Tag Archive | Độc lập

Bảo đảm hậu cần trong Chiến dịch Hồ Chí Minh

Kết hợp tại chỗ và cơ động, phân cấp và vượt cấp

Đoàn xe vận tải vượt Trường Sơn bảo đảm cho Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu.

Công tác bảo đảm hậu cần trong chiến dịch Hồ Chí Minh được tiến hành trong bối cảnh lịch sử đặc biệt. Sau những thắng lợi to lớn ở Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung, khí thế quyết chiến, quyết thắng của toàn quân, toàn dân ta dâng lên rất cao, quyết tâm dồn sức cho giải phóng miền Nam. Thế và lực của địch giảm, tinh thần suy sụp, hoang mang; chúng vội vã rút khỏi Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung, co cụm về tổ chức tuyến phòng thủ Sài Gòn. Tuyến vận tải chiến lược của ta từ hậu phương lớn miền Bắc vào hậu phương chiến dịch được nối liền, tạo điều kiện thuận lợi cho hậu cần chiến dịch.

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, công tác bảo đảm hậu cần cho chiến dịch cũng gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Ta phải bảo đảm phương tiện vận tải để cơ động nhiều quân đoàn, nhiều binh khí kỹ thuật và khối lượng lớn vật chất hậu cần từ hậu phương miền Bắc, hậu phương chiến trường vào bảo đảm cho chiến dịch đúng thời gian quy định. Trong khi đó điều kiện lực lượng, phương tiện vận tải có hạn; tuyến vận tải xa, địa bàn rộng với nhiều vùng sình lầy, sông rạch, cầu cống, thời gian chuẩn bị ngắn. Tính chất bảo đảm đa dạng vì chiến dịch có quy mô lớn chưa từng có, với nhiều quân, binh chủng tham gia… Có thể nói trong suốt 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, chưa bao giờ hậu cần chiến dịch có nhiệm vụ nặng nề như vậy.

Trước yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm đầy đủ kịp thời các mặt hậu cần cho chiến dịch toàn thắng, hậu cần chiến dịch đã đề ra những chủ trương, biện pháp đúng đắn, cùng với công tác chỉ huy, chỉ đạo chặt chẽ và linh hoạt, với quyết tâm vượt mọi khó khăn, nên chỉ trong thời gian ngắn (22 ngày), hậu cần chiến dịch đã chuẩn bị tốt các mặt, bảo đảm cho chiến dịch thắng lợi.

Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo thu tất cả các loại đạn pháo sử dụng được ở các kho hậu phương chiến lược và các kho của các chiến trường Tây Nguyên, miền Trung cho chiến dịch. Hậu cần các quân đoàn đã giành thắng lợi ở Tây Nguyên, miền Trung khi cơ động vào chiến trường phải mang theo toàn bộ vật chất cần thiết cho chiến đấu, kể cả chiến lợi phẩm có thể sử dụng được. Các quân đoàn, quân chủng, binh chủng từ hậu phương cơ động vào chiến trường, phải mang theo đủ cơ số đạn cần thiết cho chiến đấu. Kết quả, các lực lượng chiến đấu, hậu cần các cấp vận chuyển từ hậu phương vào phục vụ chiến dịch hơn 20.300 tấn vũ khí, vật chất hậu cần, đồng thời huy động hàng chục nghìn tấn vũ khí, đạn dược, vật chất chiến lợi phẩm và vật chất trong nhân dân. Tổng khối lượng vật chất huy động cho chiến dịch đạt 101% kế hoạch. Có thể nói, hậu cần Chiến dịch Hồ Chí Minh thực sự là hình ảnh sinh động của hậu cần chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, toàn dân đánh giặc, toàn dân làm công tác hậu cần.

Bảo đảm cho Chiến dịch Hồ Chí Minh, lực lượng hậu cần đã dốc toàn lực các tuyến, cả sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc và sự ủng hộ giúp đỡ của nhân dân vùng mới giải phóng. Hậu cần chiến dịch đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa huy động lực lượng vật chất tại chỗ và cơ động từ hậu phương, phía sau tới, giữa phân cấp và vượt cấp, giữa dự trữ và vận chuyển, chú trọng hậu cần tại chỗ. Hậu cần chiến dịch đã dựa chắc vào thế trận hậu cần tại chỗ (hậu cần B2), nên tạo được thế bảo đảm hậu cần vững chắc. Trên cơ sở đó tổ chức lực lượng hậu cần cơ động đáp ứng được yêu cầu của tác chiến khẩn trương với nhiều hình thức chiến thuật, thọc sâu đột phá nhanh vào dinh lũy cuối cùng của địch, đồng thời thực hiện bảo đảm theo phân cấp và vượt cấp một cách hợp lý.

Thực tế cho thấy, lực lượng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh gồm nhiều quân đoàn, mỗi quân đoàn đều có các căn cứ hậu cần triển khai bảo đảm cho lực lượng của quân đoàn tác chiến. Giải quyết vấn đề này, hậu cần chiến lược đã tổ chức tốt lực lượng, một mặt trực tiếp bảo đảm cho các đơn vị hành quân vào chiến trường, mặt khác chi viện lực lượng, phương tiện, vật chất vượt cấp cho một số đơn vị tác chiến theo yêu cầu.

Những bài học thành công về huy động vật chất, phương thức bảo đảm vật chất hậu cần-kỹ thuật trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử cần được tiếp tục nghiên cứu vận dụng, phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Đại tá Đỗ Đắc Yên
qdnd.vn

Đặc công đánh “dọn đường”

Trung tuần tháng 4-1975, các quân đoàn chủ lực của ta từ năm hướng thần tốc tiến vào vị trí xuất phát tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Để bảo đảm cho các mũi tiến công đánh thắng, nhanh gọn, Bộ Tổng chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho các trung đoàn, tiểu đoàn đặc công triển khai chiếm lĩnh các khu vực trọng yếu, đánh chiếm các vị trí then chốt.

Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác được giao nhiệm vụ tấn công diệt giang thuyền, thủy đội ngụy dọc sông Lòng Tàu; phối hợp với bộ đội chủ lực đánh chiếm khu Nhà Bè-cơ sở nhiên liệu chiến lược của địch.

Trung tâm 116 đánh đuổi quân địch, đập tan âm mưu phá cầu trên xa lộ Sài Gòn, xa lộ Biên Hòa, quét sạch địch trên sông Đồng Nai, yểm trợ Quân đoàn 2 tiến thẳng vào Sài Gòn, đánh chiếm Dinh Độc Lập.

Trung đoàn 113 đánh tiêu diệt quân địch, giữ cầu Gềnh, cầu Mới. Trung đoàn 105 đánh giữ cầu Bình Phước, Bến Cá, cầu Xóm Mới, Rạch Cát… dẫn đường cho Quân đoàn 1 tiến công Bộ Tổng tham mưu ngụy, bộ tư lệnh các binh chủng và Đài phát thanh Quán Tre, mở cửa thọc vào Tân Sơn Nhất, dẫn đường cho Quân đoàn 3 đánh chiếm sân bay.

Trung đoàn 117 đánh chiếm căn cứ liên quân biệt động ngụy ở Tân Tạo-Vĩnh Lộc, dẫn đường cho Sư đoàn 9 thuộc Bộ Tư lệnh Miền thọc sâu đánh chiếm trạm ra-đa Phú Lâm. Trung đoàn còn đánh chiếm cầu Nhị Thiên Đường, bảo đảm cho chủ lực ta đánh chiếm Tổng nha cảnh sát ngụy, làm chủ các quận 6, 8, 9.

Lữ đoàn biệt động 316, Bộ Tư lệnh Miền đánh chiếm biệt khu thủ đô ngụy và hỗ trợ quần chúng vũ trang nổi dậy đánh chiếm chi khu hành chính-quân sự các quận 5, 10, 11.

Các đội đặc công biệt động D80, 328, 320, 331 bất ngờ đột kích chiếm trại Phù Đổng và diệt các đội quân bảo vệ Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu ngụy; phối hợp với Tiểu đoàn 4 đặc công thành và Trung đoàn Gia Định đánh chiếm trung tâm huấn luyện Quang Trung; chiếm giữ hệ thống cầu Trung An và đánh mở đường hướng bắc sân bay, đột nhập Tân Sơn Nhất, đưa phái đoàn quân sự của ta ở trại Đa-vít ra ngoài khu vực chiến sự.

Các đơn vị đặc công phối hợp Tiểu đoàn 4 Thủ Đức đánh giữ cầu Rạch Chiếc và các cầu trên xa lộ; bảo đảm cho bộ đội chủ lực ta tiến công Bộ tư lệnh căn cứ hải quân Vũng Tàu, đài phát thanh-truyền hình của địch.

Lực lượng Z10 đặc công ở hướng nam đánh chiếm cảng Rạch Dừa, chiếm giữ các cầu trên lộ 15 vào thị xã Vũng Tàu, bảo đảm cho Sư đoàn 3 và Quân đoàn 2 tiến công giải phóng Bà Rịa-Vũng Tàu; hỗ trợ quần chúng vũ trang nổi dậy diệt tề ngụy.

Bộ tư lệnh chiến dịch và Bộ chỉ huy B2 kịp thời yêu cầu Binh chủng Đặc công nhanh chóng bố trí lực lượng bảo đảm an toàn địa bàn triển khai thế trận chiến dịch tiến công giải phóng Sài Gòn. Bộ đội Đặc công đã thực hiện xuất sắc chủ trương đập tan “độc thủ” của địch hòng phá sập các cầu cống, cản trở tốc độ tiến công của ta, góp phần để Chiến dịch Hồ Chí Minh giành thắng lợi trọn vẹn.

NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG
qdnd.vn

“Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa…”

Trong cuộc đời quân ngũ, tôi đã có những lần nhận lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp mà khi đọc lên, mệnh lệnh đó âm vang trong tâm hồn như một lời hịch của non sông đất nước. Đặc biệt phải kể tới là ngày 7-4-1975, trên đường hành quân tiến về Sài Gòn, tôi nhận được bức điện của Đại tướng Tổng tư lệnh với nội dung: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”. Mệnh lệnh nổi tiếng ấy như một lời hịch của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Bức điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi quân và dân miền Nam ngày 7 tháng 4 năm 1975. Ảnh tư liệu.

Là phái viên của Tổng cục Chính trị theo sát cánh quân Duyên Hải, tôi giúp đồng chí Lê Quang Hòa truyền đạt tức khắc mệnh lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến khắp các đơn vị thuộc cánh quân Duyên Hải. Cánh quân này do đồng chí Lê Trọng Tấn là Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Hòa là Bí thư Ban cán sự Đảng lâm thời, mới thành lập, không nằm trong dự kiến từ trước gồm lực lượng Quân đoàn 2 vừa giải phóng Đà Nẵng, Sư đoàn 3 Sao Vàng thuộc Quân khu 5, các đơn vị pháo binh, cao xạ, xe tăng, công binh, có nhiệm vụ đánh địch trong hành tiến, khẩn trương hành quân để đến kịp thời gian cùng các đơn vị bạn tham gia giải phóng Sài Gòn. Thấm nhuần mệnh lệnh của Đại tướng, cánh quân Duyên Hải hồ hởi lên đường như được chắp cánh bay về Nam, bảo đảm tốc độ nhanh. Thế nhưng mới ra khỏi Đà Nẵng chúng tôi đã gặp trở ngại đầu tiên, cầu Câu Lâu bắc qua sông Thu Bồn bị địch phá sập 2 nhịp, bộ đội công binh khắc phục bắc cầu tạm cho các đơn vị nhẹ đi trước và triển khai một bến phà quân sự để chở các loại xe trọng tải lớn. Cứ như vậy thì quá chậm. Một người dân vùng mới giải phóng cho biết, phía thượng lưu cách cầu Câu Lâu khoảng hơn 10km, có một cây cầu, thế là cả đoàn xe tăng rầm rập cơ động dọc theo bờ sông Thu Bồn cố gắng bù lại thời gian đã mất…

Ngày 10-4, đến Phan Rang thì cánh quân gặp tuyến phòng thủ từ xa của địch. Chúng tôi còn cách Sài Gòn 350km. Tại đây có hai hải cảng Tân Thành và Ninh Chữ, có sân bay Thành Sơn với lực lượng bộ binh và một sư đoàn không quân ngụy. Sáng 14-4, quân ta nổ súng đánh Phan Rang, quân địch được phi pháo yểm hộ, đưa vào hệ thống công sự và địa hình có lợi, ngoan cố chống cự. Sáng 16-4, Tư lệnh Quân đoàn 2 Nguyễn Hữu An tổ chức một đội hình thọc sâu gồm xe tăng, thiết giáp đánh thẳng theo đường số 1, chiếm thị xã Phan Rang, chiếm hai cảng Tân Thành và Ninh Chữ, đồng thời theo đường 11 đánh ngược lên phía Tây Bắc, vu hồi vào sườn phía tây của địch, chiếm sân bay Thành Sơn, thu 40 máy bay còn nguyên vẹn. Tối 16-4, tôi và đồng chí Đào Huy Vũ, Tư lệnh Bộ đội Tăng-Thiết giáp, phái viên của Bộ, có mặt ở sân bay Thành Sơn lúc quân ta bắt sống viên Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và viên Chuẩn tướng không quân Phạm Ngọc Sang. Thừa thắng, bộ binh và xe tăng của Quân đoàn 2 tiến đánh thị xã Phan Thiết. Sáng 20-4, chúng tôi đến Xuân Lộc. Anh Lê Trọng Tấn và anh Lê Quang Hòa nhanh chóng bắt liên lạc với Bộ chỉ huy Mặt trận Sài Gòn. Cánh quân Duyên Hải trở thành cánh quân phía Đông trực thuộc Bộ chỉ huy Mặt trận Sài Gòn.

Cuộc tiến công thần tốc của cánh quân Duyên Hải với hơn 32.000 quân và 2.276 xe pháo, tăng – thiết giáp qua một chặng đường gần một nghìn ki-lô-mét, đánh địch mà đi là một đòn chiến lược sáng tạo, kịp thời, đánh thông tuyến đường số 1 từ Bắc vào Nam đến tận cửa ngõ phía Đông Sài Gòn, kịp thời tăng thêm lực lượng cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.

Quân Giải phóng vượt sông Vàm Cỏ Đông tiến về Sài Gòn. Ảnh tư liệu

Đến Xuân Lộc, tôi được biết là từ ngày 9-4, Quân đoàn 4 do đồng chí Hoàng Cầm là Tư lệnh, đồng chí Hoàng Thế Thiện là Chính ủy, đã mở cuộc tiến công vào “cánh cửa thép” trên tuyến phòng ngự phía Đông của địch ở Sài Gòn. Nơi đây địch bố trí một lực lượng khá mạnh gồm Sư đoàn 18 ngụy và một số đơn vị bảo an, cảnh sát, phòng ngự trong công sự kiên cố. Lê Minh Đảo – Sư đoàn trưởng ngụy hò hét binh lính “tử thủ”. Trận đánh đã diễn ra phức tạp. Địch tăng viện thêm quân và dùng đến cả loại bom CBU có sức mạnh sát thương, hủy diệt lớn. Anh Lê Trọng Tấn quyết định tăng cường cho Quân đoàn 4, Trung đoàn 95B (Sư đoàn 325) và pháo đạn để đánh dứt điểm Xuân Lộc. Ngày 20-4, địch rút chạy khỏi Xuân Lộc. “Cánh cửa thép” phía Đông Sài Gòn đã bị mở toang.

Anh Lê Quang Hòa về Bộ chỉ huy Chiến dịch Sài Gòn – Gia Định. Qua anh tôi biết: Bộ Chính trị đã thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch. Anh Văn Tiến Dũng là Tư lệnh, anh Phạm Hùng là Chính ủy, các anh Trần Văn Trà, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh, Đinh Đức Thiện là Phó tư lệnh, anh Lê Quang Hòa là Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị, anh Lê Ngọc Hiền là quyền Tham mưu trưởng. Thể theo đề nghị của Bộ chỉ huy Chiến dịch, Bộ Chính trị đã đồng ý đặt tên Chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Được phổ biến điều này, tất cả chúng tôi cũng như các đơn vị tham gia chiến dịch đều cảm thấy vinh dự được tham gia trận quyết chiến chiến lược cuối cùng mang tên vị lãnh tụ vô vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam.

Hạ tuần tháng 4-1975, các lực lượng lớn của quân ta tham gia chiến dịch đã vào vị trí triển khai. Ở hướng Bắc, Quân đoàn 1 từ miền Bắc vào đã có mặt tại khu vực nam sông Bé. Ở hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 gồm các lực lượng ở Tây Nguyên (Sư đoàn 320, 316…) đã đến Dầu Tiếng. Ở hướng Tây và Nam, Đoàn 232 tương đương một quân đoàn do đồng chí Lê Đức Anh, Phó tư lệnh Bộ chỉ huy Chiến dịch trực tiếp chỉ huy đã áp sát đường số 4, Mỹ Tho. Ở hướng Đông, Quân đoàn 4 sau khi giải phóng Xuân Lộc áp sát Trảng Bom. Quân đoàn 2, Sư đoàn 3 đã áp sát Long Thành, Vũng Tàu, Nước Trong, Bà Rịa. Đồng chí Lê Trọng Tấn, Tư lệnh cánh quân Duyên hải nay là Phó tư lệnh Chiến dịch chỉ huy hướng này. Tại Sài Gòn, các lực lượng biệt động, đặc công, các lực lượng của Thành đội Sài Gòn đã đứng sẵn ở vùng ven và nội đô, chuẩn bị phát động quần chúng nổi dậy khi chủ lực tiến công. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phó bí thư Trung ương Cục và đồng chí Võ Văn Kiệt, Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục đặc trách phong trào nổi dậy của quần chúng.

Thế trận đã bày xong. Năm mục tiêu quan trọng đã được xác định gồm: Dinh Tổng thống ngụy quyền, Bộ Tổng tham mưu quân ngụy, Sân bay Tân Sơn Nhất, Biệt khu Thủ đô và Tổng nha cảnh sát.

Giờ phút quyết định đã điểm. Tôi đi theo cánh quân hướng Đông do đồng chí Lê Trọng Tấn chỉ huy. Cánh quân này tiến công căn cứ Nước Trong, Chi khu quân sự Long Thành và thị xã Bà Rịa. Ở Nước Trong, địch dùng máy bay bắn phá và phản kích suốt cả ngày. Sư đoàn 304 mở nhiều đợt tấn công nhưng chưa dứt điểm được. Anh Lê Trọng Tấn đôn đốc việc đánh chiếm căn cứ Nước Trong và nhất là việc triển khai trận địa pháo tầm xa ở Nhơn Trạch để bắn vào căn cứ không quân Tân Sơn Nhất. Tối 28-4, tôi nghe đài phương Tây đưa tin: “Hồi 16 giờ 40 phút chiều, 5 chiếc máy bay A37 do Mỹ chế tạo đã giội bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất”. Đó là Phi đội Quyết thắng do phi công Nguyễn Thành Trung người của ta hoạt động trong hàng ngũ địch, trước đó đã ném bom dinh Tổng thống ngụy quyền và bay ra vùng giải phóng, nay huấn luyện các phi công ta sử dụng máy bay A37 của Mỹ ném bom vào sân bay Tân Sơn Nhất. Cuộc ném bom bất ngờ của Không quân Việt Nam đạt hiệu quả lớn về phá hủy máy bay và sân bay địch, nhưng hiệu quả tâm lý đối với quân ngụy còn lớn hơn nhiều.

Theo kế hoạch của Bộ chỉ huy Chiến dịch, 5 giờ 30 phút sáng 30-4, các hướng đồng loạt đánh vào Sài Gòn. Riêng cánh quân phía Đông, đồng chí Lê Trọng Tấn đề nghị cho nổ súng sớm từ 18 giờ ngày 29-4. Lý do là cánh quân phía Đông phải vượt sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, nếu cùng nổ súng sẽ đến không kịp. Bộ Tổng tư lệnh và Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh đồng ý để cánh quân phía Đông nổ súng sớm hơn kế hoạch. Như vậy, trên thực tế, từ 18 giờ ngày 29-4-1975, trận tiến công Sài Gòn, Gia Định đã bắt đầu.

Sáng 30-4, binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 trong cánh quân phía Đông do đồng chí Lê Trọng Tấn chỉ huy vượt cầu xa lộ trên sông Đồng Nai, diệt ổ đề kháng của địch ở Thủ Đức phía bắc cầu Rạch Chiếc. Trận địa pháo tầm xa của ta đặt ở Nhơn Trạch đã bắn mấy trăm quả đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Lữ đoàn xe tăng 203 của Quân đoàn 2 qua cầu Sài Gòn đến ngã tư thứ bảy thì rẽ trái đánh thẳng vào Dinh Độc Lập. Chiếc xe tăng 843 dẫn đầu đến cổng dinh thì dừng lại, xe tăng 390 vượt lên húc đổ cổng dinh. Đại đội trưởng Đại đội 4 xe tăng cầm cờ Giải phóng trèo lên cắm trên nóc Dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4… Cho đến nay, 35 năm đã trôi qua, tôi không thể nào quên cảm giác đã đến với mình trong ngày lịch sử ấy khi tôi bước vào thảm cỏ khoảng sân trước Dinh Độc Lập. Vui mừng khôn xiết nhưng bỗng dưng hai mắt nhòa ngấn lệ.

Trung tướng Phạm Hồng Cư
qdnd.vn

Chiến thắng vì không sợ hy sinh

QĐND Online – Những ngày đầu tháng 4 lịch sử này, nhiều người dân trên địa bàn phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy (Hà Nội) không khỏi ngạc nhiên khi thấy Công ty TNHH Thương mại và du lịch Bình Minh có trụ sở tại nhà số 120 đường Trần Duy Hưng bỗng tạm dừng hoạt động để cải tạo nhà cửa. Giám đốc công ty Đào Văn Bình mặc dù đang ốm, hai bàn tay bị phù to sau một tai nạn giao thông nhưng vẫn gắng sức đứng dậy đôn đốc thợ khẩn trương thi công công trình. Ít người biết rằng, ông Bình nguyên là chiến sĩ thuộc đơn vị K15, Mặt trận B5. Ông tạm nghỉ công việc kinh doanh, cho sửa chữa lại nhà cửa để chuẩn bị đón các cựu chiến binh K15 về dự buổi gặp mặt vào ngày 30-4 tới.

Biết tôi là phóng viên của tờ báo “chiến sĩ”, muốn được nghe “chuyện chiến đấu” của ông và đồng đội, người cựu chiến binh vừa bước sang tuổi lục tuần nhanh nhẹn đưa chúng tôi lên tầng hai, chọn một góc phòng yên tĩnh rồi say sưa kể…

Năm 1972, khi chưa đầy 18 tuổi, chàng thanh niên Đào Văn Bình xung phong lên đường nhập ngũ vào Đại đội 58, Tiểu đoàn 62 thuộc Trung đoàn 59 (Quân khu Thủ đô). Sau vài tháng huấn luyện tân binh, tháng 8-1972 anh đi B và cùng với nhiều cán bộ, học viên đến từ các trường sĩ quan trong quân đội được trên biên chế vào Sư đoàn 312B. “Tôi hơi “thất vọng” vì sư đoàn của chúng tôi thời điểm đó không được trực tiếp đánh giặc mà chỉ làm nhiệm vụ cơ động, nghi binh với mục đích “biểu dương lực lượng” góp phần buộc địch phải ký Hiệp định Pa-ri”. Đã 38 năm trôi qua nhưng mỗi khi nhớ lại, trên gương mặt người cựu chiến binh vẫn còn vẻ tiếc nuối.

Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, Đào Văn Bình được biên chế vào đơn vị K15, Mặt trận B5-một đơn vị 2 lần được phong danh hiệu Anh hùng, nổi tiếng chiến đấu mưu trí, dũng cảm và có nhiều thành tích đánh các loại xe cơ giới của địch. Lúc này mong ước được trực tiếp cầm súng đánh giặc của chàng lính trẻ mới trở thành hiện thực.

Quân giải phóng đánh chiếm đại nội Huế. Ảnh tư liệu internet.

Trận đánh căng thẳng, ác liệt nhất mà ông Bình được tham dự là trận đánh chiếm điểm cao 61 của địch diễn ra vào khoảng giữa năm 1974. Điểm cao 61 (thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế) có vị trí chiến lược quan trọng. Lực lượng địch chốt giữ tuy ít (khoảng 1 trung đội thuỷ quân lục chiến) nhưng do địa hình hiểm trở (có sông ngăn cách, điểm cao có độ dốc lớn) lại được vài thiết đoàn tăng phía sau yểm trợ nên việc đánh chiếm rất khó khăn. Ông Bình bồi hồi kể:

– Sau khi hạ quyết tâm chiến đấu. Đơn vị tôi (Đại đội 4 thuộc K15) gồm 1 khẩu đội cối 60; 4 khẩu B40, B41 bí mật vượt sông, chọn hướng tiến công địch từ phía sau, nơi có sườn đồi thấp, dễ cơ động. Nhưng khi bộ đội vừa qua sông thì địch phát hiện, ta phải rút về. Khoảng một tuần sau, cấp trên quyết định triển khai đánh địch theo phương án cũ nhưng thời điểm vượt sông muộn hơn để giữ bí mật. 12 giờ đêm bộ đội vượt sông, chiếm lĩnh trận địa an toàn rồi nằm im chờ lệnh. Gần 3 giờ sáng, đúng như đã hiệp đồng, pháo, cối của ta bên kia sông nhằm thẳng hướng địch bất ngờ nổ giòn giã… Tiếng pháo vừa dứt, những tiếng hô “xung phong” vang to như sấm, chiến sĩ ta xông lên nhanh chóng làm chủ hoàn toàn điểm cao…

Chiếm được điểm cao đã khó nhưng việc chốt giữ còn khó khăn gấp nhiều lần. Giọng người lính già đanh lại: “Sau thất bại bất ngờ, địch dùng pháo, xe tăng phản kích hòng giành lại điểm cao. Các loại đạn pháo cỡ lớn, đạn khoan, đạn xiên được địch vãi như mưa với hy vọng phá vỡ hệ thống hầm hào, công sự của ta để xua bộ binh tràn lên. Trận đánh căng như dây đàn. Trung đội trưởng Ngọc, Trung đội trưởng Ước không sợ mưa bom bão đạn, dũng cảm đứng trên cửa hầm vừa chỉ huy bộ đội vừa kiên cường đánh địch phản kích rồi anh dũng hy sinh…”. Ngừng một lát, ông nói như tâm sự: “Chính sự gương mẫu, dũng cảm không sợ hy sinh của các cán bộ trung đội, đại đội là tấm gương, là động lực để chiến sĩ chúng tôi thêm hăng hái chiến đấu, vì vậy mặc dù lúc này lực lượng chỉ còn khoảng 10 người nhưng ta vẫn chốt giữ được 4 ngày… Tôi nghĩ thời kỳ nào cũng vậy, tinh thần chiến đấu của người lính ngoài chiến trường là một nhân tố quan trọng quyết định mọi thắng lợi. Để “truyền lửa” cho chiến sĩ, quân đội phải đào tạo ra những sĩ quan chỉ huy vừa giỏi chuyên môn, vừa có lòng dũng cảm, không sợ gian khổ, hy sinh…”.

Trở về cuộc sống đời thường, cựu chiến binh Đào Văn Bình không những là một doanh nhân giỏi mà còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Trên cương vị Trưởng ban liên lạc K15, Mặt trận B5 khu vực Hà Nội, ông tổ chức và duy trì hoạt động của ban liên lạc rất hiệu quả và đầy ý nghĩa. Các cựu chiến binh K15 thường xuyên thăm hỏi, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Tập thể cựu chiến binh K15 khu vực Hà Nội đã tổ chức đưa hài cốt đồng đội là liệt sĩ Nguyễn Đình Thoa từ nghĩa trang liệt sĩ Hương Điền (Thừa Thiên Huế) về quê ở làng Thượng Cát, Từ Liêm, Hà Nội. Hằng năm, cứ vào dịp 30-4, các cựu chiến binh K15 lại tổ chức gặp mặt. Vào những năm chẵn, các bác còn tổ chức về thăm chiến trường xưa để ôn lại truyền thống, cũng là để giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ hôm nay. Đặc biệt, mặc dù điều kiện kinh tế còn khó khăn nhưng các cựu chiến binh K15 còn tiết kiệm chi tiêu, tặng hàng chục phần quà có giá trị cho các mẹ ở Phong Điền-nơi từng che chở, nuôi nấng các bác trong những ngày chiến tranh…

Nguyễn Trung Kiên
qdnd.vn

Gian khó, hy sinh tới cận kề chiến thắng (Phần 2)

(Tiếp phần1)
Tân Sơn Nhất, tầm nhìn 1 km

Từ sáng sớm, địch ở Hậu Nghĩa và Củ Chi, đã bị trung đoàn 1 Gia Định, chặn đánh ở Tân Thới Nhất, Xuân Thời Thượng thuộc quận Tân Bình, diệt và bắt trên 1 nghìn tên. Quần chúng nổi dậy giành chính quyền, giải phóng các xã trên, truy lùng ác ôn. Đến chiều thì diệt một chốt ở ngã ba Nhà Dòng, trên quốc lộ 9, bức hàng một đại đội biệt động, vận động quần chúng san bằng đồn bốt, thu chiến lợi phẩm. Một bộ phận quân dù lên phản kích thì bị trung đoàn 115 đặc công chặn đánh, giải phóng luôn xã Tân Thới Hiệp, quận Gò Vấp. Cùng lúc, tiểu đoàn 4 đánh chiếm cầu chợ Mới, bộ đội biệt động đánh thiệt hại nặng cầu Bình Phước và tiến công vào đài phát thanh Quán Tre. Trung đoàn 2 Gia Định cũng hoạt động sôi nổi: suốt cả ngày 29, chặn đánh tàn quân của trung đoàn 50 từ Đồng Dù chạy về dọc theo các tỉnh lộ 18, 15, diệt và bắt trên 300 địch, giải phóng xã Tân Thạnh Đông.

Thực hiện khẩu hiệu xã giải phóng xã, du kích các xã Trung Lập Thượng, phối hợp với bộ đội địa phương đánh chiếm đồn bốt, chiếm phân chi khu Tân Hoà. Trên chiến trường bắc Sài Gòn-Gia Định, các nơi hoạt động rất đều. Ở Gò Vấp, tiểu đoàn 80 và các đội biệt động tiến công vào tiểu đoàn 61 và trại thiết giáp, đánh địch tại An Phú Đông, Xuân Thới Thượng, Cục cảnh sát Tân Sơn Nhì và cùng quần chúng đứng lên làm chủ ấp Đông Xuyên và cầu Rạch Bà.

Đồng bào bất chấp những trận phản kích, ném bom ác liệt của địch, đêm ngày cùng bộ đội sửa sang lại công sự, nguỵ trang trận địa, tiếp tế cho bộ đội, bí mật sửa chữa, làm thêm đường để nối các trục đường thành mạng hoàn chỉnh, phục vụ đúng theo yêu cầu kế hoạch tác chiến. Trong đêm 28, nhiều thanh niên trai gái đã thường trực ở Đồng Lớn, ngã tư Bầu Bàng để chỉ đường cho các đơn vị thọc sâu vào Sài Gòn. Thành uỷ thành đội Sài Gòn-Gia Định, mặc dù phải tập trung chỉ đạo các nơi, đẩy mạnh tiến công chín trị để phối hợp, giành giật từ trong tay địch từng nhà máy, xí nghiệp, v.v… vẫn phải cử ra những đoàn cán bộ, chiến sĩ biệt động, đến vị trí tập kết của quân đoàn, dẫn các đơn vị tiến công vào các mục tiêu đã định. Có sự phối hợp chặt chẽ với lực lượng tại chỗ, các đơn vị trong quân đoàn, bộ binh cũng như các binh chủng đều nhanh chóng phát huy sức mạnh của mình,tạo thành một sức mạnh tổng hợp cực kỳ to lớn, đặt kẻ địch đứng trước một thế trận vô cùng hiểm hóc, không tài nào cứu vãn nổi.

Đội chính trị cũng không phải nhỏ: hai bên đường, từng đợt sóng người xô tới vẫy tay, vẫy mũ, đón chào những chiến sĩ giải phóng. Ngược chiều với đoàn quân chiến thắng, là hàng đoàn sĩ quan, binh lính nguỵ, quần đùi, áo cộc, vứt súng, trở về nhà.

Đến chiều một đại đội của trung đoàn 24 với 3 xe tăng, phối hợp với đặc công thuộc trung đoàn 115, đánh chiếm trại huấn luyện Quang Trung, còn cả đơn vị thì tiếp tục tiến vào ngã ba Bà Quẹo. ĐỊch trên các nhà tầng chống trả quyết liệt. Một số chiến sĩ thương vong, một số xe thiết giáp bị cháy, trung đoàn cao xạ 234, theo sát bộ binh, diệt các ổ đại liên trên các nhà tầng, bắn rơi 3 máy bay, yểm hộ đắc lực cho trung đoàn 24 tiến công vào lữ đoàn dù 4. Địch ở ngã ba Bà Quẹo vừa bị đánh tan, thì ban chỉ huy trung đoàn đã đưa ngay một đại đội bộ binh lên, áp sát ngã tư Bảy Hiền. Đúng 20 giờ ngày 29, mũi thọc sâu của Binh đoàn chỉ còn cách sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu trên 1 cây số. Ngồi trong sở chỉ huy, mọi người đều nôn nóng, bồn chồn, mong tin của Quân đoàn Quyết Thắng trên hướng đông bắc.

Hướng Đông Bắc

Mấy ngày qua, báo cáo của Binh đoàn Quyết Thắng không được đều, chỉ biết được là ngày 26, triển khai thuận lợi; ngày 27, phá huỷ được một số trận địa pháo, dùng một bộ phận lực lượng mở đường tiến quân, giải phóng được một đoạn trên lộ 16 từ Bình Mỹ đến cầu Bình Cơ. Sư đoàn 320B thì đã đứng ở bắc Bình Chuẩn, Thủ Dầu Một, 7 cây số, sẵn sàng thọc sâu.

Càng sốt ruột hơn nữa, vì sang đến ngày 29 rồi, mà sư đoàn 312 của quân đoàn vẫn chưa dứt điểm được căn cứ Phú Lợi. Vì bộ đội chưa tiếp cận được. Khí tài để mở cửa đột phá thì lên chậm, nên phải chuyển sang bao vây. Trên đường quốc lộ 13, ta vẫn chưa nắm được; nên cả ngày hôm ấy, đến 13 giờ chiều xe vẫn còn chạy từ Lai Khê về Bình Dương. Trên đường quốc lộ 14 ta nhổi chốt ở An Lợi, diệt một số xe đang kéo chạy từ Phước Hoà về. Số còn lại chạy về Lai Khê….

…Trên quốc lộ 1, sư đoàn 6 Binh đoàn Cửu Long được tăng cường thêm trung đoàn 209, đánh vào căn cứ thiết giáp của sư đoàn 18 ở ngã ba Yên Thế nhưng khi phát triển đến Hố Nai thì bị chặn lại. Sư đoàn 341 tiến công vào sở chỉ huy quân đoàn 3 quân đội Cộng hoà, Hóc Bà Thức, sân bay Biên Hoà, nhưng các mũi đều không tiến lên được.

Những trận chiến đấu để giữ cầu và chiếm cầu của lực lượng tinh nhuệ đã diễn ra vô cùng ác liệt. Các đoàn 116,113, 10 đặc công đã chiến đấu trong điều kiện rất không cân sức; nhưng các đơn vị đều hoàn thành nhiệm vụ. Xa hơn nữa về phía đông, trung đoàn 10 làm chủ được ngã ba Động Tranh, trong 2 ngày bắn chìm và bắn cháy trên 10 tàu trên sông Nhà Bè…

Mãi về sau này, tình hình mới rõ ra: trên hướng đông bắc, để bảo đảm cho mũi thọc sâu của Quân đoàn Quyết Thắng, buổi sáng ngày 30 tháng 4, sư đoàn 312 tiêu diệt và bức hàng địch tại căn cứ Phú Lợi gồm toàn bộ lực lượng của tiểu khu Bình Dương và một bộ phận của sư đoàn 5 quân đội Cộng hoà gần trưa, toàn bộ số còn lại của sư đoàn này, gần 8.000 người, từ Lai Khê-Bến Cát, rút chạy theo trục đường 13, 14 thì bị các chốt ở An Lợi và Búng chặn lại, bắt hàng toàn bộ. Riêng sư đoàn trưởng Lê Nguyên Vỹ, đã tự sát trước cửa hầm chỉ huy.

Đơn vị có nhiệm vụ thọc sâu-sư đoàn 320B-xuất phát từ lúc 1 giờ 30 ngày 29 tháng 4, nhưng do bị lạc đường, nên đánh vào tiểu đoàn 316 ở Tân Uyên, ngoài kế hoạch. Gần 30 xe bị ùn lại, cả ngày không tiến lên được. Sáng hôm sau, mới giải quyết được Lái Thiêu, theo đường quốc lộ 13 tiến về cầu Bình Phước. Tiểu đoàn đặc công 51, cũng vừa chiếm được cầu này, bàn giao lại.

Cùng lúc đó, gần 200 xe các loại của lữ đoàn 3 kỵ binh quân đội Cộng hoà, rùng rùng kéo chạy từ Biên Hoà về, chưa kịp qua cầu, đội hình rải dài từ cầu Vinh Bình, nam Lái Thiêu hàng cây số đến cầu Bình Phước. Trung đoàn 27 chặn đánh quyết liệt, đồng thời trung đoàn 28 cũng triển khai đánh địch từ ngã ba Bình Phước đến cầu Bình Triệu. Con vật bị dồn đến bước đường cùng, còn ra sức chống cự để tìm lấy mạng sống; huống chi cả một lữ đoàn kỵ binh với từng ấy khối sắp thép, đang ở trong cái thế chỗng đỡ, sau lưng là sông lớn. Những xác xe tăng cháy rụi, nằm rải rác trong các ruộng mía, vườn dừa, bãi trống, đã nói lên trận đánh gặp gỡ ác liệt này. Toàn bộ lữ đoàn kỵ binh 3 bị tiêu diệt và tan rã. Độc đáo hơn các nơi khác, anh em ta bắt hàng binh lái 8 xe tăng địch, dẫn đường cho sư đoàn vượt qua chiếc cầu lớn này, đánh vào khu binh chủng và tiến về hướng Bộ Tổng tham mưu.

Ngã tư Bảy Hiền trước mặt

Suốt cả đêm 29, sư đoàn 10 của Quân đoàn Tây Nguyên điều chỉnh đội hình lên áp sát ngã tư Bảy Hiền. Mặc dù đây đến dinh Độc Lập chỉ có một đường thẳng-lúc bấy giờ là đại lộ Lê Văn Duyệt-nhưng nhiệm vụ chính của sư đoàn là đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu nên phải thực hiện đúng kế hoạch. Từ 6 giờ sáng, pháo bắn mạnh vào sân bay, sau 2 giờ, một tiểu đoàn của trung đoàn 24 cùng với bốn T.54, một K.63 tiến công chiếm ngã tư Bảy Hiền, phát triển theo đường Võ Tánh vào cổng Phi Long của sân bay. Địch bố trí trên các nhà tầng, trước Lăng Cha Cả, chống trả quyết liệt. Ta bị cháy hai xe tăng và một k63. Sư đoàn lập tức đưa hai khẩu pháo chống tăng 85 ly lên, yểm hộ đột phá. Chỉ sau 1 giờ, chiếm được cổng, thọc sâu chiếm bộ tư lệnh sư đoàn 5 không quân, khu thông tin. Bên cánh phải, trung đoàn 28 vòng sang đánh vào cổng 1 Bộ Tổng tham mưu, nhưng rồi bị chặn lại. Trước đó một tiếng đồng hồ, đã có một lực lượng biệt động nội thành 21 người, chia làm 3 tổ đánh vào khu vực này. Cổng 1, không vào được vì bị chống cự mạnh; cổng hai ta chiếm được, chưa cắm được cờ phì bị pháo binh từ sân bay bắn sang; phải lùi ra. Đến đường xe lửa, thì gặp xe tăng của Quân đoàn Quyết Thắng dẫn vào. Một cuộc hội sư tuyệt đẹp của ba đơn vị tại Bộ Tổng tham mưu lúc 11 giờ.

Tấm gương một anh hùng

Sáng 30-4, sau khi đánh chiếm căn cứ Lái Thiêu, tiêu diệt một xe tăng M41, hai pháo tự hành 175 mm của địch, xe thiết giáp số 454 do đại đội trưởng Hoàng Thọ Mạc (C3, e66) trực tiếp chỉ huy vọt lên, dẫn đầu đội hình thọc sâu của Quân đoàn 1 tiến về cầu Vĩnh Bình, mở toang “cánh cửa” phía Bắc

Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, ta và địch giành giật nhau từng mét cầu. Nhận thấy khoảng cách giữa ta và địch khó có thể phát huy hỏa lực của pháo trên xe, lợi dụng thời gian hỏa lực địch bị chế áp, Đại đội trưởng Hoàng Thọ Mạc lao từ trên xe xuống mặt cầu, rút khẩu súng ngắn K54 dẫn đường cho đội hình xung phong. Như được tiếp thêm sức mạnh, xe tăng ta đã tiến lên, bắn cháy một xe thiết giáp M113, hai xe tăng M41 và tiêu diệt nhiều sinh lực địch.

Đang chỉ huy đơn vị chiến đấu, một mảnh đạn M79 của địch găm vào ngực Đại đội trưởng Hoàng Thọ Mạc, máu tuôn ra ướt đẫm cả áo. Nén đau, anh tự băng bó cho mình rồi tiếp tục chiến đấu. Cùng lúc ấy, một chiến sĩ tiếp cận mục tiêu nhưng bị địch phát hiện và tập trung hỏa lực bắn xối xả, tính mạng của người chiến sĩ trẻ vô cùng nguy hiểm. Trong khoảnh khắc ấy, Đại đội trưởng Hoàng Thọ Mạc vọt tới, đẩy người chiến sĩ ngã xuống, lấy thân mình đỡ làn đạn địch.

Và, Đại đội trưởng Hoàng Thọ Mạc đã anh dũng hy sinh cận kề giờ chiến thắng! Chứng kiến hành động dũng cảm ấy, tất cả đồng đội của anh đều bật dậy, lao về phía trước. Các chiến sĩ xe tăng và bộ binh ào qua cầu như cơn lốc, đè bẹp sự kháng cự của địch. Họ đã có mặt tại đường phố chính của Sài Gòn-Gia Định trưa 30-4.

qdnd.vn

Gian khó, hy sinh tới cận kề chiến thắng (Phần 1)

QĐND Online – Sau 36 năm, nhìn lại thành phố được dựng xây, đổi mới, những con đường ngày càng to đẹp, những tòa nhà ngày càng hiện đại, đã có người cho rằng, sau chiến thắng Tây Nguyên, Huế-Đà Nẵng, đến chiến dịch cuối cùng Tháng Tư 1975, ta dễ dàng giành thắng lợi, trong thế “như chẻ tre”!

Không phải vậy! trong hồi ức của mình, thiếu tướng Phan Hàm nguyên phó Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên khẳng định: Trong những giờ phút cuối cùng và hôm trước ngày chiến thắng, ngày 29 tháng 4, trên các hướng tiến công, đã diễn ra những trận chiến đấu vô cùng ác liệt. Trong những giờ phút này, cán bộ và chiến sĩ của ta đã nêu cao tinh thần chiến đấu, can trường và quả cảm. Đó là những tấm gương hy sinh vô cùng cao cả. Thắng lợi đã ở trong tầm tay, hạnh phúc chung và hạnh phúc riêng đang chờ đón, nhưng cán bộ và chiến sĩ ta vẫn bình thản, nhận lấy sự hy sinh riêng mình, mà không mảy may toan tính thiệt hơn.

Điều này nữa, với cách đánh nhanh chóng đập tan sức kháng cự của địch từ vòng ngoài thành phố, bằng cách đánh dứt điểm, không cho chúng co cụm, ứng cứu cho nhau, không để chiến sự ác liệt xảy ra ngay trong hang ổ cuối cùng… Quân giải phóng đã cứu Sài Gòn khỏi tan hoang đổ nát.

* * *

Trói địch lại, không cho liên kết ứng cứu

Sau hai ngày chiến đấu, Trên hướng Bắc, nhận thấy tất cả các cánh quân đều thực hiện đúng kế hoạch, Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh công kích trên toàn mặt trận, đánh thẳng vào các mục tiêu đã quy định:

Rạng ngày 29 tháng 4, Bộ tư lệnh Binh đoàn Tây Nguyên đã lệnh cho sư đoàn 316 tiếp tục vây chặt khu Trảng Bàng, nắm thời cơ, phát triển tiến công, dứt điểm khu này. Sư đoàn 320A có nhiệm vụ tiêu diệt Đồng Dù; còn sư đoàn 10, được phối thuộc thêm trung đoàn 64 của sư đoàn 320A và trung đoàn 198 đặc công, chuẩn bị thọc sâu vào trung tâm Sài Gòn.

Đồng Dù là căn cứ của sư đoàn 25 Mỹ “Tia chớp nhiệt đới” trước đây. Nó nằm trên hướng tây bắc Sài Gòn, cách trung tâm thành phố 30 kilômét, diện tích khoảng 8 kilômét vuông, bốn bề dây thép gai chằng chịt; giữa lô cốt mẹ, lô cốt con, bãi xe, bãi pháo, nhà kho, nhà lính chẳng chịt. Trước kia Đồng Dù được dùng làm bàn đạp để tiến công vào căn cứ Tam giác sắt nổi tiếng. Trong thời buổi Việt Nam hoá chiến tranh, nó là điểm tựa cơ bản trong tuyến phòng thủ tây bắc Sài Gòn; và trong chiến dịch này, nếu không diệt được nó, thì nó là bàn đạp phản kích vào sau lưng, bên sườn của binh đoàn thọc sâu.

Không xa Đồng Dù, quốc lộ 1, chạy từ Trảng Bàng về Sài Gòn, phải vượt qua cánh đồng lúa rộng mênh mông, giữa có một cái cầu không dài lắm: cầu Bông; và phía bắc nó, trên đường 15, lại có một cái cầu nhỏ khác: cầu Sáng. Cả hai đều ngắn, trông chẳng ra gì, nhưng rất ác hiểm. Những trinh sát viên, đi điều tra ban ngày, đã đến tận nơi xem xét kỹ càng về báo cáo lại, càng làm cho Bộ tư lệnh quân đoàn thêm lo lắng. Hai bên đường là ruộng lầy, ở các đầu cầu, địch đã đặt sẵn những khối thuốc nổ to tướng. Vận động giữa đồng trống, trên những con đường độc đạo này, xe tăng và các loại xe cơ giới khác của ta sẽ là những cái bia di động rất tốt cho các khẩu pháo phòng tăng của địch, bố trí sẵn trên các mỏm đồi, hay trong rìa xóm làng ở gần đây. Kế hoạch tiến công Đồng Dù của sư đoàn 320A và đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng của trung đoàn đặc công 198 liên quan mật thiết đến việc thọc sâu của sư đoàn 10. Chỉ cần phối hợp không chặt chẽ, nổ súng không đúng thời cơ, là đối phương có thể gây khó khăn cho ta.Nếu đánh chiếm hai cầu sớm, Đồng Dù sẽ tung xe tăng ra phản kích vào đặc công; ngược lại, nếu đánh Đồng Dù sớm và khi cứ điểm này có nguy cơ bị tiêu diệt, họ sẽ giật mình, phá sập cầu, làm ngăn trở đường tiến công vào nội thành. Đây chính là chỗ mà người cán bộ chỉ huy phải tỏ bản lĩnh của mình. Sau khi cân nhắc, tính toán kỹ, Bộ tư lệnh Quân đoàn quyết định thời cơ đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng và bàn đạp Hóc Môn là lúc sư đoàn 320A đã xiết chặt vòng vây chung quanh căn cứ Đồng Dù, nhốt chặt sư đoàn 25 trong hàng rào kẽm gai .

Tiêu diệt Đồng Dù

Đúng 2 giờ 30 phút ngày 29 tháng 4, các cụm pháo binh bắt đầu bắn phá Đồng Dù. Cùng lúc này, các chiến sĩ đặc công của trung đoàn 198 nhanh chóng đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng, phát triển đánh tan tiểu đoàn biệt kích dù ở đây. Chớp thời cơ, đại đội 10 và trung đoàn 64 lên chốt chặn trên đường quốc lộ 1, đánh phản kích, bảo vệ cầu Bông.

Hoà trong tiếng súng ở cầu Bông, cầu Sáng, tại căn cứ Đồng Dù, các đơn vị bộ binh bộc phá mở cửa. Trên hướng tây bắc, đại đội 3 thuộc trung đoàn 48, nhanh chóng phá được hai lớp hàng rào ngoài cùng. Địch phát hiện hướng cửa mở, vãi đạn vào đội hình đơn vị. Bộc phá viên bị chặn lại trước cửa mở. Đại đội trưởng Tăng cho tập trung hoả lực: súng B40-B41 được điều động lên nã đạn vào tuyến lô cốt ngoài cùng. Súng cối của khẩu đội Trần Văn Thành, dựng gần đứng, bắn vào bên trong tường đất. Hoả lực địch tạm tắt. Nhanh như sóc, bộc phá viên xông lên đánh tiếp được hai lớp rào; địch lại ngóc đầu dậy bắn như mưa. Trong ánh lửa, người ta thấy bóng Nguyễn Khắc Bảo, ôm bộc phá lao lên. Lại một hàng rào nữa bị đứt, nhưng người bộc phá viên dũng cảm kiên cường ấy đã ngã xuống anh dũng hi sinh. Được trung đội 7 hoả lực tập trung chi viện đắc lực. Nguyễn Văn Linh theo gương Bảo lao lên, cùng với cả khối thuốc nổ, phá tan hàng rào cuối cùng., Vũ Văn Sơn, trung đội trưởng trung đội 9-dẫn đơn vị lên chiếm đầu cầu.

Cửa mở thứ hai của trung đoàn 48 do đại đội 11 phụ trách. Đơn vị dùng mìn liên kết, phá tung 5 lớp rào ngoài. Cũng như trên hướng đại đội 3, địch vãi đạn như trấu vào đột phá khẩu, một chiếc xe tăng, từ trong tung thâm chạy ra, nấp sau ụ đất lớn, định dùng khối sắt thép này bịt cửa mở chặn các chiến sĩ ta đang ôm bộc phá lao lên. Đội hình ùn lại, nguy hiểm vô cùng. Đại đội trưởng Nguyễn Công Bạ, lùi ra sau, điều ngay chiến sĩ B41 Nguyễn Tiến Ngọ lên. Bạ nổ một loạt tiểu liên, tháp pháo của xe tăng địch vừa quay sang thì Ngọ đã ôm súng lách sang một bên tránh đạn, giương súng, bấm cò. Chiếc xe tăng bị cháy, sáng rực một góc đồn. Địch vẫn chống trả quyết liệt. Lại thương vong. Đại đội trưởng vớ ngay một khẩu B40 của một chiến sĩ bị thương nằm ngay bên cạnh, gọi bộc phá viên Lê Văn Sử đến. Quả đạn của Bạ vừa nổ, khói trùm cả khẩu đại liên, cũng là lúc Sử xông lên, đặt bộc phá vào lớp hàng rào thứ 6. Sau một tiếng nổ long trời chuyển đất, cửa mở toang. Khi làn sóng người xông lên chiếm được hậu cứ của trung đoàn địch, thì trời đã sáng từ lâu.

Hướng tây nam, trung đoàn 9 đang mở cửa thì hai đại đội địch, từ hướng Củ Chi ra phản kích, đánh vào sau lưng đơn vị. Sau khi đưa hai đại đội ra, để chặn địch lại, toàn bộ trung đoàn cùng với đại đội 11 trợ chiến, chia làm hai mũi vòng sang cổng chính, theo cửa mở sẵn của trung đoàn 48, chọc thẳng vào tung thâm. Mặt trời càng lên cao, sức tiến công của tiểu đoàn 1 cũng yếu dần, vì số xạ thủ B40-B41 của đại đội 3 đã thương vong gần hết, ban chỉ huy trung đoàn 48 phải tung tiểu đoàn 2 và 4 xe tăng là lực lượng dự bị, vào chiến đấu, đi theo cửa mở của đại đội 3, phát triển vào khu vực công binh.

Trận đánh Đồng Dù là trận đánh gay go ác liệt nhất, trong tuyến phòng thủ tây bắc Sài Gòn. Nhờ có chỉ huy quyết tâm, lãnh đạo chặt chẽ, hiệp đồng gắn bó, cán bộ và chiến sĩ sũng cảm, mưu trí, linh hoạt nên đến 11 giờ trưa hôm ấy, sư đoàn 320A hoàn toàn làm chủ chiến trường. Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, trốn ra rừng cao su, bị nhân dân và dân quân du kích Củ Chi bắt sống.

Tại chi khu Trảng Bàng, cách Đồng Dù 10 cây số về phía bắc, sau những ngày chốt chặn, bao vây, áp sát, sư đoàn 316 nhân lúc địch hoang mang dao động, chuyển sang tiến công. Bị pháo binh ta dần cho bốn ngày liền, sư đoàn 25 nguỵ ở Bến Kéo, Cẩm Giang, Tà Vo, Đồng Chua, suối Sâu, Trảng Bàng, Gò Dầu Hạ tan rã từng mảng. Toàn bộ hai trung đoàn 46 và 49, liên đoàn bảo an 251, một chiến đoàn thiết giáp địch bị sư đoàn 316 cùng với bộ đội địa phương và dân quân du kích Tây Ninh bắt làm tù binh. hệ thống phòng ngự, từ Đồng Dù đến Gò Dầu Hạ bị quét sạch. Một bộ phận thiết giáp và liên đoàn biệt động quân 32, từ Khiêm Hạnh kéo chạy về, bị diệt luôn một số, số còn lại tan rã tại chỗ.

Giải phóng Hóc Môn, mở cửa vào thành phố

Trong lúc sư đoàn 320A ghì chân địch lại để tiêu diệt, thì sư đoàn 10 nhanh chóng và khôn khéo vòng qua Đồng Dù; táo bạo lướt qua hệ thống đồn bốt địch chưa bị tiêu diệt, tiến vào Hóc Môn. Trung đoàn 24 và một tiểu đoàn xe tăng vòng sang tây bắc Củ Chi, theo quốc lộ 1, vượt qua cầu Bông. Trung đoàn 28, trung đoàn 4 pháo binh, tiểu đoàn 2 xe tăng thì rẽ qua Phú Hoà Đông, Tân Quy, theo tỉnh lộ 15 qua cầu Sáng. Trung đoàn 66 làm dự bị, đi sau. Đến 11 giờ, một cánh quân lớn của địch từ Hậu Nghĩa tiến ra ngăn chặn, bị sư đoàn 10 cùng với trung đoàn 1 Gia Định đánh tan, rồi tiếp tục tiến về Củ Chi. Ở đây, đã diễn ra cuộc chiến đấu rất quyết liệt giữa trung đoàn 64 của sư đoàn 320A, được phối thuộc cho binh đoàn thọc sâu, với thiết đoàn 10 xe tăng địch. Vừa lúc ấy, bộ phận đi đầu của trung đoàn 24 xốc tới, tiến công hợp đồng. Bị đánh cả trước mặt lấn sau lưng, thiết đoàn 10 xe tăng tháo chạy, rút qua cầu Bông, thì bị ngay tổ chốt của trung đoàn 64 và tiểu đoàn 20 đặc công chặn lại. Từ phía sau, trung đoàn 64 và 9 xe tăng dồn đánh thốc tới. Địch tán loạn, lao bừa xuống ruộng lầy. Trên mặt đường, đại đội 9 xe tăng của ta, ung dung diệt từng chiếc một, trong lúc chúng đang “ngụp lặn” dưới vũng bùn sâu. 28 chiếc xe tăng và xe bọc thép, hàng chục xe GMC bốc cháy, không thoát một chiếc. Toàn bộ địch, bị diệt. Trung đoàn 24 tiếp tục phát triển đánh chiếm thành Quan Năm-Hóc Môn. Từ trung tâm huấn luyện Quang Trung, địch dùng xe tải làm vật cản, phối hợp với bộ binh, xe tăng ra ngăn chặn ta. Trung đoàn 24 đánh địch mở đường. Đến 16 giờ đến xướng dệt Vinatexco, lại gặp một tiểu đoàn địch, máy bay ném bom hoá học để ngăn chặn, nhưng đơn vị vẫn tiếp tục tiến về hướng Bà Quẹo.

Trên đường 15, trung đoàn 28 cũng bị chặn ở Phú Hoà Đông. Đơn vị tổ chức đánh phản kích, tiến đến Tân Quy thì trời đã về chiều. Thời gian công kích vào nội thành, theo kế hoạch đã ấn định, sắp đến nơi rồi. Vượt qua cầu Sáng, thì cầu đã sập, đường tắc. Không cách nào vòng tránh được, nên trung đoàn phải quay trở lại Ba Ri-Tân Quy, theo tỉnh lộ 8, vượt qua Đồng Dù, tiến sang cầu Bông, chiếm khu tây nam trại huấn luyện Quang Trung, đến 18 giờ 30, đến cầu Hàm Luông.

Trong một ngày tiến công, Quân đoàn Tây Nguyên đã đập tan tuyến phòng thủ trên hướng tây bắc Sài Gòn, quét sạch hệ thống đồn bốt trong dải phòng ngực từ Tân Quy qua Đồng Dù đến Gò Dầu Hạ; tiêu diệt sư đoàn 25, thiết đoàn 10, các liên đoàn biệt động quân số 32, 9; liên đoàn công binh 6 cùng toàn bộ lực lượng bảo an, biệt kích dù, cảnh sát, mở toang cánh cửa vào Sài Gòn-Gia Định.

Vì sao sư đoàn 10, sau gần một tháng trời, hành quân vất vả vòng quanh cao nguyên Lang Bi-an, qua Ninh Thuận, Lâm Đồng, mãi đến ngày 25 tháng 4 mới về đến vị trí tập kết ở Dầu Tiếng an toàn. Thế mà, vừa đến nơi đã lao ngay vào chiến đấu, trên một địa hình có nhiều sông ngòi, đường sá như mạng nhện, rất phức tạp. Đây cũng là một chuyện thần kỳ. Thành tích của đơn vị này không thể tách rời khỏi sự đóng góp rất to lớn của lực lượng tại chỗ và đồng bào vùng Tam giác sắt kiên cường, Củ Chi đất thép.

(còn tiếp)
TDB giới thiệu
qdnd.vn

Tổ chức binh đoàn thọc sâu trong chiến dịch

Tổ chức binh đoàn thọc sâu trong chiến dịch là nhằm đánh chiếm những mục tiêu quan trọng như trung tâm đầu não, sở chỉ huy nằm trong tung thâm phòng ngự của địch. Tuyến phòng ngự bên ngoài của địch thường là cứng và vững chắc nhưng các tuyến sau thường mỏng yếu và sơ hở. Ta chỉ cần đập tan tuyến ngoài của địch, mở cửa cho binh đoàn thọc sâu nhanh chóng thọc thẳng vào tung thâm phòng ngự, đập tan sở chỉ huy cơ quan đầu não, nhanh chóng kết thúc trận đánh.

Tổ chức chỉ huy binh đoàn thọc sâu cần thống nhất vì có nhiều thành phần tham gia chiến đấu, như chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đoàn 2 có bộ phận chỉ huy tiền phương để thống nhất chỉ huy cả bộ phận đột phá và binh đoàn thọc sâu.

Tổ chức binh đoàn thọc sâu của chiến dịch phải đủ mạnh, cần có các thành phần để có thể độc lập tác chiến như xe tăng, xe bọc thép, bộ binh cơ giới, phòng không, công binh, pháo binh. Như binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 trên cánh Đông của chiến dịch Hồ Chí Minh có Lữ đoàn xe tăng 203, Trung đoàn bộ binh 66 (Sư đoàn 304) cơ động bằng xe, có pháo binh đi cùng và các lữ đoàn phòng không, công binh.

Khi mở cửa ở vòng ngoài cho binh đoàn thọc sâu bước vào chiến đấu. Ở vòng ngoài địch thường bố trí kiên cố vững chắc, đồng thời địch còn phản kích liên tục, nhằm chặn ta ngay từ vòng ngoài. Cho nên tổ chức đơn vị đột phá vòng ngoài để mở cửa cho binh đoàn thọc sâu bước vào chiến đấu cũng vô cùng quan trọng. Không mở được cửa thì binh đoàn thọc sâu cũng không bước vào chiến đấu được, hoặc gặp nhiều khó khăn.

Như khi đột phá mở cửa trong chiến dịch Hồ Chí Minh của Quân đoàn 2. Quân đoàn phải sử dụng Sư đoàn 304 ở hướng chủ yếu của quân đoàn, đột phá vào căn cứ Nước Trong. Sau khi đột phá xong phải quần lộn ác liệt với 2 thiết đoàn của địch ra phản kích, sau 2 ngày mới mở toang được cửa.

Khi binh đoàn thọc sâu triển khai đội hình bước vào chiến đấu, cũng phải lường trước được những khó khăn trên đường tiến quân, địch sẽ dùng những thủ đoạn gì để ngăn chặn quân ta.

Như binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 trong chiến dịch Hồ Chí Minh vừa triển khai đội hình trên trục đường 15 về hướng cầu Xa Lộ thì bị quân địch phá cầu sông Buông, binh đoàn thọc sâu phải dừng lại để đưa công binh lên sửa chữa cầu. Để yểm trợ cho công binh sửa chữa cầu, binh đoàn phải sử dụng 2 trung đoàn của Sư đoàn 304 lên đánh vòng vào cạnh sườn đẩy quân địch về hướng tổng kho Long Bình. Cầu sửa chữa xong đã mở đường cho binh đoàn thọc sâu tiến thẳng về cầu Xa Lộ, bắt được liên lạc với Đoàn đặc công 116 chiếm giữ cầu, binh đoàn thọc sâu đánh tan quân địch bên kia cầu. Thế là hơn 400 xe tăng, xe bọc thép, pháo binh, cao xạ và bộ binh tiến thẳng về hướng Thủ Đức. Khi đến ngã ba đường Thủ Đức lại gặp quân địch chặn đánh, Bộ tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho Trung đoàn 18 của Sư đoàn 325, đánh bật quân địch ở Thủ Đức. Binh đoàn thọc sâu dùng hỏa lực trên xe tăng bắn áp đảo quân địch tiến thẳng về hướng Sài Gòn. Đến cầu Sài Gòn lại bị quân địch đánh chặn quyết liệt. Sau 30 phút chiến đấu, lực lượng hải quân, xe tăng và bộ binh địch bị quân ta đập tan, binh đoàn thọc sâu và Sư đoàn 304 tiến thẳng vào Dinh Độc Lập-sào huyệt của Tổng thống Dương Văn Minh và chính quyền ngụy Sài Gòn, góp công lớn để chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975 đại thắng.

Trung tướng NGUYỄN ÂN
qdnd.vn

Đánh chiếm sân bay Trà Nóc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh

Năm 1974, chúng tôi là những người con của Hà Nội thuộc Tiểu đoàn 78, Trung đoàn 59, Bộ tư lệnh Thủ Đô, được bổ sung vào chiến trường miền Tây Nam bộ, chiến đấu trong đội hình Trung đoàn 20, Quân khu 9.

Trung tuần tháng 4-1975, khi cả Trung đoàn đang chiến đấu trong vùng địch hậu thuộc huyện Ô Môn, Cần Thơ thì được lệnh rút về hậu cứ nhận nhiệm vụ mới. Khác với mọi lần, về vùng giải phóng là được nghỉ ngơi và sống trong bầu không khí chan hòa tình thương của đồng bào các dân tộc nơi đóng quân thuộc huyện Gò Quao, tỉnh Rạch Giá, lần này vừa về đến cứ chúng tôi được tập trung học tập nghị quyết, chỉ thị về thời cơ lịch sử “Một ngày bằng 20 năm” tổng tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Không chỉ đơn vị chúng tôi mà nghị quyết được quán triệt rất kỹ đến mọi cán bộ, chiến sĩ trên toàn chiến trường.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhiệm vụ của Trung đoàn 20 chúng tôi là thọc sâu đánh chiếm sân bay Trà Nóc, Cần Thơ – căn cứ của Sư đoàn không quân số 4 ngụy Sài Gòn. Sau khi quán triệt nhiệm vụ, chúng tôi hăm hở bắt tay vào làm công tác chuẩn bị chiến đấu. Mỗi người được nhận một cơ số đạn và khá nhiều lương thực. Mỗi tiểu đội được nhận một chiếc xuồng ba lá làm phương tiện hành quân. Mừng hơn là đơn vị được bổ sung thêm một lực lượng chiến sĩ mới quê Thanh Hóa vừa từ miền Bắc vào.

Đêm 22-4, chúng tôi được lệnh xuất phát. Những chiếc xuồng ba lá lặng lẽ rời hậu cứ. Hành quân suốt đêm, gần sáng tới điểm dừng chúng tôi giấu xuồng, lên bờ triển khai trận địa, chờ địch vào gần mới nổ súng. Càng vào sâu căn cứ, đồn bốt địch càng dày đặc. Có đêm phải kéo, đẩy xuồng trên cạn, cắt hướng mà đi bỏ qua những đồn bốt nhỏ, đánh thẳng vào các mục tiêu chính. Pháo sáng từ các đồn bốt địch và đèn pha công suất lớn từ máy bay trực thăng vũ trang của chúng soi rọi, lùng sục bắn phá suốt đêm. Ban ngày, máy bay trinh sát L19 quần thảo liên tục, chỉ điểm cho pháo ở Giồng Riềng, Ô Môn, Vị Thanh, hỏa lựu bắn vào đội hình tiến công của ta, bộ binh địch từ các căn cứ nống ra đánh chặn.

Đêm 28-4, chúng tôi được lệnh bỏ xuồng hành quân bộ theo trinh sát dẫn đường, bó bòng (dạng ba lô phát cho bộ đội ở chiến trường Tây Nam bộ vừa đựng quân tư trang và dùng để vượt sông) vượt kênh và dầm mình xuống nước để tránh đèn pha trên máy bay trực thăng địch rọi đến. Gần sáng 29-4, chúng tôi đến lộ Vòng Cung và triển khai đội hình chiến đấu. Địch dùng pháo binh bắn các loại đạn pháo khoan, pháo chụp và máy bay ném bom dữ dội vào trận địa ta. Máy bay trực thăng vũ trang UH-1 bay thấp quần thảo phóng rốc két và bắn đại liên như mưa. Xe bọc thép M113 dàn hàng ngang bắn ĐKZ và 12,7mm yểm hộ cho bộ binh địch đánh vào. Mặt đất bom đạn cày xới, cây bị mảnh pháo, đạn nhọn phạt gãy, đổ ngổn ngang, nhà dân cháy ngùn ngụt, mùi thuốc súng nồng nặc. Từ những công sự chiến đấu, chúng tôi bình tĩnh điểm xạ từng loạt AK chính xác vào những tốp địch ở cự ly gần, sử dụng các loại súng hỏa lực như B40, B41, cối 60mm và đại liên M60, súng phóng lựu M79 thu được của địch đánh bật nhiều đợt phản kích của chúng. Xẩm tối địch rút chạy, chúng tôi lên khỏi hầm, tranh thủ nấu ăn và đợi lệnh hành quân tiếp.

Khoảng 23 giờ đêm, cả Tiểu đoàn 4 chúng tôi tập trung đội hình trên một thửa ruộng ven lộ. Ban chỉ huy tiểu đoàn quyết định để Đại đội 2 do bị thương vong nhiều cùng số thương binh của các đơn vị rút về hậu cứ. Lực lượng còn lại tiếp tục hành quân chiến đấu. Trước giờ xuất kích, Tiểu đoàn trưởng Ba Thích – một người con Hà Nội, chân bị thương phải chống gậy, nhưng vẫn đứng vững trước hàng quân, nói dõng dạc: “Đêm nay là chặng hành quân cuối cùng, chúng ta sẽ tiếp cận và đánh chiếm Sân bay Trà Nóc, đây chính là quyết chiến điểm của cả Trung đoàn 20 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử này. Các em ạ, đến đây rồi còn một răng cũng bừa. Tất cả lên đường!”. Như được tiếp thêm sức mạnh, chúng tôi xốc lại bòng và súng đạn tiến bước.

Rạng sáng 30-4, địch bắn pháo cấp tập vào đội hình ta. Tiếng động cơ máy bay gầm rú điên loạn. Chúng cho máy bay A37 và AD6 ném bom liên tục, dùng trực thăng vũ trang và xe lội nước yểm trợ bộ binh đánh chặn phía trước, phía sau. Hỏa lực của trên và cối 120mm của Trung đoàn 20 tập trung bắn chế áp vào sân bay, các loại súng của đơn vị tôi bắn quyết liệt vào đội hình địch, tiêu diệt nhiều tên, đẩy chúng ra xa và tháo chạy tan tác. Trong sân bay, máy bay địch hoảng loạn cất cánh liên tục… Gần trưa, địch kháng cự yếu ớt, tiếng súng và tiếng máy bay thưa dần rồi im ắng lạ thường.

Bỗng dưới kênh tiếng xuồng máy mỗi lúc một gần, xen lẫn tiếng người rộn rã và sau đó là những tiếng hô vang: “Dương Văn Minh đầu hàng trên đài rồi! Giải phóng rồi! Hòa bình rồi”… Trên chiếc xuồng đi đầu, một người dân đứng thẳng, tay huơ huơ một mảnh giấy và nói: “Các chú Giải phóng ơi, thư xin hàng của bọn lính Sư đoàn 21 gửi mấy chú đây này”. Chúng tôi phân công nhau cảnh giới và cử người xuống xem thì quả đúng vậy. Niềm vui đến quá bất ngờ, xót thương cho những đồng đội vừa hy sinh cách đây ít phút.

Chúng tôi được lệnh tiến vào chiếm lĩnh sân bay Trà Nóc. Vượt qua hàng chục lớp rào thép gai vừa bị phá, trong sân bay súng đạn các loại và quần áo, mũ sắt, mũ phi công ngụy vứt la liệt. Trên đường băng, mấy chiếc A37 nắp buồng lái mở toang nằm ngổn ngang, trong các khu nhà máy bay còn rất nhiều, nhất là máy bay ném bom A37, trực thăng vũ trang UH-1, trực thăng cần cẩu CH-47 và máy bay trinh sát L19, có hai chiếc F5, vài chiếc AD6… Ở khu nhà làm việc bên trái con đường từ cổng chính vào, khoảng hơn 300 tên lính ngụy chủ yếu là thợ máy, lính văn phòng và một số sĩ quan đã tập trung trình diện Quân Giải phóng, trong đó có hai tên đại tá. Riêng tên Chuẩn tướng, Tư lệnh Sư đoàn 21 đã bỏ chạy bằng trực thăng từ sáng, bọn giặc lái chắc sợ bị trả thù vì có nhiều nợ máu, gần như trốn chạy hết. Đồng chí Năm Học, Trung đoàn trưởng lệnh cho phân đội vệ binh do đồng chí Thụ phụ trách, tiếp nhận sự đầu hàng của số lính này. Họ tỏ ý ăn năn và sốt sắng chỉ dẫn cho chỉ huy Trung đoàn chúng tôi đến những nơi trọng yếu trong sân bay như khu chỉ huy bay, khu để các loại máy bay, khu ra-đa, kho vũ khí, khí tài, kho xăng, kho bom… Các đơn vị trong toàn Trung đoàn nhanh chóng chiếm lĩnh và canh giữ những mục tiêu quan trọng, cảnh giác đề phòng tàn quân địch còn sót manh động tập kích.

Đến khoảng 20 giờ, Tiểu đoàn tôi được lệnh giao lại cho đơn vị bạn chốt giữ khu ra-đa trong sân bay để làm nhiệm vụ bảo vệ Nhà máy điện Trà Nóc. Hành quân qua phố chợ Trà Nóc, các nhà đóng cửa, đèn đường sáng nhưng không có một bóng người, thấy vậy tôi và một số anh em ở tốp đi đầu tiểu đoàn vừa đi vừa nói to: “Bà con ơi giải phóng rồi, hãy may cờ cách mạng treo lên”. Cánh cửa các nhà đều bật mở, nhiều gia đình đã chuẩn bị sẵn cờ đỏ sao vàng, cờ giải phóng lập tức treo lên ngay. Chỉ trong chốc lát phố phường rợp bóng cờ, bà con dân phố đổ xô ra đường vẫy tay tươi cười đón chào đoàn quân, mọi nỗi sợ bị “tắm máu”, bị Việt cộng trả thù tiêu tan hết, nhiều người còn chạy ra nắm tay, tặng quà chúng tôi. Đêm 30 tháng 4 cả đơn vị gần như không ai ngủ. Trên những khuôn mặt hốc hác vì thiếu ngủ rạng rỡ niềm vui khó tả, nhưng súng đạn vẫn không rời tay. Đây đó chốc chốc vút lên những loạt đạn lửa như hoa đăng chào mừng ngày đại thắng.

Đại tá Phạm Quang Hiệp
qdnd.vn

J22 và ngày 30-4

J22 là mật danh của Phòng Tình báo Bộ Tham mưu B2 (Quân giải phóng Miền Nam) thời kì kháng chiến chống Mỹ. Những chiến công thầm lặng mà vĩ đại của J22 đối với ngày toàn thắng 30-4-1975 cho đến nay vẫn còn ít người được biết đến.

Trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược , nhất là từ giữa năm 1965, khi quân đội viễn chinh Mỹ trực tiếp, ào ạt tràn vào Việt Nam thì hiệu suất phục vụ về tài liệu, tin tức tình báo có giá trị của J22 được nâng lên rõ rệt. Với những điệp viên có tài như: Phạm Xuân Ẩn, trong vỏ bọc bình phong là phóng viên Báo Time của Mỹ thường trú tại Sài Gòn; Đặng Trần Đức nằm trong cơ quan Đặc ủy Trung ương Tình báo ngụy; Vũ Ngọc Nhạ với vị trí cố vấn tôn giáo cho tổng thống ngụy và nhiều chiến sĩ tình báo khác “cài” trong Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Quốc hội của ngụy… thì các tài liệu, tin tức có giá trị về âm mưu, chương trình, kế hoạch hoạt động của địch được các điệp viên của J22 thu thập và chuyển ra cho cấp trên khá đều đặn.

Quân giải phóng đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy ngày 30-4-1975. Ảnh Tư liệu

Trong thời gian này, Mỹ-ngụy có hàng loạt kế hoạch tuyệt mật với kí hiệu AB. Cứ vào khoảng tháng 11 hằng năm, viên Tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ tại Việt Nam và Tổng Tham mưu trưởng ngụy cùng kí vào bản chương trình hành động hỗn hợp liên quân Mỹ-ngụy cho năm tới. Văn bản này được gọi tắt là kế hoạch AB. Điều thần kì là mỗi khi chúng kí xong thì chưa đầy tuần sau, nguyên bản kế hoạch đó đã có ở Văn phòng Bộ tham mưu Miền và Bộ Tổng tham mưu của ta tại Hà Nội, từ AB 145, AB 146, AB147 và đều đều như vậy những năm tiếp theo. Các kế hoạch đột xuất khác có giá trị chiến lược như kế hoạch ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam bằng cuộc đảo chính Xi-ha-núc, mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia, chiếm cảng Xi-ha-nuc-vin, bịt kín Đường 9-Nam Lào … nhờ tài liệu, tin tức tình báo của J22 mà ta biết trước để tìm cách đối phó.

Sau những thất bại liên tiếp về quân sự, chính trị, ngoại giao, nhất là sau chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, buộc Mỹ phải kí Hiệp định Pa-ri với ta. Theo hiệp định đó, ngày 27-3-1973, tên lính Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam. Bởi vậy, trên chiến trường chỉ còn quân ngụy với sự tăng viện vũ khí, phương tiện chiến tranh của Mỹ, nên thế chủ động hoàn toàn đã thuộc về ta. Để chuẩn bị cho những trận đánh lớn, nhằm giải phóng hoàn toàn miền Nam, cấp trên rút một số cán bộ trong các đơn vị ra Bắc học tập. Trong số đó, J22 được cử 2 người là Thượng tá Sáu Trí, Chỉ huy trưởng J22 và tôi-Nguyễn Văn Tàu, Phó chính uỷ J22. Anh Sáu Trí vào học ở Học viện Quân sự, còn tôi học tại Học viện Chính trị, lúc ấy sơ tán ở Đông Anh (Hà Nội). Khoá học dự kiến là hai năm nhưng mới được một năm thì chiến trường diễn biến mau lẹ. Tháng 3-1975, chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng, địch tháo chạy khỏi Tây Nguyên, hiện tượng hoảng loạn trong ngụy quân xuất hiện. Tiếp đó, Huế rồi Đà Nẵng được giải phóng, thời cơ nghìn năm có một xuất hiện. Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa. Dù mới qua nửa khoá học, nhưng số cán bộ từ B2 ra được lệnh trở về chiến trường. Ai cũng hăm hở lên đường để kịp dự trận đánh quyết định cuối cùng.

Ô tô theo đường Hồ Chí Minh đưa anh Sáu Trí và tôi trở về chiến khu Lộc Ninh. Vừa đến nơi, anh Sáu Trí được phân công vào ngay nội thành Sài Gòn nắm cơ sở điệp báo cao cấp, còn tôi xuống Củ Chi nhận nhiệm vụ Chính uỷ Lữ đoàn Đặc công biệt động 316 đang áp sát Sài Gòn. Lúc này, nhiều đơn vị thuộc Lữ đoàn đã vào “lót ổ” sẵn trong nội đô.

Xin nói vài nét về Lữ đoàn Đặc công biệt động 316. Theo chỉ thị của Bộ Tham mưu B2, tháng 10-1974, J22 phải rút cán bộ, chiến sĩ ra làm nòng cốt thành lập Lữ đoàn đặc công biệt động chuẩn bị cho hành động chiến lược khi thời cơ đến. Phiên hiệu Lữ đoàn 316 được đặt để nghi binh. Chỉ huy lữ đoàn đến các tiểu đoàn (gọi tắt là các Z) đều là cán bộ Phòng Tình báo Miền. Đồng chí Nguyễn Thanh Tùng, Phó trưởng phòng J22 được cấp trên chỉ định làm Lữ đoàn trưởng; đồng chí cán bộ tình báo lão thành Mười Khánh làm Chính uỷ, khi tiến đánh Sài Gòn thì tôi về thay. Lữ đoàn đã có những trận đánh tiêu biểu như trận đánh chiếm cầu Rạch Chiếc (trên xa lộ Hà Nội hiện nay) từ khuya ngày 27-4-1975 và giữ cầu cho đến khi đại quân của ta có xe tăng dẫn đường đi qua lúc 10 giờ sáng ngày 30-4, sau đó tiến vào Dinh Độc lập. Để giữ được cầu trong những ngày lịch sử ấy, đơn vị Z33 đã chấp nhận thương vong đến 50 đồng chí. Hay như trận đánh chiếm cơ quan Tổng Tham mưu ngụy lúc 9 giờ 30 phút sáng 30-4 làm rối loạn sự chỉ huy của địch trước khi đại quân tiến vào là do Đơn vị Z28 thuộc Lữ đoàn 316 thực hiện. Tôi xin chỉ sơ lược những chiến công của Lữ đoàn Đặc công biệt động 316-đơn vị hành động của J22, góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Từ khi lọt vào Sài Gòn anh Sáu Trí ở tại nhà đồng chí Ba Lễ, một cán bộ điệp báo thuộc cụm tình báo A.20. Lúc ấy, đồng chí Ba Lễ đang là nghị sĩ có uy tín trong Quốc hội Sài Gòn.

Sáng 30-4, đại quân ta từ 5 hướng áp sát Sài Gòn. Ngụy quyền Dương Văn Minh lúng túng tìm cách đối phó. Có sự tranh luận gay gắt giữa hai phái chủ chiến và chủ hoà trong nội các ngụy. Nhận được thông tin của anh Ba Lễ và anh Tô Văn Cang (một cơ sở tình báo của ta có uy tín trong phái chủ hoà), Tổng thống Dương Văn Minh biết được sự có mặt của anh Sáu Trí trong Sài Gòn, Theo chúng, anh Sáu Trí là một cán bộ tầm cỡ trong Mặt trận Dân tộc

Giải phóng Miền, nên Tổng thống Dương Văn Minh liền cử hai người đến nhà anh Ba Lễ gặp anh Sáu Trí hỏi ý kiến xin lập Chính phủ liên hiệp 3 thành phần. Anh Sáu Trí trả lời: Các ông đến nước này rồi thì chỉ có đầu hàng vô điều kiện là sáng suốt nhất. Trong giờ phút đầy biến động đó, anh Sáu Trí, anh Ba Lễ, anh Tô Văn Cang cùng đi chung một xe ô tô vào Dinh Độc lập với ý định tiếp tục khuyến dụ Dương Văn Minh đầu hàng. Đang nói chuyện thì xe tăng quân ta (Lữ đoàn 203) húc sập cửa dinh tiến vào. Lúc này xảy ra một chuyện. Chẳng là thấy các chiến sĩ xông vào bắt nội các Dương Văn Minh, cứ trừng mắt nhìn anh Sáu Trí đứng lẫn trong đó. Không ngờ, đến khi một người chỉ huy của Quân giải phóng tiến vào, nhận ra anh Sáu Trí (vì hai người vừa cùng học ở Học viện Quân sự ngoài Hà Nội) thì tủm tỉm cười: “Đi đâu cũng đụng ông tình báo này”. Lúc đó, các chiến sĩ mới vỡ lẽ vì sao trong hàng ngũ quân ngụy khi nãy, anh Sáu Trí lại nhẹ nhàng nhắc các chiến sĩ cần làm tốt quy định xử lý tù binh. Khi Dương Văn Minh được chở đến Đài Phát thanh Sài Gòn đọc lời đầu hàng thì anh Sáu Trí ở lại được phân công soạn thảo “Quân lệnh số 1” nhằm ổn định tình hình.

Những đóng góp thầm lặng của Phòng Tình báo J22 góp công trong ngày 30-4 còn nhiều chuyện nữa, chỉ xin nêu hai sự kiện tiêu biểu:

Chuyện thứ nhất: Từ đầu tháng 4-1975, khi tình thế quân ngụy đã vô cùng bi đát, Nguyễn Văn Thiệu cử một phái đoàn đại diện Quốc hội Việt Nam Cộng hoà sang thuyết phục Quốc hội Mỹ tăng viện để cứu chế độ Thiệu khỏi sụp đổ. Phái đoàn do ông Đinh Văn Đệ, Phó chủ tịch Quốc hội là trưởng đoàn. Ông Đệ là cán bộ điệp báo của J22. Ông còn có người em là Đinh Văn Huệ, lúc ấy là Chính trị viên Tiểu đoàn giao thông vũ trang của J22. Nay cả ông Huệ, ông Đệ đều đã ngoài 80, sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Theo lời ông Đệ kể lại, trong chuyến đi Mỹ, ngoài việc ngoại giao thông thường tại các buổi họp chính thức, thực hiện chỉ thị của Thủ trưởng J22, ông đã tiến hành những cuộc vận động riêng lẻ với các nghị sĩ Mỹ có tầm cỡ để họ không ủng hộ Tổng thống Mỹ có thêm những hành động chi viện cho Thiệu. Kết quả là Quốc hội Mỹ buộc Tổng thống chỉ được viện trợ thêm tiền chứ không được can thiệp quân sự một lần nữa vào Việt Nam.

Chuyện thứ hai: Đến giữa tháng 4-1975, trước thời khắc ta chuẩn bị tiến công giải phóng Sài Gòn, Bộ Chính trị nêu vấn đề và yêu cầu tình báo trả lời: Nếu ta đánh lớn vào Sài Gòn, liệu Mỹ có cho quân đổ bộ vào cứu ngụy hay không ? Giải đáp thoả đáng câu hỏi này là công của đồng chí Nguyễn Văn Minh, một cán bộ điệp báo của J22. Từ lâu, anh Minh là thượng sĩ giữ hồ sơ mật của Văn phòng Tổng Tham mưu trưởng quân ngụy. Lúc đó, có lá thư của Tổng thống Mỹ gửi cho Thiệu, đại ý: Cuộc chiến tranh tại Việt Nam coi như đã chấm dứt đối với Mỹ, chỉ chi viện thêm 700 triệu đô la còn tuỳ quân ngụy định liệu. Thiệu đã sao bức thư này, gửi cho Tổng Tham mưu trưởng. Anh Minh nhận được hồ sơ này, ngay lập tức chép lại và gửi ra cho chỉ huy Miền. Nhờ tài liệu này, Bộ Chính trị nắm được điểm yếu của địch, càng củng cố quyết tâm thần tốc hơn nữa, táo bạo hơn nữa trong tiến công vào sào huyệt cuối cùng của ngụy quân, ngụy quyền.

Với thế áp đảo về lực lượng, được Bộ Tổng tư lệnh huy động tối đa; được sự hỗ trợ của các đoàn thể, sự đồng tâm hiệp lực của nhân dân, quân ta chiếm Sài Gòn rất nhanh, rất gọn, ngoài sự tính toán của địch. Theo tin tức tình báo ta thu được, không phải địch không có ấm mưu đối phó vào giờ chót nhưng mọi việc đã trễ vì quân ta tiến quá nhanh. Từ trưa 30-4, Sài Gòn đã trở về tay nhân dân một cách êm đẹp và nguyên vẹn. Năm 2000, J22 được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Trong J22 còn có 2 cụm tình báo và 16 cán bộ, chiến sĩ được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Đại tá Nguyễn Văn Tàu(Anh hùng LLVT nhân dân)
qdnd.vn

Mở cửa vào giải phóng Sài Gòn

Đồng chí Lê Đức Thọ, đại diện Bộ Chính trị gặp gỡ các đồng chí Khu ủy Khu 6. Ảnh tư liệu

Ở tuổi 85, Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên, nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Quốc phòng vẫn khỏe khoắn và minh mẫn đến lạ thường. Cái chất mộc mạc của ông khiến chúng tôi xúc động. Lời kể của ông như những thước phim chân thực về cuộc chiến đấu mở cửa tiến vào giải phóng Sài Gòn mùa xuân năm 1975. Lúc đó ông là Tư lệnh Quân khu 6 kiêm Tư lệnh Sở chỉ huy Hậu phương (tại Phan Rang) trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Chuẩn bị cho “thời cơ lớn có thể đến

Sau hơn chục năm, tôi mới có dịp gặp lại Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên và thật bất ngờ, ông nhớ họ, tên và cả những lần tôi phỏng vấn ông tại kỳ họp Quốc hội khóa IX. Căn nhà ông ở mang dấu ấn từ thời bao cấp, cả về đường nét kiến trúc và những đồ dùng trong nhà. Giọng nói vang trầm ấm, ông đã lôi cuốn tôi hồi tưởng lại lịch sử 35 năm trước, khi đó ông là Tư lệnh Quân khu 6 (nay là vùng đất thuộc các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng và Đắc Nông-PV) .

Theo Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên, Quân khu 6 có vị trí trọng yếu về mặt quân sự. Đây là địa bàn nằm giữa và nối liền miền Đông Nam Bộ với Tây Nguyên và miền Trung Trung Bộ. Quân khu 6 cũng là cửa ngõ hướng tiến công chính của ta vào Sài Gòn (sào huyệt cuối cùng của địch) từ phía đông và đông bắc. Vì vậy, cả địch và ta đều quyết tâm giữ vị trí chủ động trên chiến trường này.

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên kể rằng, thực tế việc chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 của Quân khu 6 (ông quen gọi là Khu 6 – PV) được bắt đầu từ tháng 8 năm 1974. Tại cuộc họp Khu ủy mở rộng, sau khi nghiên cứu tình hình thực tế, kết hợp với sự chỉ đạo của cấp trên, Hội nghị Khu ủy nhận định: “Tình hình hết sức khẩn trương, thời cơ lớn có thể đến”. Do đó, mặc dù tình hình trong Khu có nhiều khó khăn, nhưng Hội nghị vẫn quyết tâm: “Phấn đấu trong những tháng cuối năm 1974 và đầu năm 1975 sẽ đánh bị về cơ bản kế hoạch bình định lấn chiếm của địch, giành cho được một bước thắng lợi mới, toàn diện cả phía trước lẫn phía sau, cả tiến công và xây dựng, làm thay đổi so sánh lực lượng hoàn toàn có lợi cho ta”.

Để chuẩn bị cho “Thời cơ lớn có thể đến”, công tác bảo đảm hậu cần, vũ khí đạn dược đã được tiến hành hết sức khẩn trương. Trước đó, để bảo đảm lương thực, thực phẩm tại chỗ, góp phần hỗ trợ các đơn vị chủ lực của Bộ, Khu 6 đã xây dựng được 3 khu sản xuất lớn dưới dạng nông trường, vỡ hoang được gần một nghìn mẫu đất đồi rừng trồng ngô, sắn; làm được ba trăm héc-ta lúa nước. Cuối năm 1974, Khu 6 đã có gần năm nghìn lạng vàng dự trữ…

Tháng 4 năm 1975, Sở chỉ huy tiền phương của Khu 6 được chuyển thành Sở chỉ huy hậu phương của Chiến dịch Hồ Chí Minh (đóng tại Phan Rang). Đồng chí Nguyễn Trọng Xuyên được giao làm Tư lệnh của Sở chỉ huy này với nhiệm vụ chủ yếu là bảo đảm lương thực, thực phẩm, xăng dầu cho các cánh quân chủ lực của ta tiến vào giải phóng Sài Gòn đồng thời tiếp nhận thương, bệnh binh vào điều trị tại Phan Rang. Lúc này, hàng hóa do Khu 6 chuẩn bị từ trước được dịp tung ra, góp phần phục vụ cho đại quân của ta tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Kể lại những năm tháng chuẩn bị cho “Thời cơ lớn có thể đến” ở chiến trường Khu 6, Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên nhắc nhở chúng tôi: Đây là bài học lớn cho công tác bảo đảm hậu cần của ta, kể cả cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc sau này.

Bài học về chiến tranh nhân dân

Nhớ lại thế trận cuối năm 1974, đầu năm 1975 trên chiến trường Khu 6, Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên khẳng định với tôi “Việc giải phóng hai huyện Tánh Linh và Hoài Đức (nay thuộc địa bàn tỉnh Bình Thuận – PV) có vị trí quan trọng trong toàn bộ chiến dịch, nó được xem như là “bàn đạp” để giải phóng toàn Khu 6, “mở cửa” cho đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn”.

Theo lệnh của Bộ Tư lệnh Miền, Quân khu 6 phối hợp với các đơn vị bạn “nhổ hai cái đinh” là chi khu Hoài Đức và chi khu Tánh Linh. Qua ba ngày đêm chiến đấu tiến công, Khu 6 đã tiêu diệt được cứ điểm trên núi Lồ Ồ, tiêu diệt chi khu Tánh Linh, giải phóng toàn huyện Tánh Linh. Thế nhưng đến khi tấn công chi khu Hoài Đức thì lại gặp rất nhiều khó khăn. Sư đoàn 6 (thuộc Quân khu 7) đánh đi đánh lại vẫn không tiêu diệt được chi khu Hoài Đức. Theo lệnh của Bộ Tư lệnh Miền, sư đoàn 6 giao chi khu Hoài Đức lại cho Khu 6 đánh, còn sư đoàn rút về Quân khu 7.

Đồng chí Nguyễn Trọng Xuyên được Bộ Tư lệnh Miền giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy bộ đội ta tấn công chi khu Hoài Đức. “Để chuẩn bị cho việc “nhổ cái đinh Hoài Đức”, tôi đã ra lệnh cho các đơn vị chủ lực trong Khu phối hợp với bộ đội địa phương và nhân dân “bóc vỏ” diệt gọn các cứ điểm nhỏ xung quanh chi khu. Lúc 3 giờ sáng ngày 20-3-1975, sau gần một giờ pháo bắn chuẩn bị, công binh, đặc công mở cửa, các mũi tiến công mau chóng thọc sâu vào sở chỉ huy chi khu. Đến 6 giờ sáng, ta làm chủ đại bộ phận chi khu, tiếp tục diệt các ổ đề kháng và tàn quân còn chống cự. Cùng ngày ta giải phóng hết các ấp chiến lược thuộc huyện Hoài Đức. Sáng sớm ngày 20-3-1975, địch đổ quân hòng chiếm lại chi khu, nhưng đã bị bộ đội ta tiêu diệt, số còn lại chạy tán loạn về phía Đồng Nai” – Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên kể lại rành rọt như trận đánh mới diễn ra trong ngày hôm qua.

Sau khi giải phóng được Hoài Đức, Khu 6 phối hợp với lực lượng của Quân đoàn 4 tiến hành giải phóng tỉnh Lâm Đồng đồng thời chỉ đạo các địa phương “Không được trông chờ ỷ lại vào chủ lực, mà phải nỗ lực “Xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh”… Đến ngày 23-4, toàn bộ Khu 6 đã được giải phóng, mở rộng đường tiến vào Sài Gòn từ hướng đông và đông bắc cho các binh đoàn chủ lực trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Buổi trò chuyện với Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên đã kéo dài quá 3 tiếng đồng hồ mà chúng tôi không thấy vị lão tướng ở cái tuổi ngoại bát thập tỏ chút mệt mỏi. Theo đồng chí Thượng tướng, việc giải phóng Khu 6 để mở cửa cho đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn có sự đóng góp to lớn của nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương với phương châm “Xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện…”, nhưng nếu không có sự chi viện và những “quả đấm thép” của bộ đội chủ lực thì các địa phương chắc chắn sẽ gặp khó khăn, một số địa phương không thể giải phóng được. “Thực tế ở Khu 6 trong những năm tháng chống Mỹ đã cho tôi bài học quý về cuộc chiến tranh nhân dân, trong đó có khâu bảo đảm hậu cần, xây dựng thế trận lòng dân”- Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên nhấn mạnh.

Đỗ Phú Thọ

Đã xa rồi ký ức chiến tranh

Tác giả: THU HÀ – LÊ NHUNG
Bài đã được xuất bản.: 30/04/2010 06:00 GMT+7

Vươn lên từ đổ nát do chiến tranh, Việt Nam đã trải qua bước đổi thay mạnh mẽ. Thế hệ thứ nhất- những người trực tiếp chứng kiến giờ cũng không còn nói nhiều về cuộc chiến, họ bình tĩnh hơn mỗi khi nhớ về hồi ức. Còn giới trẻ- những người sinh sau ngày 30/4/1975, chiến tranh là câu chuyện xảy ra đã lâu trong lịch sử.

>> GS. Cao Huy Thuần: “Dân tộc không có sông Ngân”
>> Cùng một dân tộc hà cớ gì không thể hoà hợp
>> Ba mươi lăm năm Hoà hợp để Yêu thương

Kim Phúc đang bị cháy xém bởi bom napalm. Bức ảnh gây chấn động thế giới và Nick đoạt giải Pulitzer cao quý. Ảnh: Nick Út.

Chuyện xảy ra đã lâu

Nick Út, phóng viên ảnh của hãng AP, trước 1975 người ta biết đến anh chủ yếu qua những bức ảnh mô tả sự tàn khốc của chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Tận mắt chứng kiến và chụp được nhiều bức ảnh người dân hoảng loạn cố chạy ra khỏi vùng lửa đạn, Nick nhớ lại quãng thời gian đầu thập niên 70 của thế kỷ trước:

“Chiến sự tại thị trấn Trảng Bàng năm 1973 thật ác liệt. Khi chiếc khu trục Sky One Skyraider của quân lực Việt Nam cộng hoà nhào xuống thả 4 trái bom napalm cách chỗ tôi đứng chừng trăm thước, vậy mà vẫn cảm nhận được sức nóng khủng khiếp. Tôi thấy một người phụ nữ trung niên ẵm đứa bé hấp hối la hét cầu cứu. Nhiều đứa trẻ khác vô cùng hoảng loạn…”

Cũng ở đây anh đã chụp bức ảnh Kim Phúc đang bị cháy xém bởi bom napalm. Bức ảnh gây chấn động thế giới và Nick đoạt giải Pulitzer danh giá.

“Cuộc sống thời chiến hỗn loạn, đâu đâu cũng là đau thương tang tóc. Hầu hết những bức ảnh tôi chụp trước năm 1975 là cuộc sống thời chiến tranh” – Nick Út cho biết.

Dân tị nạn chiến tranh. Ảnh: Nick Út.

Cùng trang lứa với tay máy lừng danh, anh Vương Thới Thông hiện là tài xế của một hãng taxi tại Tp. Hồ Chí Minh cũng có thật nhiều hồi ức về đời sống thường nhật tại Sài Gòn trước sự kiện 30 tháng Tư:

“Mặc dù không có những cuộc giao tranh dữ dội, nhưng Sài Gòn hồi trước năm 1975 mang sắc thái của đô thị thời chiến với lô cốt bằng bê tông, hàng rào kẽm gai và quân cảnh có súng ngắn”.

“Sự hiện diện của quân đội Mỹ và quân đội đồng minh để lại những ảnh hưởng rất xấu trong xã hội. Tiền bạc của họ đã nuôi sống các tệ nạn như mại dâm, nghiện hút. Chính người dân miền Nam thời đó cũng phản ứng rất gay gắt”, người lái xe quả quyết.

Anh dẫn chứng, chính sách “bình định” nhằm dồn có hệ thống dân chúng vào những nơi gọi là vùng “an ninh” dẫn tới sự di tản của hàng triệu dân ở nông thôn về thành thị hoặc các “ấp Tân Sinh”, hay nói đúng hơn là các xóm nghèo đô thị.

Với đa số người dân Việt Nam nói chung và người Sài Gòn nói riêng, cuộc sống đã khấm khá hơn và đang dần vươn tới thịnh vượng. Ảnh: Hiện Tại.

Kiên nhẫn lái xe đưa khách tới quận Gò Vấp, anh Thông cố gắng mô tả mấy khu vực ồn ào một thời như Ngã ba Chú Ía (ngã ba Nguyễn Kiệm – Nguyễn Thái Sơn – Bạch Đằng), Ngã năm Chuồng chó (ngã sáu Gò Vấp), xóm An Nhơn (đường Nguyễn Oanh) hay ven mấy con kênh chính thời điểm trước năm1975 được coi là “lãnh địa” của tội phạm ma túy, cờ bạc, đĩ điếm.

“Hồi đó, các khu ổ chuột mọc lên, nhếch nhác bởi nông dân dồn từ các nơi về thành phố để tránh đạn bom. Cuộc sống tạm bợ, nghèo khổ khiến người ta tìm mọi cách để mưu sinh. Nhiều người có sức khỏe do không kiếm được việc làm nên phải đạp xích lô, làm khuân vác hay những nghề bán sức lao động giá rẻ để kiếm tiền, nhiều người đàn bà chọn nghề “son phấn” và không ít kẻ trở thành phường trộm cướp”, người lái xe hồi tưởng lại.

Thực tế này cũng từng được nhà báo Alain Wasme ghi lại khá kỹ lưỡng trong một cuốn sách có tựa đề: Những gì tôi thấy ở Việt Nam.

Kể lại những gì từng được chứng kiến, Wasme đã viết: “Trong những hoàn cảnh ấy, cấu trúc của gia đình bị phá vỡ, để phục vụ cho 550.000 binh sĩ Mỹ có mặt ở miền Nam trong thời kỳ cao điểm của sự can thiệp của họ một đội ngũ đông đảo các cô gái làm nghề “mát xa” đã xuất hiện… Đi làm điếm, một cô gái có thể kiếm được nhiều tiền: họ có thể kiếm được 300.000 đồng một tháng, tức gấp bốn lần lương một kỹ sư… Nửa triệu phụ nữ ở miền Nam đã phải đi kiếm tiền bằng cái nghề như thế”.

Người ta dễ dàng nhận ra những khu đô thị hiện đại, các khu nghỉ mát sang trọng. Ảnh: Hiện Tại.

Chưa hết, cũng theo nhà báo này, thời đó, hầu hết những thanh niên mới lớn đều bị bắt quân dịch. “Tất cả bị lùa ra chiến trường”, ông cho biết.

GS Đặng Phong, một sử gia kinh tế có uy tín cũng từng nhận xét về cuộc sống của người dân đô thị miền Nam trước 1975 trên báo Người Đô thị như thế này: “Về mức an toàn của cuộc sống thì trước đây rất kém, vì có chiến tranh. Nhà nào cũng có người đi lính, nếu muốn tránh đi lính thì phải trốn, phải chạy vạy, đút tiền. Cái chết đe dọa, rình rập tất cả các gia đình ở thành thị. Xe của cảnh binh có khi chặn ngay ở các cửa trường để bắt lính…”.

Tuy nhiên, đó là những câu chuyện đã thuộc về quá khứ của nhiều chục năm về trước.

Một Việt Nam mới

Ba mươi lăm năm sau sự kiện Ba mươi tháng Tư năm 1975, với đa số người dân Việt Nam nói chung và người Sài Gòn nói riêng, cuộc sống đã khấm khá hơn và đang dần vươn tới thịnh vượng. Người ta dễ dàng nhận ra những khu đô thị hiện đại, các khu nghỉ mát sang trọng, và các chuyến bay tới các nước trong khu vực luôn chật đầy người dân bình thường đi nghỉ ngơi, mua sắm…

“Vượt qua đổ nát của chiến tranh, những vùng đầm lầy hoang dã ở phía nam Sài Gòn đã nhanh chóng biến mất, được thay thế bằng các khu nhà ở hiện đại”.Những khu đô thị mới này là minh chứng rõ ràng nhất về sự đổi thay ở Sài Gòn.

Theo giới quan sát, kể từ thời đổi mới hồi năm 1986, Sài Gòn luôn là khối nam châm hút các nhà đầu tư nước ngoài đổ về.

Đơn cử, Cargill – một tập đoàn tư nhân hàng đầu thế giới của Mỹ chuyên về lĩnh vực nông nghiệp và thực phẩm đã có mặt tại đây hơn 10 năm trước, tính từ năm 1995.

Bằng sự hiện diện Nhà máy chế biến thức ăn gia súc tại KCN Biên Hòa II, Cargill đã đánh dấu sự trở lại của doanh nhân Mỹ tại khu vực trong thời kỳ chiến tranh được xem là “dạ dày” của quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam là Tổng kho Long Bình.

Vượt qua đổ nát của chiến tranh, những vùng đầm lầy hoang dã ở phía nam Sài Gòn đã nhanh chóng biến mất, được thay thế bằng các khu nhà ở hiện đại, khang trang dành cho tầng lớp trung lưu cùng đông đảo người nước ngoài đang kiếm tìm cơ hội làm giàu.

Trên một diện tích rộng lớn, những khu đô thị mới này là minh chứng rõ ràng nhất về sự đổi thay. Ngay cả với những người như Nick Út hay anh Vương Thới Thông, những người từng chứng kiến cuộc chiến tranh không khỏi ngỡ ngàng. Trước đây tôi thuộc Sài Gòn như nhìn vào lòng bàn tay. Nhưng giờ đây khi trở lại, tôi thường xuyên bị lạc đường”, Nick Út cho biết. Còn với anh tài xế Vương Thới Thông “thường không kịp nhớ hết tên đường tên phố mới”.

Những khu đô thị mới này là minh chứng rõ ràng nhất về sự đổi thay ở Sài Gòn.

Nói cho đúng thì những thay đổi này được bắt đầu từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, khi hàng loạt những công trình xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho mục tiêu phát triển hướng ra biển Đông được đầu tư như Khu chế xuất Tân Thuận, đô thị mới Phú Mỹ Hưng, đại lộ Nguyễn Văn Linh, khu công nghiệp Hiệp Phước…

Ngay cả Thủ Thiêm – một ốc đảo nghèo nàn, lạc hậu gần đây cũng đang hối hả với dự án hầm dìm Thủ Thiêm vượt sông Sài Gòn.

“Kể từ khi trở về lần đầu tiên vào năm 1980, tôi đã chứng kiến những thay đổi, hay nói cách khác là một sự lột xác của đất nước sau thời kỳ đổi mới. Trước kia tôi chỉ chụp ảnh chiến trường, còn bây giờ về nước tôi chụp được rất nhiều bức ảnh ghi lại những cảnh đời sống thường nhật của người lao động, những bức ảnh về những đứa trẻ đang vui chơi thật hạnh phúc, yên bình.” Nick Út hào hứng trò chuyện trong một lần trở lại Sài Gòn hồi đầu năm nay.

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Ngày này cách đây 37 năm, chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn

Trận chiến đấu cuối cùng vì độc lập, tự do (25/04/2011)

Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh Ảnh: T.L

Tốc độ phát triển của chiến sự làm Tổng hành dinh tại Hà Nội phải thay bản đồ mới, khi những ký hiệu xanh, đỏ thể hiện tình hình ta và địch tại các trọng điểm trở nên dày đặc, chi chít. Thời cơ giành toàn thắng đã đến gần.

Lúc này lực lượng địch đã bị căng ra rất mỏng, lực lượng dự bị còn rất ít. Trong nội đô chỉ còn dựa vào lực lượng cảnh sát và phòng vệ dân sự. Chính quyền Sài Gòn cũng có những động thái muốn hoãn binh, lập chính phủ mới đi đến giải pháp chính trị, cố tránh một cuộc tiến công lớn vào Sài Gòn nhằm cứu vãn chế độ, rồi tìm cơ hội phản công lại…

Tại Tổng hành dinh, đại tướng Võ Nguyên Giáp nghe báo cáo, đề đạt các phương án tác chiến giải phóng Sài Gòn. Các nhận định được thống nhất: Hướng Đông và Tây-Tây Bắc là nơi địch có lực lượng mạnh. Ở hướng Tây và Tây-Nam địch bố trí phòng thủ yếu hơn. Địch đang dồn lực lượng ra đối phó với ta vòng ngoài nên nội đô rất yếu. Nếu đánh thiệt hại nặng vòng ngoài thì bên trong có thể có tình hình đột biến. Thế mạnh chiến lược của ta là trong ngoài cùng đánh, quần chúng bên trong nổi dậy. Phương án định ra là: chọn hướng Tây Bắc là hướng tiến công chủ yếu. Hướng Đông là hướng quan trọng. Hướng Đông Nam là hướng thọc sâu. Cần thực hiện đánh bao vây chia cắt, đột kích thật mạnh từ bên ngoài với tác chiến, phá hoại, nổi dậy từ bên trong, không cho địch co cụm vào nội đô, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu chính trị, quân sự, kinh tế chủ yếu. Năm mục tiêu quan trọng được xác định là dinh Tổng thống ngụy quyền, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát và sân bay Tân Sơn Nhất.

Tổng hành dinh đã cử ngay cán bộ vào trao đổi trực tiếp với Bộ chỉ huy mặt trận. Thực hiện kế hoạch đã thống nhất, trên chiến trường, quân ta nhanh chóng cơ động lực lượng chủ lực, binh khí kỹ thuật tiếp cận chiến trường, tạo uy thế tuyệt đối về lực lượng so với địch. Đẩy mạnh đánh chia cắt bao vây quân địch. Các đơn vị quân khu 8, 9, các đơn vị đặc công, biệt động vùng tăng cường đánh địch áp sát thành phố Cần Thơ và ngăn chặn các con đường huyết mạch xuống đồng bằng sông Cửu Long… Phát huy sức mạnh tổng hợp của ba mũi giáp công giải phóng một số khu vực quan trọng, mở thông từ Đông Nam Bộ sang Tây Nam Bộ, đánh thông hành lang Tây Ninh – Kiến Tường, làm chủ một phần sông Vàm Cỏ Tây tạo thế thuận lợi cho lực lượng phía Nam tiến công vào Sài Gòn.

Thế trận tại chỗ đã bày xong. Các lực lượng quen thuộc chiến trường sẽ đảm nhiệm các hướng có địa hình phức tạp, dành những hướng gần nhất phía Bắc và phía Đông cho các lực lượng từ xa đến. Ở hướng Bắc, ta bố trí quân đoàn 1. Hướng Tây, quân đoàn 3. Hướng Nam, trung đoàn 88 và 24 được tăng cường trung đoàn 271B. Sư đoàn 5, sư đoàn 8 áp sát Mỹ Tho. Hướng Đông, quân đoàn 4 sau khi giải phóng Xuân Lộc áp sát Trảng Bom, quân đoàn 2, sư đoàn 3 và lữ đoàn 52 (Quân khu 5) tiến sát Long Thành, Vũng Tàu, Nước Trong. Sáu trung đoàn đặc công và hàng chục đội biệt động đã sẵn sàng từ vùng ven đến nội thành.

Tại Tổng hành dinh, trên tấm bản đồ Chiến dịch Hồ Chí Minh, các mũi tên lớn màu đỏ vây chặt hang ổ cuối cùng của địch.

Giờ G đã điểm, cả chiến trường như nổ tung. Các phương tiện thông tin trong và ngoài nước hoạt động sôi sục. Tin chiến thắng tràn ngập báo đài… Tối 27-4, hướng Tây Bắc sư đoàn 316 chặn địch ở Phú Mỹ và Đông Trảng Bàng. Hướng Tây Nam ta áp sát đường số 10, chặn địch trên đường số 4 chia cắt Sài Gòn với đồng bằng sông Cửu Long, mở đầu cầu vượt sông Vàm Cỏ Đông, chiếm lĩnh vùng ven. Hướng Đông ta tiến công căn cứ Nước Trong, chi khu quân sự Long Thành và thị xã Bà Rịa. 17 giờ ngày 28-4 phi đội Quyết Thắng đã tiến công sân bay Tân Sơn Nhất bằng máy bay thu được của địch.

Sau hai ngày tiến công ta đã cơ bản thực hiện được kế hoạch, bao vây cô lập Sài Gòn, chiếm được một số mục tiêu quan trọng như Trảng Bom, Long Thành, Đức Thạnh. Sân bay Tân Sơn Nhất bị tê liệt. Lực lượng vũ trang và nhân dân vùng ven đã phối hợp với bộ đội chủ lực tiến công và nổi dậy tiến công các căn cứ địch xung quanh thành phố. Hệ thống chỉ huy của quân ngụy đều rối loạn. Chính quyền thay đổi. Nhiều nhân vật lớn của Sài Gòn vội vã chạy ra nước ngoài. Các nhân viên quân sự, dân sự của Mỹ tháo chạy bằng máy bay lên thẳng… Đêm 28-4, Tổng hành dinh thức trắng đêm. Tổng bí thư Lê Duẩn điện khẩn vào chiến trường: … “tiếp tục tiến công vào Sài Gòn với khí thế hùng mạnh nhất…”.

Chiến trường vẫn tiếp diễn với các cuộc chiến đấu ngày càng ác liệt, khẩn trương hơn. Tối 29-4, hướng Tây Bắc, quân đoàn 3 đã tiến công tiêu diệt được căn cứ Đồng Dù, bắt sống tư lệnh sư đoàn Lý Tòng Bá. Nhân dân Củ chi nổi dậy chiếm quận lỵ. Hướng Bắc, quân đoàn 1 đã chiếm được thị trấn Tân Uyên, bao vậy Phú Lộc, tiến xuống Lái Thiêu. Hướng Tây Nam, đoàn 232 cũng đã chiếm thị xã Hậu Nghĩa, chi khu quân sự Đức Hòa, thị xã Tân An, thị trấn Bến Lức. Hướng Đông, cuộc tiến công của ta có khó khăn hơn khi địch chống cự dữ dội. Quân đoàn 4 bị kìm chân đang nỗ lực chọc thủng phòng tuyến cố thủ của địch.

Theo kế hoạch, 5 giờ 30 ngày 30-4 các hướng sẽ đồng loạt đánh vào Sài Gòn. Do tình hình phát triển thuận lợi, cánh quân phía Đông do tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy xin nổ súng trước, lúc 18 giờ 29-4, sớm hơn 12 tiếng đã được chuẩn y. Tổng bí thư Lê Duẩn đã nói với đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Đánh, đánh, đánh thôi anh ạ! Lúc này, cánh quân nào phát triển thắng lợi là tạo thắng lợi chung cho toàn chiến dịch”. Và như vậy, trên thực tế trận tiến công cuối cùng vào Sài Gòn – Gia Định là lúc 18 giờ ngày 29-4.

Ngày 30-4, trên tấm bản đồ chiến sự, các mũi tên đỏ đã phát triển rất nhanh về trung tâm thành phố. Lực lượng thọc sâu của quân đoàn 2 trên cánh quân phía Đông vượt qua sông Đồng Nai. Pháo binh của ta ở Nhơn Trạch pháo kích dữ dội sân bay Tân Sơn Nhất. Các đơn vị đầu tiên đã tiến từ cầu Tân Cảng vào Sài Gòn. Quân đoàn 4, sau một thời gian bị kìm chân đã dũng mãnh tiến công tiêu diệt được Trảng Bom, tràn lên đánh chiếm Hố Nai, tiêu diệt quân đoàn 3 ngụy, tiến thẳng vào nội đô. Sư đoàn 10, quân đoàn 3 tiến công mạnh vào ngã tư Bảy Hiền. Quân đoàn 1 đánh vào Lai Khê, Phú Lộc, Lái Thiêu thẳng vào Gò Vấp. Đoàn 232 cũng xốc tới Biệt khu thủ đô và Tổng nha Cảnh sát. Trung đoàn 1 và 2 Gia Định áp sát sân bay Tân Sơn Nhất mở tuyến vào ngã tư Bảy Hiền. Bộ đội đặc công chiếm giữ được cầu Rạch Chiếc, cầu xa lộ Biên Hòa không để địch kịp phá hoại ngăn bước tiến của quân ta. Ở vùng ven đô, nội đô, nhân dân nổi dậy phối hợp với bộ đội tiến công địch. Nhiều quận, phường, xóm đã được giải phóng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã điện gấp vào chiến trường: “Ủy ban quân quản công bố ngay trên đài phát thanh: …Quân giải phóng đang tiến vào giải phóng thành phố; Quân đội ngụy quyền Sài Gòn phải lập tức hạ vũ khí đầu hàng; Tuyên bố giải tán chính quyền các cấp…”

10 giờ ngày 30-4, xe tăng của ta đã tiến vào nội đô; Dương Văn Minh đề nghị ngừng bắn để thương lượng… 11 giờ 30 đơn vị thuộc cánh quân phía Đông đã cắm cờ trên dinh Độc Lập. Tổng thống chính quyền Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Kế hoạch tác chiến chiến dịch Hồ Chí Minh đã hoàn toàn thắng lợi.

Tại Tổng hành dinh các cán bộ nghẹn ngào xúc động. Cả đất nước như trào dâng niềm vui phấn khởi. Tiếng reo hò, hoan hô chiến thắng vang dậy khắp phố phường, làng quê, thôn xóm. Ước mơ nước nhà độc lập, thống nhất, dân ta sống trong hạnh phúc, hòa bình mà Bác hằng mong đã thành sự thật.

Thắng lợi vang dội của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã làm nức lòng quân và dân cả nước và bạn bè khắp năm châu. Niềm vui hòa trong nước mắt khi nghĩ đến biết bao đồng chí, đồng đội, đồng bào đã ngã xuống cho ngày hôm nay, bao cán bộ, chiến sĩ, nhân dân đã vĩnh viễn ra đi trước giờ toàn thắng.

M.Ngọc Hà (Tổng hợp)
Đại Đoàn Kết