Thư gửi Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản (20-9-1930)

Ngày 11-9, nông dân Thanh Chương lại biểu tình. Họ xung đột với lính và hơn 20 nông dân bị giết.

Hồi 3 giờ sáng ngày 12-9, hơn 10.000 nông dân Hưng Nguyên kéo đi biểu tình, phá nhà của các nhà giàu trên đường đi. Lính ập đến giết 20 người. Nông dân tập hợp ở huyện đường, tại đây họ gặp khoảng 800 nông dân từ Nam Đàn tới. Trong khi hai bộ phận cùng nhau tụ tập thì mấy chiếc máy bay đến ném bom giết hơn 200 người đàn ông và đàn bà.

Nông dân tiếp tục kéo đi chiếm huyện đường Nam Đàn, cách Hưng Nguyên 25 kilômét. Họ tới đây vào lúc 8 giờ tối và bắt đầu vây ngôi nhà suốt đêm và 3 giờ sáng hôm sau thì bỏ đi. Huyện đường và vườn do lính Pháp canh giữ. Nông dân mất hơn 10 người.

Cùng ngày, nông dân các huyện Can Lộc, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh (tỉnh Hà Tĩnh) cũng đi biểu tình.

Nông dân Gia Định, Chợ Lớn và Tân An ở Nam Kỳ cũng biểu tình ngày 12-9.

Ngày 17-9, nông dân Gia Định lại biểu tình.

Ba uỷ viên Trung ương từ Nam Kỳ đã tới đây – ngày 19-9, chờ các đồng chí từ Bắc Kỳ và Trung Kỳ tới. Chúng tôi lo các đồng chí này sẽ không tới, do tình hình hiện nay ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Chúng tôi đã chỉ thị ngay cho các đảng viên Nam Kỳ ở trong nước cố gắng hết sức mình thu xếp một cuộc họp của Trung ương để quyết định mọi việc.

Chúng tôi khẩn thiết yêu cầu các đồng chí làm những việc có thể được để giúp đỡ các nạn nhân của cuộc đàn áp đẫm máu. Đề nghị cho biết ngay chúng tôi phải làm gì và các đồng chí có thể làm gì giúp họ thông qua tổ chức Quốc tế cứu tế đỏ.

Tôi đã viết thư sang Xiêm và Mã Lai khoảng một tháng trước đây, nhưng chưa nhận được trả lời.

Lời chào anh em
29-9-1930

VÍCTO

Tái bút: Đề nghị gửi cho chúng tôi tạp chí Inprekorr

————————–

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
cpv.org.vn

Thư gửi Quốc tế Nông dân (5-11-1930)

Các đồng chí thân mến!

Vì liên lạc khó khǎn nên trước đây tôi chưa có thể báo cáo để các đồng chí biết về phong trào nông dân ở Đông Dương.

Phong trào ấy được xây dựng và phát triển, tóm tắt như sau: đến ngày 1-5, phong trào mới bắt đầu bằng những cuộc biểu tình nhỏ và hiện nay đang tiếp tục phát triển nhanh chóng. ở Nam Kỳ, mặc dầu bị đế quốc Pháp đàn áp đẫm máu, nhưng nông dân bảy tỉnh (Gia Định, Chợ Lớn, Vĩnh Long, Sa Đéc, Bến Tre, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho) vẫn đấu tranh liên tiếp và anh dũng. Trong hầu hết các cuộc biểu tình, đều có nhiều người bị thương, bị giết và bị bắt. Những người bị bắt đều bị kết án từ 5 đến 10 nǎm tù khổ sai. Phong trào lan sang Trung Kỳ bắt đầu bằng nhiều cuộc biểu tình chính trị lớn nổ ra trong ngày 1-8; tuy có chậm hơn các nơi, nhưng ở đây, phong trào rộng lớn và mãnh liệt. Không kể những cuộc đấu tranh và biểu tình đã nổ ra từ trước ngày 20-8-1930, nông dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh tổ chức liên tiếp những cuộc biểu tình lớn hưởng ứng công nhân bãi công ở Vinh, Bến Thuỷ (tỉnh lỵ và trung tâm công nghiệp ở Nghệ An). Từ 20-8 đến 6-10-1930, có 39 cuộc biểu tình và míttinh bao gồm 69.350 nông dân, trong đó có những cuộc từ 20.000 đến 30.000 người tham dự. Hiện nay, ở một số làng đỏ, Xôviết nông dân đã được thành lập.

Từ ngày 1-5 đến ngày 1-10, hơn 50.000 nông dân đã vào Nông hội (Nam Kỳ 15.000, Trung Kỳ 35.000).

Đế quốc Pháp khủng bố phong trào nông dân dữ dội chưa từng thấy. Như ở Nghệ An chỉ trong một cuộc biểu tình ở phủ Hưng Nguyên, máy bay thả bom giết chết 171 nông dân. ở Thanh Chương (một huyện khác ở Nghệ An), 103 người bị bắn chết trong một lúc. Riêng tỉnh Nghệ An đã có 393 người bị giết trong 7 cuộc biểu tình, nhiều làng đỏ bị triệt hạ và đốt trụi. Mặc dầu bị đàn áp dã man, phong trào vẫn tiếp tục phát triển: chứng cớ là nông dân ở Bắc Kỳ từ trước vẫn im lặng, nay cũng đã bắt đầu đấu tranh (tỉnh Thái Bình, Hà Nam, Kiến An).

Tôi sẽ báo cáo chi tiết hơn với các đồng chí về vấn đề này.

Sắp tới đây, chúng tôi sẽ tổ chức Đại hội nông dân lần thứ nhất. Yêu cầu các đồng chí cho ý kiến và chỉ thị cần thiết, kèm theo một bức thư cổ võ gửi cho Đại hội ấy. Yêu cầu trả lời cho chúng tôi qua Quốc tế Cộng sản và theo chúng tôi nghĩ, nếu Quốc tế Nông dân có thể giúp đỡ gấp cho các nạn nhân bị khủng bố thì rất hay.

Ngày 5 tháng 11 nǎm 1930
ÁI QUỐC

—————————-

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Phong trào cách mạng ở Đông Dương (24-1-1931)

Sự bóc lột vô nhân đạo của chủ nghĩa tư bản ở thuộc địa làm cho những người công nhân sống trong những điều kiện không chịu nổi. Sự tập trung rất lớn các đất đai vào tay người Pháp và giai cấp địa chủ bản xứ khiến cho tình cảnh của trung nông và bần nông tồi tệ đi. Sự mất mùa liên tiếp và giá sinh hoạt cao gia tǎng sự khốn cùng và sự đau khổ của quần chúng lao động. Tất cả điều này khơi sâu thêm mâu thuẫn giữa những kẻ áp bức và bóc lột với người bị áp bức và bị bóc lột, và làm cho tinh thần đấu tranh của những người sau này sâu sắc.

Do sự kiểm duyệt ngặt nghèo và những khó khǎn về thông tin, tôi không có những bản thống kê sát đúng về những cuộc đấu tranh cách mạng đã diễn ra ở Đông Dương suốt cả nǎm 1930. Theo như chúng tôi biết số liệu về những cuộc xung đột, từ cuối tháng 5 đến cuối tháng 12 như sau:

Số cuộc biểu tình

Số nông dân tham gia

Tháng 5

17

13.950

Tháng 6

10

15.300

Tháng 7

3

1.100

Tháng 8

15

30.300

Tháng 9

58

166.070

Tháng 10

68

37.630

Tháng 11

31

19.660

Tháng 12

16 (chỉ tính đến 20-12)

13.000

Tổng cộng

218

295.010 1

1) ở đây có sự nhầm lẫn nhưng chúng tôi in theo bản gốc (B.T).

Trong số 218 cuộc biểu tình này, thì 3 để giải phóng tù chính trị bằng cách phá nhà giam của huyện; 45 với yêu sách thuần tuý kinh tế, hoặc đòi khai hoang đất cho nông dân nghèo hay từ chối đóng thuế; 5 để làm lễ kỷ niệm ngày 1-5; 5 cuộc suốt ngày 1-8; 8 cuộc nhằm làm lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười; 4 cuộc để tưởng nhớ khởi nghĩa Quảng Châu; 7 cuộc thuần tuý để chống bọn quý tộc. Ngoài ra còn có 141 cuộc biểu tình chống đế quốc với những hình thức khác nhau: có một số cuộc biểu tình thuần túy chống đế quốc, những cuộc khác để tỏ tình đoàn kết với những làng bị lính Pháp tàn phá và huỷ diệt hay tưởng niệm những nông dân bị đế quốc Pháp sát hại, bằng cách phá nhà máy rượu hay đốt các danh sách dân đoàn (tuần làng), để đẩy lùi bọn đánh đập người ở thành phố hay để ủng hộ Đảng cộng sản, v.v., v.v..

Từ tháng 5 đến tháng 12, có 58 cuộc bãi công và biểu tình của công nhân.

Đầu tháng 5 9

” 6 1

” 7 1

” 8 7 (3 cuộc suốt ngày 1-8)

” 9 7

” 10 10

” 11 12 (7 cuộc nhằm kỷ niệm

Cách mạng Tháng Mười)

” 12 1

Những cuộc bãi công lớn nhất là: bãi công của thợ dệt vào ngày 1-5, có 4.000 công nhân tham gia; tổng bãi công ở Vinh từ ngày 22-8 đến ngày 1-9 có 1.200 công nhân tham gia; và Cẩm Phả 5.000 công nhân mỏ bãi công để kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười.

Đôi khi những người bãi công được thắng lợi, nhưng thắng lợi cuối cùng không đạt bởi vì nhà tư bản chỉ nhận những yêu sách của công nhân để có thì giờ chuẩn bị cuộc phản công của nó. Ví dụ, trong lúc bãi công ở Vinh, công nhân có được tất cả những điều kiện của họ đòi; nhưng chừng sau mười ngày, bọn chủ đã trở mặt và 200 công nhân đã bị đuổi.

Chịu ảnh hưởng tinh thần cách mạng của quần chúng, học sinh cũng hoạt động trong phong trào chống đế quốc. Vào ngày 1-5, học sinh ở Hóc Môn (Nam Kỳ) và ở Đà Nẵng bãi khoá. Vào ngày 19-9, hơn 500 học sinh ở Vinh biểu tình, ngày 23-10, họ lại biểu tình và phân phát truyền đơn bảo vệ những nông dân Nghệ An và Hà Tĩnh đang bị đàn áp. Ngày 17-10, học sinh Trường kỹ nghệ Hải Phòng tổ chức mít tinh ngoài trời và phân phát sách mỏng với mục đích như các phong trào trên. Ngày 25 cùng tháng, học sinh huyện Nghi Lộc (Nghệ An) tham gia cuộc biểu tình của nông dân. Ngày 1-11, học sinh Trường Huỳnh Công Phát bãi khoá.

Giữa tháng 8 và tháng 12 Trường trung học Vinh, Trường Avenir (Tương lai) Nam Định, Trường trung học Mỹ Tho và toàn bộ các trường ở huyện Thanh Chương và Nam Đàn đều bị đóng cửa vì hoạt động cách mạng. Trong cùng thời gian đó và trong phạm vi 11 tỉnh, chúng tôi tìm hiểu thì 130 học sinh trai và học sinh gái cùng 9 thầy giáo bị bắt giữ, nhiều người trong số học sinh này không quá 12 và 14 tuổi.

Bên cạnh sự tham gia rất tích cực của họ vào những cuộc bãi công của công nhân và những cuộc biểu tình của nông dân, chúng tôi phải báo rằng phong trào sau đây hoàn toàn là do phụ nữ tổ chức:

Ngày 1-5, phụ nữ bãi thị ở chợ Dừa (Mỹ Tho).

Ngày 26-10, 100 phụ nữ nông dân ở huyện Anh Sơn tổ chức một cuộc mít tinh để thảo luận chính trị.

Ngày 28-10, chị em bán cá chợ Sài Gòn bãi thị phản đối hai kẻ được gọi là “chó sǎn” trung thành của đế quốc Pháp.

Ngày 11-11, 60 phụ nữ nông dân làng Đại Đinh cũng hành động như vậy.

Ngày 24-11, 85 phụ nữ nông dân làng đó tham gia bàn việc làng xã.

Ngày 28-11, 300 phụ nữ nông dân huyện Thạch Hà tổ chức một cuộc biểu tình.

Từ tháng 5 đến tháng 12, không kể những sự bắt giữ khác cùng với đàn ông trong các cuộc bãi công và các cuộc biểu tình, và cũng không kể những sự bắt giữ khác cùng với các chi bộ cộng sản hoặc với các chi nhánh Quốc dân đảng, có 74 phụ nữ và con gái bị mật thám bắt giữ.

KHủNG Bố TRắNG

Hy vọng bóp chết phong trào cách mạng trong máu và lửa cùng vũ lực, chủ nghĩa đế quốc Pháp sử dụng khủng bố trắng ở mức cực điểm. Dù rằng chưa đầy đủ, biểu dưới đây có thể cho các đồng chí một ý niệm về sự thống trị bằng khủng bố ở Đông Dương.

Thời điểm

Số nông dân bị giết

Tháng 5

39 (20 bị giết trong cuộc biểu tình ngày 1-5)

Tháng 6

7

Tháng 7

3

Tháng 8

8 (3 bị giết trong cuộc biểu tình ngày 1-8)

Tháng 9

270

Tháng 10

125

Tháng 11

52 (40 bị giết trong lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười)

Tháng 12

145 (115 bị giết trong lễ kỷ niệm khởi nghĩa Quảng Châu)

Tổng cộng

649

Số liệu trên chỉ bao gồm những người bị giết bởi bom và súng bắn trong những cuộc biểu tình. Số người chết do bị thương và bị giết riêng lẻ ở từng làng do lính bắn thì không rõ. Con số nói về các án buộc tù chính trị phải nhận là như sau:

A. Số người tù bị kết tội đến B hoặc đến B cộng C

B. Số nǎm lao động khổ sai hay bị biệt giam

C. Số nǎm bị quản thúc cộng đến B

D. Số người tù bị kết án lao động khổ sai hay chung thân

E. Số người tù phải lưu đầy chung thân

F. Số người tù phải nhận án tử hình.

Thời điểm

A

B

C

D

E

F

Tháng 5

53

393

75

57

Tháng 6

120

448

340

5

128

Tháng 7

76

499

52

1

7

Tháng 8

60

370

196

125

12

Tháng 9

126

630

110

81

1

Tháng 10

61

91

6

10

Tháng 11

60

658

51

29

87

6

Tháng 12

140

301

35

1

Hãy làm tính cộng trong thời gian 8 tháng (từ tháng 5 đến tháng 12) có:

649 nông dân bị giết

83 nhà cách mạng bị tử hình

237 người bị kết án lao động khổ sai chung thân

306 người bị kết án đi đầy suốt đời

696 người bị kết án 3.390 nǎm tù với 790 nǎm quản thúc.

Tính đến tháng 12, có:

1359 tù chính trị bị tra tấn ở nhà tù Vinh.

Hà Nội và Thái Bình tính riêng. Bởi có 59 tỉnh ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, mỗi tỉnh có nhà tù đông nghịt tù chính trị, do đó có thể nói là ước tính thấp chứ không phải là cao, rằng có 6.000 nhà cách mạng người Đông Dương hiện nay bị giam trong các nhà lao.

Ngoài việc bắt hàng loạt và tàn sát, đốt cháy, phá trụi làng mạc (Khu Liên, Ngọc Sơn, Dương Phố, Bích Hào, Lài Thạch, Tiên Khuê, v.v.), bọn đế quốc còn dùng những thủ đoạn khủng bố khác như đốt nhà và bỏ thuốc độc. Khi chúng bắt được một nhà cách mạng, chúng đốt nhà anh ta. Nếu anh ta trốn, thì chúng đốt nhà anh ta và bắt giữ tất cả những người trong gia đình. Mới đây, ở tỉnh Nghệ An, đã có dấu hiệu các giếng nước ǎn bị bỏ thuốc độc. Vào giữa tháng 12, những người làng Nghiêm Thành bắt được một tên đi bỏ thuốc độc. Họ dẫn nó đến đồn binh Pháp gần đấy. Đến ngày hôm sau, người sĩ quan Pháp ra tuyên bố – với sự ngạc nhiên của quần chúng, nhưng không phải người ta không biết – rằng việc bỏ thuốc độc không có liên quan gì đến chính phủ.

Tình hình Đông Dương là như thế.

Nhiệm vụ cấp thiết của giai cấp vô sản thế giới – đặc biệt là giai cấp vô sản Pháp – là chìa bàn tay hữu nghị anh em và giúp đỡ tới Đông Dương, để chứng tỏ tình đoàn kết thực sự và tích cực của họ, Đông Dương bị áp bức và cách mạng cần điều ấy!

24-1-1931

VÍCTO

—————————-

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Báo cáo gửi Ban phương Đông (8-2-1931)

Số 1. Tin tức đấu tranh ở Trung Kỳ.

Ngày 11-12-1930, ở các huyện Anh Sơn, Thanh Chương và Nam Đàn, hơn 10.000 nông dân, nam nữ và trẻ em đã tổ chức những cuộc biểu tình kỷ niệm Quảng Châu bạo động: họ kéo cờ đỏ đi biểu tình và rải truyền đơn.

Ngày 12-12-1930, lính Tây đến làng Đạo Ngạn bắt nhân dân; không bắt được ai, chúng bèn hãm hiếp một chị phụ nữ. Chị em các vùng lân cận và nông dân kéo đến cứu chị. Bọn lính dùng súng bắn chết hai người đàn ông. Ngày hôm sau, một đoàn 400 nông dân kéo cờ đỏ đi đầu đã đi đưa đám hai người hy sinh.

Số 2. ở Nhà máy xi mǎng Hải Phòng.

30 công nhân bị đuổi. 400 người khác cũng bị doạ thải hồi. Các báo đưa tin 3.000 công nhân Nhà máy xi mǎng đã bãi công và đấu tranh:

a) Đòi cho những anh em bị đuổi được trở lại làm việc;

b) Phản đối bớt lương;

c) Phản đối việc đóng cửa nhà máy, họ đòi trả 3 tháng lương.

Số 3. Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương gửi các Xứ uỷ.

1. Đảng nhấn mạnh đến việc củng cố các Xứ uỷ, Tỉnh uỷ và các Uỷ ban đặc biệt bằng cách tiến hành bầu cử. Thực hiện đúng nguyên tắc bầu cử vẫn tốt hơn là chỉ định cán bộ bổ sung. Đảng cũng nhắc nhở đến việc tổ chức các ban chuyên môn do các cấp uỷ lãnh đạo. Những Ban hành động phải được thành lập ngay; ít nhất là phải có một Ban tuyên truyền, một Ban công vận, một Ban nông vận và một Ban ấn loát.

2. Phải tuyên truyền về vấn đề thay đổi tên Đảng. Mỗi đảng viên và mỗi chi bộ Đảng đều phải nghiêm chỉnh thảo luận những án nghị quyết của Trung ương, bước đầu để tiến tới Đại hội toàn Đảng. Trung ương sắp xuất bản một tờ báo đặc biệt đặt tên là “C”.

3. Các cấp uỷ phải xúc tiến việc thi hành các nghị quyết của Đảng. Đại biểu các Ban công vận phải họp lại nghiên cứu để tiến hành có kết quả việc tổ chức Công hội ở ngay địa phương mình – xứ, tỉnh, v.v.. Việc tổ chức các đại hội không nên để cho đảng viên và hội viên Công hội biết, chỉ nên tin khi nào đại hội đã chuẩn bị tổ chức xong.

4. Các cuộc hội nghị đó phải được chuẩn bị chu đáo. Vấn đề tổ chức đại hội phải bàn bạc kỹ trong mỗi tổ chức Công hội. Mỗi Công hội phải nghiên cứu tường tận tình hình công nhân để đặt trước những nguyện vọng chủ yếu. Báo chí cũng phải tranh luận về các đại hội. Việc tổ chức mít tinh cũng phải nghiên cứu kỹ.

Việc kết nạp hội viên mới vào Công hội

1. Tất nhiên là tất cả những gì có liên quan đến Công hội đều phải có tính chất cách mạng, nên chỉ có những công nhân hiểu rõ cách mạng vô sản và cách mạng cộng sản chủ nghĩa mới được kết nạp vào Công hội. Nhưng công nhân nào đã thấy rõ sự cần thiết phải có một tổ chức để bênh vực quyền lợi của mình cũng có thể vào Công hội, mặc dầu người đó chưa có thể hiểu gì về các vấn đề khác. Công hội và đấu tranh sẽ giáo dục cho họ.

2. Nếu có hội viên ít hoạt động hoặc tỏ ý dè dặt trong đấu tranh thì cũng không nên loại họ ra ngoài hội. Tinh thần cách mạng là điều kiện duy nhất để một Công hội có thể gia nhập Tổng hội. Nhưng chúng ta cũng không thể vì vậy mà kết luận rằng mỗi công nhân vào hội đã là người cách mạng rồi.

Có những công nhân đấu tranh chỉ vì quyền lợi trước mắt chứ chưa hiểu cách mạng. Nhưng vì Công hội là một tổ chức có một đội tiên phong và có đường lối chính trị nên Công hội là một tổ chức cách mạng.

Công hội phải tham gia Mặt trận phản đế như một hội viên tập thể. Có nhiều người tưởng gia nhập Mặt trận, Công hội sẽ mất độc lập tính. Công hội vẫn độc lập và tiếp tục tiến hành những công việc của mình. Nếu Công hội có gia nhập Mặt trận thì chỉ để tham gia cuộc đấu tranh chung chống đế quốc chủ nghĩa mà thôi.

3. Yêu cầu các đồng chí hỏi người thông tín viên của các đồng chí lấy những tin số 1 và 2 đã gửi cho các đồng chí một tuần nay- bài của V.

Đại biểu đi dự Đại hội Quốc tế Công hội đỏ lần thứ V về cho chúng tôi biết rằng: Một uỷ viên Quốc tế Cộng sản nói không nên tổ chức Nông hội lên đến Tổng Nông hội toàn quốc.

Vấn đề này đang làm cho các đồng chí của chúng tôi lúng túng, các đồng chí ấy hỏi phải làm như thế nào. Tôi đã trả lời họ cứ tiếp tục tổ chức Tổng Nông hội toàn quốc, vì lý do:

a) Khi nào các đồng chí đến đây các đồng chí mới thấy lợi ích của tổ chức đó.

b) Trong báo cáo, đại biểu cho biết rằng, trước kia, ở Trung Quốc, đã có những hội tương tự bao gồm địa chủ và phú nông. Thực tế lại không phải như vậy: Các thành phần ấy đã bị gạt ra, nhưng nếu không có Tổng hội toàn quốc thì làm sao mà tập hợp chỉ đạo mọi hoạt động đấu tranh được?

Các đồng chí có đồng ý với tôi không ?

8-2-1931

———————————

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng
cpv.org.vn

Làm việc về giải pháp tôn tạo Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ

Ngày 24/8/2012, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức buổi làm việc với Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng – Bộ Xây dựng về lựa chọn giải pháp tôn tạo Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ. Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng chủ trì buổi làm việc.

Chu Dang 1Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương,
Trưởng ban Ban Quản lý Lăng chủ trì buổi làm việc

Tham gia buổi làm việc có lãnh đạo Ban Quản lý Lăng, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng, đại diện các cơ quan, đơn vị có liên quan thuộc Ban Quản lý Lăng. Về phía Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam có GS. Châu Văn Minh – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện; GS. Nguyễn Quang Liêm – Viện trưởng Viện Khoa học Vật liệu và các nhà khoa học của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Đại diện cho Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng – Bộ Xây dựng có TS. Trịnh Việt Cường – Viện trưởng; PGS.TS. Cao Duy Tiến – nguyên Viện trưởng; TS. Nguyễn Đức Thắng – Viện trưởng Viện chuyên ngành bê tông và các nhà khoa học của Viện. Các đồng chí tham gia Hội nghị đã thống nhất các giải pháp lựa chọn công nghệ tôn tạo Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ như sau:

Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ là công trình có ý nghĩa chính trị đặc biệt thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của dân tộc ta, nhân dân ta và bầu bạn quốc tế đối với những anh hùng, liệt sỹ đã anh dũng hy sinh vì độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc, vì hạnh phúc nhân dân và tinh thần quốc tế cao cả. Công trình khởi công xây dựng ngày 07 tháng 4 năm 1993 tại đường Bắc Sơn, khánh thành ngày 27 tháng 6 năm 1995. Là đơn vị trực tiếp quản lý Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, gần 20 năm qua, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, thường xuyên quan tâm, chú trọng công tác duy tu bảo dưỡng định kỳ song do nhiều nguyên nhân khác nhau, hiện nay, một số hạng mục của công trình Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ đã xuống cấp nghiêm trọng, bên cạnh đó các công trình kiến trúc cũng đang được xây dựng trong khu vực thì việc tôn tạo Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ là hết sức cần thiết.

Xuất phát từ vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt của Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, thời gian qua, lãnh đạo Ban Quản lý Lăng đã giao nhiệm vụ và chỉ đạo các cơ quan và Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng Khoa học Công nghệ và Môi trường phối hợp với 2 cơ quan được chọn nghiên cứu, tư vấn và đề xuất giải pháp cải tạo nâng cấp Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng – Bộ Xây dựng, đây là các Viện đầu ngành của nước ta đánh giá thực trạng và đề xuất phương án tôn tạo công trình.

Sau nhiều năm nghiên cứu, khảo sát trong và ngoài nước, thử nghiệm, các đơn vị tư vấn đã đưa ra được những giải pháp khoa học, có tính thực tiễn cao, phù hợp nhất với công trình đặc biệt này. Các bên đã thống nhất giải pháp thay thế tấm đồng Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ như sau: Lựa chọn công nghệ đúc điện hóa các chi tiết, họa tiết hoa văn đồng và công nghệ dát vàng của Liên bang Nga là nước có truyền thống lâu đời trong ứng dụng công nghệ này. Các họa tiết hoa văn đồng được treo rỗng có khoảng cách nhất định với bê tông đã được xử lý bề mặt và chống thấm để chống ăn mòn điện hóa, tăng độ bền của các tấm đồng. Đối với vật liệu đá lựa chọn đá Hoa cương nhập khẩu của Châu Âu có màu sắc như hiện nay và sử dụng công nghệ ốp rỗng sau khi bề mặt bê tông đã được xử lý chống thấm. Với các giải pháp đề xuất của 2 Viện trong thời điểm hiện nay là tối ưu.

Thay mặt Lãnh đạo Ban Quản lý Lăng, Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương cảm ơn các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu, khảo sát và lựa chọn công nghệ phù hợp, khả thi nhất cho việc tôn tạo Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ. Ban Quản lý Lăng sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan tập hợp tài liệu trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các phương án, giải pháp tôn tạo trên.

Vũ Xuân Đăng
bqllang.gov.vn

Cách mạng tháng Tám: Khởi nguồn của các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc

Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử (ảnh tư liệu)

(VOV) – Sau 67 năm, Cách mạng tháng Tám và sự kiện Quốc khánh ngày 2/9/1945 của Việt Nam vẫn là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà sử học, học giả, chính giới trên thế giới.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một trang sử mới cho dân tộc Việt Nam: đất nước độc lập, nhân dân được tự do sau gần 100 năm thống khổ dưới ách thống trị của thực dân Pháp.

Cuộc cách mạng ấy vượt tầm ảnh hưởng ra khỏi biên giới quốc gia, trở thành động lực, niềm tin, cổ vũ cho nhân dân các nước thuộc địa đứng lên giành độc lập. 65 năm sau sự kiện lịch sử ấy, Cách mạng tháng Tám và sự kiện Quốc khánh ngày 2/9/1945 của Việt Nam vẫn là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà sử học, học giả, chính giới trên thế giới. Theo họ, Cách mạng tháng 8/1945 của Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Đó là, tự do và công lý luôn là khát vọng của mỗi quốc gia.

Nhìn lại bối cảnh lịch sử 65 năm trước, thế giới đang ở giai đoạn cuối của chiến tranh thế giới thứ hai. Sau khi phát xít Đức sụp đổ và phát xít Nhật đầu hàng đồng minh, các cường quốc thực dân châu Âu tập trung củng cố sự thống trị của mình tại các khu vực thuộc địa bị suy yếu trong chiến tranh và tiếp tục vơ vét của cải qua quá trình bóc lột các dân tộc bị áp bức. Hoàn cảnh đó khiến các dân tộc thuộc địa thấy cần phải vùng lên làm chủ vận mệnh của mình.

Trong bối cảnh chung đó, Cách mạng Việt Nam đã xác định đúng kẻ thù, tranh thủ mọi khả năng để tập hợp lực lượng, chớp thời cơ, phát động Tổng khởi nghĩa, tuyên bố độc lập và thành lập Nhà nước Cộng hòa dân chủ. Rất nhiều nhà sử học nước ngoài khi nghiên cứu về Việt Nam đều cho rằng, cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 có một ý nghĩa lịch sử sâu sắc, không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam mà còn khởi nguồn các cuộc đấu tranh giải phóng khỏi ách thống trị thực dân của các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới.

Giáo sư, Nhà Sử học L.Esmonson, thuộc Trường Đại học Cornell (Mỹ) nhận định: “Đó là một sự kiện lớn của thế giới. Cuộc cách mạng cách đây 65 năm của Việt Nam có một ý nghĩa lịch sử rất to lớn, nó giải phóng con người, giải phóng cho một dân tộc bị áp bức. Trên bình diện quốc tế, nó còn là hình mẫu và là động lực cho nhiều nước khác đứng lên đấu tranh, đánh đuổi thực dân, giành lại chính quyền. Những quốc gia thuộc địa của Pháp, đặc biệt là các nước ở khu vực Đông Dương, Châu Phi đã tiến hành công cuộc cách mạng theo đúng tiến trình cách mạng ở Việt Nam”.

Giáo sư người Jamaica Horet Compel, người từng nghiên cứu nhiều về lịch sử của Việt Nam. Đặc biệt, ông đã nhìn nhận cuộc cách mạng Việt Nam năm 1945 có một tác động to lớn đối với lịch sử đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa Pháp lúc đó, trong đó có nhiều nước Châu Phi. Theo ý kiến của ông, thành công của cuộc cách mạng tháng Tám ở Việt Nam không thể không nhắc tới vai trò lãnh đạo to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông cho biết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh- Người anh hùng dân tộc của Việt Nam và một nhà lãnh đạo kiệt xuất của thế giới. Ông đã đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Việt Nam. Tôi nhớ vào thời kỳ đó, các dân tộc ở Châu Phi cũng đang trong quá trình đấu tranh chống lại sự áp bức của thực dân và Người đã nhìn nhận thấy sự liên hệ giữa cuộc đấu tranh của các dân tộc ở Châu Phi với cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Khi cuộc cách mạng ở Việt Nam thành công, cũng là lúc các nước Châu Phi như: Cameroon, Algeria, Tanzania… đang chuẩn bị những cuộc cách mạng lớn. Nhờ có bài học từ Việt Nam, họ đã có những bài học kinh nghiệm quý báu, làm nên thành công của các cuộc cách mạng ở những nước thuộc địa Pháp ở Châu Phi.

Cũng chung quan điểm với Giáo sư Horet, liên hệ với thực tiễn cách mạng giải phóng dân tộc tại Châu Phi thời điểm đó, ông Abdelkhader Messahel, Bộ trưởng Ngoại giao Algeria cho rằng: nguyên nhân quan trọng khiến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam là vì Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tiếp thu và vận dụng học thuyết Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam một cách triệt để và sáng tạo.

Là người đã có thực tiễn hoạt động phong phú trong phong trào quốc tế cộng sản, từng bôn ba khắp nơi trên thế giới, từ các nước tư bản đế quốc nhiều thuộc địa, lớn mạnh nhất đến các nước thuộc địa lạc hậu nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản – Bộ Tham mưu của giai cấp và dân tộc lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc.

Theo ông Messahel, điều này có ảnh hưởng rất lớn đến phong trào cách mạng tại các nước thuộc địa ở Châu Phi, Châu Mỹ Latin. Ông nói: “Giữa Việt Nam và Algeria có một mối quan hệ truyền thống lâu đời. Ngay từ thời điểm đó, thời điểm cách đây 65 năm, cuộc Cách mạng Việt Nam đã truyền đi những thông điệp về độc lập tự do cho cách mạng Algeria. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người dẫn dắt cuộc cách mạng vĩ đại ấy, mang lại cho nhân dân Việt Nam quyền tự do, độc lập sau hàng ngàn năm Bắc thuộc và gần 100 năm Pháp thuộc. Tư tưởng và tầm nhìn vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ảnh hưởng sâu sắc đến cách mạng của đất nước chúng tôi. Hơn thế, tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam đã giác ngộ tinh thần của nhiều binh lính Algeria trong chính hàng ngũ quân đội Pháp và họ trở thành người ủng hộ cách mạng Việt Nam, cùng Việt Nam chống chủ nghĩa thực dân.

65 năm đã trôi qua, nhưng khi đánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám, nhiều bạn bè quốc tế đều có chung nhận định: Không chỉ giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác trên thế giới cũng có thể tự hào rằng: Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Ðảng non trẻ đã lãnh đạo cách mạng thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2/9/1945.

Cách mạng tháng Tám của Việt Nam ghi đậm dấu ấn vào phong trào cách mạng chung trong thế kỷ 20. Vì vậy, có thể nói rằng, cuộc cách mạng Tháng Tám của Việt Nam mãi được coi là ngọn đèn chiếu sáng phong trào giải phóng dân tộc thế giới./.

Thu Hiền
vov.vn

Bài học thời cơ từ Cách mạng Tháng Tám

(VOV) – Bài học về vận dụng thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám hoàn toàn có thể áp dụng vào công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta hôm nay. Chúng ta phải lấy gốc rễ từ việc bồi dưỡng thực lực của chính mình, biết sáng tạo ra thời cơ và tận dụng thời cơ.

Tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã để lại cho Đảng và dân tộc ta nhiều bài học quý báu, trong đó có bài học về dự đoán chính xác thời cơ và nắm đúng thời cơ trong những bước ngoặt lịch sử của cách mạng. Bài học đó vẫn giữ nguyên giá trị trong công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, trước bối cảnh thế giới và đất nước hiện nay có nhiều biến đổi lớn lao.

Trong câu chuyện với PGS-TS Phạm Xanh thuộc khoa Sử, trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn về thời cơ của Cách mạng Tháng Tám, ông cứ nhắc đi nhắc lại 2 câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong tù “Lạc nước, hai xe đành bỏ phí. Gặp thời, một tốt cũng thành công”. Ông cho rằng, đó là sự khái quát suy nghĩ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc nắm bắt thời cơ. Chọn đúng thời cơ là một khoa học và một nghệ thuật. Điều này đã được thể hiện rất rõ trong cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám 1945.

PGS-TS Phạm Xanh nói: “Khi phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp, đêm hôm đó, TW Đảng ta họp phiên mở rộng và ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Đảng ta đã dự báo 2 thời cơ có thể tạo ra một cơ hội vàng để nhân dân ta đứng dậy giành chính quyền. Cơ hội thứ nhất là: quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương để đánh Nhật và cơ hội thứ hai là phát xít Nhật đầu hàng đồng minh. Cuối cùng, khả năng thứ hai đã xảy ra, phát xít Nhật đã đầu hàng đồng minh”.

Trên thực tế, thời cơ Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn – từ sau khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh đến trước lúc quân Đồng minh tiến vào nước ta giải giáp quân Nhật, tức là từ ngày 15/8 đến ngày 5/9/1945.

PGS-TS Phạm Xanh khẳng định, lịch sử đã chứng minh rằng, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, không thể lấy thời điểm nào khác ngoài thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã chọn. Chính vì phát hiện được thời cơ, nắm bắt được thời cơ, biến thời cơ thành sức mạnh vật chất, Đảng đã phát động cuộc khởi nghĩa trong toàn quốc và giành thắng lợi chỉ trong 10 ngày. Đây là cuộc khởi nghĩa vũ trang nhanh gọn nhất, ít tổn thất nhất, nhưng thành quả thật vô cùng to lớn.

Cơ hội đó không phải quốc gia nào cũng tận dụng được: “Đó là yếu tố khách quan, nó tác động đến tất cả các nước ở khu vực có bị phát xít Nhật chiếm đóng như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia… Thế nhưng, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng được cơ hội đó, lợi dụng được cơ hội đó để giành chính quyền thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám. Vấn đề đặt ra là, cơ hội kết hợp với cái gì để tạo ra thắng lợi của Cách mạng tháng Tám. Đó chính là nội lực mà Đảng ta đã chuẩn bị từ năm 1941 đến năm 1945”.

Bài học thời cơ của Cách mạng Tháng Tám đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo, đưa cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 đến toàn thắng, giành độc lập trọn vẹn cho cả nước, đưa nước ta vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trong công cuộc phát triển đất nước và hội nhập quốc tế ngày nay, bài học về nắm bắt thời cơ vẫn mang tính thời sự nóng hổi. GS-TS Vũ Văn Hiền, Uỷ viên TW Đảng, Tổng Giám đốc Đài TNVN cho rằng: “Chúng ta đã ra khỏi chiến tranh, ra khỏi sự kiệt quệ kinh tế và đang trở thành một trong những quốc gia phát triển nhanh trên thế giới. Chúng ta có dân số đông, có nền chính trị ổn định, có quan hệ đối ngoại với nhiều quốc gia trên thế giới. Trong khi đó, xu thế của thế giới là toàn cầu hoá kinh tế, phát triển kinh tế tri thức. Nhiều chế độ xã hội cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Vậy, bài học về thời cơ của Cách mạng tháng Tám sẽ được sử dụng như thế nào?

GS-TS Vũ Văn Hiền nhấn mạnh: “Trong Cách mạng tháng Tám, có một khẩu hiệu “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã rất nổi tiếng. Do dự đoán được tình huống có thể xảy ra, Đảng ta đã chỉ đạo rất chính xác, tiến hành khởi nghĩa tháng Tám. Trong điều kiện hiện nay, không có những tình huống cách mạng như xưa. Vì vậy trong thời kỳ mới, chúng ta phải nhìn trước trông sau, đoán định các tình huống phát triển của thế giới, biết được các lực lượng thế giới, biết được các mâu thuẫn trong thế giới, biết được mặt thuận, mặt nghịch trong thế giới hiện nay, từ đó đưa ra những bài toán để phát triển tốt và giải được những vấn đề đang đặt ra”.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một kỳ tích trong lịch sử phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Theo Trung tướng, GS Trần Xuân Trường,  nguyên Giám đốc Học viện Chính trị Quân sự – Bộ Quốc phòng, bài học về vận dụng thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám hoàn toàn có thể áp dụng vào công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta hôm nay.

Tuy nhiên, tiến hành khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền và xây dựng một xã hội là những mặt trận khác nhau, có những quy luật không giống nhau. Nhưng xét đến cùng, cả hai sự nghiệp đó đều phải lấy gốc rễ từ việc bồi dưỡng thực lực của chính mình, biết sáng tạo ra thời cơ và tận dụng thời cơ. Trên mặt trận xây dựng, thời cơ có thể không chỉ đến một lần mà có thể đến nhiều lần, “thực không nên bỏ lỡ”!./.

Hương Giang
vov.vn

Không có Cách mạng tháng Tám, không có ngày nay

(ĐCSVN) – Nếu không có Cách mạng tháng Tám năm 1945, sẽ không có nước Việt Nam như ngày nay, đó là điều không thể phủ nhận.

Nước ta sẽ trong mô hình xã hội nào nếu như không có cuộc cách mạng dẫn tới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đó? Một số tình huống một số quốc gia tương tự như Việt Nam đã trải qua trong hơn 60 năm đó là:

Tiến hành cuộc cách mạng lật đổ chế độ thực dân, giành độc lập nhưng thất bại, sau này được trao trả độc lập cùng với những quốc gia thuộc địa khác khi chủ nghĩa thực dân cũ sụp đổ trên phạm vi toàn thế giới.

Tiếp tục là thuộc địa sau đại chiến thế giới lần thứ 2, được trao trả độc lập cùng các quốc gia thuộc địa khác khi chủ nghĩa thực dân cũ sụp đổ.

Cách mạng không nổ ra năm 1945 nhưng cuộc đấu tranh vũ trang khởi nguồn từ Đại chiến thế giới 2 kéo dài tới những năm 50 của thế kỷ XX kết thúc bằng giành được độc lập dân tộc, xây dựng chế độ chính trị mới.

Như vậy là dù tình huống nào, độc lập chỉ có thể có được khi phong trào giải phóng dân tộc dâng lên mạnh mẽ, đánh đổ chế độ thực dân cũ. Thực dân và đế quốc không bao giờ tự nguyện từ bỏ quyền lợi của mình, họ chỉ chịu buông thuộc địa khi đã thất bại trong cuộc chiến chống lại sự nổi dậy của nhân dân hoặc khi chủ nghĩa thực dân cũ tan rã trên phạm vi toàn thế giới buộc họ phải buông, ít ra là trên danh nghĩa. Rõ ràng là vào thời điểm lịch sử cuối những năm 40 của thế kỷ trước, không có con đường nào khác để có độc lập nếu không tranh thủ thời cơ, phát động nhân dân khởi nghĩa, dùng áp lực chính trị và vũ trang lật đổ chính quyền thực dân phong kiến như cuộc Cách mạng tháng Tám. Cũng không có con đường nào khác để ít tổn thất nhất, ít đổ máu nhất nhưng đạt được mục tiêu cao nhất là giành độc lập cho toàn dân dân tộc, thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á như Cách mạng tháng Tám đã đạt được. Ngày nay, vẫn còn những người cố tình hạ thấp ý nghĩa lịch sử thậm chí xuyên tạc, đưa ra những luận điểm không có căn cứ về Cách mạng tháng Tám. Đó không phải là những “nhà nghiên cứu lịch sử” ngây thơ hoặc sai lầm không cố ý. Họ là những người cố tình để các thế hệ không trải qua cách mạng, không trải qua chiến tranh hiểu sai lệch lịch sử, hiểu sai về Chủ tịch Hồ Chí Minh để từ đó xa rời lý tưởng, xa rời truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc.

Một vấn đề khác đó là Việt Nam liệu có bớt nghèo hơn, có phát triển hơn nếu chọn một cách đi khác, không phải là đánh đuổi Pháp, Nhật, giành độc lập cho dân tộc năm 1945 không? Đúng là đất nước ta phải trải qua hơn 30 năm hao người tốn của để bảo vệ nền độc lập non trẻ. Những cuộc chiến tranh ấy đã kìm hãm sự phát triển của đất nước trong nhiều thập kỷ. Nhưng cần hiểu rằng, chúng ta đã cố gắng hết sức để mong không có các cuộc chiến tranh đó nhưng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta nhân nhượng. Chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới”. Phải chấp nhận các cuộc chiến tranh là nằm ngoài ý muốn của chúng ta. Nhưng tuy trải qua vô vàn hi sinh gian khổ, chiến thắng trong các cuộc chiến tranh đó lại là tiền đề cho công cuộc thoát đói nghèo, đổi mới, phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đã lựa chọn. Những tiền đề thuận lợi đó, nhiều nước khác đã không có. Tuy họ đi trước ta về trình độ phát triển nhưng họ không thể giải quyết được nhiều mâu thuẫn từ bản chất của chế độ chính trị. Do vậy, có thể tin tưởng rằng trong một tương lai không xa, đất nước ta hoàn toàn có điều kiện thoát nghèo, vươn lên “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như Bác Hồ từng mong đợi.

Chưa phải là tất cả nhưng chỉ sau 20 năm, nhiều điều cách đây ít năm còn là ước mơ, nay đã thành hiện thực: từ một nước thiếu gạo nay đã trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đồng thời đứng trong tốp đầu những nước xuất khẩu cà phê, hạt tiêu, hạt điều, mủ cao su, cá và tôm nước ngọt… của thế giới. Từ một quốc gia phải nhập khẩu 100% dầu mỏ, nay ta đã có dầu thô xuất khẩu và xăng sản xuất trong nước. Từ một quốc gia hầu như trắng về điện nay đã có mặt trong những nước có sản lượng điện lớn. Việt Nam cũng đang trên đường để tự túc được xi măng, phân bón, thép, vải, quần áo may sẵn và nhiều hàng hóa khác. Đời sống của người dân tuy còn khó khăn nhưng đã được cải thiện đáng kể. Việt Nam được Liên hợp quốc và nhiều tổ chức quốc tế có uy tín đánh giá cao về xóa đói giảm nghèo, giáo dục, y tế, bình đẳng xã hội.

Mỗi năm, kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 là dịp để mỗi người nhìn lại chặng đường đã qua, vững tin đi tới. Năm nay, năm bản lề hoàn thành các chỉ tiêu Đại hội X đề ra, hướng tới Đại hội XI và cũng là năm kỷ niệm 80 năm thành lập Công đoàn Việt Nam, kỷ niệm trọng thể Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 sẽ tiếp thêm sức mạnh để giai cấp công nhân ngành điện vững tin và phấn khởi cùng cả nước hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ còn lại của 3 tháng cuối năm với truyền thống vẻ vang của Cách mạng tháng Tám quang vinh ./.

Vũ Duy Thông
cpv.org.vn

Cách mạng Tháng Tám – mốc son lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam

Trải qua bao thăng trầm của hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân oanh liệt đánh bại những kẻ thù xâm lược hùng mạnh nhất thế kỷ 20, viết nên một chương mới trong lịch sử dân tộc ta. Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam đã cho phép chúng ta thực hiện một cuộc cách mạng vĩ đại chưa từng có trong lịch sử, mà hiện thân là Cách mạng Tháng Tám đã làm sáng ngời chân lý của bao thế hệ “con rồng cháu lạc” Việt Nam.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là biểu hiện mẫu mực của khoa học và nghệ thuật chính trị dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, trong đó nổi bật là khoa học, nghệ thuật chủ động chuẩn bị lực lượng, nắm bắt mau lẹ và chớp thời cơ một cách quyết đoán, hiệu quả. Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, tập hợp mọi người Việt Nam yêu nước trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng lớn để tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa long trời, lở đất, có ý nghĩa lịch sử. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là biểu tượng rực rỡ của tinh thần yêu nước nồng nàn, của ý chí quật cường không chịu mất nước, không cam làm nô lệ và khát vọng tự do, hòa bình ấm no, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam đã được hun đúc qua hàng nghìn năm; đồng thời, là thắng lợi của việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại. Ðảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức và rèn luyện với tầm nhìn xa, trông rộng đã dự báo chính xác thời cơ cách mạng; tích cực chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang; sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng; dựa vào lực lượng toàn dân; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đi từ khởi nghĩa toàn phần tiến tới tổng khởi nghĩa. Khi thời cơ cách mạng đã chín muồi, Ðảng ta kịp thời phát động toàn dân, triệu người như một, vùng lên lật đổ chế độ thực dân phong kiến, áp bức, bóc lột, lập nên chính quyền cách mạng do nhân dân làm chủ trong cả nước, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập tự do.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi cùng với bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo và tuyên đọc đã khai sinh ra chế độ dân chủ cộng hòa của Việt Nam. Thành quả vĩ đại và những bài học lịch sử vô cùng quý báu của Cách mạng Tháng Tám là hành trang, động lực tinh thần mạnh mẽ, thôi thúc toàn dân và toàn quân ta, dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến hành các cuộc kháng chiến trường kỳ anh dũng suốt 30 năm, đánh thắng các thế lực ngoại xâm hung bạo của thời đại; lập nên những chiến công hiển hách mà đỉnh cao là Chiến thắng Ðiện Biên Phủ năm 1954 và Ðại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá, đó là: bài học về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; bài học về vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng thời cơ để đưa đất nước tiến lên… Song, có lẽ trong thời điểm hiện nay, bài học về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân vẫn là bài học thiết thực nhất. Thực tiễn cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn 80 năm qua đã minh chứng rõ điều đó. Chèo thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, các bậc tiền bối đã dạy và cảnh báo cháu con như thế.

Ngày nay, người Việt Nam ai cũng thuộc lòng lời răn dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong. Có dịp mở những trang Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ đều thấy Đảng ta rất coi trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Đảng ta đã dựa vào sức dân, huy động sức mạnh toàn dân tộc lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua muôn trùng khó khăn, thách thức, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Như vậy, vai trò của nhân dân mang tính quyết định cho mọi cuộc cách mạng, là chìa khóa mở đường cho mọi cuộc cách mạng mà tưởng chừng khó vượt qua được. Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, bài học xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc lại càng thiết thực.

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã thể hiện rõ: trước hết phải khơi dậy được tinh thần yêu nước, yêu dân tộc, tạo sự đồng thuận của toàn xã hội để thực hiện công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Những người nông dân hôm nay lại tiếp tục bám ruộng, bám rừng, bám biển… để làm giàu cho đất nước. Hạt gạo của đồng bằng sông Cửu Long, châu thổ sông Hồng đã vừa làm ấm lòng hơn 87 triệu dân cả nước, giúp đất nước vượt qua những tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực trong những lần suy thoái; có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới.

Ðất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn; đồng bào ta có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc như hằng mong ước của Bác Hồ. Uy tín và vị thế nước ta được nâng cao trên trường quốc tế, nhân dân ta đang viết tiếp những trang sử vàng của thời kỳ mới. Cách mạng Tháng Tám – mốc son lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam đã và đang tỏa sáng, thôi thúc chúng ta tiếp tục vượt qua mọi khó khăn, thách thức, nỗ lực hướng tới phát triển bền vững, vượt qua những điểm nghẽn của phát triển bằng những đột phá, đổi mới mô hình tăng trưởng, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng hiện đại, xây dựng xã hội dân chủ với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hoàng Anh
xaydungdang.org.vn

Thư gửi Ban phương Đông (12-2-1931)

Thưa ông,

Tôi đã gửi cho ông ba lần mẫu hàng trong nước, qua người giao dịch Trung Quốc của ông, lần gửi cuối cùng vào ngày 8 tháng 2, tôi mong ông đã nhận được cả.

Các em tôi (1) ở Sài Gòn đã nhiều lần tin cho tôi biết chúng sẽ về, nhưng không biết tại sao nay chưa tới. Các em tôi nói chắc chắn rằng lần này sẽ ra ǎn tết với chúng ta. Các cháu tôi (2) ở Bắc Kỳ cũng hẹn như vậy. Ông xem, 9 hay 10 người ở một nhà, chúng ta sẽ ǎn tết thật là vui vẻ. Các em và cháu tôi nhân cơ hội này sẽ đi Thượng Hải. Vợ tôi (3) đang rất bận để chuẩn bị việc đón tiếp.

Ông đã tìm hiểu về việc “Công ty xe hoả tốc hành Mỹ” chưa? Tôi nghĩ đó là cách tốt nhất để gửi tiền cho hành khách.

Hôm nay, tôi gửi thêm cho ông những mẫu hàng khác của các thương cục Mã Lai và Nam Kỳ cũng qua người bạn Trung Quốc của ông. Nhờ ông chú ý khi mẫu hàng đến.

Kính chào
Ngày 12 tháng 2 nǎm 1931
VÍCTO

————————————–

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
cpv.org.vn

Thư gửi Ban phương Đông (16-2-1931)

Thưa ông,

Tôi mong ông đã nhận được tất cả thư của tôi cùng với những mẫu hàng mà tôi đã gửi qua nhân viên Trung Quốc của ông. Nay tôi gửi thêm những mẫu hàng khác qua người bạn Thượng Hải của tôi. Yêu cầu ông trả lời cho bạn tôi biết.

Tôi vừa nhận được hai tập sách rao hàng tiếng Anh của hãng “Inpơrétcơ và công ty”. Tôi còn phải nhận thêm ở bạn Thượng Hải của tôi nhiều tập sách ấy nữa (tiếng Pháp), để gửi cho các nhà buôn Đông Dương.

Nhân dịp này, tôi xin nói để ông biết lý do tại sao những ông giám đốc mới của thương cục Đông Dương lại nóng lòng muốn nhận thư mà chúng ta đã hứa gửi cho họ. Họ mới đến vùng này nên chưa gây được uy tín đối với nhân viên phụ thuộc của họ ở đấy đã lâu hơn. Hơn nữa, họ còn phải chấn chỉnh lại toàn bộ tổ chức. Không nhận được chỉ thị, không có sự ủng hộ chính thức của ban giám đốc thương cục trung ương chúng ta, họ khó hoàn thành tốt được công tác.

Tôi rất mong họ sẽ chóng nhận được thư để công việc ở các nhà buôn đó chạy tốt hơn, ông có đồng ý không?

Kính chào ông
Ngày 16 tháng 2 nǎm 1931
VÍCTO

————————–

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng
cpv.org.vn

Khủng bố trắng ở Đông Dương (19-2-1931)

Tháng 1 có:

– 187 tù chính trị ở các nhà lao tỉnh Thái Bình.

– 201 (97 đảng viên Quốc dân đảng và 104 đảng viên cộng sản) ở các nhà lao Hà Nội.

– 70 (đều là đảng viên cộng sản) ở Thanh Hoá.

– 400 (đều là đảng viên cộng sản) ở Quảng Nam.

– 900 (đảng viên cộng sản và nông dân) ở Nghệ An.

Đó là những con số chúng tôi nắm chắc, còn ở 54 tỉnh khác, chúng tôi chưa có tài liệu gì, nhưng chúng tôi biết ở mỗi tỉnh các nhà lao đều chật ních. Trong cùng một khoảng thời gian ấy:

– 414 tù chính trị bị đem đi đày, trong số đó có các cụ già 67 tuổi, các trẻ em trai và gái mới 15 tuổi, 44 tù chính trị bao gồm học sinh từ 15 đến 16 tuổi, bị án tổng số bằng 219 nǎm khổ sai và 1 án khổ sai chung thân.

án do nhiều toà án khác nhau xử, 201 tù chính trị Hà Nội do một toà án đặc biệt xử, chúng tôi chưa biết bản tuyên án. Ngày 27-1, toà án Nam Định đã tuyên các án sau đây:

– 10 án biệt xứ.

– 4 án 20 nǎm tù.

– 6 án 10 nǎm tù.

– 1 án 4 nǎm tù.

– 1 án 2 nǎm tù.

22 nạn nhân này của chủ nghĩa đế quốc Pháp đều là những sinh viên trẻ tuổi bị cáo đã tổ chức một đoàn thể cách mạng của sinh viên.

Sau đó, toà án thượng thẩm đã tuyên xử:

– 2 án biệt xứ.

– 6 án 20 nǎm khổ sai.

8 người này bị cáo là đảng viên Đảng Cộng sản. Ngày 26-1, toà án bất thường Kiến An đã tuyên án xử 99 đảng viên Quốc dân đảng và 72 đảng viên cộng sản như sau:

– 144 án biệt xứ (8 nữ thanh niên cộng sản)

– 4 án 10 nǎm khổ sai

– 19 án 5 nǎm tù (1 nữ thanh niên)

– 2 án 3 nǎm tù (1 nữ thanh niên)

– 2 án 1 nǎm tù khổ sai.

Riêng ở Bắc Kỳ, tổng số án tháng 1, không kể Hà Nội, là 157 án biệt xứ và 89 án cộng bằng 652 nǎm khổ sai và phạt tù. Chúng tôi không ước tính được số nạn nhân khủng bố trắng ở Nam Kỳ và Trung Kỳ, nhưng cũng trong tháng ấy, ở Trung Kỳ, có hơn 100 nhà nông dân bị lính đốt (ngày 17-1, ở huyện Nghi Lộc), 32 nông dân bị giết chết trong một cuộc biểu tình (cũng ở huyện ấy, ngày 9-1) và 2 nông dân bị giết trong một cuộc biểu tình (ở Hà Tĩnh, ngày 2-1).

Tháng này, ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, tổng số người bị bắt là 350 người.

Dưới đây là một số câu trả lời trước phiên toà Kiến An:

– Nguyễn Vǎn Bôn: Tôi theo những người cộng sản tháng 10-1930 là vì tôi thấy xã hội hiện nay rất thối nát.

– Nguyễn Trọng Tuệ: Phải, tôi là đảng viên Đảng Cộng sản, vì thiếu cơm ǎn, áo mặc, tôi phải làm cách mạng!

– Nguyễn Vǎn Ung: Tôi vào Đảng Cộng sản để lật đổ đế quốc Pháp và cải thiện đời sống cho đồng bào tôi.

– Bùi Vǎn Cao: Tôi theo Đảng Cộng sản để đánh đổ đế quốc Pháp để làm tròn bổn phận của một người dân Việt Nam.

– Nguyễn Vǎn Dai: Tôi bị áp bức nên tôi làm cách mạng để tự giải phóng.

– Phạm Mai: Mặc dầu đi lính cho Chính phủ Pháp, nhưng tôi thấy đồng bào tôi bị áp bức khổ sở, nên tôi vào Đảng Cộng sản để làm cách mạng và giúp đỡ đồng bào.

– Ngô Vǎn Mai: Tôi vào Đảng Cộng sản để đánh đuổi người Pháp ra khỏi đất nước. Không chỉ có mình tôi, ai đã biết cầm bát cơm ǎn cũng phải làm cách mạng. Tôi không cần ai tuyên truyền cho tôi cả.

– Phạm Thị Hội (một nữ thanh niên nông dân): Phải, tôi theo Đảng Cộng sản vì trong xã hội này có nhiều bất công.

– Hạ Bá Cang: Tôi không cần từ chối gì về hoạt động cách mạng của tôi cả vì đó là bổn phận của tôi phải góp sức cứu vớt 20 triệu đồng bào và đánh đổ giai cấp tư sản đế quốc.

– Trần Hy: Tôi là vô sản nên có lý do đương nhiên làm cách mạng.

– Ngô Kim Tài (lính cảnh sát): Tôi vào Đảng để đấu tranh cho hạnh phúc nhân loại.

– Nguyễn Huy Sán: Tôi là công nhân, tôi theo Đảng để bênh vực quyền lợi cho vô sản.

– Nguyễn Thị Hợi: Khi tên quan toà nói với chị: “Cô là giáo học, để làm cách mạng, cô đã bỏ việc đi làm phu ở Nhà máy dệt Nam Định”. Chị trả lời: “Phải, tôi vào Đảng Cộng sản vì chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa đúng đắn. Ông cũng thế nếu ông là vô sản, nhất định ông cũng sẽ vào Đảng”.

– Đoàn Vǎn Nghiêm: Tôi vào Đảng Cộng sản để đánh đổ đế quốc, tư bản và phong kiến Pháp 1 .

– Tống Phục Chiêu: Đánh đổ đế quốc và tư bản là điều chúng tôi cần làm. Đó là lời khai của tôi, các ông muốn làm gì tôi thì làm.

– Bùi Đắc Thanh (bị cáo treo cờ đỏ và rải truyền đơn): Tôi có gan theo Đảng Cộng sản thì tôi cũng có can đảm chịu lấy trách nhiệm, chúng tôi không xem cách mạng như một trò trẻ con.

Ngày 19 tháng 2 nǎm 1931
V.

—————————–

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn