Đức độ Bác Hồ lan tỏa sức cảm hóa lớn lao

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Xu-pha-nu-vông. (Ảnh tư liệu)

(DVT.vn) – Bác Hồ cảm hóa trí thức không phải bằng lời lẽ văn hoa hùng biện, mà là bằng chính cuộc đời mình – một cuộc đời tận tụy vì nước, vì dân.

HÀM CHÂU

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước, Quân đội, Mặt trận và các đoàn thể làm việc tại ATK (An toàn khu) Việt Bắc. Đây là vùng đất rộng lớn chung quanh dãy núi Hồng bao gồm các huyện Định Hóa (Thái Nguyên), Sơn Dương, Yên Sơn (Tuyên Quang) và Chợ Đồn (Bắc Cạn).

Bữa cơm đạm bạc của Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Bác Hồ thay đổi chỗ ở nhiều lần quanh Phú Đình (Định Hóa) và Tân Trào (Sơn Dương). Tuy thuộc hai tỉnh khác nhau, hai xã này rất gần nhau, nằm hai bên dãy núi Hồng, ngăn cách bởi con đèo De, ngọn đèo dài khoảng bốn ki-lô-mét.

Nhớ ông Cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải, đẹp tươi lạ thường!
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo…

Bác Hồ câu cá suối.

Vậy con ngựa Bác thường cưỡi ở Việt Bắc là con ngựa nào?

Cuốn hồi ký của ông Vũ Đình Huỳnh, một cán bộ làm việc gần Bác tại ATK Việt Bắc, cho ta biết:

“Bác thường qua thăm cụ Vi Văn Định và các cụ cao tuổi khác. Bác bận thì lại bảo mấy cán bộ làm việc ở Phủ Chủ tịch tới trông nom. Năm 1949, tôi đi Cao Bằng mua về mấy con ngựa, định bụng chọn một con để Bác dùng đi lại cho đỡ vất vả. Biết tin, cụ Vi bảo tôi:

– Ông dẫn chúng nó sang đây cho tôi xem! Này, coi tướng ngựa là tôi rành lắm đấy! Để tôi xem cho, con nào hay, con nào dở, tôi bảo cho.

Tôi liền dẫn lũ ngựa sang. Đứng trước mấy con ngựa, cụ già Vi như trẻ hẳn lại, háo hức như thanh niên. Cụ trìu mến vỗ về chúng, rồi xem kỹ từng con một, dắt tới dắt lui, xem răng, xem ức.

Cuối cùng, cụ chỉ vào con tía:

– Con này hay nước chạy mà hiền, xin ông để Cụ Hồ dùng.

Rồi chỉ con đứng bên cạnh:

– Con này hay lắm, nhưng phải cái hay trở chứng, nên để cho anh bảo vệ nào trẻ mà nhanh cưỡi.

Con ngựa trong tấm ảnh lịch sử chụp Bác sửa soạn yên cương lên đường đi Chiến dịch Biên giới năm 1950 chính là con ngựa tía mà cụ Vi đã chọn.”

Theo ông Vũ Đình Huỳnh, Bác Hồ thường nói với các cán bộ gần Bác:

“Chúng mình chỉ là cái men thôi. Nên được rượu là nhờ cơm nếp. Phải có đông đảo quần chúng tham gia mới thành cách mạng. Nhân sĩ, trí thức là thứ men tốt, cần phải kéo họ về mình.”

Ở chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ thường tự chẻ củi, nấu cơm.

Tại sao một người đã từng làm Tổng đốc tỉnh Thái Bình như cụ Vi Văn Định lại có mặt tại ATK Việt Bắc? Câu chuyện hơi dài…

Cụ Vi có hai người con gái là tiểu thư Vi Kim Ngọc và tiểu thư Vi Kim Phú, vừa xinh đẹp, vừa có trình độ học vấn khá cao. Hai tiểu thư là người Tày nhưng nói rất sõi tiếng Kinh và cả tiếng Pháp, trước Cách mạng Tháng Tám, đã kết hôn với hai nhà trí thức lớn: Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên và Giáo sư Hồ Đắc Di. Được Giáo sư Hồ Đắc Di giới thiệu, Bác sĩ Tôn Thất Tùng cưới người cháu nội gái của cụ Vi là tiểu thư Vi Nguyệt Hồ.

Cả ba nhà trí thức đó, được Bác Hồ cảm hóa, đều hăng hái gánh vác trọng trách trong chính quyền cách mạng, ngay sau ngày nước nhà vừa giành được độc lập. Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên nhận làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục quốc dân; Giáo sư Hồ Đắc Di – Hiệu trưởng Đại học Y Hà Nội; Bác sĩ Tôn Thất Tùng – Giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn.

Mùa hè năm 1946, trước ngày rời Hà Nội lên đường sang Paris thăm nước Pháp nhân khai mạc Hội nghị Fontainebleau, mặc dù bận trăm công nghìn việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không quên giao nhiệm vụ cho ông Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, lo việc đón cụ Vi Văn Định về Hà Nội, kẻo “hữu sự thì không kịp”! Bác nói: “Con cháu cụ Vi đều đi với cách mạng cả, hãy mời cụ về Hà Nội!”

Bác căn dặn, phải tìm những cán bộ cách mạng trước đây đã từng bị cụ Vi bắt giam, khi cụ còn làm Tổng đốc tỉnh Thái Bình, cầm giấy mời của Chính phủ lên Bản Chu, trao tận tay cụ, như vậy cụ sẽ thấy ta không giữ hận thù mà thật lòng đoàn kết.

Ông Ba Ngọ, một cựu chính trị phạm từng bị cụ Vi bắt giam, được giao làm việc ấy. Ông cùng Đoàn cán bộ Chính phủ lên Bản Chu, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, tha thiết mời cụ về Hà Nội, nhưng cụ từ chối, nói:

– Tôi nay già yếu rồi, chắc chẳng đóng góp được gì, xin để cho “lão giả an chi”!

Ông Ba Ngọ cùng Đoàn đành lui ra nghỉ tạm ở thị xã Lạng Sơn.

Nhưng ông không chịu bỏ cuộc, tay không trở về Hà Nội! Hai ngày sau, ông cùng Đoàn quay trở lại Bản Chu. Lần này cụ Vi không nỡ từ chối. Cụ cho mời tất cả bà con trong làng và ở các trại khoảng vài nghìn người đến dự bữa cỗ tiễn biệt. Phải mổ mấy con bò, mấy chục con lợn, nấu mấy trăm mâm cỗ. Giữa bữa cỗ thịnh soạn, cụ nghiêm mặt nói:

– Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho người lên đây đón tôi về Hà Nội. Khi vắng tôi, con cháu cùng bà con dân bản phải làm lụng chăm chỉ như bình thường!

Mọi người nhao nhao lên hỏi:

– Cụ đi như thế có được bảo đảm an toàn không?

Ông Ba Ngọ liền đứng lên, trịnh trọng cam kết:

– Xin đồng bào yên tâm! Chính phủ đã đón cụ đi là phải bảo đảm an toàn.

Chẳng bao lâu sau, một hôm người con trai cụ Vi Văn Định là ông Vi Văn Kỳ ngụ tai phố Hàng Da, Hà Nội, đang mặc quần cộc ngồi ở gian nhà trong, bỗng nghe báo tin có một vị “khách Tây” không mời mà đến! Hoá ra đó là một tên mật thám Pháp xin gặp để ngỏ ý mời ông Kỳ trở về Lạng Sơn làm “vua nước Tày – Nùng”!

Ông Kỳ hoảng quá, liền xin lên yết kiến Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Quyền Chủ tịch nước (lúc đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đang ở Pháp) và ông Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, để tường trình về sự việc khác lạ nói trên. Ngay sau đó, cả gia đình ông Kỳ được Chính phủ ta sắp xếp cho lặng lẽ chuyển vào Thanh Hoá. Tại đấy ông Kỳ làm việc ở cơ quan Bộ Nội vụ cho đến lúc về hưu. Chính sách dùng người của Bác Hồ là vậy, rất tin cậy, thuỷ chung.

Qua câu chuyện ấy, ta càng thấy rõ tiên đoán sáng suốt của Bác trong việc kịp thời đưa cụ Vi rời khỏi Lạng Sơn, “kẻo hữu sự thì không kịp”.

Tháng 12/1946, trước ngày Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tình hình Hà Nội hết sức căng thẳng. Bác Hồ chỉ thị cho Bộ trưởng Lê Văn Hiến đưa ô-tô hòm đến nhà riêng đón cụ Vi lánh về làng Bật, quê hương cụ Bùi Bằng Đoàn, rồi sau đó ít lâu, đưa cả cụ Vi và cụ Bùi cùng linh mục Phạm Bá Trực lên ATK Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.

Vừa quay về làng Mông Phụ quê hương, gần thị xã Sơn Tây, cụ Phan Kế Toại nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh mời lên Việt Bắc, tham gia Chính phủ kháng chiến.

Từ Định Hoá, các cụ vượt đèo De, núi Hồng sang Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, một vùng núi non tuyệt đẹp “ngày xuân mơ nở trắng rừng”… Tại ATK, cụ Vi cũng như các vị nhân sĩ, trí thức khác được Bác Hồ và Chính phủ kháng chiến chăm sóc chu đáo.

Gia đình cụ Vi Văn Định ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang năm 1948. Trong ảnh: Người chống ba-toong là cụ Vi; người đứng bên phải là GS Hồ Đắc Di; đứng hàng sau, bên trái là TS Nguyễn Văn Huyên; cùng ba tiểu thư nhà họ Vi: Vi Kim Ngọc, Vi Kim Phú, Vi Nguyệt Hồ. (Ảnh: Gia đình TS Nguyễn Văn Huyên)

Sau ngày Hà Nội giải phóng, tháng 10/1954, cụ Vi cùng con cháu trở về Thủ đô. Cụ sống bình yên qua cải cách ruộng đất, được chứng kiến ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, rồi qua đời ngày 20/12/1975, thọ 96 tuổi. Chính phủ ta đã giữ đúng lời hứa “bảo đảm an toàn” cho cụ Vi – lời hứa mà ông Ba Ngọ, thay mặt Đoàn đại biểu Chính phủ, đã nói vào ngày đầu cách mạng khi thừa lệnh Bác Hồ lên Bản Chu đón cụ về Hà Nội.

Thế đấy, Bác Hồ cảm hoá trí thức không phải bằng lời lẽ văn hoa hùng biện không chung chung sáo rỗng, mà bằng chính cuộc đời mình – một cuộc đời chân thành, cần kiệm, tận tụy vì nước, vì dân, coi thường hư danh, bổng lộc.

dvt.vn

Advertisements