Tag Archive | Độc lập

Lời tiên tri của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngay từ năm 1967, ta chủ trương “sớm đưa tên lửa phòng không vào phía Nam Quân khu 4 để nghiên cứu đánh B.52”. Trung đoàn 238 đang bảo vệ Hà Nội, được lệnh lên đường vào tuyến lửa Vĩnh Linh.

E.Tinpho, trong “Gió ngang: Những điều không thể thiếu về mặt văn hóa của chiến tranh đường không” (Tạp chí Quốc phòng toàn dân) nhận định: “Cuộc chiến tranh Việt Nam của Mỹ đã thất bại từ lâu. Nó thất bại vì đối phương đã đề ra chiến lược quân sự giỏi hơn, một chiến lược nhận thức chiến tranh ở phạm vi rộng lớn hơn, coi như một hiện tượng văn hóa kết hợp chặt chẽ các mặt xã hội, kinh tế, chính trị, ngoại giao cũng như quân sự… đã loại bỏ những lợi thế và làm tê liệt không lực – sức mạnh lớn nhất của Mỹ.

Bắc Việt huy động toàn bộ nguồn tài lực phòng không, tên lửa phòng không buộc các máy bay tiến công của Mỹ phải bay thấp để súng trường cùng các vũ khí tự tạo của dân quân phát huy được hiệu quả; máy bay MIG nhỏ bé ngăn trở Mỹ giành và khai thác quyền khống chế trên không. Không quân cùng với không quân hải quân Mỹ không giành được ưu thế trên không theo ý nghĩa cổ điển”.

Để có được những đòn tên lửa bất ngờ giáng vào sức mạnh không lực vốn là niềm tự hào của quân đội Mỹ năm 1972, từ năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn Thượng tướng Phùng Thế Tài: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B.52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Đưa “rồng lửa” vào tuyến lửa

Vĩnh Linh, Quảng Trị, 1967. Mảnh đất này vốn hẹp, với dòng Bến Hải chạy cắt ngang dẫn nguồn nước từ đại ngàn Trường Sơn đổ ra biển Đông tại cửa Tùng, ngắm ra xa là đảo Cồn Cỏ như một con tàu chiến neo cố định án ngữ tiền tiêu. Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải, ở giữa có một vạch trắng, cũng là vạch cắt đôi dải đất hình chữ S theo hiệp định Gieneva từ năm 1954.

Phía bờ Nam Bến Hải là địa danh Gio Linh, với những điểm cao Cồn Tiên – Dốc Miếu đặt trận địa pháo liên hoàn án ngữ con đường vào Nam. Phía bờ Bắc Bến Hải là Vĩnh Linh, mảnh đất thành đồng với hệ thống địa đạo liên hoàn chui sâu vào lòng đất, vươn lên núi và ngược ra phía biển. Quân và dân Vĩnh Linh phải đào địa đạo, đến nay dấu tích vẫn còn, để tìm kiếm sự sinh tồn trong lòng đất mẹ, khi mà hằng ngày mảnh đất này bị cày qua xới lại bởi bom và pháo bắn từ bờ Nam qua, hay từ ngoài biển dội vào.

Chạy dọc sông Bến Hải, từ giữa sông tính sâu vào cả 2 bờ là vùng đất rộng 5km mỗi bên, cấm mọi hoạt động quân sự trên diện tích này, vì theo hiệp địnhGieneva là khu DMZ (khu vực phi quân sự – Demilitarized Zone), nhưng máu chưa bao giờ ngừng đổ xuống ở đây suốt những năm chiến tranh phá hoại.

Ảnh Corbis

Đại tá Nguyễn Văn Hội, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 238, dẫu hơn 45 năm đã trôi qua, vẫn còn ghi nhớ: “Vào giữa năm 1966, Mỹ đã dùng B.52 ném bom quanh khu vực Quảng Bình. Bác Hồ chỉ thị cho Lãnh đạo, chỉ huy Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ): “B.52 đã đánh ra miền Bắc. Phải tìm cách đánh cho được. Trách nhiệm này Bác giao cho các chú PK-KQ”.

Hiểu ý Bác, ta thực hiện chủ trương “sớm đưa tên lửa phòng không vào phía Nam Quân khu 4 để nghiên cứu đánh B.52”. Trung đoàn 238 đang bảo vệ Hà Nội, được lệnh lên đường vào tuyến lửa Vĩnh Linh.

Tại thời điểm bấy giờ, tên lửa SAM 2 vốn là loại vũ khí nặng nề, cồng kềnh nhất. Để tránh tai mắt cú vọ của đối phương, cả khối xe cộ, binh khí, kỹ thuật khổng lồ lặng lẽ cơ động trong đêm. Đơn vị ông Hội hành quân qua dải đất hẹp Quân khu 4: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình vào Vĩnh Linh (Quảng Trị) trong sự hy sinh chở che, cưu mang của bộ đội và nhân dân miền Trung ruột thịt.

Trên địa bàn Quân khu 4, trong thời điểm đó, có 12 “cửa tử”: Hoàng Mai (Quỳnh Lưu, Nghệ An) – cầu Cấm (Nghệ An) – Nam Đàn (Nghệ An) — Truông Bồn (Nghệ An) – Quán Hàu (Nghệ An) – Bến Thủy (Nghệ An) – Chu Lễ (Hà Tĩnh) – Đồng Lộc (Hà Tĩnh) – Thác Cóc (Quảng Bình) – Long Đại (Quảng Bình)… Nếu chẹt (chặn đứng) được 12 “cửa tử” này thì tuyến đường chi viện cho miền Nam sẽ hoàn toàn bị cắt đứt. Hiểu rõ tuyến đường huyết mạch này, nên máy bay Mỹ tập trung đánh phá. Có những nơi vào lúc cao điểm, bom Mỹ đánh xuống 24/24 giờ mỗi ngày.

Không thể đo đếm được sự hy sinh thầm lặng của hàng chục ngàn thanh niên xung phong, bộ đội công binh đã ngày đêm lo ngụy trang, đào công sự, làm cọc tiêu sống, chống lầy, hộ tống “Rồng lửa” qua sông, qua những chặng đường bom Mỹ đánh phá ác liệt. Dọc đường hành quân, đã có hàng trăm người ngã xuống hoặc mất một phần xương máu mới đưa Trung đoàn 238 và 9 Tiểu đoàn cao xạ đến đích.

Vào tới đất lửa Vĩnh Linh, khi triển khai trận địa, khó khăn gian nan vẫn chồng chất. Trong cái nắng nóng thiêu da đốt thịt của dải đất hẹp miền Trung mùa hè, lá ngụy trang vừa thay đã héo quắt. Để giữ được bí mật tuyệt đối, bộ đội và nhân dân Vĩnh Linh phải vào rừng cách xa hàng chục cây số chặt cây đem về ngụy trang trận địa cao xạ, tên lửa.

Tiếp đó là những ngày đọ trí, đọ sức và chiến đấu quyết liệt. Vĩnh Linh là dải đất hẹp, đối phương lại thường xuyên thay đổi trang bị vũ khí gây cho trung đoàn 238 nhiều khó khăn. Có trận, đối phương dùng một máy bay từ xa lượn vòng chiếu laze vào mục tiêu, để nhiều chiếc tiêm kích khác tiếp cận phóng tên lửa tấn công. Ta chưa phát hiện máy bay địch, tên lửa đã nổ giữa mục tiêu khiến đơn vị thương vong rất lớn.

Cả 4 tiểu đoàn hỏa lực là 81, 82, 83… đều bị thiệt hại. Tiểu đoàn 5 lắp ráp tên lửa cũng bị oanh kích. Chính ông Hội cũng bị thương trong trận này. Tuy vậy, với quyết tâm tiêu diệt bằng được B.52, Trung đoàn 238 quyết định dồn sức cho Tiểu đoàn 84. Vũ khí, khí tài được gom về, lắp ráp thành một bộ hoàn chỉnh.

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên cùng sĩ quan điều khiển Lê Hỷ thuộc Tiểu đoàn 82 và một số đồng chí khác của Tiểu đoàn 81, 83 cũng được điều về bổ sung cho Tiểu đoàn 84. Khi khí tài và quân số đã ổn định, Tiểu đoàn 84 (ghép) được lệnh cơ động về trận địa T5 (Nông trường Quyết Thắng, Vĩnh Linh) chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

“Sách đỏ” viết ở tuyến lửa

Khi trận địa hoàn thành, đích thân Đại tá Đặng Tính (Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng PK-KQ) vào tận Vĩnh Linh thị sát chiến trường của Trung đoàn 238. Đại tá Hội xúc động: “Cho đến bây giờ tôi vẫn không quên được lời của Đại tá Đặng Tính khi ông vào thăm trận địa:

“Đưa được cả trung đoàn cùng khối binh khí, kỹ thuật khổng lồ này vào tới chiến trường “lửa” an toàn là một huyền thoại. Triển khai chiến đấu, đem được cả khối binh khí, khí tài xuống lòng đất mà kẻ thù không hay biết là hai huyền thoại. Giấu được quân, giấu được binh khí, khí tài, xe cộ là ba huyền thoại. Chỉ còn một huyền thoại nữa là chờ các đồng chí bắn rơi B.52 trên đất lửa”.

Ảnh Corbis

Ngày 15/9/1967, vì trời mưa quá lớn, trận địa bị ngập nước nên đã thấy B.52 mà không thể đánh được. Hôm sau, B.52 lại xuất hiện nhưng ra-đa không bắt được mục tiêu. Đến cuối buổi chiều ngày 17/9/1967, khi đối phương ngỡ rằng bom, pháo đã đè bẹp được lực lượng của ta thì bất ngờ “rồng lửa” xuất hiện.

Kíp chiến đấu gồm có sĩ quan điều khiển Lê Hỷ và ba trắc thủ là Ngoạn, Thính, Ngận, dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên đã tách được nhiễu, nhận dạng mục tiêu và phóng hai quả đạn tên lửa. Chiếc máy bay B.52 đầu tiên bị hạ gục. 30 phút sau, chỉ còn một quả đạn, đơn vị quyết đánh và bắn rơi thêm một B.52 nữa.

Vậy là từ khi có mặt ở tuyến lửa, phải mất 5 tháng sau trung đoàn 238 mới bắn rơi được chiếc B.52 đầu tiên. Cũng do đã tìm được cách đánh B.52 nên sau đó Trung đoàn 238 tiếp tục bắn rơi thêm 4 chiếc nữa, nâng tổng số 6 chiếc pháo đài bay bị hạ gục tại đất Vĩnh Linh.

Đại tá Hội cười tươi: “Hạ gục được B.52, chúng tôi đã thực hiện được ý nguyện của Bác Hồ: “Muốn bắt cọp, phải vào hang cọp”. Nhưng, hiệu quả và ý nghĩa hơn chính là từ kinh nghiệm bắn B.52 ở tuyến lửa Vĩnh Linh năm 1967 mà bộ đội tên lửa sau này đã xây dựng và hoàn thiện được cẩm nang chiến đấu vô cùng giá trị. Đó là “Phương án đánh máy bay B52” hay còn gọi là “Sách đỏ”.

Trong tháng 10/1972, cuốn Cẩm nang này được chuyển đến tất cả các tiểu đoàn tên lửa để nghiên cứu luyện tập phương án đánh B52 nếu chúng tấn công quy mô lớn vào Hà Nội.

Cho đến khi đó, hệ thống ra-đa của SAM 2 đã được cải tiến 4 lần với 40 nội dung kỹ thuật để có thể đối đầu hiệu quả với cuộc chiến tranh điện tử của không lực Hoa Kỳ. Các “miếng” đánh kỹ thuật chống tên lửa shrike từ các máy bay tiêm kích hộ tống B.52 phóng vào các trạm ra-đa cũng được hoàn thiện và luyện tập thành thục.

Sách đỏ cũng hướng dẫn cho các cấp chỉ huy tiểu đoàn tên lửa về công tác chỉ huy, cách chọn dải nhiễu, chọn thời cơ phát sóng, cự ly phóng đạn, phương pháp bắn, phương pháp bám sát mục tiêu trong nhiễu…

Những kinh nghiệm ấy đã góp phần quan trọng để “rồng lửa Thăng Long” tả xung, hữu đột cùng quân dân Miền Bắc hạ gục 34 chiếc B.52, làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” chấn động địa cầu tháng 12/1972.

Ngày nay, trận địa T5 (Nông trường Quyết Thắng), nơi trung đoàn 238 bắn rơi chiếc B.52 đầu tiên ở Việt Nam là một trong những địa chỉ di tích lịch sử-văn hóa của tỉnh Quảng Trị.

Nội dung Sách đỏ:

* Tuy không quân địch gây nhiễu dày đặc nhưng trong mớ hỗn loạn các loại tín hiệu nhiễu trên màn hiện sóng, B-52 không phải là hoàn toàn vô hình nếu tinh mắt vẫn có thể phát hiện được mục tiêu B-52 một cách gián tiếp đó là các đám nhiễu tín hiệu mịn trôi dần theo tốc độ di chuyển của B-52. Tuy các đám nhiễu này kích thước to không hiển thị rõ rệt để có thể xác định mục tiêu chính xác và điều khiển tên lửa chính xác nhưng cẩm nang đã đề ra biện pháp bắn theo xác suất: bắn một loạt các quả đạn tên lửa vào đám nhiễu theo cự ly giãn cách nhất định sẽ có xác suất tiêu diệt mục tiêu khá cao, phương án bắn xác suất này được “cẩm nang” gọi là “phương án P”.

* Đồng thời “cẩm nang” cũng chỉ ra khi mục tiêu B-52 đi thẳng vào đài phát cường độ nhiễu sẽ tăng lên nhưng tín hiệu mục tiêu sẽ tăng mạnh hơn, mục tiêu sẽ hiển thị khá rõ nét, đây là thời cơ có thể bắn điều khiển tên lửa chính xác theo “phương án T” khi đó chỉ cần 1 đến 2 quả tên lửa B-52 sẽ phải rơi tại chỗ.

* Trong “cẩm nang” đồng thời cũng đề ra các hướng dẫn cụ thể cho các cấp chỉ huy các tiểu đoàn tên lửa về công tác chỉ huy, cách chọn giải nhiễu, chọn thời cơ phát sóng, cự ly phóng đạn, phương pháp bắn, phương pháp bám sát mục tiêu trong nhiễu…

  • Trường Minh

Còn tiếp
vietnamnet.vn

Thiên tai là đồng minh giặc đói, giặc dốt

Trong số những mối lo toan thường trực của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho dân cho nước, bão lụt – hạn hán – hỏa hoạn… chiếm một vị trí quan trọng.

 Bà Mađơlen Rípphô, nữ nhà báo Pháp, có lần dẫn lời một đồng chí được sống gần gũi với Bác: Hồ Chí Minh rất ít ngủ. Người bận lo toan tới những chiến sỹ, những thanh niên xung phong đang xông pha ngày đêm dưới bom đạn quân thù. Và tất nhiên có nhiều đêm Người mất ngủ vì bận lo lắng, suy nghĩ tới những nạn hạn hán, mùa lũ đang đe dọa nhấn chìm đồng ruộng, người dân, cả nơi thôn quê đến chốn thị thành.

Thien tai 1
Bác Hồ thăm nông dân huyện Đại Từ (Thái Nguyên) đang gặt lúa đông xuân, năm 1953.

Nghe tin lũ lớn ở Kiến An, năm 1955, gây thiệt hại lớn về người và của, Bác Hồ cho gọi đồng chí phụ trách lên nắm tình hình. Nghe báo cáo những con số thiệt hại, nước mắt Bác rơm rớm. Bác liền chỉ thị cho Thành ủy Hải Phòng phải sớm có phương án tỉ mỉ khắc phục hậu quả, mà trước hết là không để cho một người dân nào bị đói… Cứ đến mùa nước lũ, kỳ hạn hán, Bác thường trực tiếp xuống địa phương tham gia chống hạn, chống lũ cùng dân. Có lần, Bác đến công trường Đại Thủy nông Bắc Hưng Hải tham gia lao động như một người dân thực thụ. Trên đường, thấy một chị đẩy xe cút kít nặng nề lên dốc, Bác vội chạy đến đẩy giúp chị… Người hòa vào khí thế lao động khẩn trương của công trường, làm tăng thêm niềm vui, sức mạnh cho cả một biển người đang lao động quên mình ở một công trình thủy lợi lớn trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ.

Giai đoạn trước năm 1945, Việt Nam nói chung và miền Trung nói riêng sống dưới chế độ thống trị của thực dân Pháp và chính quyền phong kiến bù nhìn. Trước những thiên tai dồn dập do bão lụt, hạn hán gây ra, tuy đã có tìm một số giải pháp phòng ngừa và cứu hộ, họ đã không toàn tâm toàn ý, thậm chí ở nhiều nơi và nhiều lúc, chính quyền đã bỏ mặc dân chúng. Các soạn giả cuốn sách Lũ lụt ở các tỉnh miền Trung trong hai thế kỷ XIX – XX (2002) có cho bạn đọc biết thêm: “Ngay cả việc cứu hộ cũng triển khai chậm và không toàn diện, chỉ tập trung vào mục tiêu duy nhất là chống đói kịp thời, nên dân chúng thường phải chịu cảnh điêu đứng kéo dài trước nạn thiên tai”. Cách mạng Tháng Tám (1945) gắn với tên tuổi Hồ Chí Minh, đã mở ra một chương khác!

Tính sơ bộ từ năm 1947 tới năm 1959, có tới 13 bức thư, bài viết của Bác Hồ khen ngợi, động viên, chia sẻ hoặc nhắc nhở, chỉ bảo cán bộ, đồng bào, chiến sỹ trực tiếp hoặc gíán tiếp liên quan tới việc chống thiên tai bão lụt… Trên thế giới, có lẽ hiếm hoi những lãnh tụ quan tâm một cách thường xuyên, cụ thể, khoa học, và đau đáu đối với vấn đề an dân trước thiên tai, như Bác Hồ của chúng ta?!

Riêng với Nghệ An là một tỉnh lớn của miền Bắc, có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa và quốc phòng; là tỉnh đất rộng, người đông, tài nguyên khá phong phú, nhân dân có truyền thống anh dũng, cần cù. Mặc dầu vậy, Nghệ An là tỉnh thường xuyên phải đối phó, chống đỡ và khắc phục hậu quả nhiều trận bão lụt, hạn hán hiếm có trong lịch sử; rồi cháy nhà, cháy rừng, lũ ống, lũ quét, mưa đá… Trước rất nhiều khó khăn, thách thức ấy, Bác vẫn yêu cầu: “Đồng bào và cán bộ phải có quyết tâm phấn đấu xây dựng tỉnh ta thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc”.

Năm 1961, được tin vụ cháy ở thị xã Vinh gây thiệt hại tới tài sản của đồng bào, Bác Hồ gửi thư tỏ ý rất phiền lòng, đồng thời khen ngợi đồng bào, bộ đội, công an, cán bộ thị xã đã hết sức tham gia chữa cháy, giúp đỡ bà con bị nạn. Cũng năm này, lần về thăm quê thứ hai, sáng ngày 09/12/1961, nói chuyện với cán bộ và đồng bào tỉnh nhà, Bác khen: “Đã đấu tranh vượt qua những khó khăn do hạn và lụt năm ngoái để lại, và đẩy mạnh sản xuất tiến lên”. Nhưng, Bác cũng nghiêm khắc với Nghệ An khi phải nói câu “Thủy lợi ở Nghệ An còn kém lắm”, và kém là do hợp tác xã kém! Về việc trồng cây gây rừng của tỉnh nhà, trực tiếp liên quan tới môi trường, Bác cũng nêu nhiều nhận xét, đề nghị thẳng thắn, đến nay còn có giá trị về phương pháp luận!

Bác Hồ quan niệm, thời kháng chiến bọn Pháp và Nhật xâm chiếm nước ta nên chúng ta coi chúng là giặc và phải đánh đổ chúng đi; nay miền Bắc tạm hòa bình, phải tập trung chống thiên tai, chống nghèo đói, chống lạc hậu. Mà muốn chống thiên tai thì phải làm tốt công tác thủy lợi để chống hạn chống úng kịp thời. Lũ lụt là “giặc”, chúng đồng minh với giặc đói, giặc dốt, bởi thế Người phát động phong trào đắp đê giữ đê cũng như một chiến dịch và tổ chức thi đua, những chiến sỹ hoặc những nhóm có thành tích đặc biệt, đều được Bác và Chính phủ khen thưởng, nêu gương kịp thời…

Bước sang thế kỷ XXI, môi trường toàn cầu càng trở nên xấu đi, thiên tai càng hung hãn khôn lường. Tìm hiểu và ôn lại những câu chuyện, những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm chống lại, làm hạn chế thiên tai mục đích bảo vệ tính mạng và của cải người dân, là việc làm luôn có tính thời sự, cần đi sâu hơn nữa. Cũng qua đó, ta thấm thía thêm giá trị nhân văn vì con người trong đạo lý sống, đạo lý làm người của một Danh nhân!

Kim Hùng
Theo http://baonghean.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước hiện nay đang đặt ra những yêu cầu mới cho nguồn lực con người. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng khẳng định: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và coi đây là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước”(1). Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người xã hội chủ nghĩa vào chiến lược nâng cao nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa là một nhiệm vụ quan trọng để thực hiện chiến lược đổi mới toàn diện đất nước tạo tiền đề đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa.

1. Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đường lối lãnh đạo, Đảng Cộng sản việt Nam xác định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”(2). Quan điểm này đã thể hiện nhận thức khoa học của Đảng ta về bản chất con người trong mối quan hệ biện chứng của sự phát triển. Đồng thời, khẳng định sự nhận thức rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất con người và con người xã hội chủ nghĩa sẽ là cơ sở lý luận về Đảng và Nhà nước ta coi trọng vai trò con người để từ đó hoạch định đúng Chiến lược con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

Con người là vốn quý của xã hội nên con người giữ vai trò vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của tiến trình cải biến tự nhiên và xã hội. Điều đó khẳng định, con người chính là mục tiêu phát triển cao nhất của mọi quá trình phát triển tự nhiên, xã hội, đồng thời cũng là động lực của quá trình phát triển đó.

Với ý nghĩa nêu trên, con người đã trở thành nhân tố then chốt và là nhân tố quyết định của sự phát triển lịch sử. Bởi vì, chỉ có con người mới có trí tuệ và năng lực sáng tạo theo chiều hướng tiến bộ. Nói một cách khác, nhân tố con người là một tiềm năng vô tận của sự phát triển. Điều đó đồng nghĩa với việc nhân tố con người là cơ sở để hình thành nên nguồn lực con người, nhất là nguồn lực con người có chất lượng cao.

“Nguồn lực con người (hay còn gọi là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên người) là nhân tố con người được xem xét, dự tính như một tiềm năng, một điều kiện cần và có thể phát huy thành động lực cho một quá trình phát triển xã hội, một chiến lược phát triển xã hội trong những thời gian, không gian xác định”(3). Nguồn lực con người được xem xét ở các tiêu chí: Số lượng và chất lượng con người (bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất); là tổng thể chất dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên và xã hội; là sự kết hợp sức lực và thể lực tạo nên năng lực sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng phát triển mới của con người; là kinh nghiệm sống, đặc biệt là kinh nghiệm được tích lũy qua sự nếm trải trực tiếp của con người tạo thành thói quen, kỹ năng tổng hợp của mỗi người, của cộng đồng. Điều kiện để nguồn lực con người đạt tới các tiêu chí đó khi: “người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại”(4).

2. Ngay từ những ngày hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã có nhận thức sâu sắc về con người và nhân tố con người. Ở Hồ Chí Minh, khái niệm con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng và cao cả của sự nghiệp cách mạng mà cả cuộc đời Người hằng theo đuổi. Tư tưởng về con người, về việc giải phóng và phát triển con người, coi con người là nhân tố quyết định thành công của cách mạng luôn quán xuyến trong tư duy, đường lối và phương pháp lãnh đạo cách mạng của Hồ chí Minh. Người đã bộc bạch ham muốn tột độ của Người là: Đất nước được hoàn toàn độc lập, tự do. Đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Vì sự ham muốn tột độ đó mà Hồ Chí Minh đã phải trải qua 30 năm bôn ba ở nước ngoài, phải sống xa gia đình, quê hương, đất nước, chịu đựng bao khó khăn, gian khổ, phải vượt qua vô vàn những gian truân, thử thách để tìm ra chân lý cách mạng, con đường cách mạng giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và hạnh phúc cho nhân dân.

Với tư duy biện chứng sâu sắc về phát triển cùng với tầm nhìn “vượt gộp”, trong tư tưởng, Hồ Chí Minh quan niệm: Đất nước được độc lập, tự do phải gắn liền với ấm no và hạnh phúc cho con người ở những hưởng thụ cụ thể: ăn, mặc, ở, học tập, việc làm… những điều kiện đó chỉ ở chế độ xã hội chủ nghĩa mới có. Người nói: “Chủ nghĩa xã hội là mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”(5), là “Được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ”(6). Mục đích của “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh”(7), là “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”(8).

Xác định được mục tiêu và bản chất của chủ nghĩa xã hội, trên cương vị lãnh đạo của mình, Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, giải phóng con người và chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển tất yếu của đất nước. Do đó, Người yêu cầu: “Muốn xã hội chủ nghĩa, phải có người xã hội chủ nghĩa. Muốn có người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa”(9). Những con người xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là những con người mới, những con người từ thân phận nô lệ vì mất nước vươn lên làm chủ xã hội, làm chủ sự phát triển của đất nước độc lập, tự do. Họ có vị trí và vai trò quan trọng trong quá trình phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để khẳng định được vị trí và vai trò then chốt này thì con người xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh phải là con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng được những yêu cầu và đòi hỏi của chủ nghĩa xã hội với đặc trưng cơ bản là phải vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

“Hồng” và “chuyên” là quan điểm nổi bật và có tính bao quát trong tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất con người mới xã hội chủ nghĩa. Hồng là phẩm chất, là đạo đức của người cách mạng: yêu nước, trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; chống chủ nghĩa cá nhân và có tinh thần quốc tế trong sáng. Chuyênlà sự thể hiện trí tuệ, là tài năng, là năng lực của cá nhân con người gắn liền với sự khổ công học tập, rèn luyện để có tri thức, nâng cao tri thức và dùng chính những tri thức mình có được để phục vụ lợi ích cho sự phát triển của cộng đồng, của chủ nghĩa xã hội. Hồng và chuyên, hay cách gọi khác là đức và tài trong mỗi con người đều rất cần thiết. Đây là hai mặt cơ bản của con người mới nói riêng và được xem như nội hàm của khái niệm con người mới xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người nói: Đức là gốc nhưng tài là quan trọng và luôn dặn mọi người không được xem nhẹ mặt nào: có đức mà không có tài thì không khác ông Bụt trong chùa, không làm hại ai nhưng cũng không làm được gì có ích cho mọi người. Có tài mà không có đức thì sẽ trở thành kẻ phá hoại.

Lời nói của Người có ý nghĩa như một thông điệp để mong muốn mỗi con người hãy lấy cái thiện làm phương châm sống và rèn luyện cho chính mình để phấn đấu trở thành con người có ích cho cộng đồng, cho chủ nghĩa xã hội và cho nhân loại.

Như vậy, theo Hồ Chí Minh, hồng và chuyên của con người Việt Nam trong sự phát triển được hiểu là quá trình con người tự hoàn thiện bản thân theo yêu cầu của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và rèn luyện mình thành con người chủ nghĩa xã hội. Điều đó đòi hỏi trước hết sự phấn đấu vươn lên không ngừng của mỗi cá nhân con người theo hướng tự giác đấu tranh với những mặt lạc hậu, mặt xấu vốn tồn tại như bản năng tự nhiên của con người, đồng thời phải không ngừng học tập, tu dưỡng đạo đức cách mạng, lấy đạo đức cách mạng làm gốc “cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(10). Đồng thời, giữ gìn và phát huy những phẩm chất  đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa đạo đức của nhân loại. Sau đó, quan trọng  hơn là tham gia tích cực của con người vào sự cải tạo xã hội theo hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội mà cụ thể ở nước ta là thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc kết hợp với cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Sự kết hợp này, đòi hỏi con người Việt Nam phải có nhận thức mới về tư tưởng trong ý thức hệ. Từ ý thức cộng đồng, từ tinh thần yêu nước trong phạm vi dân tộc mang tính truyền thống phải được bổ sung và kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa vô sản. Để từ đó, động lực lớn nhất của đất nước là chủ nghĩa dân tộc đã mang nội hàm mới, kết hợp giữa truyền thống với hiện đại, dân tộc với quốc tế và từ đó con người xã hội chủ nghĩa vốn được hình thành trong cách mạng dân tộc dân chủ, cần phải vuơn lên tự rèn luyện phẩm chất đạo đức, có ý thức phấn đấu suốt đời vì mục tiêu cao cả của lý tưởng chủ nghĩa xã hội.

Song hành cùng với nhận thức về tư tưởng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng và rèn luyện ý thức phục vụ con người, phụng sự Tổ quốc và coi đây là một trong những nhân tố then chốt trong bản chất con người xã hội chủ nghĩa. Để làm được điều đó, Người đòi hỏi mỗi cá nhân con người xã hội chủ nghĩa phải là người gương mẫu, có tinh thần vì nước, vì dân, có tình yêu thương con người và phải biết hi sinh cái tôi của cá nhân mình để cống hiến và coi việc phục vụ nhân dân là niềm hạnh phúc, là nghĩa vụ thiêng liêng của đời người.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Ở một khía cạnh khác, nói đến con người xã hội chủ nghĩa là nói đến những người có tinh thần sáng tạo, làm chủ được khoa học công nghệ, ham học hỏi, biết vươn lên trong cuộc sống, trong công việc, luôn bổ sung kiến thức, trí tuệ và năng lực bằng con đường học tập đáp ứng nhu cầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học, chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận(11)”. Do đó, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, đề cao và nêu bật vai trò của giáo dục đào tạo trong tiến trình xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa và coi đó là một chiến lược lâu dài. “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”,Người luôn đặt niềm tin vào khả năng của giáo dục với mong muốn: có gì vẻ vang hơn là nghề giáo dục, đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản. Người gửi gắm ở thế hệ trẻ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không , dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(12).

3. Với bất cứ một quốc gia nào thì vấn đề con người và nguồn lực con người luôn giữ vị trí quan trọng. Đây là nhân tố có tính chất quyết định đến sự thành công hay thất bại trong sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Trong đường lối lãnh đạo, Đảng xác định: “Chúng ta cần hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh quốc gia… Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là nguồn động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”(13).

Ở giai đoạn văn minh hiện nay, loài người đã đạt tới một trình độ nhận thức mới về tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và phát triển con người. Trong đó, phát triển con người được xem là thước đo sự phát triển của mỗi quốc gia. Do đó, “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển  ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”(14).

Trong tiến trình hội nhập theo xu thế phát triển chung toàn cầu, công cuộc đổi mới gắn liền với đường lối đẩy mạnh nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đất nước Việt Nam muốn phát triển nhanh, mạnh và bền vững thì đòi hỏi nguồn lực con người phải bảo đảm được cả yêu cầu về chất lượng cũng như số lượng. Trên cơ sở nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của Người về bản chất con người xã hội chủ nghĩa nói riêng, ngoài công tác đẩy mạnh việc giáo dục đạo đức cho nhân tố con người Việt Nam, coi trọng, bồi dưỡng và tôn vinh nhân tài vì “hiền tài là nguyên khí quốc gia” thì cần coi trọng việc nâng cao chất lượng nguồn lực con ngươi gắn liền với Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo. Bởi vì, chỉ có phát triển giáo dục, đào tạo mới nâng cao chất lượng dân trí, đào tạo được nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, trang bị chuyên môn, nghiệp vụ, văn hóa, đạo đức, ý thức kỷ luật lao động cho con người…

Bản chất, hay nói cách khác chất lượng của nguồn lực con người, là sức mạnh trí tuệ và tay nghề. Muốn nâng cao chất lượng nguồn lực con người, đặc biệt là nhân lực có chất lượng cao thì phải coi trọng công tác giáo dục, đào tạo và khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu như sinh thời Hồ Chí Minh vẫn thường nhấn mạnh. Do đó, để đáp ứng được yêu cầu về nguồn lực con người với các tiêu chí đặt ra thì phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ thuật thực hành. Đẩy mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và tạo điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời. Đồng thời, đẩy mạnh công tác xã hội hóa, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục, mở rộng các hình thức đào tạo và thực hiện tốt yêu cầu bình đẳng về cơ hội học tập và các chính sách xã hội trong giáo dục; Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo nhằm phát huy tính tích cực và chủ động của con người v.v… Các trường chuyên nghiệp và đại học tập trung đào tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến như trong Cương lĩnh phát triển kinh tế – xã hội đã được Đảng ta xác định phát triển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững. Do đó, giáo dục và đào tạo phải bảo đảm tập trung đào tạo đội ngũ nhân lực cho công nghiệp hóa – hiện đại hóa đáp ứng được cả 2 tiêu chí đại trà và chuyên sâu, cả số lượng và chất lượng.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quá trình tất yếu mang tính quy luật phổ biến để xây dựng đất nước giàu mạnh. Quá trình này đòi hỏi bước chuyển về chất của xã hội nhất là ở nước ta chuyển từ nền văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp đòi hỏi phải có sự nỗ lực về trí tuệ, kỹ năng, bản lĩnh của cả dân tộc. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người xã hội chủ nghĩa vào chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện đảm bảo để đất nước Việt Nam phát triển bền vững, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chú thích:
bqllang.gov.vn

———————————-

  1. 1.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXBCTQG, Hà Nội – 2011, Tr.41
  2. 2.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, SĐD , Tr.76-77
  3. 3.Học viện CT-HC Quốc gia Việt Nam, Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, NXBCT-HC, Hà Nội-2010. Tr.235,236
  4. 4.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương hóa VIII, NXBCTQG, Hà Nội -1997, Tr.9
  5. 5.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T10, Tr.97
  6. 6.
  7. 7.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T8, Tr.226
  8. 8.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T10, Tr.271
  9. 9.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T9, Tr.296
  10. 10.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T9, Tr.253
  11. 11.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T9, Tr.131
  12. 12.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T4, Tr.33
  13. 13.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện HN tái bản lần thứ tư BCHTW khóa VII, NXBCTQG, HN – 1993, Tr.5
  14. 14.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, SĐD , Tr.130

Th.s Cao Hải Yến
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Kim Yến (st)

Dân với Chính phủ, Chính phủ với dân

Bác Hồ và Chính phủ cách mạng đầu tiên của Việt Nam ra mắt quốc dân

Cách đây 63 năm, ngày 15 tháng 10 năm 1949, Báo Sự Thật đã đăng bài viết “Dân vận” của X.Y.Z (bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Bài báo rất ngắn gọn, nhưng vô cùng sâu sắc, súc tích và đầy đủ. Cho đến nay, bài báo này vẫn được coi là “cẩm nang” của công tác dân vận. Đặc biệt, ngay từ đó, Bác Hồ đã nhấn mạnh “Nước ta là nước dân chủ”:

“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Không phải đến năm 1949, mà ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trong nhiều bài viết Bác đã khẳng định địa vị làm chủ của người dân và bổn phận phục vụ của các cấp chính quyền từ Trung ương. Bác Hồ đã khẳng định rõ ràng “Chính phủ là công bộc của dân” khi Người lấy chính câu này làm tít bài báo đăng trên Báo Cứu quốc, số ra ngày 19-9-1945. Trong bài báo đó Bác Hồ đã nói: “Người xưa nói: Quan là công bộc của dân, ta cũng có thể nói: Chính phủ là công bộc của dân”; cho nên “Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết. Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”. Trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” đăng trên Báo Cứu quốc ngày 17-10-1945, Bác Hồ tiếp tục khẳng định: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”. Trong một lần nói chuyện tại Trường Công an trung cấp khóa 2, Bác nói: “Từ Chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân, thì dân không cần nữa”. Thậm chí, trong một lần nói chuyện với đại biểu nhân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hóa, Bác Hồ còn quả quyết rằng “Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. Nhưng khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi”.

Như vậy, qua những lời căn dặn của Bác, cho đến nay, quan điểm chủ đạo Chính phủ là “do dân cử ra”, để phục vụ dân, đại diện cho dân quản lý nhà nước, thực thi pháp luật, không được làm gì có hại cho dân vẫn còn nguyên giá trị. Thế nhưng, trong thực tế hiện nay, đây đó trong cả nhận thức cũng như việc làm lại có những hiện tượng ngược lại với quan điểm nói trên. Chẳng hạn, cơ chế xin – cho là biểu hiện của sự ban phát: Có người xin và có người cho. Người xin ở đây là người dân, những cơ quan, tổ chức đại diện cho người dân ở cấp dưới. Người cho ở đây là các cấp chính quyền, các cơ quan nhà nước và cao hơn là Chính phủ. Thường thì mọi quan hệ cho – nhận là mối quan hệ không dựa trên nghĩa vụ và quyền lợi mà dựa trên sự hảo tâm đầy cảm tính và tùy tiện. Về bản chất chế độ ta, Chính phủ do dân cử ra, hay nói một cách thị trường thì là những người làm thuê cho dân. Tiền lương, mọi chi phí cho bộ máy, phương tiện làm việc, đi lại của bộ máy hành chính lấy từ nguồn thuế của người dân và những tài sản quốc gia từ khai thác tài nguyên thiên nhiên. Chính phủ khi tạo ra của cải vật chất thông qua điều hành, quản lý sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ thì của cải đó thuộc về ông chủ, tức người dân. Ấy thế mà khi những người đày tớ làm thất thoát hàng chục, hàng trăm nghìn tỷ đồng thì “người đày tớ” vẫn không bị “đuổi việc” không bị bồi thường nghĩa là sao?

Người dân, từ chỗ là ông chủ lại trở thành người phụ thuộc và phải đi xin Chính phủ. Chính vì vậy, người dân trở thành người lệ thuộc và mỗi lần đến cơ quan công quyền thường lo sợ vì cứ nghĩ là mình phải đi xin và là người chịu ơn các cơ quan công quyền, cũng như những cá nhân thực thi công vụ ở đó. Nếu may mắn, người dân gặp được những người thi hành công vụ biết điều, tốt bụng thì được nhờ. Không may gặp phải những người gây khó khăn, nhũng nhiễu, cản trở thì người dân cũng chỉ cam chịu, không biết kêu ai bởi “quan thì xa, bản nha thì gần”. Thực trạng khá phổ biến như trên trong xã hội hiện nay nói lên một thực tế ngược đời rằng: Những người “làm thuê” cho dân lại đang đứng ở vị trí của “ông chủ”. Nhiều người làm thuê này lại ý thức, tự hào về địa vị “ông chủ” của mình, tự thấy mình đứng ở phía trên người dân để ban phát, dạy bảo.

Do vậy, vấn đề đặt ra hiện nay không phải chỉ là câu chữ, ngữ nghĩa nữa mà phải thật sự trao quyền làm chủ cho người dân, nhất là dân chủ trực tiếp. Để nhà nước thật sự là “nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” chứ không thể là khẩu hiệu suông. Không để tình trạng mập mờ chủ – tớ như hiện nay. Nhân dân có quyền đòi hỏi xây dựng một cơ chế xem xét, sàng lọc, thải loại cán bộ, công chức, viên chức cơ quan nhà nước không còn đủ phẩm chất, năng lực làm việc cho dân. Việc Quốc hội nước ta đang chuẩn bị quy định lấy phiếu tín nhiệm cán bộ thuộc diện Quốc hội, Hội đồng nhân dân bổ nhiệm, phê chuẩn là bước mở đầu cho công tác này. Thế nhưng nếu cứ hai năm/lần lấy phiếu tín nhiệm và hai lần liên tục không đủ số phiếu tín nhiệm thì mới bãi miễn chức vụ, e rằng lâu quá. Vì một nhiệm kỳ công tác thường nhiều nhất là 5 năm. Lấy phiếu tín nhiệm kiểu như vậy thì cán bộ, công chức đã “hạ cánh an toàn rồi!”.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang(st)
bqllang.gov.vn

Độc lập, tự do… đường lên phía trước…

Không khí linh thiêng ngay từ những giây đầu tiên, khi tất cả khán giả cùng đứng lên chào lá quốc kỳ, cất cao lời “Quốc ca” và “Lãnh tụ ca”, để cùng tự hào là con dân nước Việt, cùng đồng lòng đi theo con đường mà Bác đã vạch ra cho dân tộc như lời một bài hát: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Đúng 20h đêm 29/8/2009, đêm nhạc “Hồ Chí Minh – cả cuộc đời vì nước vì dân” đã được truyền hình trực tiếp từ Quảng trường Ba Đình đến với đồng bào cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài. Đêm mùa thu, không gian quảng trường lắng lại, khi vài ngàn con người đủ mọi lứa tuổi, từ những cụ già tóc bạc phơ đến những em nhỏ đôi ba tuổi, tụ họp tại đây để cùng nhớ, cùng tri ân, cùng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc vị lãnh tụ vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam. Thêm rất nhiều ghế phụ, và hàng ngàn đồng bào xem chương trình dọc đường Độc Lập, nơi ban tổ chức đặt 3 màn hình lớn.

Đêm nhạc hoành tráng cạnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh VietNamNetĐêm nhạc hoành tráng cạnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh VietNamNet

Không khí linh thiêng ngay từ những giây đầu tiên, khi tất cả khán giả cùng đứng lên chào lá quốc kỳ, cất cao lời “Quốc ca”“Lãnh tụ ca”, để cùng tự hào là con dân nước Việt, cùng đồng lòng đi theo con đường mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra cho dân tộc như lời một bài hát: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Con đường của dân tộc Việt Nam mà Bác vạch ra là con đường mở, con đường phát triển đến tương lai mà cơ sở nền móng của nó là Độc lập, tự do.

anh 1.jpgCả dân tộc đồng lòng vì “Độc lập tự do… đường lên phía trước”. Ảnh VietNamNet

Ngay sau đó, ca sĩ Đăng Dương “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” (Nhạc sĩ Văn Cao) với những lời ca tha thiết, hào hùng: “Người về mang tới ngày vui. Mùa thu nắng tỏa Ba Đình, với tiếng Người còn dịu dàng như tiếng đất trời…” mở đầu cho những ca khúc thể hiện tình cảm yêu kính của những người con Việt Nam với người cha chung của dân tộc. Từ những khúc ca hùng tráng Tiếng hát từ thành phố mang tên Bác (Cao Việt Bách), Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người (Trần Kiết Tường) đến Người là niềm tin tất thắng (Chu Minh)…, đến những lời ca da diết của “Lời Bác dặn trước lúc đi xa”, “Viếng lăng Bác”, “Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh”…

Các nghệ sĩ thuộc nhiều thế hệ, từ những người kỳ cựu như NSND Thu Hiền, NSND Quang Thọ, đến thế hệ trung niên như Thái Bảo (Hà Nội), Tạ Minh Tâm (TPHCM), cả các sĩ trẻ như Hồ Quỳnh Hương, Phương Anh, Thanh Thúy…, mỗi người đều góp lời ca như những bông hoa đẹp trong vườn hoa dâng Bác. Nhiều khán giả hát cùng các ca sĩ những lời ca tha thiết, nhiều tiếng vỗ tay theo nhạc điệu.

Đa số các ca khúc về Bác được chọn hát trong chương trình không mới, bởi những người yêu nhạc “cách mạng” Việt Nam đã quen thuộc với những lời ca được cất lên mỗi dịp kỷ niệm ngày sinh của Bác, hay tưởng nhớ ngày Bác đi xa. Nhưng khi những lời ca sâu lắng ấy vang lên giữa không gian quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi Bác đọc những lời Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 64 mùa thu trước, nơi đồng bào cả nước hòa chung dòng lệ tiễn đưa Bác 40 năm trước, nơi Bác đang yên giấc, dường như tinh thần của Bác, tấm lòng của Bác đã truyền tình cảm cho cả người hát lẫn người nghe; tạo nên mối cộng cảm, gắn bó, liên kết cả dân tộc thành một khối sức mạnh: Độc lập, tự do…đường lên phía trước…

Chương trình cũng dành những phút tri ân các chuyên gia Liên Xô trước đây, các chuyên gia Nga hiện nay nối tiếp nhau dành trọn tâm sức, tình cảm để giữ gìn hình hài Bác suốt 40 năm qua, để mỗi ngày hàng ngàn người nối tiếp nhau vào lăng để được thấy Bác. Nhiều chuyên gia có mặt trong đêm diễn, cùng nhớ Bác với đồng bào Việt Nam.

Cùng với những lời ca dâng Bác, những thước phim tư liệu hình ảnh Bác Hồ với đồng bào – chiến sĩ cả nước, với bạn bè quốc tế gây xúc động mạnh mẽ không chỉ bởi hình ảnh Người giản dị, gần gũi, thân thương, mà còn bởi những người tiếp xúc với Bác đều thể hiện rõ niềm hạnh phúc khi được gặp Bác, được Bác ôm hôn hay bắt tay thân mật… Cảm giác như Bác vĩ đại đang ở đâu đó thật gần.

Trong không khí ấy, những lời cuối cùng trong di chúc Bác để lại cho toàn dân từ 40 năm trước sẽ khiến mỗi người phải suy ngẫm: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

  • Theo Khánh Linh (VietNamNet)

bee.net.vn

Giam chân, tiêu diệt địch trên hướng Tây Bắc Sài Gòn (Tiếp theo và hết)

Bài 4: Tiến về Sài Gòn

Tổng hợp tình hình trong ngày, sư đoàn lệnh cho các đơn vị tăng cường củng cố các vị trí chốt chặn trên trục đường đồng thời áp sát các đồn bốt, tiến hành địch vận, chuẩn bị điều kiện để ngày hôm sau tiến công sớm tiêu diệt Sư đoàn 25 ngụy, giải phóng địa bàn Gò Dầu – Trảng Bàng – Củ Chi để trở về làm lực lượng dự bị cho Chiến dịch Hồ Chí Minh, sẵn sàng đánh mục tiêu trọng yếu trong thành phố Sài Gòn và đối phó tình huống bất trắc của chiến dịch… Ngay trong đêm 28-4, Trung đoàn bộ binh 98 chấp hành lệnh của sư đoàn đã đánh bật địch trở lại khi chúng tìm cách co về tuyến.

8 giờ sáng 29-4, tôi và Chính ủy sư đoàn Hà Quốc Toản đang trao đổi tình hình để có quyết tâm xử trí thì bất ngờ hàng loạt đạn trọng liên địch tới tấp bắn chế áp vào Sở chỉ huy sư đoàn. Tiếng xe tăng địch mỗi lúc một gần. Một số tổ đánh tăng của anh em vệ binh xuất kích ra hướng xe tăng địch nhưng vận động không kịp… Thì ra lực lượng địch bị vây ép ở Trảng Bàng thấy nguy cơ bị tiêu diệt đến gần, 7 chiếc xe tăng, xe thiết giáp bất ngờ đột phá mở đường máu rút chạy ra khỏi chi khu. Chúng vừa bắn vừa chạy hết tốc lực, vượt qua gần sát sở chỉ huy sư đoàn (khoảng chừng 100 mét) chạy về hướng Củ Chi. Tuy nhiên, khi tới gần Lào Táo, chúng đã gặp chốt của Tiểu đoàn bộ binh 3, Trung đoàn 174 chặn đánh, bắn cháy 2 chiếc, buộc chúng phải tháo chạy sang Phước Mỹ. Tiểu đoàn bộ binh 1, Trung đoàn 174 đang chốt chặn ở đấy, bắn cháy tiếp 2 chiếc M113 và bắt sống 1 xe tăng cùng 2 chiếc xe thiết giáp nữa.

Như vậy là trong khi tập trung chốt chặn trên trục đường quốc lộ 1, Trung đoàn 98 không tổ chức chốt con đường cấp phối liên huyện chạy song song với quốc lộ 1 phía sau trận địa. 7 chiếc xe tăng, xe thiết giáp của Trung đoàn 46/Sư đoàn 25 ngụy lợi dụng sơ hở trên, theo đường phía sau trận địa chạy thục mạng về Đồng Dù, qua ngay sát Sở chỉ huy Sư đoàn 316, gây nên chuyện bất ngờ khá nguy hiểm trên. Cũng may Trung đoàn 174 đã giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn bộ binh 3 bịt chặt con đường này.

Cũng trong ngày 29 tháng 4, cụm pháo binh sư đoàn tập trung hỏa lực bắn chế áp trận địa pháo binh địch ở Đồng Chùa làm nổ một kho đạn, phá hủy 2 khẩu pháo 105mm. Địch ở Trung tâm huấn luyện biệt kích Trung Hòa và đồn bảo an Lào Táo rất hoang mang. Nắm thời cơ, Trung đoàn bộ binh 174 lệnh cho Tiểu đoàn bộ binh 1 và Tiểu đoàn bộ binh 3 đánh chiếm Trung tâm huấn luyện biệt kích Trung Hòa và đồn Lào Táo. Sau hơn 30 phút nổ súng, hai tiểu đoàn đã đánh chiếm toàn bộ hai căn cứ trên, tiêu diệt hơn 100 tên địch, bắt sống hàng ngàn tên, thu 2 khẩu pháo 105mm.

Quân giải phóng chiếm Dinh Tổng thống ngụy, trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Ảnh tư liệu.

Thừa thắng, Trung đoàn 174 từ Lào Táo – Phước Mỹ đánh sang Phước Hiệp. Địch bị tiêu diệt và tan rã. Số còn lại chạy về Đồng Chùa cố thủ. Đến 17 giờ, Trung đoàn 174 tập trung toàn bộ lực lượng tiến công Đồng Chùa. Sau khoảng 45 phút chiến đấu ta làm chủ toàn bộ khu vực, thu 12 khẩu pháo, giải phóng toàn bộ khu vực Trung Hòa, Lào Táo, Suối Sâu, Phước Hiệp, Đồng Chùa.

Như vậy, là trong ngày 29 tháng 4, Trung đoàn 174 diệt hơn 200 tên địch, bắt sống hàng ngàn tên thuộc một bộ phận Trung đoàn 50, Sư đoàn 25 ngụy và Liên đoàn biệt động quân 32 ngụy, trong đó có tên Trung tá Lê Khải Toàn – Chỉ huy trưởng Liên đoàn biệt động quân 32 ngụy. Chiến thắng của Trung đoàn 174 còn tạo điều kiện thuận lợi cho Sư đoàn 320 (Quân đoàn 3) tiến công đánh chiếm Đồng Dù, giải phóng hoàn toàn huyện Củ Chi.

Nắm tình hình, thấy Trung đoàn 174 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, tôi lệnh trung đoàn bàn giao những mục tiêu đã đánh chiếm cho địa phương, nhanh chóng củng cố đơn vị thật gấp để 3 giờ sáng 30-4 xuất phát tiến vào Sài Gòn bằng xe cơ giới do sư đoàn tự bảo đảm. Chấp hành mệnh lệnh của chỉ huy sư đoàn, Trung đoàn 174 làm công tác củng cố tổ chức rất nhanh. Đúng 3 giờ sáng 30-4, trung đoàn đã lên xe xuất phát từ Củ Chi, do trinh sát sư đoàn dẫn đường, thẳng tiến vào quận Hóc Môn để làm lực lượng dự bị của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử…

Trên hướng Trung đoàn 98, sau khi để lọt 7 chiếc xe tăng, thiết giáp địch bất ngờ chạy thoát, trung đoàn kịp điều chỉnh lực lượng, tiến hành vây chặt không cho địch có thể chạy thoát về co cụm trong Sài Gòn.

Sáng 29 tháng 4, địch ở Trảng Bàng cho quân ra thăm dò, nhưng bị Đại đội 5, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 98 chặn đánh, phải quay lại. Nắm vững thời cơ địch đang hoang mang cực độ, chỉ huy Trung đoàn 98 lệnh cho hai tiểu đoàn bộ binh 8 và 9 tiến công vào thị trấn Trảng Bàng ngay ban ngày. 12 giờ, Tiểu đoàn bộ binh 8 đánh chiếm khu trường học, 14 giờ Tiểu đoàn bộ binh 9 đánh chiếm khu chợ, đồn cảnh sát, khu hành chính. Sau đó cả 2 tiểu đoàn trên hai hướng tiến công vào chi khu. Sức chống đỡ của địch yếu dần. Đến 15 giờ ta hoàn toàn làm chủ khu vực sở chỉ huy chi khu Trảng Bàng, phát triển đánh chiếm trận địa pháo, diệt và bắt sống hàng trăm tên địch, thu 2 khẩu pháo 155mm, 6 khẩu cối 106,7mm. Trung đoàn 46, Sư đoàn 25 ngụy thấy Trảng Bàng bị mất, chúng vòng qua chạy về Đồng Dù. Gặp Tiểu đoàn bộ binh 7, Trung đoàn 98 chặn đánh và tích cực gọi hàng. Đến 2 giờ sáng 30-4, hầu như toàn bộ Trung đoàn 46, Sư đoàn 25 ngụy và lính bảo an xung quanh Trảng Bàng đều bị tiêu diệt và bắt sống. Trung đoàn 98 giải phóng hoàn toàn huyện Trảng Bàng, Tây Ninh.

Trên hướng Trung đoàn 148, ngày 29-4, ta tiến công mãnh liệt vào khu vực Bầu Nâu – Trà Võ. Sau đợt pháo bắn chuẩn bị từ 5 giờ đến 6 giờ, Tiểu đoàn bộ binh 4 xung phong đánh chiếm Trà Võ, sau đó cùng với Tiểu đoàn bộ binh 5 tiến đánh Bầu Nâu. Tiểu đoàn bộ binh 6 đánh chiếm Bến Mương. Trận đánh kéo dài suốt đêm 29-4, quân ta đã diệt và bắt sống hàng ngàn tên thuộc Trung đoàn 49, Sư đoàn 25 ngụy và lực lượng bảo an thuộc chi khu Gò Dầu. Trung đoàn 148 làm chủ chiến trường, giải phóng hoàn toàn huyện Gò Dầu.

Như vậy là trong ngày 29-4-1975, Sư đoàn 316 đã tiêu diệt Sư đoàn 25 ngụy, Liên đoàn biệt động quân 23 và các tiểu đoàn bảo an thuộc ba chi khu Gò Dầu, Trảng Bàng, Củ Chi. Sư đoàn đã được Bộ tư lệnh chiến dịch công nhận thành tích: Tiêu diệt Sư đoàn 25 ngụy trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 vì những đơn vị nào diệt địch trong ngày 30 tháng 4 chỉ được công nhận là đánh tan địch.

Sau khi tổng hợp tình hình mọi mặt, tôi lệnh cho hai Trung đoàn 98, Trung đoàn 148 và các đơn vị trực thuộc sư đoàn: Pháo binh, công binh, phòng không bàn giao ngay số binh lính địch bị bắt và địa bàn mới giải phóng cho cấp ủy, chính quyền cách mạng địa phương rồi nhanh chóng củng cố tổ chức, bổ sung đạn dược để lần lượt di chuyển vào quận Hóc Môn. Đơn vị nào xong trước thì xuất phát trước. Đồng thời tôi báo cáo Bộ tư lệnh chiến dịch cho phép Sở chỉ huy Sư đoàn 316 di chuyển lên phía trước để chỉ huy bộ đội chiến đấu.

6 giờ sáng 30-4-1975, tôi và chính ủy sư đoàn cùng một số trợ lý, mang theo điện đài đi trước nhận lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch đồng thời để chỉ huy Trung đoàn bộ binh 174 vào chiến đấu trước.

Trên đường, tôi rẽ vào đôn đốc Trung đoàn pháo binh 187 của sư đoàn nhanh chóng di chuyển trận địa, bắn vào nội đô. Khi qua Trung tâm huấn luyện biệt kích của Mỹ ở ấp Trung Hòa, bất chợt nghe thấy tiếng súng nổ và nhiều tiếng la hét, tôi rẽ vào. Thấy nam, nữ du kích đang lôi từng tên biệt kích trói tay bịt mắt ra định bắn, tôi hỏi tại sao lại bắn người tùy tiện thế. Anh chị em cho biết đấy là những tên ác ôn đáng phải trừng trị vì quá căm thù chúng…

Nghe anh, chị em du kích giải thích bất giác tôi nhớ lại hồi năm 1964, mới từ miền Bắc vào chiến trường, tôi đã được nghe nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương kể về hành động tàn ác khét tiếng của Trung tâm huấn luyện biệt kích này. Vốn là một đơn vị do Mỹ cung cấp tài chính, tổ chức, tuyển lựa và huấn luyện, chúng tuyển chọn những tên lưu manh côn đồ, ác ôn khét tiếng. Những thủ đoạn tra tấn, hãm hiếp, chặt đầu, mổ bụng, bắn giết tàn ác nhất được biên soạn trong các giáo trình của CIA được đem ra giảng dạy và ứng dụng…

Chúng tôi đã phải giải thích cho anh chị em rõ bắn người như vậy là hành động phạm pháp. Nếu đúng là những tên ác ôn có nợ máu với nhân dân, với cách mạng thì chính quyền cách mạng sẽ lập tòa án để xử chúng cho đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Chúng ta là người cách mạng, người chiến thắng, người chiến sĩ có kỷ luật, không được bắn giết tù binh bừa bãi như vậy mặc dù chúng là ác ôn có nợ máu với cách mạng, với nhân dân. Tôi buộc lòng phải ra lệnh thu vũ khí số anh chị em du kích này lại, rồi cho tìm đồng chí huyện đội trưởng đến giải quyết tiếp. Nếu không làm như vậy thì những con người chiến đấu rất dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc của chúng ta vô tình lại mắc phải sai lầm trong chính sách đối xử với tù binh, rất có thể dẫn đến những hậu quả tai hại. Xong việc, chúng tôi lại vội vã lên đường để sớm có mặt tại Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn nhận nhiệm vụ mới.

Quay trở ra đường 1, chúng tôi thẳng tiến về phía Sài Gòn. Từ lúc này đoàn xe của chúng tôi đi rất chậm. Dọc đường hầu như không còn phải đối phó với địch mà là được sự đón tiếp cổ vũ mừng chiến thắng đầy nhiệt tình của đồng bào. Qua thị trấn Củ Chi và Tân Phú Trung xe chỉ nhích từng chút như đi bộ. Không những nhân dân mà cả binh lính địch đầu hàng cũng tràn ra vây chặt xe bộ đội như đón người thân trở về. Nhiều binh lính ngụy xin đi nhờ xe vào Sài Gòn. Thật quá lạ lùng. Đang trên đường vào chiến đấu, kẻ địch vẫn còn trước mặt mà cứ như ngày hội. Mấy chục năm phải kìm nén uất hận, hôm nay mới được bung ra, thỏa mãn nỗi khát khao những năm đợi tháng chờ của bao người con cùng dân tộc, cùng đất nước.

Tôi ngồi ghế trước trên xe, ghế sau là đồng chí trợ lý tác chiến và một chiến sĩ vệ binh của sư đoàn. Mải tiếp chuyện với nhân dân, quay lại tôi đã thấy có hai cô du kích lên xe từ lúc nào không biết. Nhiệm vụ của các cô là đón đường dẫn bộ đội vào đánh chiếm các mục tiêu trong thành phố.

Qua Tân Phú Trung, tôi mở đài mới biết Dương Văn Minh nhân danh Tổng thống chính quyền Sài Gòn-tuyên bố “đầu hàng vô điều kiện”. Và cũng từ lúc này cho đến khi vào trung tâm thành phố, xe tôi đi lẫn trong những đoàn xe quân sự có, dân sự có, không biết đơn vị nào, địa phương nào. Phía sau tôi, xe của Chính ủy sư đoàn Hà Quốc Toản và xe điện đài đã bị tách ra, mất liên lạc với nhau, không sao tìm lại được. Tôi chỉ còn mỗi một cách giải quyết tình thế là phải viết lệnh rồi để đồng chí trợ lý tác chiến xuống xe, đi bộ quay lại tìm điện đài, truyền lệnh cho các đơn vị của sư đoàn tạm dừng tại chỗ chờ lệnh. Đến lúc ấy xe tôi lùi không được mà rẽ ngang cũng không xong, chỉ còn biết là nối đuôi theo nhau, cứ rồng rắn hàng một nhích từng đoạn, tiến lên phía trước. Suốt từ trưa cho tới 17 giờ, cuộc hành trình bất đắc dĩ mới kết thúc khi vào tận Dinh Độc Lập.

Vào Dinh Độc Lập, tôi gặp đơn vị bạn đã tiếp quản ở đây. Anh em chỉ đường cho tôi sang Dinh Gia Long, nơi Sư đoàn 7 cũ của tôi tiếp quản. Đến cổng Dinh Gia Long, anh em gác cổng nhận được tôi, vui mừng chạy ra ôm chặt lấy, quên mất cả mình đang thực hiện điều lệnh canh phòng của quân đội. Làm sao có thể trách cứ nhau trong cuộc gặp gỡ lịch sử nghìn năm có một như vậy! Anh em Sư đoàn 7 dẫn tôi đi xem xung quanh, giữ tôi ăn cơm và nghỉ lại vì đêm đã khuya, cần đề phòng dọc đường về đơn vị có thể bị nguy hiểm nếu gặp tàn quân địch bắn lén.

Đêm ấy, nằm ngoài hiên Dinh Gia Long – nơi mà cách đây mười hai năm (tháng 11-1963) hai anh em Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu đã bí mật thoát ra ngoài Chợ Lớn khi quân đảo chính ập tới. Chiến tranh vừa chấm dứt, thành phố về khuya khá yên tĩnh, tôi lại cảm thấy hình như còn thiếu cái gì đó. Phải rồi, cảnh tiếng súng bất chợt lúc nào cũng có thể nổ của chiến tranh. Đêm Sài Gòn thoáng mát, tôi lại thấy chống chếnh khi không còn phải ẩn mình trong những căn hầm nhỏ hẹp đầy hơi người đề phòng bom đạn địch luôn đe dọa cướp đi mạng sống.

Mặc dù tôi đã bắt liên lạc được với các trung đoàn bằng điện đài và giao nhiệm vụ cho anh em, lẽ ra lúc ấy mình phải yên tâm mới đúng. Thế mà tôi cứ thao thức bồn chồn, cứ chong mắt với những suy nghĩ miên man, hết việc này đến chuyện khác. Nếp sống chiến đấu đã ghi sâu trong tâm trí của con người mấy chục năm rồi, nay bỗng chốc thay đổi hẳn, làm sao mình có thể thích ứng ngay được.

Bỗng tôi nhớ lại hơn mười năm trước được gặp Bác Hồ khi chúng tôi lên đường vào Nam chiến đấu. Không ngờ hôm ấy lại là buổi gặp gỡ cuối cùng của Bác với chúng tôi. Những lời Bác căn dặn luôn là phương châm hành động của chúng tôi ở chiến trường. Đáng lẽ hôm nay “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân” vào giải phóng Sài Gòn, nơi có Cảng Nhà Rồng mà cách đây hơn nửa thế kỷ Bác đã ra đi tìm đường cứu nước. Bác đã hy sinh cả cuộc đời cho nền độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc nhưng lại không được hưởng những giờ phút thiêng liêng nhất – giờ phút chiến thắng mà Bác hằng mong muốn từ lâu. Có lẽ mỗi người chúng ta đều cảm thấy ân hận vì khi Bác đi xa vẫn còn mang theo trong tim nỗi niềm khắc khoải “Nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà”.

Nghe nói Bến Nhà Rồng cũng gần đây thôi. Sáng mai tôi sẽ ra đấy thật sớm để tìm lại những dấu tích của Bác năm xưa. Tôi cứ nghĩ về Bác như vậy và những điều đó đưa tôi vào một giấc ngủ êm đềm không biết từ lúc nào…

*

* *

… Tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Sư đoàn 316 đã hoàn thành nhiệm vụ giam chân và tiêu diệt Sư đoàn 25 ngụy ở tuyến ngoài gồm: Trung đoàn 46, Trung đoàn 49, một tiểu đoàn của Trung đoàn 50, Thiết đoàn 10 tăng-thiết giáp, Liên đoàn biệt động quân 32, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 10.000 tên địch và cùng lực lượng địa phương giải phóng hoàn toàn ba huyện: Gò Dầu, Trảng Bàng, Củ Chi. Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc toàn thắng, Sư đoàn 316 cùng quân, dân cả nước mang lá cờ vinh quang của Bác muôn vàn kính yêu đến đích cuối cùng, hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thực hiện trọn vẹn Di chúc thiêng liêng của Người.

“Năm qua thắng lợi vẻ vang

Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to

Vì độc lập, vì tự do

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào…”

Bác ơi! Bài thơ chúc Tết khi Bác sắp ra đi cũng là lời tiên tri, lời căn dặn từng bước đi, từng giai đoạn của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, đến nay chúng con đã thực hiện được. Cả dân tộc Việt Nam xin dâng lên Bác: Chiến công Đại thắng mùa Xuân 1975 này để thiết thực kỷ niệm 85 năm Ngày sinh của Người 19-5-1890/19-5-1975.

Trung tướng, PGS, Tiến sĩ Nguyễn Hải Bằng

Giam chân, tiêu diệt địch trên hướng Tây Bắc Sài Gòn (bài 3)
Giam chân, tiêu diệt địch trên hướng Tây Bắc Sài Gòn (bài 2)
Giam chân, tiêu diệt địch trên hướng Tây Bắc Sài Gòn (bài 1)

Giam chân, tiêu diệt địch trên hướng Tây Bắc Sài Gòn (bài 3)

Bài 3: Từng bước tiêu diệt Sư đoàn 25 nguỵ

Ngày 18-4-1975, Thường vụ Đảng ủy và Ban Tổ chức Quân đoàn 3 thông báo: Tôi có quyết định bổ nhiệm Sư đoàn trưởng chính thức. Cùng hôm ấy, sư đoàn tổ chức đoàn cán bộ đi trinh sát chuẩn bị chiến trường. Chuyến đi lần này rất thuận lợi vì được trực tiếp gặp Thường vụ Tỉnh ủy Tây Ninh và Huyện ủy Củ Chi để bàn kế hoạch trinh sát thực địa và kế hoạch tác chiến, những người mà tôi đã khá quen biết trước đây. Các đồng chí cấp ủy địa phương đã được Trung ương Cục thông báo nên cũng đều nóng lòng sớm được gặp đơn vị chủ lực miền Bắc.

Tối 18-4, sư đoàn tổ chức cho từng trung đoàn đảm nhiệm trinh sát theo các hướng đã được phân công. Các trung đoàn lại chia nhỏ cho từng tiểu đoàn trinh sát các trận địa chốt chặn. Tôi đi theo hướng chủ yếu của Trung đoàn 98. Có thể nói chưa lần nào đi trinh sát chỉ huy lại “nhàn hạ” như lần này. Thật thú vị là chỉ cần xác định nơi chuẩn bị tác chiến trên bản đồ, tổ du kích dẫn đường sẽ đưa đúng đến vị trí từng đại đội cần chiếm lĩnh trận địa.

Du kích địa phương rất nhiệt tình và trách nhiệm, yêu cầu họ việc gì liên quan đến tác chiến là họ thực hiện ngay. Sau này, năm 1992, nhân dịp đi công tác Tây Ninh tôi có rẽ vào thăm huyện Trảng Bàng thì đồng chí đội trưởng du kích dẫn Trung đoàn 98 đi trinh sát thực địa chi khu Trảng Bàng ngày ấy nay đã trở thành Chủ tịch UBND huyện.

… Hôm ấy, khi triển khai công tác chuẩn bị đã xảy ra một sự cố khá nguy hiểm nhưng kết quả lại khá thú vị. Tiểu đoàn công binh của Sư đoàn 316 được giao nhiệm vụ làm đường quân sự gấp. Do đơn vị không quán triệt kỹ tình hình và không giao nhiệm vụ rõ ràng cho cấp dưới nên có 2 chiến sĩ cắm lộ tiêu làm đường đã đi lạc vào ấp chiến lược và bị địch bắt. Đặc điểm chiến trường này là ta-địch ở thế xen kẽ nhau, ấp này theo giải phóng nhưng ấp kia lại do địch kiểm soát, có ấp ban ngày địch khống chế nhưng ban đêm lại là của ta… Nghe tin 2 chiến sĩ bị địch bắt anh em cán bộ rất lo lắng vì sợ bị lộ kế hoạch tác chiến. Cũng phải thôi, nếu các chiến sĩ đó không chịu đựng nổi thì tác hại khó mà lường được. Nhưng thật lạ khi hai người bị địch bắt đưa về đồn, tên đồn trưởng không tra khảo gì mà lại coi họ như thượng khách, đối đãi tử tế, ăn uống đàng hoàng. Hắn chỉ yêu cầu khi sư đoàn đánh tới thì báo cho các lực lượng của ta biết là đồn đã đầu hàng và ghi công cho đồn đã giúp đỡ cách mạng… Rõ ràng quân địch ở đây đã biết rõ thân phận mình và chuẩn bị cho cái ngày kết thúc cuộc chiến đã đến quá gần…

Trở lại chuyện trinh sát thực địa, sau khi hoàn thành, xác định vị trí chiếm lĩnh chốt chặn cho từng phân đội, kế hoạch tác chiến của sư đoàn như sau: Sư đoàn 316 được Quân đoàn 3 tăng cường Trung đoàn cao xạ 232 và cụm pháo binh chiến dịch số 4, tiến hành tổ chức trận địa phòng ngự ngăn chặn địch trên ba khu vực: Trung đoàn bộ binh 148 đảm nhiệm phòng ngự ngăn chặn địch trên đoạn Trà Võ-Gò Dầu, tiêu diệt Trung đoàn 49 thuộc Sư đoàn 25 ngụy; Trung đoàn bộ binh 174 đảm nhiệm phòng ngự ngăn chặn địch trên khu vực Phước Mỹ-Phước Hiệp, tiêu diệt 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 50, thuộc Sư đoàn 25 và Liên đoàn Biệt động quân 32 ngụy; Trung đoàn bộ binh 98 làm nhiệm vụ cơ động đồng thời sẵn sàng tiêu diệt địch ở chi khu Trảng Bàng và Trung đoàn 46, thuộc Sư đoàn 25 ngụy; Trung đoàn pháo binh 187 tổ chức thành cụm pháo binh sư đoàn cùng với cụm pháo binh chiến dịch chi viện chung. Sở chỉ huy sư đoàn đặt cạnh cứ điểm Lào Táo trên hướng Trung đoàn bộ binh 98.

Xe tăng và bộ binh ta đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy trong Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975. Ảnh tư liệu.

Đêm 12-4-1975, Trung đoàn bộ binh 148 bí mật vượt sông Sài Gòn, tiến vào chiếm lĩnh vị trí chiến đấu. Từ ngày 13 đến 18-4, Trung đoàn bắt đầu đánh những trận nhỏ lẻ ngăn chặn giao thông trên đường 22 từ Trà Võ đi Gò Dầu buộc địch phải co cụm lại xung quanh Trà Võ. Cũng trong thời gian này hệ thống pháo binh dày đặc của địch bắn khá chính xác vì được đo đạc và có kế hoạch hỏa lực sẵn nên sư đoàn chủ trương tập trung pháo binh của sư đoàn cùng với pháo binh của chiến dịch tăng cường tiến hành một đợt tập kích hỏa lực nhằm tiêu diệt một số trận địa pháo nguy hại của địch là Đồng Chùa, Cẩm Giàng, Bến Mương, Lào Táo- 4 trận địa pháo binh loại 155mm do tên sư đoàn trưởng Lý Tòng Bá trực tiếp nắm làm nòng cốt cho hệ thống hỏa lực của địch trên địa bàn.

Thế là một kế hoạch tập kích hỏa lực pháo binh được vạch ra: Tất cả pháo binh cơ giới của Trung đoàn pháo binh 187 và cụm pháo binh số 4 của chiến dịch tập trung lực lượng tiêu diệt bằng được trận địa pháo binh Đồng Chùa và Cẩm Giàng của địch trong ngày 14-4, sau đó tiếp tục tiêu diệt trận địa pháo ở Bến Mương, Lào Táo của địch. Súng cối của các trung đoàn chia nhau ra bắn kiếm chế các trận địa pháo binh khác của địch không cho chúng chi viện cho nhau. Để có hiệu quả cao, các đơn vị pháo binh đều tổ chức quan sát luồn sâu dùng các tổ du kích địa phương dẫn đường vào gần địch để hiệu chỉnh pháo cho chính xác. Thế là với số lượng pháo không nhiều hơn địch nhưng chỉ trong 2 ngày 14 và 15-4 với lượng đạn bắn không hạn chế, lần lượt các trận địa pháo binh nguy hại của địch đã bị ta tiêu diệt làm cho địch càng hoang mang lo sợ, suy sụp tinh thần.

Trong khi sư đoàn sử dụng đạn pháo của địch để diệt địch đã xảy ra một sự cố khá nguy hiểm. Hôm đó, tôi đang trong sở chỉ huy cùng đồng chí chính ủy bỗng nghe tiếng nổ đầu nòng của pháo ta, thế rồi mái lán căn nhà… của sở chỉ huy bị bay đi mất, thật may chúng tôi không ai việc gì. Tôi gọi điện cho Trung đoàn trưởng 187 thì được báo cáo: Anh em đã sử dụng viên đạn đuối tầm vì đạn mới thu gom không kịp phân loại vả lại trung đoàn cũng không biết sở chỉ huy sư đoàn lại nằm trên hướng bắn. Trung đoàn xin nhận khuyết điểm và cho di chuyển trận địa pháo đến vị trí khác.

Từ ngày 12 đến 14-4-1975 lần lượt các trận địa pháo binh nguy hại của địch bị tiêu diệt tạo điều kiện cho lực lượng Quân đoàn 3 tiến hành công tác tổ chức chuẩn bị chiến dịch được thuận lợi. Đợt hoạt động trước chiến dịch của sư đoàn chủ yếu là tiêu diệt các trận địa pháo nguy hại của địch còn bộ binh thì hoạt động nhỏ lẻ để nghi binh thu hút địch tránh đụng độ lớn khiến địch không phát hiện được lực lượng lớn của ta để các đơn vị lần lượt vào vị trí tập kết chiến dịch và chiến đấu an toàn. Trung đoàn 148 cứ thỉnh thoảng lại cho từng phân đội xuất hiện, khi quân địch đưa lực lượng ra thì quân ta lại lặng lẽ rút, rồi sau đó lại xuất hiện…

Trong một buổi phỏng vấn của các nhà báo về tình hình đụng độ với Quân giải phóng trên trục đường 1 và 22 tên Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 25 ngụy, vốn là tên “Tầu lai”, với thái độ hoang mang đã nói “Cánh quân Việt cộng mới xuất hiện trên chiến trường nơi chúng tôi đảm nhiệm đã có những hành động kỳ lạ, chúng bám chúng tôi như đỉa nhưng lại tìm mọi cách tránh đụng độ. Có thể đây chỉ là những lực lượng của địa phương, chưa thấy xuất hiện chủ lực miền Bắc”.

Ngày 19-4-1975, Sư đoàn 316 được Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 thông báo địch có triệu chứng dồn các lực lượng thuộc Sư đoàn 25 ngụy từ Tây Ninh co về tập trung chiếm lĩnh khu vực Hóc Môn để tăng cường tuyến phòng thủ ngoại vi Tây Bắc Sài Gòn. Ngay trong đêm, chỉ huy sư đoàn lệnh cho Trung đoàn 148 gấp rút gia tăng hoạt động. 6 giờ sáng 20-4, Tiểu đoàn bộ binh 6, Trung đoàn 148 nổ súng đánh chiếm cứ điểm Bầu Nâu. Ngay từ đầu, địch tập trung hỏa lực pháo binh và máy bay chi viện, chống trả quyết liệt. Đồng thời sử dụng Trung đoàn 49, Sư đoàn 25 ngụy tổ chức phản kích liên tục. Bằng nhiều đợt xung phong ác liệt, đến 11 giờ bộ binh ta đánh chiếm được Bầu Nâu và Trung đoàn bộ binh 148 đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 49 ngụy buộc chúng phải rút chạy về cố thủ trong ấp chiến lược Dân Sinh, sát đường 22, cách cứ điểm khoảng 500 mét.

Ngày 21-4, Tiểu đoàn bộ binh 4, Trung đoàn 148 đánh chiếm cứ điểm Trà Võ, địch chạy về hướng đông nam Trà Võ, trụ lại đối phó.

Ngày 22-4, Trung đoàn 49, Sư đoàn 25 ngụy từ Gò Dầu và Cẩm Giàng hình thành hai mũi nhọn, có xe tăng và phi pháo yểm trợ thực hành phản kích nhằm chiếm lại Bầu Dầu – Trà Võ. Suốt ngày hôm đó, cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn bộ binh 148 đã chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, giành giật từng đoạn chiến hào, từng ụ súng với quân địch. Trong hai ngày đánh Bầu Nâu-Trà Võ, Trung đoàn bộ binh 148 đã tiêu diệt và bắt sống 487 tên địch, phá hủy 1 xe tăng, thu hơn 700 khẩu súng các loại.

Chiến dịch Hồ Chí Minh lúc này chưa bắt đầu. Theo ý định của Bộ tư lệnh chiến dịch, trên các hướng tiến công, mỗi quân đoàn sử dụng một phần lực lượng đánh nghi binh tạo thế nhằm thu hút địch, không để cho chúng có thời gian điều chỉnh lực lượng và củng cố công sự trận địa trên các tuyến ngăn chặn, đồng thời bao vây chia cắt chủ lực địch ở tuyến ngoài, không cho chúng co lực lượng vào tuyến trong, tạo điều kiện cho chủ lực các quân đoàn ta tiêu diệt những mục tiêu trọng yếu bên trong. Sư đoàn 316 được tung ra hoạt động trước khi chiến dịch nổ súng chính là để thực hiện ý định đó.

Ngày 23-4, thấy mục đích của đơn vị là đánh chiếm đồn để kéo giữ chân địch đã đạt được, Trung đoàn bộ binh 148 thực hiện ý định của sư đoàn, lệnh cho Tiểu đoàn 6 rút ra ngoài cứ điểm Bầu Nâu, Tiểu đoàn 4 rút ra ngoài cứ điểm Trà Võ. Cùng với các đơn vị hỏa lực của trung đoàn tăng cường, hai Tiểu đoàn 4 và 6 cấu trúc trận địa bao vây Trà Võ và Bầu Nâu để cùng với các lực lượng khác trong trung đoàn tiến hành khóa chặt đoạn đường 22 giữa Tây Ninh và Gò Dầu, tiến tới tiêu diệt Trung đoàn 49, Sư đoàn 25 ngụy và các đơn vị địa phương của quân ngụy trên địa bàn. Trên hướng Trảng Bàng, Phước Mỹ, Phước Hiệp, Suối Sâu các Trung đoàn bộ binh 98 và 174 lần lượt bước vào chiến đấu theo kế hoạch tác chiến của sư đoàn.

Sư đoàn 25 ngụy đang phòng ngự ngăn chặn ta trên hướng Tây Bắc Sài Gòn đồng thời cũng là hướng tiến công chủ yếu của Chiến dịch Hồ Chí Minh (Tây Ninh-Trảng Bàng-Củ Chi), thực sự lâm vào tình trạng bị giam hãm. Không những địch không rút được chân ra khỏi các căn cứ để co về cứu nguy cho Sài Gòn mà còn phải đưa lực lượng cơ động ra phản kích giải tỏa, để rồi bị giữ chân lại ở chính nơi chúng đến ứng cứu.

Lúc này, từ nhiều hướng, các binh đoàn chủ lực của ta đã trải qua chiến thắng trên các chiến trường Tây Nguyên, Bình Trị Thiên, Quảng Nam-Đà Nẵng, Nam Trung Bộ… với khí thế “Thần tốc, táo bạo” của đội quân bách chiến bách thắng Quang Trung-Nguyễn Huệ năm xưa, trên 5 hướng sẵn sàng tiến vào nội đô Sài Gòn – sào huyệt cuối cùng của Mỹ-ngụy.

*

* *

Chiều 26-4-1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Quân đoàn 3 đảm nhiệm tiến công trên hướng tây bắc-hướng chủ yếu của chiến dịch. Quân đoàn 1 tiến công theo hướng đông bắc. Quân đoàn 2 đảm nhiệm hướng đông nam. Quân đoàn 4 đánh từ hướng đông. Binh đoàn 232 hướng tây nam. Các đơn vị đặc công, biệt động được huy động đánh chiếm những cây cầu trên các trục giao thông, đảm bảo cho những binh đoàn bộ binh được tăng cường tăng-thiết giáp thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu trong nội đô như: Sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, Dinh Độc Lập, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha cảnh sát…

Giờ của Chiến dịch Hồ Chí Minh lần này cũng là giờ G chung, đánh vào mục tiêu cuối cùng của cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân 1975, giờ G lớn nhất của lịch sử dân tộc mà đã hơn một năm qua quân, dân ta hằng mong đợi.

Để phối hợp với các sư đoàn trong quân đoàn và các hướng của Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu đánh vào Sài Gòn, đêm 26-4, Sư đoàn 316 triển khai toàn bộ lực lượng hoạt động xung quanh các căn cứ địch, hình thành thế bao vây chia cắt, giam hãm quân địch và sẵn sàng tiêu diệt Sư đoàn 25 ngụy. Trung đoàn 148 sẵn sàng đánh chiếm lại căn cứ Bầu Nâu-Trà Võ và tiêu diệt Trung đoàn 49 thuộc Sư đoàn 25 ngụy. Trung đoàn 174 đánh chiếm cứ điểm Trung Hưng và Phước Hiệp, Phước Mỹ. Trung đoàn 98 đánh chiếm thị trấn Trảng Bàng và tiêu diệt Trung đoàn 46, Sư đoàn 25 ngụy.

Ngày 27-4, các cụm pháo binh quân đoàn và sư đoàn lần lượt bắn chế áp các trận địa pháo địch ở Đồng Chùa, Trảng Bàng và các nơi khác của chúng.

9 giờ sáng 28-4, Trung đoàn 174 đánh tan một tiểu đoàn của Trung đoàn 50, Sư đoàn 25 ngụy có xe tăng yểm trợ từ Đồng Dù nống ra hòng giải tỏa Phước Mỹ-Trung Hưng, diệt 50 tên. Sau đó, trung đoàn thừa thắng tiến công đánh chiếm đồn bảo an Cây Trôm. Chiều 28-4, Đại đội 9, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 174 đã đánh chiếm Trung Hưng để mở rộng phạm vi chốt chặn.

22 giờ đêm hôm ấy, Trung đoàn 46, Sư đoàn 25 ngụy định lợi dụng đêm tối tiến công vào chốt chặn của Tiểu đoàn bộ binh 1, Trung đoàn 174 nhằm mở đường tháo chạy về Đồng Dù nhưng bị ta phát hiện, đánh bật trở lại.

Trung đoàn 98 vây đánh thị trấn Trảng Bàng và cụm Trung đoàn 46, Sư đoàn 25 ngụy. Khoảng 15 giờ chiều 28-4, địch cho 1 tiểu đoàn cùng xe tăng, xe thiết giáp tiến công vào trận địa chốt chặn của Tiểu đoàn bộ binh 7 nhưng bị ta chặn đánh, diệt 42 tên, buộc chúng phải co về.

Cụm pháo binh sư đoàn bắn mãnh liệt vào thị trấn Trảng Bàng, phá hủy một số công sự của địch trong chi khu, yểm hộ cho bộ binh đưa đội hình lên áp sát, thắt chặt vòng vây xung quanh Trảng Bàng, dùng loa vận động binh lính địch ra hàng. Lúc này Ban chỉ huy Trung đoàn 98 báo cáo: Có tên Thiếu tá Ninh-Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 49 ngụy, người của ta cài vào hàng ngũ địch muốn dẫn cả tiểu đoàn ra hàng… Trong tình hình ấy tốt nhất là chiếm Trảng Bàng nhưng không cần nổ súng. Tôi cho anh em tiếp tục tiến hành công tác địch vận làm rã hàng ngũ địch, tiếp thu lực lượng ra hàng, cùng với địa phương phân loại, chỉ giữ lại bọn sĩ quan và những tên ác ôn có nợ máu, số còn lại thì thu vũ khí, giải thích, lập danh sách rồi cho họ giải tán, tự về nhà.

Cuộc chiến đấu trên hướng Trung đoàn bộ binh 98 vẫn tiếp diễn liên tục. Tới 16 giờ, các mũi của Tiểu đoàn bộ binh 9 đánh chiếm thêm cứ điểm Gia Lâm, Trảng Cầy, ngày càng khép chặt vòng vây sở chỉ huy Trung đoàn 46, Sư đoàn 25 ngụy và sở chỉ huy chi khu Trảng Bàng. Cũng trong ngày 28-4, trên hướng Trung đoàn bộ binh 148 ta đã tổ chức đánh chiếm cứ điểm Cầu Cam, vây chặt Bầu Nâu, Trà Võ, Bến Kéo, Bến Mương…

Trung tướng, PGS, Tiến sĩ Nguyễn Hải Bằng
qdnd.vn

Giam chân, tiêu diệt địch trên hướng Tây Bắc Sài Gòn (bài 2)
Giam chân, tiêu diệt địch trên hướng Tây Bắc Sài Gòn (bài 1)

Bài 4: Tiến về Sài Gòn

Giam chân, tiêu diệt địch trên hướng Tây Bắc Sài Gòn (bài 2)

Bài 2: Chuyển giao nhiệm vụ

Rời Sở chỉ huy tiền phương, tôi đi thẳng tới Dầu Tiếng gặp anh Sáu Khâm trao đổi kế hoạch trinh sát thực địa ngày hôm sau. Anh Sáu Khâm, nguyên Sư đoàn trưởng Bộ binh 9 chủ lực Miền, cũng là bạn quen cũ. Có thời kỳ anh làm Trưởng phòng Tác chiến khi tôi làm Trưởng phòng Quân huấn Miền.

Kế hoạch trinh sát thực địa căn cứ Đồng Dù được tiến hành hai bước. Bước 1 là trinh sát ban ngày theo phương pháp công khai. Để thực hiện bước này, anh Sáu Khâm và tôi phải đóng giả nông dân, đội nón vác cuốc, có hai nữ du kích Củ Chi gánh lúa đi cùng vừa dẫn đường vừa làm nhiệm vụ bảo vệ. Bước 2 là trinh sát ban đêm, đột nhập căn cứ để xác minh những điều ban ngày chưa rõ, có nam du kích Củ Chi dẫn đường từng mũi.

Sáng 3-4-1975, Sư đoàn được lệnh hành quân vào Tây Ninh nhận nhiệm vụ mới. Cũng ngày hôm ấy, chúng tôi tiến hành trinh sát chỉ huy công khai căn cứ Đồng Dù. Sau ít phút cải trang làm anh nông dân đội nón, vác cuốc cùng “vợ” (nữ du kích Củ Chi) đi làm ruộng chúng tôi lặng lẽ lên đường. Đang đi bỗng một cô du kích nhìn chân tôi:

– Ủa, không ổn rồi. Sao chân anh Hai trắng thế? Ở đây không có ai chân trắng như anh Hai đâu. Thôi hãy tạm dừng để cải trang lại đã.

Tôi nhìn xuống đôi chân mình mà ngạc nhiên không hiểu sao hôm nay lại thế? Có lẽ vì mặc chiếc quần đùi cũ sẫm màu, hóa trang làm nông dân nên đôi chân bỗng được tôn lên. Thế là hai cô du kích thay nhau đốt rơm rạ, lấy than xoa lên đôi chân tôi cho thật giống chân của những người nông dân đất thép. Xong xuôi, chúng tôi thẳng hướng căn cứ Đồng Dù tiến bước. Trên đường, tôi chú ý quan sát địa hình: Bên phải là hàng loạt tháp canh của dân vệ, bảo an trong các ấp chiến lược, bên trái là sông Sài Gòn… Căn cứ Đồng Dù nằm trên một cánh đồng khá rộng, giữa ấp chiến lược với sông.

Quân giải phóng tiến công, đánh chiếm căn cứ Đồng Dù. Ảnh tư liệu.

…Đồng Dù trước đây vốn là căn cứ của Sư đoàn bộ binh cơ giới số 25 Mỹ với biệt danh “Tia chớp nhiệt đới”. Nó được thành lập trong Đại chiến thế giới thứ 2, chuyên tác chiến trên chiến trường châu Á – Thái Bình Dương. Sư đoàn này đã từng đổ bộ đánh chiếm nước Nhật và tham gia chiến tranh ở Triều Tiên, nổi tiếng đánh nhanh và chưa hề thất bại. Đây là sư đoàn bộ binh cơ giới được biên chế rất mạnh gồm 12 tiểu đoàn bộ binh cơ giới, 3 tiểu đoàn xe tăng, 6 tiểu đoàn pháo 105mm và 155mm, một tiểu đoàn không quân dã chiến cùng nhiều đơn vị bảo đảm khác với quân số chính thức 17.666 người, được đưa vào chiến trường miền Đông Nam Bộ cuối năm 1965. Khi mới vào miền Đông Nam Bộ, Sư đoàn bộ binh cơ giới này rất hung hăng, mở nhiều cuộc càn quét đánh phá vùng Củ Chi ác liệt. Quân – dân Củ Chi bám vào địa đạo tổ chức vành đai diệt xe cơ giới Mỹ xung quanh căn cứ, làm cho chúng mất ăn mất ngủ, tiêu hao nhiều sinh lực và phương tiện. Bộ binh cơ giới không có cách nào chui xuống địa đạo, phải tác chiến với một đội quân khi ẩn khi hiện như thần luôn rình rập bên mình. Chúng tập trung lực lượng tiến công vào chỗ không người, nhưng hễ dừng chân là bị bám đánh, trở về căn cứ là bị phục kích bất cứ chỗ nào. Sư đoàn bộ binh cơ giới nổi tiếng của Mỹ trong đại chiến thế giới thứ hai và chiến tranh Triều Tiên đã trở nên không phù hợp, mất tác dụng trước cách đánh biến hóa của quân và dân “Đất thép Củ Chi” anh hùng. Cộng thêm thất bại trong cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty định tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến Miền Nam và lực lượng chủ lực ở Miền chiến khu Dương Minh Châu (tháng 2-1967), Mỹ buộc phải giải thể đơn vị này để tổ chức thành một Sư đoàn bộ binh thường, chấm dứt sự nghiệp của một Sư đoàn bộ binh cơ giới Mỹ tưởng lẫy lừng nhưng cuối cùng lại phải tiêu tan trên “Đất thép”…

Vừa đi chúng tôi vừa trao đổi với các cô du kích để tìm hiểu thêm về quy luật hoạt động của địch. Chúng tôi đã đến rất gần căn cứ, chỉ cách khoảng vài trăm mét. Xung quanh chúng tôi cùng có nhiều tốp nông dân đang cuốc đất. Theo các cô du kích, trước đây địch không cho ai vào gần như thế này. Chỉ sau khi ta đánh thắng ở Tây Nguyên và Thừa Thiên – Huế, chúng tỏ ra chán nản, tìm cách lấy lòng dân để sau này không bị hỏi tội nên mới để mọi người vào gần căn cứ làm ăn. Tuy nhiên, chúng tôi cũng không vào quá gần, để phòng chúng phát hiện thì sẽ rất nguy hiểm.

Dừng chân vừa cuốc đất vừa quan sát cách bố phòng của địch trên hướng đông, chúng tôi nhích dần lên hướng đông bắc – hướng dự định tiến công chủ yếu. Theo sự đạo diễn của các cô du kích, chúng tôi dừng lại cùng với mấy nông dân làm đồng khác, tiến hành đào lỗ hun khói bắt chuột đồng nướng ăn. Tôi và anh Sáu Khâm vừa quạt khói vừa quan sát, ghi nhớ từng lô cốt, hàng rào, hỏa điểm, các trận địa… còn các cô thay nhau đuổi bắt chuột và nướng chuột, sau đó ngồi ăn trưa và đánh dấu từng vị trí lên sơ đồ vẽ tạm. Khoảng 14 giờ chúng tôi đã hoàn thành cơ bản nhiệm vụ trinh sát chỉ huy trên hướng chủ yếu.

Đêm hôm đó, các nam du kích dẫn đường từng mũi đột nhập hàng rào trinh sát, đoạn đột phá trên hướng chủ yếu, hướng thứ yếu và hướng phối hợp…

Sau khi trinh sát Đồng Dù tôi rất lo vì nhiệm vụ của Sư đoàn là chặn đứng Sư đoàn 25 ngụy trên hướng Tây Ninh không cho chúng co về Sài Gòn, trong khi hầu hết lực lượng của Sư đoàn này lại nằm ngoài dã ngoại (gồm Trung đoàn 46, Trung đoàn 49, Trung đoàn 50 (-), căn cứ Đồng Dù chỉ có một tiểu đoàn của Trung đoàn 50 và các đơn vị hậu cứ). Tôi nói với anh Sáu Khâm về đề nghị với Bộ chỉ huy Miền không nên sử dụng Sư đoàn 316 đột phá căn cứ Đồng Dù mà chỉ để một bộ phận bao vây, còn đại bộ phận lực lượng Sư đoàn tổ chức chốt chặt trên trục đường 22 và đường 1 kết hợp với bao vây chia cắt từng cụm địch đóng dã ngoại để tiêu diệt Sư đoàn 25 ngụy. Tôi xin bảo đảm với Bộ chỉ huy Miền nếu để Sư đoàn 25 ngụy co về Sài Gòn tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Sau đó Sư đoàn 316 chúng tôi nhận nhiệm vụ ngăn chặn và tiêu diệt lực lượng của Sư đoàn 25 ngụy đóng dã ngoại. Mặc dù mọi thứ Sư đoàn 316 đã sẵn sàng nhưng theo chỉ đạo của Bộ tư lệnh, nhiệm vụ tiến công tiêu diệt căn cứ Đồng Dù được chuyển giao cho Sư đoàn 320 đảm nhiệm… Chúng tôi bàn giao toàn bộ tình hình địch tại căn cứ Đồng Dù mà mình đã tiến hành trinh sát cho Sư đoàn 320 để kịp bắt tay vào nhiệm vụ vừa nhận.

Ngày 3-4-1975, Sư đoàn 316 được lệnh hành quân vào Trảng Bàng – Tây Ninh nhận nhiệm vụ chiến đấu. Đã cuối mùa khô thời tiết nắng, trời ít mây, khác hẳn với miền Bắc. Trên những chiếc xe vận tải quân sự và dân sự cán bộ, chiến sĩ hồ hởi lên đường. Tin vui chiến thắng loan báo dồn dập và liên tiếp từ các miền đất nước, khẩu hiệu “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa” càng giục giã đoàn quân đi nhanh, đi gấp để kịp dự trận quyết chiến cuối cùng. Tuy nhiên, trong cuộc hành quân này Sư đoàn cũng gặp một chút trục trặc. Để bảo đảm an toàn, đội hình hành quân của Quân đoàn, Bộ tư lệnh Quân đoàn không cho Tiểu đoàn thiết giáp M113 đi cùng đội hình hành quân của Sư đoàn 313, bộ phận này phải ở lại chờ cho quân đoàn đi hết mới được hành quân tiếp. Do đó, khi vào khu tập kết anh em phải mất khá nhiều thời gian mới tìm về được đơn vị.

Ngày 5-4-1975, Sư đoàn đến vị trí tập kết và nhận ngay nhiệm vụ chính thức từ Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 là Sư đoàn 316 chuyển sang làm nhiệm vụ chốt chặn chiến dịch thực chất là tổ chức trận địa phòng ngừa ngăn chặn địch trên trục đường số 1 và số 22, đoạn tới Gò Giầu – Tây Ninh đến Củ Chi không cho Sư đoàn 25 ngụy từ Tây Ninh co về tăng cường cho tuyến phòng thủ nội đô Sài Gòn, tiến tới tiêu diệt Sư đoàn này thật nhanh để sau đó làm lực lượng dự bị cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, vào chiến đấu trong nội đô Sài Gòn.

Địa bàn tác chiến của Sư đoàn 316 lần này nằm trong khu vực 3 huyện Gò Dầu, Trảng Bàng của tỉnh Tây Ninh và Củ Chi của Sài Gòn – Gia Định là nơi nổi tiếng trong cả nước về tinh thần kiên cường bất khuất của nhân dân đã bao năm chiến đấu oanh liệt với quân thù. Đây cũng là nơi tiếp giáp giữa Tây Ninh với Sài Gòn – Gia Định. Chiến trường trải rộng trên một địa hình bằng phẳng. Qua những cuộc càn đi quét lại nhiều năm của quân Mỹ – Ngụy, cây cối làng mạc trong vùng đã bị chặt phá trơ trụi, tiêu điều. Các điểm dân cư phân tán thành từng xóm nhỏ, nhà cửa lụp xụp, tản mát ven bìa cây lụp xụp.

Tôi bỗng nhớ lại cuối năm 1967. Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công chiến lược Tết Mậu Thân 1968, khi đang phụ trách Trưởng phòng Quân huấn kiêm Phó phòng Tác chiến Miền, tôi đã đến ấp Lộc Hưng làm việc với Bộ Tham mưu khu Sài Gòn – Gia Định. Địa hình hồi đó còn khá rậm rạp, cây cối từng ấp còn nhiều, thế mà nay đã trơ trụi, trống lốc. Các trục đường lớn chia cắt ngang dọc. Đường 1 từ Sài Gòn đi Phnôm-Pênh, đường 22 nối đường 1 từ Gò Dầu đi Tây Ninh lên biên giới Cam-pu-chia, tỉnh lộ 2 từ Củ Chi cắt ngang lộ 6 và cùng các lộ 6, 7 hình thành mạng lưới giao thông nối liền vùng giải phóng với vùng tạm chiến. Sông Sài Gòn chảy qua ba huyện theo hướng bắc – đông nam.

Từ những ngày đầu đến Trảng Bàng – Củ Chi, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn được nhân dân đùm bọc, chăm sóc, giúp đỡ mọi mặt. Càng căm thù giặc, đồng bào càng dành cho Sư đoàn tình yêu thương nồng hậu.

Sau mấy hôm tổ chức ổn định nơi ém quân, ngày 7-4-1975, Sư đoàn tổ chức đoàn cán bộ đi chuẩn bị chiến trường. Trên hướng này, ngoài Sư đoàn bộ binh 25 ngụy còn có Liên đoàn biệt động quân 32, các đơn vị bảo an, cảnh sát, dân vệ cùng Thiết đoàn 10 tăng – thiết giáp. Về pháo binh, trong địa bàn địch có 48 khẩu, chúng bố trí lực lượng hình thành 3 cụm phòng ngự liên hoàn có thể chi viện ứng cứu cho nhau: Cụm Bến Kéo – Trà Võ nòng cốt là Trung đoàn bộ binh 49, Sư đoàn 25 ngụy; Cụm Trảng Bàng – Bầu Đồn nòng cốt là Trung đoàn bộ binh 46, Sư đoàn 25 ngụy; Cụm Suối Sâu-Phước Hiệp-Đồng Chùa nòng cốt là một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 50/Sư đoàn 25 ngụy và Liên đoàn biệt động quân 32.

Cả 3 cụm phòng thủ này đều nằm trên các trục giao thông án ngữ tuyến ngoài của Sài Gòn – Gia Định. Địch dựa vào các cứ điểm xây dựng từ lâu, được củng cố nhiều lần, công sự vững chắc với đủ các loại vật chướng ngại nhiều lớp và bãi mìn dày đặc. Trong mỗi cứ điểm lại phân chia làm nhiều khu vực ngăn cách nhau để chống ta phát triển chiến đấu tung thâm.

Hỏa lực pháo binh được bố trí xen kẽ giữa các cứ điểm: Bến Kéo 2 khẩu 155mm, 4 khẩu 105mm; Bầu Nâu 2 khẩu 155mm, 4 khẩu 105mm; Gò Dầu 2 khẩu 155mm, 4 khẩu 105mm; Trảng Bàng 2 khẩu 155mm, 6 khẩu 105mm; Đồng Chùa 4 khẩu 155mm, 6 khẩu 105mm.

Ngoài ra chúng còn phân chia thành các phân đội nhỏ, phối thuộc trực tiếp cho các đơn vị phòng ngự trên các hướng quan trọng như Cẩm Giàng (4 khẩu 155mm), Bến Mương (4 khẩu 155mm), Lào Táo (4 khẩu 155mm). Các đơn vị tăng-thiết giáp cùng bộ binh địch bố trí trong các cụm trên hướng chủ yếu.

Ngày 17-4-1975, Đảng ủy Sư đoàn họp đề ra chủ trương lãnh đạo chấp hành nhiệm vụ mà Bộ tư lệnh Quân đoàn giao. Mặc dù về quân số và binh khí kỹ thuật của ta không ưu thế hơn địch trên toàn địa bàn mà Sư đoàn 316 đảm nhiệm, song trước thế áp đảo chung của chiến lược và chiến dịch, với trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng của Sư đoàn đã được nâng cao qua trận đánh mở màn giải phóng Buôn Ma Thuột, Đảng ủy và Ban chỉ huy Sư đoàn đều thống nhất quyết tâm tiêu diệt toàn bộ quân địch trong khu vực được giao bằng cách tập trung lực lượng tạo thành ưu thế tiêu diệt địch trong từng trận đánh.

Trung tướng, PGS, Tiến sĩ Nguyễn Hải Bằng
qdnd.vn

Giam chân, tiêu diệt địch trên hướng Tây Bắc Sài Gòn (bài 1)

Bài 3: Từng bước tiêu diệt Sư đoàn 25 nguỵ

Giam chân, tiêu diệt địch trên hướng Tây Bắc Sài Gòn (bài 1)

LTS: Sau khi hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ là lực lượng nòng cốt đánh trận mở màn Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 316 tiếp tục phát triển chiến đấu tham gia giải phóng nhiều địa phương. Đặc biệt trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Sư đoàn 316 được giao nhiệm vụ giam chân, tiêu diệt Sư đoàn 25 ngụy, Liên đoàn biệt động quân 23… tạo điều kiện cho đơn vị bạn mở cánh cửa thép trên hướng Tây Bắc Sài Gòn…

Nhân kỷ niệm 35 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975/30-4-2010), Báo Quân đội nhân dân xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc vệt bài của Trung tướng, PGS, Tiến sĩ Nguyễn Hải Bằng – một trong những cán bộ trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 316 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Bài 1: Chuẩn bị cho trận chiến đấu mới

Sau thắng lợi to lớn của Chiến dịch Tây Nguyên, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đòn hiểm Buôn Ma Thuột là chìa khóa mở cửa, ngày 23-3-1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta nhận định: “Trên thực tế, với Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng, cuộc tiến công chiến lược của ta đã bắt đầu”… và “Thời cơ chiến lược lớn đã tới. Trong suốt 20 năm chống Mỹ, cứu nước chưa bao giờ thuận lợi bằng lúc này”.

Quyết tâm của Bộ Chính trị là tập trung sức mạnh cả nước nhằm hoàn thành giải phóng Sài Gòn và miền Nam trước mùa mưa năm 1975. Để thực hiện nhiệm vụ cơ bản đó trước mắt là tiến hành giải phóng Huế – Đà Nẵng, tiêu diệt Quân khu I ngụy, không cho địch kịp co về giữ Sài Gòn, nhanh chóng giải phóng các tỉnh miền Trung và Nam Trung bộ. Đồng thời đẩy mạnh mọi mặt công tác chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng Sài Gòn.

Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định chuyển khối chủ lực của Tây Nguyên thành Quân đoàn 3 để tăng thêm thành phần trong khối chủ lực cơ động chiến lược.

Ngày 27-3-1975, trong buổi họp với Bộ tư lệnh Tây Nguyên, theo quyết định của Bộ Chính trị, đồng chí Văn Tiến Dũng công bố quyết định thành lập Quân đoàn 3 gồm các sư đoàn bộ binh 316, 10, 320 và các lữ đoàn, trung đoàn binh chủng trực thuộc. Đồng chí Vũ Lăng được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn; Chính ủy là đồng chí Đặng Vũ Hiệp; các đồng chí Nguyễn Năng và Kim Tuấn – Phó tư lệnh; Phó chính ủy là đồng chí Phi Triệu Hàm…

Quân đoàn 3 ra đời giữa lúc cuộc chiến tranh giải phóng đang đi vào bước ngoặt lịch sử quyết định. Việc thành lập Quân đoàn 3 trong lúc cuộc tiến công đang phát triển đánh dấu một nét rất mới là ta càng đánh càng mạnh, trong quá trình chiến dịch cũng như trong quá trình cuộc tổng tiến công và nổi dậy. Bộ đội Tây Nguyên lúc đầu chỉ là những đơn vị trung đoàn, sư đoàn. Sau chưa đầy một tháng chiến đấu đã tổ chức thành quân đoàn mạnh với đầy đủ các binh chủng kỹ thuật.

Ngày 1-4-1975, Bộ Chính trị hạ quyết tâm: “…Nắm vững thời cơ chiến lược hơn nữa, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4 năm 1975, không thể chậm..”.

Mũi tiến công của Quân giải phóng từ Củ Chi về sân bay Tân Sơn Nhất. Ảnh tư tiệu.

Sau trận mở màn Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 316 được lệnh gấp rút chuẩn bị mọi mặt để tiến quân vào chiến trường Nam bộ. Cán bộ, chiến sĩ vừa chuẩn bị cho tác chiến sắp tới vừa tiến hành công tác dân vận vùng mới giải phóng. Truyền thống làm công tác vận động quần chúng vùng mới giải phóng trước đây trong các Chiến dịch Biên giới 1950, Địch hậu 1951, Tây Bắc 1952, Điện Biên Phủ 1954… và các chiến dịch trên chiến trường nước bạn được phát huy. Hằng ngày, từng tổ công tác đi vào các bản làng đồng bào dân tộc thiểu số, các “ấp chiến lược” đồng bào di cư để tiến hành giải thích chính sách của Đảng, giúp địa phương xây dựng chính quyền mới ở cơ sở và giữ gìn trật tự trị an để nhân dân ổn định cuộc sống, đi vào sản xuất.

Cũng trong lúc này, hàng trăm thương bệnh binh nhẹ ở bệnh viện sư đoàn và quân đoàn lần lượt được trở lại các đơn vị chiến đấu. Về chuyện này tôi nhớ: Sau giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, rất nhiều thương bệnh binh nhẹ đều nằm lại điều trị tại đơn vị và bệnh xá sư đoàn. Quyết không rời chiến trường nên anh em không chịu đi quân y viện của mặt trận điều trị. Nếu để anh em ở lại đơn vị dưỡng thương thì sư đoàn không có tiêu chuẩn gì bồi dưỡng… Ban chỉ huy Sư đoàn 316 đã có ý định dùng số tiền ta thu được trong ngân hàng và các công sở của địch ở thị xã Buôn Ma Thuột để mua thực phẩm cho thương bệnh binh ăn thêm. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, phải báo cáo lên Bộ tư lệnh mặt trận để khỏi mang tiếng là tùy tiện sử dụng chiến lợi phẩm. Rất may hôm đồng chí Văn Tiến Dũng đến thăm sư đoàn và khảo sát trận đánh Sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy tại thực địa, tôi đã báo cáo việc này và xin phép được sử dụng tiền chiến lợi phẩm để mua thực phẩm bồi dưỡng cho thương bệnh binh. Đồng chí Văn Tiến Dũng đồng ý ngay và cũng phê bình khéo chúng tôi là không linh hoạt giải quyết sớm…

*

* *

Công tác chấn chỉnh tổ chức, bổ sung biên chế của sư đoàn được tiến hành hết sức khẩn trương. Về quân số, sư đoàn có 1 tiểu đoàn khoảng 800 chiến sĩ dự trữ cùng hành quân với sư đoàn vào Nam, để bổ sung trong quá trình chiến đấu. Vì vậy quân số vẫn đầy đủ, không có gì đáng ngại.

Về tổ chức trang bị, sư đoàn đã có những sáng tạo đáng ghi nhớ. Thứ nhất, số phương tiện xe bọc thép, pháo, cơ giới thu của địch được biên chế ngay vào lực lượng chiến đấu sắp tới. Đạn pháo 105mm của địch rất nhiều, trong khi đạn pháo 122mm của ta lại rất hiếm do vận chuyển vào không kịp. Sư đoàn chủ trương cho thay thế toàn bộ pháo 122mm ở miền Bắc đưa vào bằng pháo 105mm của Mỹ để tiện sử dụng số đạn sẵn thu được của địch. Sau này, trên đường hành quân vào miền Đông Nam bộ, nơi nào có đồn bốt địch, anh em hậu cần sư đoàn đều sục vào thu gom đạn pháo địch còn sót lại. Tuy nhiên, muốn chuyển đổi từ pháo 122mm sang pháo 105mm như vậy phải tiến hành huấn luyện bổ sung gấp để anh em nhanh chóng biết sử dụng vũ khí mới, theo phương pháp mới. Chuyện này được chúng tôi giải quyết không mấy khó khăn mà hiệu quả đạt được rất tốt.

Thứ hai, với số xe thiết giáp mới thu được của địch, sư đoàn thành lập ngay một tiểu đoàn xe bọc thép với 18 chiếc M113, dùng làm lực lượng đột kích trong trường hợp trên không tăng cường xe tăng. Nói chung các xạ thủ sử dụng súng trên xe thì không thiếu nhưng người lái hơi hiếm. Sư đoàn đã cùng chính quyền địa phương huy động số lái xe là công nhân máy kéo trong các đồn điền cao su quanh khu vực và sử dụng ngay một số lính lái xe tăng – thiết giáp của quân ngụy trước đây, nay tình nguyện tham gia quân đội. Anh em được huấn luyện bổ túc để có thể điều khiển thành thạo xe trong chiến đấu. Tiểu đoàn xe thiết giáp này đã phát huy tác dụng tốt trong thời gian tiến công Sư đoàn 25 ngụy tại Trảng Bàng, Đồng Dù… trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Để có đủ phương tiện vận chuyển lực lượng nhanh chóng cơ động vào chiến trường mới, chúng tôi đã liên hệ với Ủy ban Quân quản thị xã Buôn Ma Thuột huy động hơn 100 xe tải, xe ca của nhân dân, xe chiến lợi phẩm để chuyên chở bộ đội vào Đông Nam bộ, kịp thời làm nhiệm vụ tác chiến.

Đi đôi với chuẩn bị vật chất kỹ thuật, huấn luyện bổ sung, từ rút kinh nghiệm trận đánh Buôn Ma Thuột, sư đoàn còn tiến hành giáo dục chính trị cho cán bộ, chiến sĩ quán triệt quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trước thời cơ chiến lược mới để động viên khí thế chiến thắng và vận động mọi người sẵn sàng bước vào chiến đấu trong giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trước nhiệm vụ tuy nặng nề nhưng vô cùng vinh quang của những trận đánh cuối cùng sắp tới, tinh thần ấy cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 316 hăm hở và phấn khởi chưa từng có.

*

* *

Đầu tháng 4-1975, tôi nhận lệnh của Sở chỉ huy tiền phương Bộ tổng tư lệnh Mặt trận lúc này đã chuyển vào miền Đông Nam bộ, tổ chức đoàn cán bộ của sư đoàn đi chuẩn bị chiến trường tham gia chiến dịch mới. Sau khi đánh Buôn Ma Thuột, anh Đàm Văn Ngụy – Sư đoàn trưởng bị bệnh, sức khỏe giảm sút nhiều. Có lẽ trên muốn đưa anh đi chữa bệnh nên chỉ định đích danh tôi (Sư đoàn phó) phải chuẩn bị đi trước.

Anh Nguyễn Năng – Phó tư lệnh Quân đoàn 3 cùng tôi đến Sở chỉ huy tiền phương Bộ để nhận nhiệm vụ. Khi đi tôi đã hình dung ngay nhiệm vụ sắp tới của sư đoàn mình là tham gia giải phóng Sài Gòn.

Ngồi trên chiếc xe lắc lư trong đêm, với tâm trạng rất phấn khởi, phần vì được tham gia nhiệm vụ rất đặc biệt, vẻ vang hơn nhiều lần giải phóng Buôn Ma Thuột, phần vì được trở lại chiến trường đánh Mỹ quen thuộc mà tôi mới xa khoảng hơn một năm. Bất giác tôi hình dung lại một thời.

… Từ tháng 10 năm 1964, tôi đã chiến đấu suốt mười năm trên mảnh đất thân yêu và rất nhạy cảm của miền Nam anh hùng, bất khuất đi trước về sau này. Khi ấy tôi mới ở tuổi ngoài 30, trong đoàn cán bộ miền Bắc bổ sung để xây dựng bộ đội chủ lực cho chiến trường miền Nam. Từ tham gia chiến dịch Đồng Xoài tới khi Mỹ trực tiếp đưa quân vào miền Đông Nam bộ, đến các chiến dịch đánh Mỹ liên tiếp mở ra: Bầu Bàng, Dầu Tiếng, Chiến khu C, Chiến khu D… Qua chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty (Junction City) của quân đội Mỹ nhằm đánh vào căn cứ Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền (năm 1967) cho đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Rồi các chiến dịch trên đường 13 – “Con đường máu và nước mắt” mà quân Mỹ đã cay đắng đặt tên. Biết bao trận đánh ác liệt giữa Sư đoàn bộ binh 7 chủ lực Miền – Sư đoàn thân yêu cũ của tôi, chọi với Sư đoàn bộ binh số 1 “Anh cả đỏ” của Mỹ – sư đoàn mà chúng luôn tự hào là được thành lập đầu tiên của quân đội Mỹ (từ năm 1917).

Ngày 13 tháng 9 năm 1967, chính đại đội súng máy cao xạ của Sư đoàn 7 đã bắn rơi chiếc trực thăng chở tên Trung tướng Két-U-Oe (Ket uoe) – Tư lệnh Sư đoàn bộ binh số 1 “Anh cả đỏ” ấy, khi hắn đang đốc thúc quân lính đi giải tỏa đường 13 bị Sư đoàn 7 của ta băm nát từng đoạn. Két-u-oe chết làm náo động cả Sài Gòn và nước Mỹ. Có kẻ tin vào số mệnh cho rằng: Phải chăng viên Trung tướng 3 sao này chết vì khắc tinh của hắn là sự kết hợp 3 con số 13 xúi quẩy: “13 giờ ngày 13 trên đường số 13”. Nhiều người khác – và cả riêng tôi – thì lại nghĩ là chẳng phải thế. Trong chiến tranh bất cứ điều gì bất ngờ cũng có thể xảy ra.

Cũng tại nơi đây chúng tôi đã nhiều lần chạm trán với Sư đoàn bộ binh cơ giới số 25 Mỹ mang tên “Tia chớp nhiệt đới”; rồi lại với Lữ đoàn dù 173 mà quân Mỹ vẫn huênh hoang là lữ đoàn nổi tiếng đánh thắng trên chiến trường Triều Tiên. Tiếp theo đó là cuộc chiến với Sư đoàn không vận số 1 – con đẻ của “Bộ óc điện tử” Mắc Na-ma-ra (Mac Namara), nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thời Tổng thống Lin-đơn Giôn-xơn (Lyndon Johnson)… và những sư đoàn bộ binh 5, 18, 25 của quân ngụy… Biết bao đợt bom rải thảm của B52, của chất độc da cam làm xơ xác những cánh rừng bạt ngàn miền Đông “gian lao mà anh dũng”. Biết bao đồng đội của tôi được bổ sung cho chiến trường miền Nam ngày ấy, nay đã vĩnh viễn yên nghỉ trên mảnh đất thương yêu này… Thế rồi tôi đã thiếp đi trên xe trong giấc ngủ chập chờn nhưng đầy kỷ niệm.

*

* *

Sáng hôm sau chúng tôi đến thị xã Phước Long, nơi Sư đoàn 7 cũ của tôi mới giải phóng cách đây mấy tháng. Gặp lại một số cán bộ cũ, tôi hỏi về tình hình tiến công thị xã Phước Long, tranh thủ đi xem một số nơi để rút kinh nghiệm. Ngày hôm sau, lợi dụng thời tiết sương mù, ít máy bay hoạt động, tôi cho bộ đội ngụy trang xe, hành quân ban ngày. Đến chiều thì gặp đoàn cán bộ hậu cần do anh Ba Vinh (tức Huỳnh Thanh Ngân) – Phó tư lệnh Quân đoàn 4 ra đón. Tôi quen anh Ba Vinh từ hồi anh còn làm Cục phó Cục Hậu cần Miền. Gặp nhau tay bắt mặt mừng, anh Ba Vinh cho biết: “Nhiệm vụ của mình là đón Sư đoàn 316 vào chiến trường Đông Nam bộ để bổ sung vật chất”.

… Theo kế hoạch trước đây, sau giải phóng Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 316 sẽ bổ sung cho chiến trường miền Đông Nam bộ. Sợ anh Ba Vinh lầm tưởng tôi có nhiệm vụ bổ sung cho miền Đông nên tôi nói và hỏi để rõ thêm:

– Hiện tại Sư đoàn 316 thuộc biên chế của Quân đoàn 3, vào tham gia chiến đấu trong này liệu có phải là đối tượng để anh giải quyết cung cấp không?

Anh Ba Vinh vui vẻ cho biết:

– Bất cứ đơn vị nào được lệnh tăng cường chiến đấu cho giải phóng Sài Gòn thì anh đều có nhiệm vụ cung cấp vật chất cả.

Tôi thông báo với anh:

– Trước mắt, chỉ cần hai khoản là tiền mặt và xăng dầu giải quyết cho hơn một trăm xe của dân đã huy động để chở quân.

Theo ý tôi, anh Dương Văn Thí – Chủ nhiệm Hậu cần sư đoàn làm ngay dự trù xin tiền và xăng dầu nộp anh Ba Vinh. Xem bản dự trù anh Thí làm, tôi hơi ngạc nhiên vì số lượng tăng khá nhiều so với yêu cầu. Tôi thầm biết mục đích anh Thí làm như vậy để trừ hao, trên duyệt bớt đi là vừa. Anh Ba Vinh xem xong dự trù, nói vui: “Hình như các ông yêu cầu quá nhiều, có thể gấp đôi đấy! Nhưng thôi được, ưu tiên quân chủ lực dự bị chiến lược của nhân dân miền Bắc gửi vào giải phóng Sài Gòn”. Nói xong anh cầm bút ký duyệt ngay, không hề bớt.

Trung tướng, PGS, Tiến sĩ Nguyễn Hải Bằng

Bài 2: Chuyển giao nhiệm vụ
qdnd.vn

Đập tan “vành đai thép” duyên hải

Những ngày đầu tháng 4-1975, tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam cộng hòa cố tỏ ra “cứng cỏi” báo cáo Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: “Mất Nha Trang, Cam Ranh thì còn Phan Rang. Còn sân bay thì máy bay ắt còn đánh được tới Đà Nẵng. Bằng mọi giá phải giữ Phan Rang. Nếu để mất Phan Rang thì cộng sản có thể dùng sân bay này tiến công Sài Gòn”.

Tổng thống Thiệu và tướng Viên bắt tay nhau thề phải giữ Phan Rang và nhận định: “Cái sống, cái chết bây giờ ở Phan Rang, chỉ còn vài tháng nữa là tới tháng 5 âm lịch, khi đó đã bước sang đầu mùa mưa”. Thiệu đấm mạnh tay xuống bàn, ra lệnh: “Phải giữ bằng được Phan Rang, lập một “lá chắn” vững chắc ở đó để chặn đường bộ, đường biển của cộng sản”, rồi giao nhiệm vụ cho Tư lệnh Quân khu 3, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn phải đi thị sát ngay.

Trung tướng Toàn lập ngay một sở chỉ huy tiền phương của quân khu ở Phan Rang và cử Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi làm chỉ huy trưởng, trực tiếp trấn an tinh thần binh sĩ.

Sau chiến thắng vang dội giải phóng tỉnh Bình Định, Sư đoàn 3 (Sư đoàn Sao Vàng) nhanh chóng rút kinh nghiệm và khẩn trương củng cố lực lượng, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.

Sáng 8-4, sư đoàn nhận lệnh hành quân vào giải phóng Phan Rang. Được sự giúp đỡ của chính quyền và nhân dân các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, sư đoàn đã huy động 924 chiếc xe khách, xe tải… vận chuyển quân thần tốc vào Phan Rang. Đến giờ, trong mỗi cán bộ, chiến sĩ cựu chiến binh của sư đoàn đến giờ vẫn không thể quên những ngày hành quân hào hùng ấy. Bao năm sống trên rừng, quanh ra cũng đèo dốc, quanh lại cũng dốc với đèo, khó khăn gian khổ không kể hết, bộ đội sư đoàn luôn ước mong có một ngày được xuống đồng bằng, được tự do đi trên con đường lớn. Ước mong ấy đã trở thành hiện thực. Ngồi trên xe băng băng trên quốc lộ 1 giữa ban ngày, trong tiếng hò reo vang dậy của đồng bào hai bên đường từ Bình Định vào Khánh Hòa, với những ánh mắt, nụ cười, vẫy tay chào đón của bao em thơ, bà mẹ… càng làm cho hàng vạn cán bộ, chiến sĩ sư đoàn tràn ngập mừng vui, tự hào. Tất cả cùng hát vang bài ca “Tiến về Sài Gòn”.

Ngày 11-4, toàn sư đoàn vào tới Phan Rang. Sở chỉ huy của đoàn đặt trên núi Xanh; từ đây quan sát được nhiều huớng và nhìn khá rõ sân bay Thành Sơn. Trên đường băng, những chiếc trực thăng vẫn bay lên, hạ xuống khá bình thản; thỉnh thoảng lại có một tốp máy bay phản lực cất cánh. Chúng không hay biết, lực lượng pháo cao xạ, pháo mặt đất 57 ly và bộ binh của ta đã áp sát sân bay, chờ lệnh nổ súng. Cái gọi là “Vành đai thép” của Tổng thống Thiệu, Trung tướng Toàn cùng các tướng lĩnh dựng lên đang bị lung lay mà chúng không hay biết.

Đúng 5 giờ 30 phút ngày 14-4, các trận địa pháo binh của sư đoàn đồng loạt nổ súng; các cứ điểm địch ngập chìm trong biển lửa; tiếp đó, xe tăng và bộ binh của sư đoàn ở các hướng đồng loạt xông lên như nước lũ. Hàng nghìn tên địch bị tiêu diệt, chạy trốn, hoặc bỏ vũ khí ra hàng. Bộ đội ta hò reo vang trời.

Qua hai ngày đêm ngoan cường chiến đấu, sư đoàn đã tiến công dứt điểm Phan Rang, tiêu diệt và bắt sống hàng nghìn tên địch, thu nhiều vũ khí các loại. Đặc biệt trong chiến đấu giải phóng Phan Rang, sư đoàn đã bắt sống hai viên tướng ngụy. Đó là Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang và Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi cùng một cố vấn Mỹ. Đây là một sự kiện chưa từng có trong chiến tranh chống Mỹ-ngụy ở miền Nam. Người lập công bắt tướng ngụy là Binh nhất Nguyễn Văn Quân, thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 2. Sự kiện Sư đoàn 3 giải phóng Phan Rang, bắt sống tướng địch được truyền đi rất nhanh và được Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện khen ngợi.

Sau khi giải phóng Phan Rang, làm sụp đổ toàn bộ “vành đai thép” của địch, sư đoàn tiếp tục tiến công giải phóng Phan Thiết, Bà Rịa, Vũng Tàu; phối hợp với Quân đoàn 2 tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Xuân Tuynh
qdnd.vn

Trường Sa, hòa bài ca giải phóng

Chiến công nối tiếp chiến công, chỉ trong hai tuần, từ 14 đến 29-4-1975, cùng với các mũi tiến công trên đất liền, bộ đội ta đã lần lượt giải phóng tất cả các đảo trên quần đảo Trường Sa, góp phần làm cho ngày toàn thắng của dân tộc thêm trọn vẹn. Chúng tôi xin giới thiệu một số chiến thắng nổi bật của bộ đội ta trong thực hiện nhiệm vụ giải phóng quần đảo Trường Sa.

Song Tử Tây (14-4-1975): Mở cửa

Đúng vào ngày Bộ Chính trị Đảng ta quyết định đổi tên Chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định thành Chiến dịch Hồ Chí Minh thì cũng là lúc lực lượng đặc công của Quân chủng Hải quân và Quân khu 5 do Trung tá Mai Năng làm chỉ huy trưởng có mặt trên 3 tàu vận tải của Đoàn M25 từ Quân cảng Đà Nẵng tiến công giải phóng đảo Song Tử Tây. Với kinh nghiệm đi biển, cán bộ, chiến sĩ ta đã khôn khéo cho tàu ém sát đảo, tìm vị trí thuận lợi để đổ bộ, chiếm lĩnh các vị trí chiến đấu. Đúng 4 giờ 30 phút ngày 14-4, sau phát súng ĐKZ báo hiệu hiệp đồng, bộ đội ta chia làm ba mũi tiến công địch. Sau 30 phút bị quân ta tiến công, lượng sức không thể chống cự được nên địch bỏ chạy tán loạn. Quân ta vừa truy lùng, vừa kêu gọi địch đầu hàng. 5 giờ 15 phút ngày 14-4, toàn bộ số địch trên đảo ra hàng, cờ đỏ sao vàng do chiến sĩ Lê Xuân Phát kéo lên báo hiệu: Đảo Song Tử Tây giải phóng.

Tình đoàn kết trên đảo chìm Đá (Trường Sa, Khánh Hòa).

Song Tử Tây bị mất đe dọa nghiêm trọng đến tuyến phòng thủ của địch trên quần đảo. Để cứu vãn tình thế, địch điều hai tàu chiến từ Vũng Tàu ra với ý định phản kích, chiếm lại Song Tử Tây. Nhưng trước sự phòng thủ kiên cường của ta và thất bại dồn dập của địch trong đất liền khiến đám quân chi viện hoang mang, không dám tiến công Song Tử Tây. Chiến thắng của ta ở Song Tử Tây có vai trò “mở khóa” cho quá trình giải phóng Trường Sa.

Sơn Ca (25-4-1975): Bật gốc “ổ đề kháng” trên biển

Rạng sáng 25-4-1975, trên đất liền, quân và dân ta đã hoàn thành khâu chuẩn bị cuối cùng để bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử thì ở “Mặt trận Biển Đông”, cán bộ, chiến sĩ Đội 1, Đoàn đặc công Hải quân M26 và Tiểu đoàn đặc công B71 (Quân khu 5) đi trên hai tàu mang số hiệu 673 và 641 do Thiếu úy Đỗ Viết Cường chỉ huy, bí mật đổ bộ, tiến công địch trên đảo Sơn Ca. Chỉ sau ít phút chiến đấu, toàn bộ số địch trên đảo cùng vũ khí, phương tiện đã bị quân ta bắt sống. Trời vừa hửng sáng, lá cờ đỏ sao vàng phấp phới bay trước gió báo hiệu Sơn Ca được giải phóng hoàn toàn. Từ đó, ngày 25-4 trở thành ngày truyền thống của đảo. Sơn Ca vừa giải phóng thì Chiến dịch Hồ Chí Minh khai màn trên đất liền khiến bọn địch trên các đảo còn lại ở Trường Sa lâm vào thế hoảng loạn. Từ đây, quân ta tiến vào giải phóng các đảo trên quần đảo Trường Sa mà hầu như không vấp phải sự kháng cự đáng kể nào của địch.

Trường Sa Lớn (29-4-1975): Quần đảo trọn niềm vui

Sau khi lần lượt giải phóng các đảo trên quần đảo Trường Sa, 9 giờ sáng 29-4-1975, Phân đội chiến đấu của Đoàn M26 (Quân chủng Hải quân) và Đặc công Quân khu 5 đổ bộ, đánh chiếm và giải phóng hoàn toàn đảo Trường Sa Lớn, kết thúc một nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về chiến lược, góp phần vào thắng lợi trọn vẹn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Bài và ảnh: Hồng Hải
qdnd.vn

Thần tốc từ Gia Lâm đến Tân Sơn Nhất

Không khí đón Tết Bính Dần – 1975 ở Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ) thật vui vẻ, náo nức và bừng bừng khí thế chuẩn bị chiến đấu như hồi Tết Mậu Thân – 1968. Không quân nhân dân, gồm không quân tiêm kích và không quân vận tải chuẩn bị đầy đủ lực lượng, trang bị vũ khí, máy bay để hiệp đồng chiến đấu và chi viện chiến trường miền Nam.

Ngay từ trước Tết, Lữ đoàn không quân vận tải 919 đã tổ chức bố trí xong sân bay đầu cầu Đồng Hới (Quảng Bình) và tập trung điều động lực lượng, trang thiết bị để thiết lập cầu hàng không Gia Lâm-Đồng Hới, chuyển quân, vũ khí, đạn dược, thuốc men vào tập kết ở sân bay đầu cầu, rồi từ đó, dùng ô tô vượt sông Bến Hải chuyển tiếp vào Đông Hà, Đường 9, chuyển đi các chiến trường miền Nam.

Mở đầu đợt vận chuyển nước rút đầu tiên, chỉ trong một đêm, Lữ đoàn 919 bí mật và an toàn đưa đoàn A-75 (mật danh của Bộ Tổng chỉ huy tiền phương) vào Đồng Hới, rồi từ đây đoàn theo đường dây 559 bí mật xuyên rừng vào sở chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên. Đoàn do Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng chỉ huy.

Lực lượng của Quân đoàn 1 hành quân bằng đường không vào tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu.

Quyết tâm giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975 không chờ đến năm 1976 được Bộ Chính trị phê duyệt tạo sức mạnh to lớn làm bật dậy những khả năng tiềm tàng trong vận chuyển đường không.

Khi Quân đoàn 2 vào đánh chiếm và giải phóng Trị-Thiên-Huế thì từ sân bay đầu cầu, một biên đội Mi-8 do Phi đội trưởng Trần Quang Bích dẫn đầu đã vượt sông Bến Hải sang Đông Hà, theo sau là biên đội Mi-6 “cần cẩu bay”. Bụi bốc lên mù mịt theo cơn lốc của các cánh quay trực thăng ở sân bay đầu cầu. Nhiều khẩu đội trọng pháo 130mm dự bị cùng cơ số đạn lần lượt được không vận đến bãi tập trung bí mật ở ven đường số 9, sẵn sàng tăng cường cho hướng tiến công chủ yếu dọc quốc lộ 1. Những cánh bay không quân vận tải luôn theo sát cuộc hành quân thần tốc của Quân đoàn 2.

Sân bay Gia Lâm trở thành một nhà ga lớn, hàng quân dụng ùn ùn chuyển về chất từng đống lớn cao ngất. Và hàng nghìn cán bộ quân, dân, chính, Đảng; nhà báo, nhà văn, nghệ sĩ tấp nập về đây như trẩy hội chờ đến lượt bay vào phía Nam để bổ sung cho đội ngũ tiếp quản các tỉnh, thành phố vừa giải phóng và sắp giải phóng.

Các tổ bay tự nguyện tăng chuyến, không ngại vất vả, nhọc nhằn. Bay ngày chưa đủ, bay bù ban đêm, ngày nghỉ cũng như ngày thường, liên tục cất cánh. Có hàng, có người lên đủ là cất cánh. Nhiều khi lỡ bữa, hạ xuống Đồng Hới, dưới cánh bay, anh em chia nhau một phong lương khô, một ngụm nước trong bi đông lấy sức rồi lại lên máy bay “mã hồi” sân bay căn cứ để kịp bay chuyến tiếp. Các bộ phận phục vụ dưới đất cũng thi đua tăng ca, tăng kíp, làm thêm giờ bảo đảm phục vụ kịp thời các chuyến bay. Đường băng luôn tốt. Các hỏng hóc của máy bay được loại trừ nhanh chóng, bảo đảm máy bay luôn sẵn sàng cất cánh. Xăng dầu luôn tra nạp nhanh, đủ, chất lượng đúng tiêu chuẩn kỹ thuật; bốc dỡ hàng nhanh chóng, xếp gọn gàng, khoa học đủ thể tích trọng lượng chuyên chở. Cơ quan điều phối tham mưu lên kế hoạch bay chặt chẽ, sít sao, điều độ không lưu an toàn tuyệt đối, hiệp đồng chặt chẽ với hệ thống phòng không quốc gia.

Một vấn đề lớn đặt ra với Quân chủng PK-KQ: Tổ chức điều động thêm lực lượng cán bộ, chiến sĩ bổ sung tăng cường cho Lữ đoàn 919 để thu hồi và tiếp quản các sân bay ở miền Nam khi được giải phóng, trong đó, có 9 sân bay lớn cấp 1 với đường băng bê tông dài hơn 3.000 mét, 6 sân bay cực đại có hai đường băng dùng cho cả dân dụng và quân sự. Quân chủng xin Bộ Tổng tham mưu được vận chuyển lực lượng này bằng cả đường không, đường bộ và đường biển. Mệnh lệnh được Bộ tư lệnh đưa ra trước khi các đoàn xuất phát là: Chậm nhất 24 giờ sau khi tiếp quản sân bay phải bảo đảm cho máy bay ta đáp cánh và cất cánh an toàn, thu hồi quản lý chặt chẽ tất cả các tài sản, trang thiết bị, máy bay… do địch bỏ lại ở các sân bay. Nếu cần thiết, có thể tuyển lựa, sử dụng thêm cả công chức, nhân viên đã làm việc cho chế độ cũ.

Quân đoàn 2 và các lực lượng vũ trang vừa đánh chiếm giải phóng Huế xong thì biên đội trực thăng Mi-8, tiếp sau là biên đội trực thăng Mi-6 đã táo bạo luồn lách ra biển để tránh hỏa lực phòng không mặt đất, tiến vào hạ cánh xuống sân bay Phú Bài. Không có ra-đi-ô chỉ huy đối không dưới sân bay, tầm nhìn rất xấu do mây mù và mưa rả rích, nhưng các tổ bay vẫn an toàn lách qua cột ăng ten cao hơn 150 mét ở sân bay Phú Bài.

Bốn ngày sau khi ta giải phóng Huế, ngày 19-3 quân ta tiến vào giải phóng thành phố Đà Nẵng. Ngay sau đó tổ bay IL-14 của Vũ Quý Đĩnh đã hạ cánh xuống sân bay Chu Lai; tiếp theo là tổ bay AN-24 của Lê Văn Nha hạ cánh xuống sân bay Đà Nẵng giữa khung cảnh ngổn ngang đồ quân dụng, va-li, hòm xiểng của quân ngụy vứt bỏ lại trên khắp đường lăn và hai đầu đường băng. Hai tổ bay đã kịp thời đưa hai đoàn tiếp quản của ta vào hai sân bay lớn nhất miền Trung.

Nhờ sự tiếp quản kịp thời đó, bộ đội ta đã phát hiện tại hai sân bay trên có một số máy bay A37 và UH-1 còn nguyên vẹn, có khả năng sử dụng được, liền điện về báo cáo Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ.

Một phương án táo bạo được vạch ra: Lấy máy bay địch diệt địch góp phần trực tiếp vào cuộc Tổng tiến công.

Phó tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài, Tư lệnh Quân chủng PK-KQ Lê Văn Tri, Phó tư lệnh không quân Trần Mạnh cùng đoàn chuyên gia kỹ thuật, trong đó có Phó tiến sĩ Hồ Thanh Minh tham gia vào giám định, kiểm tra tại chỗ những chiếc A37 và UH-1 có thể sử dụng được. Trên cơ sở kết quả giám định và kiểm tra kỹ thuật tại chỗ, Bộ Tổng tham mưu đã phê chuẩn phương án táo bạo trên của Quân chủng PK-KQ.

Vào thời điểm ấy, Bộ Chính trị đã quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn-Gia Định. Lập tức, tổ bay IL-18 đưa 4 phi công tiêm kích của Trung đoàn Không quân 923 vào sân bay Đà Nẵng để tham gia bay huấn luyện cấp tốc chuyển loại máy bay A37. Được sự đồng ý của Bộ chỉ huy tiền phương, tổ bay Lê Đình Ký đã bay vào Tây Nguyên đón Nguyễn Thành Trung, phi công tình báo của ta vừa dùng F5-A ném bom Dinh Độc Lập của Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu. Một biên đội gồm 5 chiếc A37 đã được biên chế tổ chức xong, biên đội trưởng được chỉ định là Nguyễn Thành Trung. Tư lệnh PK-KQ Lê Văn Tri báo cáo lên Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh phương án dùng biên đội A37 lấy tên mật là “Quyết thắng” ném bom sân bay Tân Sơn Nhất. Vốn là phi công A37, nên Nguyễn Thành Trung đã kèm bay chuyển loại xong cho 4 phi công tiêm kích ta trong thời gian rất ngắn.

Phan Rang vừa giải phóng, tổ bay AN-24 của Nguyễn Doạt đã vào hạ cánh xuống sân bay Phan Rang, dẫn giải kịp thời Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư lệnh Quân đoàn 3 ngụy và Chuẩn tướng Sang, Tư lệnh Sư đoàn không quân ngụy số 3 ra Hà Nội để Bộ Tổng tham mưu khai thác tình hình bố phòng của địch, chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng Sài Gòn-Gia Định.

Qua khai thác tài liệu của hai viên tướng ngụy, ta đã sơ bộ nắm được kế hoạch bố phòng của địch và biết được ý đồ địch lấy Xuân Lộc làm điểm chốt chặn quân ta tiến vào Sài Gòn. Địch đã tung vào đó khá nhiều xe tăng.

Lập tức, Quân đoàn 4 do tướng Trần Văn Trà chỉ huy được điều động tiến công nhổ “ba-ri-e” Xuân Lộc. Lữ đoàn xe tăng được giao nhiệm vụ tiên phong. Các phân đội pháo chống tăng được tăng cường hiệp đồng chặt chẽ với bộ binh, chuẩn bị cho trận đấu xe tăng ác liệt. Bộ chỉ huy chiến dịch yêu cầu chuyển gấp đạn pháo cho xe tăng và đạn pháo chống tăng bổ sung cho các đơn vị. Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Đinh Đức Thiện trực tiếp điện thoại yêu cầu không quân vận tải tổ chức trực thăng không vận số đạn pháo trên đến gần sát hỏa tuyến. Các địa điểm chỉ định chuyển đạn pháo đến là những khoảng trống trong rừng, không có tên trên bản đồ, chỉ được xác định bằng tọa độ, có pháo hiệu và mảnh vải chữ T đánh dấu, chỉ điểm bổ trợ cho máy bay hạ cánh. Thời gian này trời rất mù và mưa, tầm nhìn chỉ mấy trăm mét. Các tổ bay động viên nhau khắc phục mọi khó khăn, đưa đạn pháo tới đích là góp phần trực tiếp nổ súng tiêu diệt địch. Phân đội Mi-6, “cần cẩu bay” được giao trọng trách vận chuyển đạn pháo, do tổ bay Xuân Trường dẫn đầu đã khắc phục trời mù và mưa to, bay thấp gần sát ngọn cây, căng mắt quan sát bốn phía tìm bằng được điểm chỉ định hạ cánh. Và, phân đội đã hoàn thành nhiệm vụ chuyên chở hơn 100 tấn đạn pháo cùng khối lượng lớn bản đồ Sài Gòn-Gia Định kịp thời cung cấp cho các hướng tiến công vào Sài Gòn-Gia Định.

Ngày 27-4-1975, Đại tướng Văn Tiến Dũng trực tiếp lệnh cho Tư lệnh PK-KQ đang ở sân bay Phan Rang:

– Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng không quân ném bom sân bay Tân Sơn Nhất trong ngày 28-4-1975. Cho phép không quân chọn giờ G để tạo thế tiến công bất ngờ nhất.

Đại tướng nhấn mạnh: “Trận ném bom Tân Sơn Nhất của không quân ta là trận mở màn cho cuộc Tổng tiến công của 5 cánh quân vào Sài Gòn-Gia Định. Chúc Không quân hoàn thành nhiệm vụ”.

17 giờ 15 phút ngày 28-4-1975, từ sân bay Phan Rang mới giải phóng và tiếp quản, biên đội 5 chiếc máy bay A37 do Nguyễn Thành Trung dẫn đầu đã bay vòng ra biển, tránh sự phát hiện của địch và tránh hỏa lực phòng không của cả hai phía ta và địch, bất ngờ xộc thẳng vào không phận Tân Sơn Nhất, oanh tạc khu vực sân đỗ của các máy bay vận tải địch. Biên đội lần lượt bổ nhào xuống ném hết cơ số bom mang theo, phá hủy nhiều chiếc máy bay địch, tạo nên một cột khói đen lớn che kín vùng trời sân bay Tân Sơn Nhất, khiến quân địch hoảng loạn, không kịp đối phó, ngụy quân, ngụy quyền hoang mang cực độ.

Sáng 30-4-1975, năm cánh quân lớn của quân ta đồng loạt tiến vào Sài Gòn cùng với quần chúng nổi dậy, giải phóng hoàn toàn Sài Gòn-Gia Định. Cán bộ, chiến sĩ không quân nhân dân Việt Nam lòng tràn đầy tự hào, vì đã góp phần tích cực vào Đại thắng mùa Xuân 1975.

VŨ THÀNH
qdnd.vn