Bác Hồ ở “thủ đô gió ngàn”.

(DVT.vn) – “Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ”. Cái “nhà sàn đơn sơ” nơi Bác Hồ tiếp nhà thơ Tố Hữu năm 1947 ấy là ở đâu? Tân Trào hay Định Hóa?

HÀM CHÂU

Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Vui sao một sáng tháng Năm
Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ
Suối dài xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn
Bác kêu con đến bên bàn
Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ…

Trước kia, đọc mấy câu thơ hết sức quen thuộc ấy của Tố Hữu, tôi thường tự hỏi: Vậy cái “thủ đô gió ngàn”, nơi “Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ” ấy nằm ở đâu trong chiến khu Việt Bắc bao la? Phải chăng là ở Tân Trào, Sơn Dương?

Phải đến gần đây, sau bốn lần “về nguồn” thăm Định Hóa, tôi mới biết rõ chốn “suối dài xanh mướt nương ngô” kia chính là ở Định Hóa.

Sở dĩ Định Hoá được chọn làm “thủ đô xanh” – hay còn gọi là “thủ đô gió ngàn” – trong những ngày đầu kháng chiến, bởi vì trước hết đây là vùng núi non hiểm trở, quân Pháp khó sử dụng xe cơ giới đánh chiếm. Nhưng ta thì lại có thể sử dụng mạng đường mòn xuyên rừng và đường ngựa thồ chằng chịt để liên lạc với vùng Tây Bắc, trung du và đồng bằng nước ta, cũng như với các cơ sở bí mật của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở miền Hoa Nam lúc bấy giờ còn nằm dưới quyền kiêm soát của Tưởng Giới Thạch. Định Hoá không quá xa miền xuôi như vùng căn cứ Pác Bó (Cao Bằng), tiện cho việc kịp thời chỉ đạo cuộc kháng chiến trong cả nước.

Ngay từ năm 1906, nhà yêu nước Phan Bội Châu từ Quảng Châu trở về Định Hoá, đã có ý định xây dựng nơi đây thành căn cứ chống Pháp, nhưng không thành. Bởi vì, lúc bấy giờ, mới chỉ có địa lợi, chứ thiên thời chưa xuất hiện, và nhân hoà cũng chưa rõ nét. Phải đến thập niên 1940, thì mới hội đủ cả ba yếu tố đó.

Chúng ta còn nhớ, đến cuối tháng 8/1945, cách mạng mới thành công trong cả nước. Nhưng, riêng Định Hoá, thì sớm hơn nhiều. Rạng sáng 26/3/1945, Cứu quốc quân và tự vệ địa phương đã nổ súng đánh chiếm đồn lính khố xanh Chợ Chu. Rồi vào ngày 18/4/1945, 130 đại biểu đồng bào bảy dân tộc trong châu đã họp tại Bản Lác, bầu ra Uỷ ban Nhân dân cách mạng lâm thời .châu Định Hoá. Cán bộ và nhân dân Định Hoá luôn kiên trung với cách mạng.

Tập thể dục ở chiến khu.

Trong tám năm chống Pháp, Bác Hồ thay đổi chỗ ở nhiều lần quanh vùng Phú Đình (Định Hoá) và Tân Trào (Sơn Dương). Tuy thuộc hai tỉnh khác nhau, hai xã này rất gần nhau, nằm hai bên ngọn núi Hồng. Bác thường “ung dung yên ngựa trên đường suối reo” qua lại trên con đường ngựa thồ vượt đèo De, ngọn đèo dài khoảng bốn ki-lô-mét. Nơi đây có cánh rừng phách, một loại cây thân gỗ khá lớn, lá rực vàng lúc thu sang, đã đi vào thơ Tố Hữu:

Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình…

Theo lời Bác dặn, những cái lán Bác ở phải đạt mấy tiêu chí sau đây:

Trên có núi,
Dưới có sông,
Có đất ta trồng,
Có bãi ta vui.
Tiện đường sang Bộ Tổng,
Thuận lối đến Trung ương.
Nhà thoáng, ráo, kín mái,
Gần dân, không gần đường.

Rất tiện cho công việc mà cũng rất đẹp, xét từ góc nhìn “phong thuỷ” cổ xưa hay sinh thái học hiện đại.

Trong bài Quê hương Việt Bắc, Nguyễn Đình Thi từng miêu tả ngôi nhà sàn của Bác Hồ ở Định Hóa bằng những câu thơ thật giản dị, sáng trong:

Một nhà sàn đơn sơ vách nứa
Bốn bên suối chảy cá bơi vui
Đêm đêm cháy hồng lên bếp lửa
Ánh đèn khuya còn sáng trên đồi

Nơi đây sống một người tóc bạc
Người không con mà có triệu con
Nhân dân ta gọi người là Bác
Cả đời người là của nước non…

Trong cuốn Những năm tháng bên Bác (Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 1985), đồng chí Hoàng Hữu Kháng kể:

“Chúng tôi làm cho Bác một cái “lầu”, tầng trên để Bác ngủ và làm việc ban đêm, tầng dưới làm việc ban ngày, như vậy tránh được thú dữ và không khí núi rừng ẩm thấp. Gọi là “lầu” nhưng thật ra nó bé lắm. Bác giao hẹn: Chiều cao có thể giơ tay với được, còn chiều ngang thì đưa tay sang phải, sang trái đều chạm đến, để tiện lấy các vật dùng treo trên vách. Bác bảo làm như vậy đỡ tốn công sức, dễ giữ bí mật. Trên sàn chỉ cần một chiếc bàn con để Bác ngồi làm việc, xem sách báo là đủ.”

Bác Hồ và các đồng chí giúp việc.

Cái “lầu” mà đồng chí Kháng kể chính là ngôi nhà sàn ở Khuôn Tát, Định Hoá.

Qua cuốn Chiến đấu trong vòng vây (Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 1995), Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho ta biết thêm: Bữa cơm của Chủ tịch nước lúc bấy giờ “phần lớn là sắn do cơ quan tăng gia, gạo chỉ loáng thoáng. Thức ăn duy nhất là măng rừng chấm muối”. Những hôm có khách, nếu săn thú trong rừng, câu cá ngoài suối chẳng được gì, thì Chủ tịch tiếp khách bằng “món đặc biệt trong ống tre, món thịt lợn thái nhỏ trộn với rất nhiều muối và ớt mà Chủ tịch thường dùng trên đường đi công tác.”

Năm 1947, những dãy núi chung quanh thung lũng Chợ Chu còn nhiều khỉ vượn. Cán bộ miền xuôi, nhất là thanh niên Hà Nội quen “sống vui phố hè” giữa “Hàng Đào ríu rít Hàng Đường, Hàng Bạc, Hàng Gai”, những ngày đầu mới lên Định Hoá, nghe “vượn hót, chim kêu suốt cả ngày”, cảm thấy man mác một nỗi buồn nhớ thành phố, nhớ đồng bằng. Vẫn là tiếng “vượn hót, chim kêu” ấy thôi, nhưng Bác lại cảm thấy “hay”:

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay,
Vượn hót, chim kêu suốt cả ngày.
Khách đến thì mời ngô nếp nướng,
Săn về thường chén thịt rừng quay.
Non xanh, nước biếc tha hồ dạo,
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.
Kháng chiến thành công ta trở lại
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này.

Bác Hồ chia vui với bà con thôn bản trong mùa gặt ở chiến khu.

Đúng là cảnh vật được cảm nhận qua tâm trạng con người. Như Nguyễn Du miêu tả, qua tâm trạng của Thuý Kiều trong những năm lưu lạc ê chề, thì “cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”! Là nhà cách mạng từng trải, được tôi luyện qua lao tù ngục thất, quen nằm gai nếm mật, Bác Hồ luôn lạc quan. Hơn nữa, vào năm 1947, lực lượng cứu nước đã đông đảo, hùng mạnh hơn nhiều so với năm 1941, khi Bác mới về nước, ở trong hang Cốc Bó, thôn Pác Bó, “sáng ra bờ suối, tối vào hang”. Trong bài thơ Chúc năm mới, Đinh Hợi -1947, Bác viết những lời hào sảng:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông…

Bác vui vì thấy rõ:

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng…
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông…

Chính vì tin chắc vào sức mạnh quật cường của cả dân tộc nhất tề đứng dậy “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, Bác mới có thể sáng tác nên bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc với âm hưởng lạc quan như vậy. Một số vị trí thức, nhân sĩ trong Chính phủ kháng chiến, lúc bấy giờ tuổi còn khá trẻ, như luật sư Phan Anh, xin được họa bài thơ này của Bác. Một không khí tin tưởng bao trùm khắp các cơ quan trung ương. Cuộc sống núi rừng với choé rượu cần, bát nước chè tươi, bắp ngô nếp nướng, và đôi khi có miếng thịt rừng quay, hóa ra cũng không đến nỗi buồn, mà còn có nét nào đó… “thật là hay”!

Giản dị như một nhà nông, Bác uống bát nước chè xanh với người dân.

Hai câu cuối nói lên tình cảm thuỷ chung của Bác: Sau ngày kháng chiến thành công, Bác sẽ trở lại thăm chiến khu xưa, không bao giờ quên những con người chất phác đã từng “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” với mình.

Bài thơ của một nhà cách mạng hiện đại, thế mà lại toát lên cốt cách thanh cao của một nhà hiền triết phương Đông cổ đại “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo hèn không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.

dvt.vn

Advertisements