Tag Archive | Đại Đoàn Kết

Đoàn kết: Chúng ta là sức mạnh!

Khi Bác Hồ nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”, chúng ta đều hiểu rằng: Đoàn kết là cái gốc của thành công.

Cũng nói về vấn đề này, từ xa xưa dân gian có câu: “thuận vợ thuận chồng, biển Đông tát cạn – Thuận bè thuận bạn, tát cạn biển Đông”. Vậy là câu ca dao cổ này đã dậy cho ta thêm một tác dụng nữa: Đoàn kết là động lực của thành công!

Nhưng, Đoàn kết chỉ thực sự là cái gốc, là động lực của thành công, khi đó là thứ Đoàn kết thực lòng; Đoàn kết mang tính chiến lược, chứ không mang tính chiến thuật (tiếc thay, người ta lại hay lạm dụng cái chiến thuật này trong ứng xử với đồng bào, đồng chí!).

Trong thực tế lịch sử Dân tộc ta, “Đoàn kết” không chỉ là cái gốc, là động lực; mà Đoàn kết còn là mục tiêu của cuộc sống nữa: thương yêu, đùm bọc trong tình đồng loại, trong “tình làng nghĩa xóm”,… vốn là truyền thống nhiều đời của Con Người Việt Nam. Đó chính là tầm cao hơn của Đoàn kết; là tính xã hội rộng nhất, tính nhân văn sâu sắc nhất, tính không vụ lợi rõ rệt nhất và cũng là tình Người cao cả nhất!

Và mục tiêu Đoàn kết chỉ và chỉ thực hiện được trong môi trường Dân chủ, Bình đẳng; đương nhiên là Dân chủ thật sự, Bình đẳng thật sự. Dân chủ, Bình đẳng là điều kiện tiên quyết để có Đoàn kết. Không có Dân chủ thì không thể có Bình đẳng; không có Dân chủ, Bình đẳng thì không thể có Đoàn kết. Đó là chân lý vĩnh cửu! Không ai khác, chính Bác Hồ đã từng nhấn mạnh trong “Di Chúc”: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng”.

Tư tưởng Dân chủ của Đảng và Bác Hồ trước hết cần được thể hiện trong tất cả các hoạt động của Quốc Hội – cơ quan quyền lực cao nhất của Nhân Dân. Tiếc rằng cho đến nay, điều đó chưa thực hiện được là bao! Chúng ta hãy nghe tâm sự của giáo sư Nguyễn Lân Dũng, vị đại biểu quốc hội nổi tiếng “dám nói”, khi phóng viên báo Dân trí phỏng vấn ông (ngày 8 tháng 1 năm 2008):

PV: Ông có thể cho những ví dụ cụ thể về sự chưa dân chủ trong hoạt động Quốc hội ?

Đại biểu Nguyễn Lân Dũng: Không ít đâu. Ví như việc bầu các chức danh chẳng hạn. Khi không có số dư thì không có sự lựa chọn nào khác mà không có sự lựa chọn khác thì sao gọi là dân chủ được? Tôi biết rằng khi có người được đề cử xin rút khỏi danh sách đề cử thì nhẽ ra phải được Quốc hội thảo luận có đồng ý cho rút hay không? Rồi việc dự thảo các văn bản luật lại giao cho các Bộ, Ngành chủ trì thì làm sao tránh khỏi sự chủ quan và phiến diện? Cũng cần nói thêm là cho đến giờ, chưa có một luật nào được soạn thảo từ ý kiến của Đại biểu Quốc hội, chưa có đại biểu nào phát hiện được một vụ tiêu cực cụ thể nào và cũng chưa lần nào Quốc hội thực hiện được việc bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với những chức danh do Quốc hội phê chuẩn. Điều này rõ ràng là luật chưa đi vào cuộc sống và cũng không thể nói những hiện tượng nêu trên đã là thực sự dân chủ.

Nhưng, công bằng mà nói, chính ngay một số vị đại biểu Quốc hội, nhiều khi cũng không thực thi quyền dân chủ của mình trong vai trò đại diện cho Dân, nói lên tiếng nói dân chủ của Cử tri. Tại phiên họp Thường vụ Quốc hội (khoá XI) ngày 3 tháng 5 năm 2006, Chủ tịch Nguyễn Văn An đã phải nói: “… chúng ta chưa làm cho các đại biểu QH có dũng khí, sự mạnh dạn để dám nói…” (Báo Thanh Niên số 124 ngày 4/5/2006). Làm sao mà người “đại diện cho quyền lực của Dân” lại yếu đuối đến thế? Khi Cử tri tín nhiệm bầu một người vào Quốc hội, thì nhất định người đó phải có đủ trình độ kiến thức và sự dũng cảm cần thiết, để nói được tiếng nói của Dân, thực thi quyền lực của Dân trong việc giám sát các hoạt động của Chính phủ. Không làm được như thế thì tham gia Quốc hội để làm gì? Đại biểu Quốc hội là phải biết “giơ tay” biểu quyết, tức là biết thể hiện chính-kiến-của-cử-tri. Nhưng trước khi “giơ tay”, cần phải biết thảo luận, tranh luận để tìm ra chân lý của vấn đề. Nếu không, sẽ chỉ là một dạng khác của… “nghị gật”!

Mặt khác, công việc điều khiển các cuộc thảo luận, tranh luận ở Quốc hội, phải mang tính định hướng tư duy, chứ không áp đặt tư duy. Càng không thể là thầy giáo hướng dẫn học trò thảo luận bài học! Đấy chính là Dân chủ trong hoạt động Quốc hội!

Đến đây, cũng cần nhắc lại một chút Lịch sử: ở nước ta, người đề cập và hô hào sớm nhất vấn đề Dân quyền, chính là cụ Phan Tây Hồ. Theo cụ, “Dân chủ vừa là phương pháp để tự cường, vừa là cứu cánh, là mục đích tự nó nữa”. Cái lý để cụ Phan coi trọng Dân chủ là: “Quốc tương hưng tắc thỉnh chư Dân!”. Điều đó chứng minh cuộc đấu tranh cho Dân chủ ở nước ta đã được các bậc Cách mạng tiền bối chú trọng từ rất sớm. “Dân chủ” chính là mục tiêu đầu tiên, trước hết của cuộc đấu tranh giải phóng Dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc.

Không phải ngẫu nhiên khi cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, Bác Hồ lại đặt tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… Trong đó, yếu tố Dân chủ được đặt lên trước tiên!

Một chế độ Dân chủ trong một nền Cộng hòa, là sự đảm bảo chắc chắn cho một Nhà nước Độc lập và một cuộc sống Tự do Hạnh phúc cho Nhân dân, ít nhất cũng là điều đúng đắn ở thời điểm ấy.

Dân chủ để Đoàn kết, Đoàn kết trong Dân chủ – đó là kỳ vọng hàng đầu mang tính thời đại; là sức mạnh vô địch của tư tưởng Hồ Chí Minh!

Trần Huy Thuận

LTS Dân trí – Nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân thì bao giờ cũng chủ trương “thực hành dân chủ rộng rãi” đúng như tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng ấy được thể hiện rõ từ những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, như tác giả bài viết trên đây đã phân tích và khẳng định..

Xã hội càng tiến lên thì nội hàm dân chủ càng phong phú và đa dạng hơn; cách thức thực hiện rộng rãi dân chủ cũng phải đổi mới kịp với xu thế phát triển. Chỉ có như vậy mới bảo đảm được sự đoàn kết rộng rãi và thật lòng của mọi người trong xã hội để cùng phấn đấu cho mục tiêu chung là “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Đối chiếu với tình hình thực tế, còn nhiều điều bất cập trong việc “thực hành dân chủ rộng rãi”; một mặt vì quyền dân chủ của người dân trong các lĩnh vực hoạt động chưa được thể chế hóa một cách đúng đắn và đầy đủ; mặt khác, nhiều nơi nhiều lúc cách thức tổ chức “thực hành dân chủ rộng rãi” còn nặng về “hình thức” mà chưa đi vào thực chất.

dantri.com.vn.vn

Advertisements

Học tập tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh- vị anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, nhà văn hoá kiệt suất của dân tộc Việt Nam và của nhân loại đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần vô giá, một hệ tư tưởng có giá trị về nhiều mặt. Trong đó tư tưởng về đại đoàn kết là tư tưởng nổi bật, có giá trị trường tồn đối với quá trình phát triển của dân tộc ta.

Đoàn kết! Đoàn kết! Đại đoàn kết! Thành công! Thành công! Đại thành công

Là một người am hiểu sâu sắc lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc mình, Hồ Chí Minh nhận thức được thời phong kiến chỉ có những cuộc đấu tranh thay đổi triều đại mới làm thay đổi vận mệnh đất nước và từ chính những cuộc đấu tranh ấy, lịch sử đã ghi lại những tấm gương tâm huyết của ông cha ta với tư tưởng “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước góp sức” và “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước”. Chính chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc trong chiều sâu và bề dày lịch sử này đã tác động mạnh mẽ đến Hồ Chí Minh và được Người ghi nhận như những bài học lớn cho sự hình thành tư tưởng của mình.

Khái niệm đại đoàn kết dân tộc trong tư tưởng của Bác là một hệ thống những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục. Tập hợp, tổ chức cách mạng và tiến bộ nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Nói một cách khác, đó là tư tưởng xây dựng, củng cố, mở rộng lực lượng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người.

Bác nhận định: Đoàn kết không phải là thủ đoạn chính trị nhất thời mà là tư  tưởng cơ bản, nhất quán, xuyên suốt tiến trình cách mạng  Việt Nam. Đoàn kết phải luôn được nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng. Qua thắng lợi của Cách mạng tháng 8, Bác đã chỉ ra: “Vì sao có cuộc thắng lợi đó? Một phần là vì tình hình quốc tế có lợi cho ta. Nhất là vì lực lượng của toàn dân đoàn kết…Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai thắng được lực lượng đó”. Vì vậy, Bác nhấn mạnh “Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc”. Bởi vì đại đoàn kết toàn dân tộc chính là nhiệm vụ củ quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng không phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số, người tín ngưỡng hay không tín ngưỡng, không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo. Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, đoàn kết quần chúng tạo thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho con người.

Dù cách mạng Việt Nam trải qua những thời kỳ lịch sử khác nhau song chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Bác luôn được xây dựng, hoàn thiện và tuân theo những nguyên tắc nhất quán là: Đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm những lợi ích tối cao của dân tộc, lợi ích của nhân dân lao động và quyền thiêng liêng của con người;  Tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của dân; Đại đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đại đoàn kết rộng rãi, lâu dài, bền vững; Đại đoàn kết chân thành, thân ái, thẳng thắn  trên tinh thần phê bình, tự phê bình vì sự thống nhất bền vững; Đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế, chủ nghĩa yêu nước chân chính phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân. Như vậy đại đoàn kết dân tộc phải là cơ sở và phải đi đến việc thực hiện đoàn kết quốc tế, nếu đại đoàn kết dân tộc là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, thì đoàn kết quốc tế cũng là yếu tố hết sức quan trọng giúp cho cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn và đưa cách mạng Việt Nam lên giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Qua 20 năm đổi mới, với nhiều chủ trương lớn của Đảng, chính sách của Nhà nước hợp với lòng dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức được mở rộng hơn là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển KT-XH, giữ vững ổn định chính trị của đất nước. Các hình thức tập hợp nhân dân có bước đa dạng hơn và có bước phát triển mới, dân chủ xã hội được phát huy. Tuy nhiên, hiện nay trong khi sự nghiệp đổi mới đang có yêu cầu cao về tập hợp sức mạnh toàn dân thì việc tập hợp nhân dân vào mặt trận và các đoàn thể, các tổ chức xã hội còn hạn chế, nhất là ở khu vực kinh tế tư nhân và ở một số vùng có đông đồng bào theo đạo, đồng bào thiểu số,…

Vì vậy, trong điều kiện nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay thì việc quan trọng là phải khơi dậy và phát huy tối đa nội lực, nâng cao ý chí tự cường dân tộc, trong chính sách đoàn kết phải chú ý phát huy tính năng động, sáng tạo của mỗi người, mỗi bộ phận  để mọi việc từ lãnh đạo, quản lý đến sản xuất kinh doanh, học tập và lao động đều có năng suất, chất lượng, hiệu quả ngày càng cao. Đồng thời, phải khắc phục những tiêu cực của kinh tế thị trường, đặc biệt là tâm lý chạy theo đồng tiền, cạnh tranh không lành mạnh làm phai nhạt truyền thống đoàn kết, tình nghĩa tương thân tương ái của dân tộc, giải quyết đói nghèo, thu hẹp khoảng cách, ranh giới giữa đồng bằng và miền núi, giữa nông thôn và thành thị, củng cố khối đại đoàn kết 54 dân tộc, chăm lo đời sống cho đồng bào dân tộc ít người, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, tôn trọng tín ngưỡng tôn giáo, các tập quán tốt đẹp của dân tộc, kiên quyết loại trừ những âm mưu lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để gây rối.

Trong tất cả người Việt Nam sống ở trong nước hay ở nước ngoài đều tiềm ẩn tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc. Vì vậy, khơi nguồn và phát triển đến đỉnh cao sức mạnh dân tộc và trí tuệ của con người Việt Nam, thực thi chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh một cách sáng tạo, quy tụ lực lượng dân tộc bằng nội dung và hình thức tổ chức thích hợp với mọi đối tượng tập thể, cá nhân trên cơ sở lấy liên minh công nông và trí thức làm nòng cốt dưới sự lãnh đạo của Đảng là một bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị bền vững lâu dài, đặc biệt có ý nghĩa chính trị quan trọng trong sự nghiệp thực thi đường lối đổi mới, thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay.

Hồng Nhung (TH)
Theo http://www.scribd.com

khcncaobang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết dân tộc và về Tôn giáo

Cốt lõi của Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết trước hết là đoàn kết vì đại nghĩa, đoàn kết trong Đảng để đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc tế. Trên cơ sở đó Người kêu gọi mọi người càng đoàn kết nhau lại thành một khối để chống lại kẻ thù chung. Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: ”…đoàn kết lại, biết rằng thà chết được tự do hơn sống làm nô lệ, đồng tâm, hiệp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi”.

298.jpgHồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần đại đoàn kết dân tộc.
Ảnh: Tuấn Anh

Đấu tranh nhằm xóa bỏ nỗi nhục mất nước cũng như nỗi nhục nghèo nàn và lạc hậu ở một nước như Việt Nam, Hồ Chí Minh hiểu cần phải thức tỉnh lương tri của tất cả mọi người, tất cả các tôn giáo trên cơ sở đại đoàn kết, tập hợp họ thành một khối thống nhất để dựng nước và giữ nước. Người mong muốn nhân dân của Người dù có tín ngưỡng hay không có tín ngưỡng, dù thuộc các tôn giáo khác nhau, đều trước hết thấy mình là con Rồng, cháu Lạc, phải có trách nhiệm với cộng đồng, với những người đã khuất, với tổ tiên.

Vì thế, ngay từ năm 1924, Người đã nói: ”Chủ nghĩa dân tộc là một động lực to lớn của đất nước”. Trong tư tưởng Người, dân tộc được xác định trên lập trường của giai cấp công nhân, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Đó là ”Chủ nghĩa dân tộc hướng tới chủ nghĩa Cộng sản”. Ngoài ra, Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết còn có nguồn gốc sâu xa từ truyền thống, từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Đó là truyền thống “Nhiễu điều phủ lấy giá gương; người trong một nước phải thương nhau cùng”. Vì thế, năm 1942, ngay sau khi về nước lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã viết: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi dưới ngọn cờ Việt Minh để đánh đuổi Tây – Nhật, khôi phục lại độc lập tự do”.

Với Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân ta. Đó là cái bảo đảm chắc chắn nhất cho cách mạng thắng lợi. Người cho rằng: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lục lượng đoàn kết của nhân dân”. Và “Đại đoàn kết là một lực luợng tất thắng. Nhờ đại đoàn kết mà cách mạng đã thắng lọi, kháng chiến đã thành công. Nay chúng ta đại đoàn kết thì cuộc đấu tranh chính trị của chúng ta nhất đánh thắng lợi, nước nhà nhất định thống nhất”. Chính vì thế, ngay sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (VNDCCH) ra đời, dù bận “trăm công, nghìn việc”, vừa phải lo chống giặc đói, giặc dốt, lại phải lo thắng giặc ngoại xâm, Người rất quan tâm tới các tổ chức đoàn thể xã hội, các tổ chức tôn giáo. Ngày 3/9/1945, tức chỉ một ngày sau khi tuyên bố độc lập, Người đã có chương trình kế hoạch tiếp các tổ chức đoàn thể (như các báo Việt, Trưng, văn hóa giơi, công giới, thương giới, Công giáo, Phật giáo, nông hội, nhi đồng, thanh niên…). Cũng trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lân thời (bàn về những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước VNDCCH), Hồ Chí Minh đã nêu 6 nhiệm vụ cấp bách phải làm, trong đó Người nhấn mạnh vấn đề thứ 6 là: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo (Thiên chúa giáo) và đồng bào Lương (Phật giáo), để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết”.

images333077.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh với các đại biểu công giáo.
Ảnh: Tuấn Anh

Suốt cuộc đời mình, không lúc nào Hồ Chí Minh không chú ý đến những hành vi tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào. Người đã chú ý đến phong tục tập,quán của người dân khi trở về Pắc Bó, thậm chí tự tay vẽ hình ảnh Đức Phật và dựng ngôi chùa để đồng bào không phải đi xa làm lễ. Người cũng gửi nhiều thư và điện đến các vị giám mục, linh mục để vận động tinh thần yêu nước của đồng bào Công giáo. Người cũng còn gửi thư đến các ông lang, ông đại, biểu dương công trạng và tinh thần tham gia kháng chiến của đồng bào miền núi Hòa Bình.

Không chỉ với các đồng bào có đạo và không có đạo, với các đoàn thể, các Đảng dân chủ và xã hội, cũng được Người quan tâm để phát huy tốt vai trò của các tổ chức này trong việc động viên mọi tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia kháng chiến và thực hiện đại đoàn kết toàn dân. Có thể nói rằng, “Hồ Chí Minh đã nhận rõ cơ sở khách quan của khối đại đoàn kết dân tộc và tin tưởng vào đồng bào dù có tôn giáo hay không có tôn giáo. Người kêu gọi phải đoàn kết, không phân biệt tôn giáo, Đảng phái, già ,trẻ, gái trai… “Đoàn kết là chiến lược lâu dài chứ không phải là sách lược tạm thời”. Người là hiện thân, là ngọn cờ của khối đại đoàn kết dân tộc. Người đã phấn đấu không mệt mỏi cho sự củng cố khối đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công-nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo, nhằm tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp, mọi Đảng phái, mọi tôn giáo, dân tộc để bao vây, cô lập kẻ thù, phá tan chính sách của chúng, để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Người luôn nhắc nhở: “… đối với các đoàn thể khác cùng dân chúng, chỉ có một chính sách là đại đoàn kết”. Thậm chí, trước lúc đi xa, trong di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ khi thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

Rõ ràng là, tư tưởng về đoàn kết của Hồ Chí Minh một khi trở thành chiến lược của cách mạng Việt Nam đã tạo nên một sức mạnh vô địch để dân tộc ta “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vuợt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Đó là sức mạnh của đoàn kết toàn dân kết hợp với sức mạnh thời đại để đưa dân tộc tiến tới “độc lập, tự do, hạnh phúc”. Vì thế, có thể khẳng định rằng tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi là một thành công lớn của Hồ Chí Minh. Người đã tập hợp được những tổ chức cách mạng chân chính về một mối, quy tụ được sức mạnh của toàn dân tộc, tranh thủ được sự ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng được tình đoàn kết quốc tế. Đó là kết quả của nhà tổ chức vĩ đại Hồ Chí Minh, biến khẩu hiệu nổi tiếng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công” thành hiện thực, thành sức mạnh tinh thần, trí tuệ, thành sức mạnh vật chất cực kỳ to lớn đánh thắng những thế lực thù địch hung bạo, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đoàn kết mãi là một lực lượng to lớn của dân tộc Việt Nam. Đoàn kết là một lực lượng vô địch.

Theo báo Sức khoẻ & Đời sống

hochiminhhoc.com