Archive by Author | An ninh - Đời sống

Lời điếu làm rung động triệu triệu con tim

Ông Đống Ngạc.

“Tôi không dám nghĩ rằng Bác Hồ đã mất và hình dung trước mặt là hình ảnh của Người. Người đã làm rạng rỡ dân tộc và non sông đất nước ta. Trong tôi dâng trào niềm tiếc thương và xúc động vô hạn. Nó đã giúp tôi có cảm xúc mạnh mẽ để viết và hoàn thành bản thảo”, ông Đống Ngạc, nguyên Thư ký giúp việc của Tổng Bí thư Lê Duẩn, người chấp bút Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam để đọc tại Lễ Truy điệu Hồ Chủ tịch, kể lại.

Tròn một phần tư thế kỷ là thư ký giúp việc cho Tổng Bí thư Lê Duẩn, trong quá trình phấn đấu công tác, ông được đề bạt là Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và sau này giữ chức Phó Tổng biên tập Nhà Xuất bản Sự thật. Sau khi nghỉ hưu, ông tham gia biên tập nhiều đề tài tổng kết lịch sử rất quan trọng, trong đó có đề tài được đề nghị Giải thưởng Hồ Chí Minh. Ông chính là Đống Ngạc, nguyên Thư ký giúp việc của Tổng Bí thư Lê Duẩn.

Ông Đống Ngạc sinh năm 1925, tại xã Tam Đàn, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, quê hương giàu truyền thống cách mạng. Năm 14 tuổi, ông vào học tại Trường Quốc học Huế. Học hết chương trình tú tài phần một, ông quyết định xếp bút nghiên đi theo cách mạng.

Tháng 9 năm 1945, ông được tuyển vào Quân đội và biên chế về Đại đội 4, Chi đội do đồng chí Võ Quang Hồ chỉ huy (đồng chí Võ Quang Hồ sau này là Phó Cục trưởng Cục Tác chiến – Bộ Tổng Tham mưu – Quân đội nhân dân Việt Nam).

Tháng 10 năm 1945, đơn vị ông tham gia đoàn quân Nam tiến, cùng quân và dân Khánh Hoà chống thực dân Pháp bảo vệ thành phố Nha Trang. Ông không may bị thương. Vì vết thương quá nặng nên ông được trở về quê hương.

Theo đề nghị của Ủy ban Việt minh xã, người thanh niên đất Quảng quyết tâm vượt lên thương tích nhận nhiệm vụ làm chính trị viên dân quân xã, đồng thời gia nhập Đoàn thanh niên cứu quốc. Công tác ở xã được nửa năm, ông được cử đi dự Đại hội Đoàn Thanh niên cứu quốc huyện Tam Kỳ và được bầu làm Bí thư Huyện đoàn. Và từ đó, làm công tác đoàn thanh niên, ông đã phấn đấu lên đến chức Thường vụ Trung ương đoàn, phụ trách công tác nông nghiệp.

Tháng 4 năm 1962, ông Đống Ngạc được tổ chức phân công về công tác tại Văn phòng Trung ương Đảng, làm thư ký giúp việc cho đồng chí Lê Duẩn từ đó (ngày ấy đồng chí Lê Duẩn là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam). Về kỷ niệm ngày đầu giúp việc đồng chí Lê Duẩn, ông Đống Ngạc kể lại:

“Được về giúp việc cho anh Ba (tên gọi thân mật của đồng chí Lê Duẩn) nhà lãnh đạo kiệt xuất, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi rất vinh dự nhưng cũng rất lo lắng không hiểu có hoàn thành nhiệm vụ anh Ba giao cho hay không. Nhưng làm việc với anh Ba, tôi thấy anh là một con người giản dị, nhân hậu, rất gần gũi cuộc sống đời thường; một con người biết kết hợp nhuần nhuyễn tình cảm cách mạng cháy bỏng với tri thức cách mạng sâu sắc; một nhà chiến lược có sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị, có tư duy năng động sáng tạo, thể hiện tinh thần độc lập tự chủ rất cao. Mặc dù bận trăm công ngàn việc, nhưng anh thường xuyên quan tâm động viên, hướng dẫn tôi rất cụ thể, tỉ mỉ về công việc của người thư ký giúp việc anh.

Hai mươi nhăm năm được sống và làm việc bên anh Ba, tôi có rất nhiều kỷ niệm với anh. Nhưng có lẽ kỷ niệm sâu sắc nhất là lần tôi được anh Ba giao nhiệm vụ chấp bút Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam để đọc tại lễ truy điệu Hồ Chủ tịch.

Những ngày cuối tháng 8 năm 1969, tình hình sức khoẻ của Bác có chiều hướng xấu đi. Tập thể giáo sư, bác sỹ mang hết tinh thần trách nhiệm, nghị lực và tình cảm kính yêu đặc biệt đối với Bác để quyết thắng căn bệnh hiểm nghèo của Người. Trong những ngày ấy, anh Ba và các đồng chí trong Bộ Chính trị cũng vào thăm sức khoẻ của Bác. Sáng sớm ngày 2/9/1969, anh Ba vào thăm Bác rất sớm, ở lại bên giường Bác mãi đến trưa mới về nhà. Tôi linh cảm có điều gì rất hệ trọng đã xảy ra. Nghe tiếng còi xe, tôi ra cổng đón anh. Anh Ba bước xuống xe, mặt buồn rười rượi, đôi mắt đỏ hoe, tôi hiểu ngay rằng cái điều hệ trọng không ai mong muốn đã đến: Bác Hồ của chúng ta đã ra đi theo cụ Các Mác, cụ Lê Nin và các bậc đàn anh khác.

Mấy ngày hôm đó, vòm trời Hà Nội cũng như cả nước trĩu nặng một nỗi buồn, thiên nhiên như cũng đau nỗi đau của con người. Công tác chuẩn bị tang lễ Bác diễn ra hết sức dồn dập. Những người giúp việc anh Ba, nhất là bộ phận thư ký chúng tôi đều ứng trực cao độ. 9h tối 6/9/1969, vừa đi họp ở Bộ Chính trị về, anh Ba cho gọi tôi và anh Đậu Ngọc Xuân, trong Tổ Thư ký lên phòng làm việc của anh ở số 6 – Hoàng Diệu. Anh trầm ngâm đưa cho chúng tôi Bản Di chúc của Bác Hồ (văn bản mà Bộ Chính trị quyết định công bố trong Lễ Truy điệu Hồ Chủ tịch), hai dự thảo Điếu văn do bộ phận khác chấp bút (hai bản dự thảo này không được Bộ Chính trị thông qua) và giao nhiệm vụ:

– Hai chú chuẩn bị giúp tôi bản Điếu văn khác để đọc tại Lễ Truy điệu Bác.

Nghe đến đây tôi và anh Xuân nhận thức rất rõ rằng công việc được giao là một vinh dự rất lớn nhưng hết sức khó khăn, vượt quá sức mình. Chưa kịp định thần trước nhiệm vụ được giao thì anh Ba chỉ đạo: “Về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ đã ăn sâu vào tâm trí của mỗi người dân Việt Nam. Vì thế Điếu văn vĩnh biệt Người không nên viết theo công thức. Phải làm sao thông qua Điếu văn nêu bật được những tư tưởng lớn của Người để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thấu suốt hơn nữa, lấy đó làm mục tiêu phấn đấu, quyết biến sự nghiệp của Người thành hiện thực.

Thứ nhất, Hồ Chủ tịch nêu cao chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh đến cùng chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc để hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Thứ hai, Hồ Chủ tịch gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, dìu dắt đồng bào ta phấn đấu vì dân giàu nước mạnh, vì ấm no hạnh phúc của mọi người. Thứ ba, Hồ Chủ tịch dày công xây đắp khối đại đoàn kết dân tộc, kêu gọi toàn dân thực hiện, coi đó là bí quyết thắng lợi của cách mạng nước ta. Thứ tư, Hồ Chủ tịch kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế cách mạng. Thứ năm, Hồ Chủ tịch là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để mọi người học tập noi theo. Các chú chú ý đến văn phong, lời lẽ phải trang trọng, sâu sắc, cô đọng; văn chương phải có hồn và đi vào lòng người. Cố gắng làm xong trong đêm nay để kịp sáng mai Bộ Chính trị thông qua”.

lời điếu a2Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình.

Sau khi nhận nhiệm vụ, chúng tôi hội ý và xây dựng đề cương khái quát. Quá 12 giờ đêm, chúng tôi vẫn chưa viết được đoạn nào. Mấy hôm đó, chúng tôi đều thức để chuẩn bị phục vụ tang lễ Hồ Chủ tịch. Chắc vì quá mệt, nên anh Đậu Ngọc Xuân gục xuống bàn. Tôi dìu anh vào giường để anh nằm nghỉ và quay lại tiếp tục nghiên cứu để viết.

Lúc này, chỉ mình tôi ngồi đối diện trang giấy trắng. Tôi không dám nghĩ rằng Bác Hồ đã mất và hình dung trước mặt là hình ảnh của Người. Người là lãnh tụ có công lao trời biển và hy sinh cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng. Người đã làm rạng rỡ dân tộc và non sông đất nước ta. Nay Người đã ra đi! Dân tộc ta đứng trước một tổn thất, một đau thương lớn lao vô cùng. Trong tôi dâng trào niềm tiếc thương và xúc động vô hạn. Nó đã giúp tôi có cảm xúc mạnh mẽ để viết và hoàn thành bản thảo.

Sáng hôm sau, anh Ba dậy sớm hơn mọi ngày và gọi tôi cầm bản thảo lên đọc cho anh nghe. Nghe xong, anh chỉ thị:

– Về cơ bản là được, chú cần suy nghĩ thêm về đoạn nói về tư tưởng của Bác, nội dung 5 lời thề và cân nhắc thêm về từ ngữ.

Dừng lại nhìn tôi, chắc thấy sắc mặt tôi nhợt nhạt, đôi mắt thâm quầng vì thiếu ngủ mấy hôm triền miên, anh động viên:

– Nhưng thôi, chú thức suốt đêm chắc là mệt lắm, hãy cứ để như thế cho đánh máy rồi lấy thêm ý kiến của các đồng chí trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư, sau đó sửa chữa một thể.

Theo sự chỉ đạo của anh Ba, tôi đưa bản thảo sang bộ phận văn thư của Văn phòng Trung ương ở 1A Hùng Vương để đánh máy. Chị Vũ Thị Sinh, Tổ trưởng Tổ Đánh máy đọc bản thảo một lần rồi vừa đánh máy vừa khóc, mọi ngày hai bàn tay như múa trên bàn phím mà hôm đó cứ lóng nga lóng ngóng. Tôi động viên chị trấn tĩnh để hoàn thành bản thảo cho kịp thời gian.

8h sáng 7/9/1969, Bộ Chính trị và Ban Bí thư họp để bàn một số công việc, trong đó có nội dung tham gia vào dự thảo điếu văn. Sau khi lấy ý kiến tham gia, tôi và anh Xuân tập trung chỉnh sửa rất khẩn trương và tích cực, đến quá trưa thì công việc tạm xong. Đó là lần sửa chữa quan trọng nhất nhưng chưa phải là lần cuối cùng.

Sau khi nghe chúng tôi báo cáo kết quả sửa chữa lần thứ nhất, anh Ba đồng ý và chỉ thị cho chúng tôi gửi Điếu văn cho anh Trường Chinh, anh Phạm Văn Đồng, anh Tố Hữu, anh Hoàng Tùng… để các anh xem lại, góp ý kiến cho thật chặt chẽ và hoàn hảo. Đồng thời, gửi sang Ban Đối ngoại để kịp dịch ra năm thứ tiếng nước ngoài. Khoảng 8h tối 7 tháng 9, Điếu văn đã hoàn thiện sau 4 lần rà soát, sửa chữa.

Sáng ngày 8 tháng 9, chúng tôi trình anh Ba bản Điếu văn chính thức. Anh xem và nói:

– Tôi nói giọng miền Trung, đồng bào ngoài Bắc khó nghe, tôi phải đọc trước mới được.

Đọc được mấy dòng, anh nghẹn lại, hai hàng lệ cứ lăn dài trên gò má làm nhoà cả kính. Nhìn anh Ba khóc, chúng tôi càng hiểu tình cảm của anh với Bác Hồ kính yêu và tất cả chúng tôi không ai cầm được nước mắt. Ngoài trời mưa tầm tã.

Sáng 9/9/1969, Lễ Truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử hành trọng thể và trang nghiêm với lòng thành kính và biết ơn vô hạn với Bác, trên 33 vạn đồng bào, chiến sĩ cả nước và hơn 40 đoàn đại biểu các nước trên thế giới kính viếng và dự Lễ Truy điệu Người.

Sau khi anh Ba nghẹn ngào đọc Di chúc của Bác và Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng: “Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa! Tổn thất này vô cùng lớn lao! Đau thương này thật là vô hạn!… Dân tộc ta và Đảng ta mất đi một vị lãnh tụ thiên tài và một người thầy vĩ đại. Phong trào Cộng sản quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và cả loài người tiến bộ mất đi một chiến sỹ lỗi lạc, một người bạn chiến đấu kiên cường và thân thiết… Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, Người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta…” cả Quảng trường lặng đi rồi oà lên khóc. Các cháu thiếu nhi gục đầu vào lòng các bác lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước khóc nức nở.

Để thể hiện quyết tâm biến đau thương thành hành động cách mạng, sau mỗi lời thề trước anh linh của Bác, cả rừng cánh tay giơ cao cùng Ban Chấp hành Trung ương xin thề với Bác sẽ làm tròn sứ mệnh mà Người đã tin cậy giao phó, nguyện đi theo con đường mà Người đã vạch ra…”

Nguyễn Đức Quý
cand.com.vn

Lòng dân Pác Bó với Bác Hồ

Bác chào bà con Pác Bó rồi thân mật hỏi: “Bà con làm gì mà đông vui thế này?”. Mọi người đồng thanh: “Đón Bác ạ! Năm mới kính chúc Bác mạnh khỏe!”. Bác xúc động nói: “Tôi về thăm nhà, làm sao lại phải đón tôi!”.

Xuân Tân Tỵ 1941, sau 30 năm đi khắp năm châu bốn bể tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã trở về Tổ quốc. Từ người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đến nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc, hành trang để trở về Tổ quốc của Người là tinh hoa của dân tộc và thời đại được chắt lọc, là quyết tâm giải phóng dân tộc. Vượt qua muôn vàn gian truân và thử thách ngặt nghèo, ngày 28/1/1941 (nhằm ngày mùng 2 Tết), Bác Hồ đã về nước qua cột mốc số 108 (thuộc địa phận tỉnh Cao Bằng), trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong thời điểm lịch sử vô cùng nhạy cảm.

Thời gian đầu sau khi về nước, Bác sống tại hang Pác Bó (nay thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng), một nơi rất kín đáo nằm sát biên giới Việt-Trung, đường tiến, thoái đều thuận tiện. Bác chỉ đạo các đồng chí của mình nắm chắc tình hình và hoạt động của các tổ chức, tranh thủ tối đa lòng yêu nước và lực lượng của toàn dân cho cách mạng.

Trong hồi ức của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại: … Đi chẳng bao xa, tôi đã nhận ra Bác đang ngồi trên một phiến đá. Sau bao năm xa nước, hoạt động từ Đông sang Tây, Bác đã trở về góc rừng hoang vắng của Tổ quốc với bộ quần áo chàm giản dị, rất tự nhiên như một ông già người Nùng. Gần chỗ Bác ngồi, dưới chân những khối nhũ đá nhấp nhô, hình thù kì dị, nước từ khe núi chảy ra đọng lại trong vắt. Bác trỏ dòng suối nói với chúng tôi: “Đây là suối Lênin”. Trèo qua một quả núi đá không cao lắm, lách người đi hết một đám lau rậm, thì thấy hiện ra một cửa hang. Trong hang ẩm lạnh không có gì ngoài những cành cây nhỏ gác ngang, gác dọc.

Chính ở đây vào tháng 5 năm 1941, Hội nghị Trung ương lần thứ Tám đã họp dưới sự chủ tọa của Bác, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh và đề ra chủ trương chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa… Cũng tại đây, Bác đã nhân danh nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc viết lá thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Việc cứu nước là việc chung, ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm… Hỡi các chiến sĩ cách mạng, giờ giải phóng đã đến! Hãy phất cao cờ độc lập, lãnh đạo toàn dân đánh tan thù chung”…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp hồi tưởng, trời tối, trong hang Pác Bó rất lạnh, phải đốt lửa sưởi suốt đêm. Anh em thường ngồi quây quanh đống lửa nghe Bác nói chuyện. Một lần, Bác nhắc lại những cuộc chiến tranh lớn, những cuộc cách mạng từ trước tới nay, rồi Bác phỏng đoán độ bốn, năm năm nữa, chiến tranh sẽ tới bước quyết định, và lúc đó là một cơ hội rất tốt cho cách mạng nước ta. Bác viết một cuốn lịch sử Việt Nam bằng thơ lục bát, ghi lại tất cả những phong trào chống ngoại xâm từ trước đến nay. Bác viết vào cuối trang mục lục: “Việt Nam độc lập năm 1945”. Anh em người nói sớm, kẻ nói muộn. Bác nghe trao đổi, chỉ nói: “Để rồi xem”!

Thượng tướng Phùng Thế Tài là người vinh dự được bảo vệ Bác từ khi Người còn hoạt động ở Trung Quốc. Sau này, tại Pác Bó, ông lại được bảo vệ, phục vụ Bác…

Một kỉ niệm thể hiện tình cảm và sự quan tâm sâu sắc của Bác đối với bà con Pác Bó được Thượng tướng Phùng Thế Tài ghi lại: Một hôm trong làng có một nữ hội viên cứu quốc qua đời, gia đình tổ chức làm ma rất chu đáo. Được tin, Bác gọi anh Đại Lâm lên hỏi thăm tập quán, rồi hẹn sẽ viết một bài văn tế… Y hẹn, chiều hôm ấy, Bác trao cho anh Đại Lâm một bài văn tế mà bố cục, lời lẽ quy cách giống như mọi ông tào cao tay nhưng nội dung thì rất mới, bao hàm một ý nghĩa chính trị sâu sắc, những câu văn thống thiết xúc động lòng người. Tôi còn nhớ một đoạn trong đó, đại ý: Con người ta ai cũng vậy, cha mẹ có sinh ra mới thành con người, rồi lớn lên, già nua và chết đi, đấy là quy luật chung của tạo hóa, ai cũng bình đẳng như nhau. Thế thì tại sao ở trên đời, cuộc sống của mọi người lại không bình đẳng, có kẻ giàu người nghèo, có kẻ áp bức bóc lột người khác? Đọc đến đoạn đó ai cũng trầm trồ khen. Nhất là mấy ông già đã sống quá nửa đời người tủi cực, càng thấy lời văn như vận vào mình. Một người bỗng nói: “Đúng quá, đúng quá! Văn tế của thầy tào nào làm hay thế?”. Có người biết việc, hào hứng nói: “Chả phải của thầy tào nào cả, “Đồng chí già” viết đấy!”…

Bác Hồ thăm Pác Bó, Xuân Tân Sửu 1961.

Tròn 20 năm sau khi về nước (Xuân Tân Tỵ – 1941) lãnh đạo toàn dân làm cách mạng, mùa xuân năm Tân Sửu (1961), Bác Hồ trở lại thăm đồng bào Pác Bó, chiếc nôi của cách mạng với lòng dân thủy chung son sắt.

Đại tá Đặng Văn Ngọ, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Công an Trung ương, từng là một người lính cảnh vệ được bảo vệ, phục vụ Bác khi Người trở lại thăm Pác Bó. Chúng tôi đã có dịp được ông kể cho nghe kỉ niệm sâu sắc này: Anh em cảnh vệ chúng tôi đi tiền trạm lên Cao Bằng để lo công tác bảo vệ Bác. Ngày đó đường từ Cao Bằng lên Pác Bó còn rất khó khăn, phải đi bộ hoặc đi ngựa. Hôm ấy, mới sớm tinh mơ, bà con đã trang phục tươm tất như đi trảy hội, háo hức chờ đón Bác. Tầm 9h sáng, xa xa có đoàn người đang tiến đến gần. Cả một khối đông bà con reo lên: “Bác Hồ! Bác Hồ đến rồi!”… Mọi người chạy ùa lại đón Bác như đón một người thân lâu ngày về thăm quê hương. Bác chào bà con rồi thân mật hỏi: “Bà con làm gì mà đông vui thế này?”. Mọi người đồng thanh: “Đón Bác ạ! Năm mới kính chúc Bác mạnh khỏe!”. Bác xúc động nói: “Tôi về thăm nhà, làm sao lại phải đón tôi!”. Bà con ai nấy đều rưng rưng cảm động, nhiều người không cầm được nước mắt…

Hai mươi năm xa cách, họ lại được gặp “ông Ké cách mạng”, gặp “già Thu”, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Bác xúc động lặng ngắm hồi lâu những khuôn mặt người dân đã từng che chở, giúp đỡ cách mạng những ngày còn trong trứng nước. Người ân cần thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu nhi đồng… Sau đó, Bác cùng bà con thăm lại hang Pác Bó, núi Các-mác, suối Lênin. Lúc dừng chân trên một tảng đá bên suối Lênin, Bác xúc động ứng khẩu:

“Hai mươi năm trước ở nơi này
Đảng vạch con đường đánh Nhật – tây
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay”…

Dịp đầu Xuân Canh Dần này cũng là những ngày đầu tiên của thập niên thứ hai trong thế kỉ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức đẩy mạnh cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Làm theo lời Bác, tất cả từ dân và vì dân, nhất định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ sớm thành công; nước Việt Nam sẽ giàu mạnh, văn minh đúng như mong ước của Bác Hồ

Trần Duy Hiển
cand.com.vn