Tầm vóc lịch sử, ý nghĩa thời đại sâu sắc của Tuyên ngôn độc lập

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”.

Lời tuyên bố trịnh trọng vang lên giữa Quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2-9-1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ lâm thời, thay mặt toàn bộ dân nước, không chỉ là lời tuyên bố trước toàn thể thế giới về sự có mặt của một dân tộc anh hùng, về sự khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Châu Á mà còn thể hiện một sự tự nhận thức về những giá trị nhân văn, giá trị tiến bộ của một dân tộc hàng nghìn năm chìm đắm trong nô lệ và nghèo nàn, lạc hậu; là tuyên ngôn của lòng quyết tâm thực thi các giá trị tiến bộ đó trên đất nước mình.

Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 được coi là áng thiên cổ hùng văn của Việt Nam, bên cạnh bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn, Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi.

Với 1.009 chữ, Tuyên ngôn Độc lập Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn được thế giới coi là tác phẩm tuyên ngôn mẫu mực, chặt chẽ về luật pháp, giàu hình ảnh văn học, thể hiện rõ được ý chí nguyện vọng của dân tộc, của thời đại ; mang tính lịch sử và nhân văn, tính đặc thù và phổ quát.

Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Mc Govern năm 2005 đã đánh giá: Trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viện dẫn Thomas Jefferson và suy luận một cách sáng suốt.

Mở đầu bản tuyên ngôn là một chân lý hiển nhiên: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Tạo hóa, Đấng Tối cao trong quan niệm Phương Tây, cũng như Trời, Đạo Trời trong cách nghĩ của người Phương Đông đều thể hiện một quyền lực, một chân lý tuyệt đối, không ai chống lại được, không phải bàn cãi.

Đoạn trích đầu từ Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ , bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trên thế giới được soạn thảo bởi Luật sư danh tiếng bang Virginia, ông Thomas Jefferson(1743-1826), sau này là Tổng thống Hoa Kỳ (1801-1809), được tuyên đọc ngày 4-7-1776, chấm dứt sự phụ thuộc của Mỹ đối với Anh. “Trong tiến trình phát triển của nhân loại, khi một dân tộc nào đó cần thiết phải xóa bỏ những mối liên kết chính trị giữa họ với một dân tộc khác và khẳng định trước các lực lượng trên toàn trái đất vị thế độc lập và bình đẳng mà các quy luật của tự nhiên và Thượng đế đã ban cho họ thì sự tôn trọng đầy đủ với các quan điểm của nhân loại đòi hỏi họ phải tuyên bố những nguyên do dẫn họ đến sự độc lập đó”.

Đoạn trích thứ hai từ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp 1789.

Mở đầu Tuyên ngôn của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, không chỉ thể hiện tính hợp pháp, hợp lý của nó ở tầm quốc tế; không chỉ là một “đòn đánh chặn” đối với thực dân Pháp và đế quốc can thiệp Mỹ lúc đó, mà còn thể hiện tính hội nhập vào tiến trình dân chủ thế giới trong những khái niệm tự do, bình đẳng, quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc mà nền tảng là độc lập dân tộc.

Tội to nhất mà Tuyên ngôn khẳng định là tội cướp nước, áp bức; trái nhân đạo, chính nghĩa; bóp nghẹt tự do, dân chủ. Những điều đó đến nay và muôn sau vẫn còn mang ý nghĩa thời sự, vẫn khích lệ con người đấu tranh để xóa bỏ.

Tổng kết phong trào đấu tranh cứu nước suốt nửa cuối thế kỷ 19, nửa đầu thế kỷ 20, mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám, Tuyên ngôn viết: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Đoạn văn chính luận mẫu mực ấy không chỉ cho ta thấy kết quả to lớn, vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, còn cho thấy tính nhân văn của dân tộc, của cách mạng vô sản nước ta. Đành rằng trong lịch sử, trong bão táp cách mạng, có nhiều hy sinh, nhiều oan khuất nhưng trong so sánh chung, không ít những cuộc chiến tranh, cách mạng trên thế giới đẫm máu hơn nhiều.

Truyền thống hiếu sinh từ Nguyễn Trãi, đến tư tưởng nhân nghĩa Hồ Chí Minh là nguồn gốc của sức mạnh văn hóa, của tinh thần đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế. Bác Hồ từng nói:

“Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu, có nước phải chặt đầu vua… Nước ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là nước được hoàn toàn độc lập và chống giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra khỏi bờ cõi”. Ngày nay, đọc lại Tuyên ngôn Độc lập và bình tĩnh suy xét lịch sử, thì cái kết quả mà cách mạng tạo ra nước độc lập, dân tự do cũng là khát vọng nghìn đời, mong mỏi của mọi người dân yêu nước, dù ở hoàn cảnh nào, phương trời nào.

Như trên đã nói, điều cốt lõi nhất mà chúng ta, mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều hướng tới là độc lập dân tộc. Nhưng độc lập sẽ không có ý nghĩa gì nếu người dân không đủ cơm ăn , áo mặc, không được thực hiện quyền làm chủ của mình một cách đầy đủ. Ba quyền của mỗi con người, mỗi dân tộc mà Tuyên ngôn nhấn mạnh, đó là quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do.

Ba quyền ấy, dưới chế độ thực dân, phong kiến; dưới sự lệ thuộc kinh tế, chính trị vào nước khác, đã bị tước đoạt.

Dưới chế độ ta, ba quyền ấy cần phải được đảm bảo ngày một tốt hơn. Đó là ý nghĩa thời sự, là mục tiêu không thể xa rời của sự nghiệp cách mạng.

Và không chỉ vào năm 1945, không chỉ vào những ngày đất nước bị giày xéo dưới gót giày xâm lược; ngày nay, toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập phải là tuyên ngôn hùng hồn của mỗi chúng ta, của mọi thời đại.

Nguyễn Sĩ Đại

dvt.vn

Advertisements