Trong chiếc gương kỉ vật

(DVT.vn) – Chiếc gương có tấm hình Bác Hồ đã theo suốt cuộc đời một người lính thông tin, thôi thúc anh sống, chiến đấu và cứu mạng anh trong tình huống bất ngờ.

Hồi kí của Đặng Trường Lưu

Nhiệm vụ của bộ đội thông tin trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975

Trong số chín anh em cùng xung phong vào bộ đội của xã tôi dạo mùa hè năm 1967, Hoạt là người thân với tôi nhất, ít tuổi hơn nhưng anh đã có vợ và con anh chào đời cũng vừa mấy tháng. Anh là người ít nói, ưa hoạt động, xốc vác và chân tình. Khi vào chiến trường, Hoạt và tôi ở cùng tiểu đội trong tiểu đoàn bộ binh, trực thuộc Bộ Tư lệnh mặt trận B5. Một thời gian sau, cả tiểu đoàn chuyển sang phối thuộc với Trung đoàn 132 thông tin chiến lược của Bộ Tổng tham mưu, có nhiệm vụ khẩn trương xây dựng đường dây trần xuyên Trường Sơn, phục vụ cho Trung ương chỉ huy cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân ở Huế.

Nhiệm vụ mới như người lính thông tin, nhưng công việc chủ yếu của chúng tôi là vận chuyển trên vai hàng nghìn tấn vật tư, vật liệu như: tách sứ, dây sắt, dây đồng, bu-lông, ốc vít…, từ bãi đổ hàng (của các binh trạm có đường ô-tô) đến từng cột mốc trên tuyến để lắp đặt, dựng lên một con đường âm thanh lịch sử, qua bao đỉnh cao trên nghìn mét, qua sông Sê-bang-hiêng, hay Sê-pôn ù ù thác réo, qua những vực sâu nhìn xuống mà sởn gai người.

Bộ đội vượt Trường Sơn (Ảnh tư liệu: Internet).

Chiến dịch kết thúc, chúng tôi vừa củng cố đường dây thông tin, vừa tổng kết kinh nghiệm. Hoạt được bình bầu là chiến sĩ thi đua, là Dũng sĩ Quyết thắng, hai lần được mặt trận tặng bằng khen. Anh là gương sáng của đơn vị.

Cuối năm 1968, chúng tôi có lệnh hành quân ra bắc an dưỡng. Hoạt được đưa lên làm cần vụ cho thủ trưởng trung đoàn. Sự xốc vác và kiệm lời của anh được thủ trưởng vô cùng tin cậy. Sau ba tháng nghỉ ngơi và tập huấn, chúng tôi lại hành quân vào mặt trận. Thủ trưởng trung đoàn cùng một số cán bộ chiến sĩ xuất sắc được ở lại dự Đại hội “Thi đua lập công” toàn binh chủng, tổ chức ở Hà Nội. Hoạt cũng nằm trong số đại biểu được bầu, đại diện cho lực lượng bộ đội thông tin đang đối mặt quân thù trên khắp chiến trường miền nam. Sau đại hội, Hoạt được tranh thủ ghé thăm nhà một tuần. Đứa con gái, lúc này đã biết bám chặt vào quần mẹ, vừa ngọng nghịu hát bài “Hoan hô chú bộ đội bắn Mỹ tài ghê” vừa chằm chằm nhìn vào người lính lạ lẫm mà mẹ bảo phải gọi bằng bố.

Khi tiểu đội đang triển khai công việc trên tuyến thì Hoạt xuất hiện. Anh em xôn xao và thực sự cảm động khi anh kể chuyện cứ nằng nặc xin thủ trưởng cho phép trở về tiểu đội cũ. Với một người như anh, cuộc sống trong vòng tay đồng đội hẳn ý nghĩa hơn nhiều. Mà thật vậy, nếu không có sự trở về để cùng “nếm mật nằm gai” với tôi và anh em tiểu đội, thì làm sao tôi với anh lại có được những kỉ niệm tuyệt vời trong câu chuyện mà tụi sắp kể ở đây, khi bộ đội thông tin toàn quân đang long trọng chuẩn bị kỉ niệm 40 năm Bác Hồ gửi thư khen ngợi.

Tấm ảnh Bác Hồ và kỉ niệm không thể quên trong đời người lính

Giữa những ngày Bác mất (tháng 9/1969), Hoạt và tôi được cử đi tăng cường cho trung đội khảo sát địa hình, chuẩn bị cho một nhánh đường dây mới. Chúng tôi chạm trán với lực lượng thám báo do đối phương thả xuống, đang len lỏi dò dẫm trong rừng hòng phát hiện nơi đóng quân và tuyến dây trần thông tin lợi hại của ta. Ác một nỗi là trang phục của chúng y hệt bộ đội ta: cũng mũ tai bèo, áo quần Tô Châu xanh lá, cũng súng AK báng gập thay vì bộ quần áo rằn ri biệt kích.

Trong khi cả trung đội khảo sát vừa bắn vừa rút nhanh khỏi khu rừng có khả năng chỉ trong ít phút thành tọa độ bom lửa, Hoạt và tôi bị thương. Chúng tôi tỉnh dậy thấy mình bị trói chặt, nằm trong một hang đá, giữa bao nhiêu đôi mắt ngầu đỏ, mở ra trừng trừng của những người dân đen đủi, hốc hác, đàn ông và đàn bà, người già và con trẻ. Ấy là những người Lào Thơng sống sót, chui lủi trong hang đá ven tây Trường Sơn, dọc hai bờ Sê-băng-phai.

Tôi và Hoạt nhìn nhau, sau khi đã nhận ra chợt ngơ ngác và khó hiểu vì những cái nhìn căm giận ấy. Khi mọi người xô đẩy rồi cùng nhau quỳ xuống, nhìn vượt qua đầu những người Lào Thơng khốn khổ, tôi và Hoạt cùng kinh ngạc nhận ra một bàn thờ được xếp lên bằng những tảng đá, và khói trầm đầm đìa ngút ngát từ một miếng vỏ cây đang cháy. Mấy nải chuối xanh xếp thành vòng tròn quanh cây chuối còn nguyên những tàu lá xanh mướt. Trên bẹ chuối lớn, người ta xăm hình một ngôi sao 5 cánh cùng những vạch tỏa ra tựa hồ ánh sáng. Họ ngồi im lặng và khóc, lẫn trong tiếng nấc nghẹn ngào. Không hiểu tiếng Lào, càng không biết tí gì thứ ngôn ngữ líu ríu như chim của những người Thơng kia, nhưng chúng tôi vẫn nghe thấy một từ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần: Hồ, Hồ, Hồ…

Thế là rõ. Tin Bác Hồ của chúng ta vừa mất đã đến được với những người dân Lào dưới chân Trường Sơn. Ai đã báo tin cho họ hay sự mách bảo của trời đất? Cái bàn thờ được dựng lên trong hang đá kia với biểu tượng ngôi sao khắc vào bẹ chuối thay bức chân dung mà họ không sao có được cùng với khói hương từ vỏ cây trầm đã nói lên tất cả. Chúng tôi lẳng lặng khóc. Một lát, những người Lào Thơng đứng lên, người cầm nỏ, kẻ cầm dao, nhiều người cầm đá, chậm rãi và dữ tợn, tiến về phía chúng tôi. Thì ra, họ nghĩ chúng tôi là biệt kích. Trong giờ phút đau thương, họ muốn hành xử kẻ thù.

Giữa khoảnh khắc vô cùng nguy hiểm ấy, Hoạt vùng vẫy, la hét: “Tôi là lính Bác Hồ! Tôi là lính Bác Hồ! Lấy cái gương trong túi cho tôi!”. Đầu anh ngúc ngoắc và cằm đập liên hồi xuống phía ngực. Một thanh niên với mảnh khố rách bươm tiến đến, thò tay vào túi áo của Hoạt, lấy ra chiếc gương tròn, to gần bằng miệng bát đưa cho già làng. Ông lão không thể hiểu câu nói của Hoạt: “Mở ra, mở vành nhựa ra, ở bên trong…”. Một cô gái xin nhận chiếc gương, đem đến bàn thờ đá, quỳ xuống và lẩm nhẩm điều gì đó. Rồi như được thần linh mách bảo, cô kéo lật vành tròn nhựa.

Ảnh tư liệu minh họa (Nguồn: Internet).

Từ phía trong, kẹp giữa tấm nhựa và miếng kính, đột ngột rơi ra tấm ảnh hai mẹ con, người thiếu phụ trẻ ôm đứa bé gái mũm mĩm: Hẳn đó là vợ con Hoạt. Một mảnh giấy báo gấp tư được mở ra. Gần như cùng một lúc, tất cả ồ lên và quỳ xuống. Đó là tấm ảnh Bác Hồ cầm ống nói được chụp ở Việt Bắc cùng với bức thư khen bộ đội thông tin in ngay dưới bức ảnh. Lập tức, chúng tôi được cởi trói. Hoạt nhanh nhẹn găm mảnh báo cũ hình Bác Hồ ấy vào bẹ chuối trên bàn thờ, dưới hình ngôi sao tỏa sáng. Trong không gian thiêng liêng hang đá Trường Sơn và mùi trầm thơm ngát, tôi và Hoạt cứ để cho dòng nước mắt đầm đìa tuôn chảy.

Sau những ngày được chữa chạy, vết thương đã tương đối lành, chúng tôi tìm về đơn vị đường dây của mình. Suốt chặng vượt rừng ấy, Hoạt kể tôi nghe về mảnh báo mà anh cắt từ tờ báo quân đội, phát hành trong ngày Đại hội thi đua của binh chủng ở Hà Nội, rồi kể về tấm ảnh vợ con, kể về chiếc gương xin được từ một người lính khi gặp nhau trên bến phà Xuân Sơn, kẻ ra Bắc đi học, người về lại chiến trường. Tấm ảnh vợ con cùng mẩu báo có hình Bác Hồ và bức thư của Người, anh kín đáo giấu vào chiếc gương, giữa hai lần kính và nhựa.

Tại sao phải giấu diếm thế? Kỉ luật chiến trường quy định: Những người lính đi B không được phép để lộ nhân thân của mình. Với anh, đây là chứng tích của một kỉ niệm đẹp, là niềm vinh dự lớn. Lời Bác khen Bộ đội Thông tin cũng là lời nhắc nhủ bản thân anh phải luôn gắng để vượt lên qua bao gian khổ và sống chết.

Những bí mật về bức ảnh “đặc biệt” ấy

Sau chiến thắng 1975, tôi về quê thăm nhà. Tôi không quên tìm đến gia đình những người đồng đội. Trong chín anh em đi cùng tôi đợt ấy, năm người hi sinh và đã có giấy báo tử gửi về. Riêng Hoạt, vợ và con anh vẫn trông chờ mỏi mắt. Tôi không giúp được gì cho chị, bởi tôi cũng không một manh nha tăm tích của anh. Sau cái lần bị thương và thoát hiểm trước cơn giận dữ do hiểu lầm của những người Thơng bên Lào hạ, nhờ tấm ảnh Bác Hồ và bức thư in trên mảnh báo mà Hoạt bí mật giấu trong chiếc gương, chúng tôi tìm về đơn vị. Hoạt được điều sang một đơn vị thông tin khác của chiến trường khu 5. Hai đứa bặt tin nhau từ đó.

Mãi cuối năm 1976, người ta mới đưa giấy báo tử cùng những di vật của Hoạt về gia đình. Anh đã hi sinh anh dũng từ mùa xuân năm 1974, trong một trận càn dữ dội của đối phương tràn lên trên núi, khi anh đang cố gắng ngụy trang đoạn đường dây rải hớ hênh qua khoảng trống của rừng.

Năm ngoái, sau ngày giỗ của Hoạt, vợ anh mời tôi nán lại. Trong câu chuyện nhỏ to, gián đoạn bởi những giọt nước mắt cạn kiệt, chị hỏi tôi nhiều về người chồng yêu quý, trong những câu hỏi, gợn lên một điều: Di vật mà anh để lại trong ba lô, có một chiếc gương. Đó không phải là chiếc gương của chị. Chị không tặng gương cho chồng trước lúc đi xa như nhiều người đàn bà khác, bởi chị nghĩ: “Chiến tranh khốc liệt thế, đạn bom sống chết là thế, tấm gương làm sao tránh được rạn vỡ!” Vậy thì ai đã tặng tấm gương ấy để đến lúc anh hi sinh, tấm gương vẫn nằm gọn trong đáy ba lô mà về đây với chị? Phải chăng…

Thì ra vậy! Người vợ suốt mấy chục năm lấy tuổi thanh xuân nuôi con thờ chồng ấy vẫn có một điều canh cánh không thể tự trả lời. Tôi bỗng cảm thấy mình có lỗi với mẹ con chị, có lỗi với vong linh của Hoạt. Sau đề nghị khẩn khoản của tôi, chị vào buồng, mở tủ lấy ra chiếc gương được bọc kỹ trong vuông vải ka-ki màu đỏ. Tôi đỡ lấy chiếc gương và thầm mong một lần nữa, phép màu lại hiện ra.

Bộ đội thông tin liên lạc (Ảnh tư liệu: Internet).

Quả thế! Tấm ảnh mẹ con chị và mảnh báo in hình Bác Hồ cầm ống nói, cùng bức thư của Người vẫn còn nguyên đó, dù đã ố vàng và dính bết vào nhau. Phải thận trọng bóc dần từng tí một. Mấy chục năm rồi, những dòng chữ nhỏ li ti vẫn đủ nét để tôi còn đọc được trong nghẹn ngào: “Thân ái gửi cán bộ và chiến sĩ thông tin liên lạc”… “đã có cố gắng, cần cố gắng hơn nữa…”, “…Cho xứng đáng là những chiến sĩ anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng”… Tấm gương mà anh giữ trọn trong ngực áo mình chính là cuộc đời trọn vẹn của anh, là tấm gương vĩnh cửu, làm sao có thể lu mờ hay rạn vỡ!

Không thể nói thêm điều gì, tôi và chị lặng ngắm di ảnh của anh. Rồi chị đứng lên, cầm bức ảnh, cùng tôi mở khung kính, ộp vào đó mảnh báo có hình Bác và bức thư của Người. Chị run run treo lại tấm ảnh của người chồng yêu quý, người chiến sĩ thông tin đã sống, chiến đấu và hi sinh, xứng đáng với lời khen của vị lãnh tụ thiên tài, người cha thân yêu của lực lượng vũ trang, trước khi anh về cõi vĩnh hằng.

Ngoài sân, chiều đã bắt đầu chạng vạng. Cả khung trời phía tây chợt bừng lên những nan quạt khổng lồ màu đỏ tía. Lòng ngổn ngang bao ý nghĩ về thời cuộc, về tình người, về những thế hệ đã đi qua cuộc chiến suốt gần thế kỉ, tôi xin chị được thắp thêm mấy nén nhang cho anh, rồi thầm gọi: “Hoạt ơi!”.

Tháng 12 năm 2008

dvt.vn

Advertisements