Bài 3: Nơi ra đời quyết định chuyển hướng chiến lược (Tiếp theo và hết)

Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng (28-1-1941/28-1-2011)

QĐND – Trong hành trình “lịch sử bằng vàng” của mình, Đảng ta đã có nhiều quyết sách chiến lược sáng suốt, kịp thời chớp lấy thời cơ đưa cách mạng tiến lên. Trong đó, phải kể đến quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược tại Hội nghị Trung ương 8 do Bác Hồ triệu tập và chủ trì, chủ trương đặt vấn đề giải phóng dân tộc thành nhiệm vụ hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh. Giờ đây, lịch sử đã công nhận vai trò quan trọng, tầm vóc lịch sử của Hội nghị Trung ương 8 nhưng ít ai ngờ, hội nghị lịch sử đó diễn ra trong một cái lán nhỏ trên dòng Khuổi Nậm, một địa điểm Bác Hồ ở nhiều nhất trong thời gian Người làm việc tại Pác Bó.

Như trên đã nói, Bác Hồ quyết định về hẳn trong nước lãnh đạo cách mạng vì Người nhận thấy tình thế cách mạng đã xuất hiện nhiều yếu tố đủ điều kiện chuyển dần thành thời cơ cách mạng.

Chậm trễ lúc này là có tội với lịch sử!

Vì vậy, bên cạnh việc đào tạo cán bộ, xây dựng Pác Bó thành căn cứ địa vững chắc, điều Bác Hồ quan tâm, đốc thúc đội ngũ cán bộ tại Pác Bó nhiều nhất là thảo luận những nội dung và chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương 8.

Suối Lê-nin nằm trong khu di tích Pác Bó.

Ở hang Pác Bó hơn một tháng, xét thấy tính cơ động không cao, Bác cho anh em cán bộ chuyển cơ quan sang lán Khuổi Nậm, cách phía trước hang Pác Bó chừng một cây số. Địa điểm này tiện lợi đi lại, không phải lội qua suối, nếu có động cũng dễ thoát nhanh chóng. Tại đây, từ ngày 10 đến 19-5-1941, Bác Hồ triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, đề ra chủ trương, nhiệm vụ mới cho cách mạng Việt Nam, hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Người nhận định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc”.

Đây là hội nghị có tầm quan trọng lịch sử, quyết định đường lối chính sách của Đảng, đặt vấn đề giải phóng dân tộc thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của toàn dân, đề ra chủ trương tổ chức Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), xây dựng các căn cứ địa cách mạng, xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Sau hội nghị, Bác tự tay thảo ra bức thư “Kính cáo đồng bào” ký tên Nguyễn Ái Quốc kêu gọi đồng bào, toàn dân đoàn kết đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ đây, phong trào cách mạng ngày càng lan rộng trong chiến khu Việt Bắc.

Sức khỏe của Bác, do ăn uống kham khổ, điều kiện sinh hoạt trong hang, trên lán không được tốt nên giảm sút rất nhiều. Trong khi đó, điều kiện của cách mạng đòi hỏi Bác phải có chuyến đi bắt liên lạc, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế và chuẩn bị cho khởi nghĩa. Biết vậy nên Bác rất chăm chỉ rèn luyện. Chị Hoàng Thị Huệ, hướng dẫn viên Bảo tàng Pác Bó, tập hợp từ hồi ký của các đồng chí cán bộ ở cùng Bác, kể lại: Sáng nào Bác cũng dậy sớm tập thể dục. Ở Khuổi Nậm không có đất, Bác cũng tạo một mặt phẳng đứng tập. Bác đẽo bốn cái chày, hai cái vừa, hai cái to và nặng để thay tạ tập hằng ngày. Sáng sớm, Bác vẫn thường tập leo núi. Bác chọn những quả núi quanh vùng cao nhất để leo lên với đôi bàn chân không. Khi thì một hai đồng chí đi theo Bác, khi thì Bác tập một mình. Một lần Bác bị lạc, anh em lo lắng phân công nhau đi tìm, mãi trưa Bác mới về đến nhà. Leo núi đối với Bác không chỉ có mục đích tập luyện mà còn là dịp để tìm hiểu địa hình nhằm ứng phó linh hoạt nhất khi quân thù bất ngờ ập đến. Có đồng chí nhắc Bác: “Leo núi Bác đi giày vào cho khỏi đau chân”. Bác đáp: “Tôi tập leo núi chân đi giày không quen”. Sau giờ tập Bác tắm nước lạnh để luyện khả năng chịu đựng với giá rét. Để luyện bàn tay đánh máy, Bác chọn hai hòn đá như trứng gà khi nghỉ đánh máy Bác bóp tay vào đá.

Núi Các Mác nằm trong khu di tích Pác Bó.

Sống ngay cạnh Bác, ai tinh ý lắm mới biết được Bác mệt. Người có một nghị lực khác thường, mỗi khi mỏi mệt là Bác đứng dậy đi đi, lại lại hoặc làm một việc gì đó, trừ trường hợp không đi lại được nữa, Người mới chịu nằm nghỉ. Có lần Bác bị sốt rét, người gầy đi nhiều, nhưng Bác cũng không chịu nghỉ. Mỗi khi lên cơn sốt, Bác lại leo núi cho mồ hôi vã ra như tắm. Lau chùi thân thể sạch sẽ xong, Bác tiếp tục làm việc.

Thời gian ở Pác Pó lúc nào Bác cũng mặc bộ quần áo Nùng màu chàm, đi giày vải, chẳng khác gì một ông cụ người địa phương.

Bác rất chú ý tiết kiệm. Bác dặn kỹ đồng chí Lộc quản lý và tất cả cán bộ là ăn uống tuyệt đối không được để thừa hoặc đổ đi. Đồng chí nào mang quà về hoặc có quà quần chúng gửi cho, phải dành đến bữa mới được ăn. Bác làm việc có kế hoạch, ăn đúng giờ. Cũng như anh em, Bác không ăn sáng, ngày nghỉ chỉ có hai bữa vào lúc chín rưỡi mười giờ và bốn rưỡi năm giờ chiều. Bác ăn chung với mọi người, thức ăn chỉ có rau măng và một chút thịt muối băm (một cân thịt rang khô với nửa cân muối và vài lạng ớt chỉ thiên để ăn dần).

Các đồng chí cán bộ lão thành cách mạng hiện đang sống ở Pác Bó nay đều đã vào tuổi 90 nhưng ai cũng còn nhớ và kể lại: Sau Hội nghị Trung ương 8, Bác càng làm nhiều việc, hăng say hơn. Bác tổ chức lớp huấn luyện chính trị-quân sự ngắn hạn cho cán bộ địa phương, viết thư kêu gọi chiến sĩ cách mạng, viết bài “Hoan nghênh thanh niên học quân sự”, khuyên đồng bào mua báo Việt Nam độc lập, Xã luận, Thế giới đại chiến và phận sự của ta… Qua đó, người đọc thấy, dù bận trăm công ngàn việc nhưng Bác vẫn làm nhiều bài thơ như: Việt Nam độc lập, Dân cày, Trẻ con, Công nhân, Bài ca Phụ nữ, Ca binh lính…; viết tác phẩm Cách đánh du kích, gồm 13 chương, nội dung mỗi chương nêu ngắn gọn, dễ hiểu để cán bộ, nhân dân nhận thức đúng và thực hiện được…

Trời tối, lán Khuổi Nậm không có đèn nên anh em thường ngồi quây quần nghe Bác kể chuyện. Một lần, Bác nhắc lại những cuộc chiến tranh lớn và tình hình thế giới, trong nước rồi phỏng đoán là độ 3-4 năm nữa, Thế chiến II sẽ bước vào giai đoạn quyết định và lúc đó sẽ là một cơ hội rất tốt cho chúng ta. Đặc biệt, Bác viết cuốn Lịch sử nước ta bằng thơ lục bát, ghi lại tất cả những phong trào chống ngoại xâm từ trước đến nay. Cuối bài, Bác viết: “Nay ta đã có Việt Minh/Đủ tài lãnh đạo dân mình đấu tranh/45 sự nghiệp hoàn thành”.

Anh em cán bộ xúm vào tranh luận xem Bác đoán thế là thế nào. Cũng không ai ngờ, 4 năm sau, sự phỏng đoán của Bác diễn ra đúng như vậy.

Tháng 8-1942, Bác rời căn cứ địa Cao Bằng đi Trung Quốc bắt liên lạc với phong trào cộng sản quốc tế. Một đồng chí giao thông đi trước; đồng chí Lê Quảng Ba đi giữa; Bác lại giả thành ông già người Nùng, chống gậy đi sau. Sang Trung Quốc, đồng chí Lê Quảng Ba bắt liên lạc, nhờ một cơ sở của Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa Bác đi.

Bác đến Điền Đông thì bị quân lính Tưởng Giới Thạch bắt. Các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đặng Văn Cáp, Vũ Anh ở nhà nghe tin, ai nấy đều giật mình, thảng thốt. Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang trải qua những thử thách vô cùng ác liệt để tiến tới thắng lợi thì vị lãnh tụ vĩ đại lại sa vào tay giặc.

Hằng tuần, Bác vẫn tìm cách gửi tin từ Tĩnh Tây về. Bác thường viết chữ trong một tờ báo, bằng nước cơm. Các đồng chí ở nhà mang về, bôi cồn i-ốt vào, chữ nổi lên. Trong báo, Bác thường dặn dò ở nhà cứ bình tĩnh, đừng lo cho Bác mà ảnh hưởng đến công việc chung. Một hôm, có tin Bác đã mất trong tù vì cực khổ quá, không chịu nổi, các đồng chí ở căn cứ địa đều bàng hoàng, ai cũng đau đớn, dằn vặt khôn nguôi. Nhưng không lâu sau, ở trong nước lại nhận được một tờ báo của Bác gửi về. Trong đó có bài thơ Tân xuất ngục, học đăng sơn. Đồng chí Đặng Văn Cáp sang xác minh lại, mới biết Bác vẫn còn sống. Bác bị quân Tưởng xích tay, xiềng cổ giải đi trong hơn 12 tháng, qua hơn 30 nhà giam…

Trong cuộc đời hoạt động của Bác, lần bị quân Tưởng bắt là lần cực khổ nhất. Mắt bị mờ, chân bị yếu nhưng Bác vẫn một lòng son sắt hướng về Tổ quốc, tin tưởng vào thành công của cách mạng. Chính trong thời gian này, Bác đã viết tập Nhật ký trong tù.

Trong chuyến trở lại Pác Bó lần này, chúng tôi gặp nhà văn Hoàng Quảng Uyên, một nhà văn chuyên viết về đề tài mảnh đất và con người Cao Bằng. Đặc biệt, trong dịp kỷ niệm 70 năm ngày Bác Hồ về nước, ông “trình làng” tác phẩm rất đặc biệt là cuốn tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó, kể về quá trình Bác Hồ về nước, hoạt động tại Pác Bó (Cao Bằng): “Thời gian Bác về nước và hoạt động tại Pác Bó không dài nhưng là khoảng thời gian vô cùng ý nghĩa đối với vận mệnh dân tộc. Pác Bó với ý nghĩa là suối đầu nguồn, thực sự trở thành nơi cội nguồn của cách mạng Việt Nam từ khi Bác trở về. Tôi đặt tên tiểu thuyết của mình là Mặt trời Pác Bó với hình ảnh mặt trời ló rạng báo hiệu bình minh của Tổ quốc cũng vì lẽ ấy” – nhà văn Hoàng Quảng Uyên tâm sự.

Đến với Pác Bó, chúng tôi như thấy trong mỗi góc hang, bờ suối, vẫn đâu đây lưu lại hình ảnh của Bác Hồ. Thấy rõ hơn tài năng và đức độ của Người, vị lãnh tụ đã cùng với Trung ương Đảng vững tay chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao phong ba, bão táp đi đến bến bờ thắng lợi. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước-kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Bài và ảnh: Nhóm phóng viên CTĐ, CTCT
Bài 1: Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!
Bài 2: Đây suối Lê-nin, kia núi Mác

qdnd.vn

Advertisements