Nơi Bác Hồ định đô kháng chiến

Dòng sông lặng ngắt như tờ
Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo
Bốn bề phong cảnh vắng teo
Chỉ nghe cót két tiếng chèo thuyền nan
Lòng riêng riêng những bàn hoàn
Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng
Thuyền về trời đã rạng đông
Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi.

Thiếu nữ ở Thủ đô kháng chiến Tuyên Quang hôm nay. Ảnh: Đồng Khắc Thọ

Đó là bài thơ của Bác Hồ mang tựa đề Đi thuyền trên sông Đáy. Nhân đầu Xuân năm Rồng, tôi muốn nói đôi điều với chiến sĩ ta, nhìn từ phía lịch sử.

Dù chiến sĩ ta đã lên hay chưa lên Sơn Dương, Tuyên Quang hẳn đã nghe, đã đọc “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”. Tân Trào là “Thủ đô Khu giải phóng” trước năm 1945. Sự tôn danh dân dã thôi mà trở nên thiêng liêng cao quý, chứ đâu có văn bản quy pháp gì – ý dân là ý trời mà! Ý trời thành văn hẳn hoi, chẳng rõ tự bao giờ, là hai câu đối trong đình:

Để Giang tả bảo linh nguyên hội
Ngọc tỉnh hữu triều thụy Khí chung

Để Giang là tên chữ Hán của dòng sông, nôm na gọi sông Đáy Con, Tiểu Đáy. Tôi khi nghe lần đầu tên sông Phó Đáy lại nghĩ Phó là phụ, là thứ, là nhánh… của sông Đáy. Đâu phải! Ngọn nguồn như bao con sông khác: Những dòng suối nhỏ, những tia nước róc rách từ khe núi cao nhảy ra – con sông lớn chảy từ lòng suối nhỏ. Dòng Phó Đáy hợp lưu những dòng suối từ dãy núi Phia Bi Oóc trên Bắc Kạn, qua các huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn), Định Hóa (Thái Nguyên), Chiêm Hóa, Yên Sơn, Sơn Dương (Tuyên Quang) về gần trên ngã ba Việt Trì, Phú Thọ thì hòa chung vào dòng sông Lô lịch sử.

Năm 1953-1954, chính tôi là cán bộ TNXP, quân của Đoàn trưởng Vũ Kỳ, Đội trưởng đặc trách ATK Tạ Quang Chiến đóng quân bên này Chợ Chu, Định Hóa, bên kia Hùng Hợi, Yên Sơn.

Núi Hồng sừng sững như một trường thành cách ngăn địa giới hai tỉnh. Trong sách Bác Hồ với Thái Nguyên – Thái Nguyên với Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Tôi bàn với hai anh Tấn và Song Hào đề nghị Bác chọn Tân Trào vì Chợ Chu tuy cơ sở chính trị, kinh tế đều tốt nhưng có đường thông thương với Thái Nguyên dễ bị uy hiếp; còn Tân Trào dân cư có thưa thớt, kinh tế có khó khăn nhưng địa thế hiểm trở hơn. Châu Sơn Dương còn cách tỉnh lỵ Tuyên Quang bởi con sông Lô, tiện bảo vệ”.

Vậy là ngày 21-5-1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tân Trào, đặt cơ quan đầu não lãnh đạo công cuộc giành độc lập – nơi đây được tôn danh Thủ đô của Khu giải phóng gồm 6 tỉnh: Cao-Bắc-Lạng, Hà-Tuyên-Thái cho đến sau ngày 19-8, Người về Hà Nội. Rồi Toàn quốc kháng chiến, ngày 2-4-1947, Bác trở lại làng Sảo cũng thuộc Tân Trào, bắt đầu cuộc định đô mới, cùng tọa lạc bên “dòng sông nguồn thiêng Để Giang”.

Anh em đi tìm địa điểm mới đã thuộc lòng lời Bác dặn:

Trên có núi, dưới có sông
Có đất gieo trồng, có bãi vui chơi
Tiện đường sang Bộ Tổng
Thuận lối tới Trung ương
Nhà thoáng ráo, kín mái
Gần Dân, không gần đường.

Xin phép viết hoa chữ “dân” bởi chữ đó như cuộc đời máu thịt của Bác Hồ. Ngày ấy, chúng tôi thực hành triệt để kỷ luật “3 không”: Không biết, không hỏi, không nói. Xã Bình Yên có tới 7 thôn, 8 dân tộc anh em sinh sống. BKT12 chỉ ở gọn trong thung lũng đại ngàn bên tả ngạn Phó Đáy, nay là rộc ruộng trồng lúa.

Đường Hồ Chí Minh xuyên Việt từ Pác Bó sẽ qua Tân Trào – Thác Dẫng về Đền Hùng và đi khắp nước. Mong sao, Thác Dẫng nhanh chóng dựng xây một công trình – một tháp cao vút có ngôi sao chói sáng, xứng danh Hồ Chí Minh.

Trịnh Tố Long
qdnd.vn

Advertisements