biên giới với Cam-pu-chia trở lại bổ sung cho tuyến phòng thủ Sài Gòn.

Sách Lời nói dối hào nhoáng, xuất bản năm 1989, dẫn dắt một quá trình “phá bóng cứu nguy” phức tạp hơn bởi Uây-y-en.

“Kế hoạch tác chiến năm 1968 của Oét-mo-len dựa vào luận thuyết Việt Cộng và quân Bắc Việt không chịu nổi những đòn tấn công tại miền Nam Việt Nam. Cũng vì vậy, các tỉnh thuộc trung tâm vùng chiến thuật III (quanh Sài Gòn) được Mỹ lên kế hoạch chuyển giao cho quân đội Nam Việt Nam… Nếu Uây-y-en bố trí quân đúng theo kế hoạch chiến dịch dọc biên giới với Cam-pu-chia, phần lớn 43 tiểu đoàn bộ binh và thiết giáp của ông sẽ dầm mưa trong rừng nhiệt đới vào dịp Tết Mậu Thân …

Uây-y-en không đồng tình với quan điểm làm chiến tranh của Oét-mo-len, không muốn nhập bè với sự hả hê của Tổng hành dinh (về các chiến dịch của quân Mỹ) …

Uây-y-en chống lại kế hoạch của Oét-mo-len ngay từ mùa thu trước (1967). “Kế hoạch này vĩ đại nhưng không khả thi”, Uây-y-en nói với viên đại tá đến thông báo kế hoạch của Lầu Năm Góc phương Đông cho ông. Điều Uây-y-en quan tâm nhiều nhất, là khi ông phải dẫn quân đến biên giới Cam-pu-chia, theo những nguồn tin tình báo tin cậy, các binh đoàn chủ lực Việt Cộng lại đang rời căn cứ vùng biên giới với Cam-pu-chia theo chiều ngược lại, thâm nhập vào các tỉnh đông dân gần Sài Gòn…

Cùng A-bram (Abrams) đi gặp Oét-mo-len, Uây-y-en trình bày trên bản đồ: “Tôi thấy quân VC từ đây tiến về trung tâm”, ông chỉ vào vùng Sài Gòn – Biên Hòa. “Tôi không biết họ nghĩ gì, nhưng thấy rõ một cuộc tấn công đang sắp bắt đầu”. Rồi đề xuất ngày khởi đầu chiến dịch năm 1968 nên để chậm lại.

…Tổng chỉ huy Mỹ chấp nhận, vì Uây-y-en chỉ đề nghị hoãn, chứ không đòi bỏ kế hoạch tác chiến năm 1968. Oét-mo-len đang có một nỗi lo lớn hơn: Phe cộng sản Việt Nam có vẻ đang tìm cách biến Khe Sanh thành một Điện Biên Phủ thứ hai …”.

Sách Lời nói dối hào nhoáng kết luận:

“ … Cố giữ quân của mình lại, Uây-y-en có lẽ đã cứu được Sài Gòn khỏi bị chiếm. Nhưng cái không cứu được là cuộc chiến tranh. Oét-mo-len đã thua trận. Thành quả cuối cùng nghiệp làm tướng của Uây-y-en trong cuộc khủng hoảng này, mỉa mai thay, lại là kéo dài một cuộc đụng độ không thể thắng”.

“Chim báo bão”

Tháng 8-1967, tờ báo Mỹ The NewYork Times (NY) đăng bài viết “Việt Nam: Những dấu hiệu tắc đường”, (Vietnam: The Signs of Stalemate) cho rằng, chiến tranh Việt Nam đang lộ rõ “những nước cờ bí” (stalemate) trong chiến lược của Mỹ, bất chấp Nhà Trắng quyết định tăng quân:

“1 triệu 20 vạn quân Đồng minh (phe Mỹ) hiện vẫn đang cố giữ một phần của một đất nước bé hơn bang New York tới 1,5 lần”, NY viết. Để đạt được kết quả về bình định, quân số lực lượng đồng minh cần đạt tới 8 triệu người (khoảng 16 triệu dân miền Nam), rằng cuộc chiến sẽ kéo dài hàng chục năm, các quan chức cao cấp Mỹ tiết lộ với tác giả bài báo. Cùng kỳ, Hãng CBS “chạy” một phóng sự tương tự.

Điều này khớp với nhận định của Hà Nội ngay từ đầu năm 1967: Hiện có một sự “chập chững”, “lúng túng về chiến lược” của Mỹ (chữ dùng trong điện mật số 00, 23-11-1967 của Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục và Khu V).

Cuối năm 2006, NY trong bài viết “Hãy nêu tên nguồn tin” (Name that source)[1], tự đánh giá sự kiện tiết lộ “thế bí” của Mỹ ở Việt Nam năm 1967 là “một quả bom dội lên cả Oa-sinh-tơn lẫn Sài Gòn, gây kinh hoàng cho quân đội và cộng đồng tình báo, tạo biến chuyển từng bước nhận thức của Mỹ trong phần còn lại của cuộc chiến”.

Bài báo đời người

Biên tập viên NY W. Ép-pô (W. Apple), chính là người chấp bút bài “Việt Nam: Những dấu hiệu tắc đường” cho rằng đây là phóng sự quan trọng nhất của đời ông. Cho dù chưa thể xác định được nó đã ảnh hưởng đến mức nào tới quyết định bỏ cuộc đua vào Nhà Trắng của L. Giô-xơn (L. Johnson).

Trong suốt 4 thập kỷ, NY viết tiếp, nhiều sử gia và ký giả đã yêu cầu các tác giả bài “Việt Nam: Những dấu hiệu tắc đường” tiết lộ danh tính của quan chức đã cung cấp tư liệu cho phóng sự đó, nhưng bị từ chối, do một lời thề từ năm 1967 với một “tướng Mỹ thông thái”, có khả năng tư duy nhiều chiều, khó có thể gặp được gặp ở Việt Nam, lẫn trong các cuộc chiến khác của Mỹ về sau. Thời đó, viên tướng này tiết lộ: “Oét-mo-len vẫn chưa vỡ ra được rằng Mỹ không thể thắng cuộc chiến này. Chúng ta đã lâm vào ngõ cụt. Phải tìm lối thoát trong danh dự”.

Năm 1984, trong vụ Oét-mo-len kiện hãng CBS đã vu cáo ông đã cố đánh giá thấp Bắc Việt và Việt Cộng nhằm ngụy tạo một “thắng lợi”, các luật sư đã đề nghị viên cựu tư lệnh Mỹ ở Việt Nam này nghe một đoạn trích, trong đó một tướng Mỹ đã khẳng định thắng lợi nằm ngoài tầm với của Mỹ (victory is beyond reach, the war is unwinnable). Oét-ty (Westy-gọi tắt Oét-mo-len) đã giãy nảy lên, nói rằng không một tướng Mỹ dưới quyền nào có thể nói như vậy.

Năm 1995, các tác giả của bài “Việt Nam: Những dấu hiệu tắc đường” đã có dịp gặp lại viên tướng Mỹ đã cấp “bom” tin tức cho họ năm 1967, và đề nghị ông giải phóng họ khỏi nghĩa vụ bảo mật nguồn tin. Người hùng giấu mặt này vẫn lưỡng lự. “Hãy chờ khi Westy từ giã cõi đời”.

Oét-mo-len từ trần năm 2005. Một năm sau, được tin phóng viên W. Ép-pô cũng vừa tạ thế, Uây-y-en, chính là tướng ba sao Uây-y-en, đã chính thức nói với NY rằng từ nay ông sẽ chấm dứt sự “giấu mặt” gần bốn thập kỷ, để xác nhận mình từng rung chuông báo cuộc chiến ở Việt Nam “là một cuộc phiêu lưu tuyệt vọng”.

Tưởng niệm Uây-y-en trong một bài báo năm 2010, NY cho rằng, Uây-y-en là tướng lĩnh cấp cao đã đủ dũng khí và trí tuệ, để sớm tạo nguồn có “sức công phá”cho báo giới, gieo những nghi ngờ nghiêm trọng về cuộc phiêu lưu ở Việt Nam vào công luận Mỹ, làm điên tiết những ai đang ca bài “chiến thắng”, như tướng Oét-mo-len và tổng thống Johnshon.

Định mệnh đã giao cho “tướng chiến trận” Uây-y-en cả những sứ mệnh ngoại giao, như trông nom cuộc rút quân có kèn trống “trong danh dự”, như chính ông từng tiên liệu năm 1967. Để “dứt áo ra đi”, NY nhớ lại, Uây-y-en thậm chí từng phải khẳng định quân đội Sài Gòn rồi sẽ thắng đối phương, sau khi quân Mỹ triệt thoái hoàn toàn khỏi chiến trường Việt Nam

Lê Đỗ Huy (tổng hợp)
qdnd.vn

Hết đời một quái thai lịch sử

Thế kỷ 20, trên ba nước Đông Dương đã từng nảy nòi những tên phản cách mạng, bám theo quân xâm lược, gây nên những tội ác đẫm máu. Riêng tội ác do trùm phỉ Vàng Pao gây ra cho nhân dân hai nước Việt-Lào trên vùng biên giữa tỉnh Nghệ An với tỉnh Xiêng Khoảng (Lào), đến nay vẫn ám ảnh trong ký ức các bậc cao niên-những nạn nhân thoát hiểm trong trận tập kích đẫm máu vào thung lũng Mường Lống, huyện Kỳ Sơn tháng 6-1964. Trùm phỉ Vàng Pao sinh ngày 8-12-1929 tại Noọng Hét (Lào), chết ngày 06-1-2011 tại Ca-li-phoóc-ni-a, Hoa Kỳ.

Quái thai của lịch sử

Vàng Pao lúc là Trung úy quân đội Pháp.

Hơn 80 năm trước tại Noọng Hét-vùng đất của “vua” Mèo Lyfoung, cặp nông dân sinh ra Vàng Pao cũng khốn khổ cơ hàn như hầu hết người Mông sống dọc vùng biên hai nước Việt-Lào. Lớn lên Vàng Pao khởi đầu “sự nghiệp” đâm thuê chém mướn bằng việc gia nhập nhóm người Mông, do quân đội Pháp tổ chức, huấn luyện, trang bị vũ khí để phục vụ vào mục đích chiếm giữ lâu dài xứ Đông Dương thuộc địa giàu tài nguyên khoáng sản. Sau khi tái chiếm Đông Dương, quân đội Pháp sử dụng Vàng Pao như một Trung úy của lực lượng biệt kích không vận hỗn hợp (GCMA) để chống lại liên quân Việt-Lào vừa được thành lập sau 2-9-1945, do Hoàng thân Xu-pha-nu-vông làm tổng chỉ huy, đồng chí Lê Thiệu Huy tình nguyện quân Việt Nam (con trai của GS Lê Thước) làm Tham mưu trưởng, Liệt sĩ Lê Thiệu Huy hy sinh ngày 21-3-1946 tại mặt trận Thà Khẹt, Lào.

Sau ngày 7-5-1954 quân Pháp bại trận tại Điện Biên Phủ, Vàng Pao là sĩ quan hàm Thiếu tá trong quân đội của chính phủ Hoàng gia Lào, giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 10 bộ binh quân đội Hoàng gia Lào đóng tại Cánh đồng Chum. Năm 1959, hai nhân viên CIA là Luy-xiêng Cô-nê-in (Lucien Conein) và Ét-ga Bu-en (Edgar Buell) đề cử Vàng Pao thay “vua” Mèo Lyfoung làm chỉ huy trưởng lực lượng “dân binh tự vệ Mèo” ở vùng Thượng Lào. Được CIA hậu thuẫn, tháng 10-1960 Vàng Pao tiếm quyền “vua” Mèo tại vùng Thượng Lào, tuyên bố ủng hộ cuộc đảo chính bất thành của tướng Phu-mi Nô-xa-vẳn (Phoumi Nosavan) và cánh hữu bấy giờ đang kiểm soát vùng Sa-van-na-khẹt (nam Lào). Sau khi nắm quyền điều khiến bộ tộc người Mông vùng Thượng Lào, Vàng Pao kiểm soát Cánh đồng Chum và chống trả quyết liệt chính phủ Trung ương Lào. Vùng Cánh đồng Chum thời kỳ này như là lãnh địa “bất khả xâm phạm” của Vàng Pao, và y trở thành tân “vua” Mèo tại vùng Thượng Lào rộng lớn. Để “nhổ cỏ tận gốc”, Vàng Pao bắt cựu “vua” Mèo Lyfoung và tướng Am-kha giao nộp cho tướng Phu-mi Nô-xa-vẳn. Với “chiến tích” này Tổng tham mưu trưởng Phu-mi Nô-xa-vẳn thăng cho Vàng Pao cấp Trung tá, cử y làm Tỉnh trưởng tỉnh Xiêng Khoảng giáp với tỉnh Nghệ An. Tháng 1-1961 tướng Phu-mi Nô-xa-vẳn giao cho Vàng Pao làm Tư lệnh Quân khu II trấn giữ bắc Lào, và y được phong hàm tướng.

Mọi “thăng tiến” của Vàng Pao đều nằm trong lập trình của quan thầy CIA nhằm phục vụ cuộc chiến tranh đặc biệt kéo dài tại Việt Nam và Đông Dương đã được Lầu Năm góc chuẩn bị kỹ càng. Trước hết, CIA hậu thuẫn đôn Vàng Pao trở thành chỉ huy một đạo quân bí mật thay cho những toán dân binh cũ, liền đó cử Uy-li-am Yâng (William Young), một điệp viên kỳ cựu đến Pa-doung, cùng với lực lượng biệt kích “mũ nồi xanh” của Mỹ, và các toán biệt kích không phải người Lào do CIA tài trợ, có mặt tại Quân khu II để tuyển mộ, huấn luyện, tăng cường tiếp tế vũ khí, quân nhu cho đội quân đặc biệt này, để Vàng Pao đương đầu với quân đội Pa-thét Lào đang ngày càng lớn mạnh. CIA còn hy vọng biến đội quân đặc biệt Vàng Pao thành lực lượng “đa năng”, vừa làm con bài dự trữ trong việc ngăn chặn QĐND Việt Nam đang mở tuyến đường Hồ Chí Minh chi viện cho chiến trường miền Nam Việt Nam, vừa sử dụng chúng từ Lào xâm nhập, quấy rối, phá hoại miền Bắc Việt Nam, mà mục tiêu chính là miền Tây tỉnh Nghệ An-lá chắn trực tiếp của miền Bắc XHCN. Dựa vào sức mạnh của Mỹ, cuối năm 1961 đội quân Vàng Pao tụ tập được 9000 tay súng để rồi tăng vọt lên 20.000 rồi 30.000 vào thời gian sau đó.

Lợi dụng địa hình rừng núi hiểm trở của đất nước Triệu Voi, đội quân “binh cua tướng ốc” của Vàng Pao khống chế một vùng rộng lớn từ núi Pa-doung ở phía Nam đến núi Phou Pha cho tới Boum Long phía Đông Cánh đồng Chum. Có thể nói, trong suốt cuộc kháng chiến Mỹ giữ nước của hai nước Việt-Lào, đội quân Vàng Pao được CIA đào tạo, huấn luyện, trang bị tận chân răng, đã gây khó khăn lớn cho quân đội Pathet Lào và QĐND Việt Nam tại vùng Thượng Lào.

Tạo đường sống cho kẻ lầm đường

Cụ Vừ Chông Pao, người con ưu tú của đồng bào Mông tỉnh Nghệ An, Anh hùng LLVT Nhân dân năm 2010, bồi hồi nhớ lại: Với mấy chục năm ngắn ngủi có mặt trên cõi đời, quái thai Vàng Pao đã trút tai ương chướng họa lên đầu đồng bào mình, Tổ quốc mình và nhân dân Việt Nam vùng biên giới.

Năm 1955 cụ Vừ Chông Pao được tham dự Lễ kỷ niệm Quốc khánh 2-9 tại Hà Nội. Khoảng 10 giờ-cụ Pao kể-chúng tôi có mặt tại Phủ Chủ tịch. Bác Hồ xuất hiện, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đi bên cạnh, Bác trìu mến nhìn mọi người nói:

– Thắng xâm lược Pháp rồi, các dân tộc anh em đoàn kết lại.

Bỗng Bác nắm chắc hai bàn tay giơ lên cao tiếp:

– Có bẻ được không?

Cả hội trường đứng dậy đồng thanh đáp:

– Không ạ.

Bác xòe bàn tay làm động tác bẻ từng ngón và tiếp: – Có bẻ được không?

– Thưa Bác có ạ.

– Nếu kẻ nào cố tình chia rẽ thì chúng ta phải làm gì?

– Dạ, phải đánh thắng chúng nó.

– Đúng! Có như thế chúng ta mới giải phóng được miền Nam.

Năm 1963 với trọng trách Chủ tịch MTTQ huyện Kỳ Sơn, cụ Pao được ra Hà Nội dự tập huấn chính trị, được Bác cho gọi vào Phủ Chủ tịch. Cùng tiếp hôm ấy có đồng chí Lê Duẩn. Bác hỏi tình hình kinh tế-xã hội của địa phương, tình hình làm ăn của bà con các dân tộc huyện Kỳ Sơn. Đồng chí Lê Duẩn báo cáo với Bác:

– Thưa Bác, Kỳ Sơn đang có loạn Châu Pà (Phỉ xưng vua).

Bác hỏi:

– Các chú định xử lý thế nào?

Vừ Chông Pao mạnh dạn trình bày suy nghĩ đã ấp ủ trong đầu, đại thể là: Loạn Châu Pà khởi phát từ một nhóm người Mông và người Khơ mú, chúng bắn giết bà con mình, điên cuồng chống trả bộ đội ta, nhiều tên ngoan cố tàn ác như con hổ con beo. Ta phải truy bắt bằng được rồi bắn.

Ông Vừ Chông Pao trình bày xong “giải pháp” khấp khởi nghĩ thầm sẽ được Bác khen, không ngờ thấy Bác xua tay lắc đầu, giọng Bác chùng xuống:

– Không được làm như thế. Trước hết phải nhìn rõ kẻ thù chính của toàn dân tộc là quân ngoại xâm cướp nước. Những người nông nổi theo Châu Pà là đồng bào ta, anh em ruột thịt của ta, nếu cứ bắt được là giết thì tự ta giết hết người của ta. Từ nay về sau bắt được họ, các chú không được bắn, không được làm nhục, mà phải bằng mọi con đường cảm hóa giáo dục, đến tận từng nhà vận động bà con không được theo, không được nuôi giấu chứa chấp Châu Pà, làm được vậy chúng ta nhất định thắng.

Mãn khóa huấn luyện chính trị, ông Vừ Chông Pao trở về Kỳ Sơn kể cho bà con nghe những điều Bác dạy. Lãnh đạo huyện Kỳ Sơn thành lập Ban chỉ đạo chống Phỉ dẹp loạn với khẩu hiệu “5 nên, 6 không” in phát đến từng nóc nhà, đến các già làng trưởng bản, trưởng các dòng họ. Nhận ra chính sách độ lượng khoan hồng của Bác Hồ là tạo cho những kẻ lỡ lầm một con đường sống, thời gian sau hầu hết những tên theo Châu Pà lần lượt mang súng ra giao nộp cho chính quyền để trở về sống yên bình cùng vợ con gia đình, sống giữa tình thương của dân làng. Cùng thời gian ấy, bộ đội chủ lực, dân quân địa phương Kỳ Sơn đồng loạt san phẳng hết thảy đồn bốt của Châu Pà dọc tuyến đường biên, cảm hóa gọi 400 tên ra đầu thú, hơn 3000 dân cùng 3000km2 nơi biên giới Kỳ Sơn thoát khỏi nạn Châu Pà.

Cây muốn lặng, gió chẳng đừng

Vàng Pao (giữa) tại Mỹ.  Ảnh tư liệu

Xã biên giới Mường Lống huyện Kỳ Sơn cách thành phố Vinh khoảng 300km, nhưng chỉ cách Noọng Hét sào huyệt của Vàng Pao chỉ mấy quăng dao. Vào 3 giờ sáng ngày 24-6-1964, khoảng 60 tên phỉ Vàng Pao xâm nhập qua biên giới, với sự chỉ điểm của 7 tên phỉ trước đó chúng đã cài cắm vào nội địa của ta. Chúng chia làm 3 tốp: Tốp thứ nhất 17 tên với 1 khẩu ĐKZ, 3 cạc-bin, 13 khẩu ca-rông, 1 máy điện đài liên lạc; Tốp thứ hai 19 tên, với 1 trung liên, 4 cạc-bin, 13 khẩu ca-rông; Tốp thứ ba gồm 24 tên, 2 cạc-bin, 22 khẩu ca-rông… bất ngờ tập kích vào trung tâm xã Mường Lống. Cuộc tập kích đẫm máu kéo dài từ 3 giờ sáng đến 17 giờ tối ngày 24-6-1964 đã gây tổn thất lớn cho ta: 54 người vĩnh viễn nằm lại nơi biên cương, trong đó có 23 bộ đội, 20 công nhân tự vệ Trại giống Mường Lống, 3 dân quân địa phương, 4 cán bộ y tế, 4 cán bộ chính trị; Bị thương 36 người gồm 15 bộ đội, 10 công nhân tự vệ Trại giống Mường Lống, 5 dân quân, 5 cán bộ chính trị, 1 thường dân. Về phía địch có 4 tên bị tiêu diệt, 1 tên bị thương. Hai mươi công nhân lao động của Trại giống Mường Lống hy sinh trong trận tập kích đẫm máu này quê ở 4 xã thuộc huyện Nam Đàn, trong đó xã Nam Thắng 7 người, xã Nam Trung 6 người, xã Nam Thịnh 6 người, xã Nam Lộc 1 người. Năm 2007 tức 43 năm sau, toàn bộ 20 CNLĐ Trại giống Mường Lống đã được Nhà nước truy phong liệt sĩ, trong đó 18 người đang tuổi đôi mươi chưa kịp lập gia đình.

Đã gần 47 năm kể từ cuộc tập kích đẫm máu, nguyên trùm phỉ Vàng Pao-kẻ gây ra tội ác trời không dung đất không tha ấy, được quan thầy Mỹ cưu mang sống đến 81 tuổi. Tại thung lũng Mường Lống, cũng đã gần 47 năm thay da đổi thịt, đến hôm nay vẫn chưa có một nghĩa trang ghi danh 54 con người đã anh dũng ngã xuống vì sự nghiệp bảo vệ vùng biên bất khả xâm phạm của Tổ quốc Việt Nam thân yêu.

Ghi chép của Giao Hưởng
qdnd.vn