Di chúc Hồ Chí Minh – Vấn đề giải phóng phụ nữ và phát triển bền vững

Vượt lên các nhà cách mạng cùng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người khởi xướng con đường giải phóng phụ nữ ở nước ta. Người đã thức tỉnh phụ nữ giải phóng chính mình, tham gia giải phóng dân tộc. Ngay từ rất sớm Bác luôn cảm thông sâu sắc với nỗi thống khổ của phụ nữ Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai.

Người xác định rõ, bất bình đẳng nam nữ không đơn thuần là bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng lạc hậu mà chủ yếu là do chế độ kinh tế xã hội. Cả cuộc đời hoạt động của Người, đi đôi với “nói và làm” Bác kêu gọi và “Thực hiện nam nữ bình quyền”, coi sự nghiệp giải phóng phụ nữ là một mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Trước lúc đi xa, di chúc để lại Bác còn căn dặn toàn Đảng, toàn dân: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ.”(1)

Mỗi lời trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, cho các Đảng anh em và cả nhân dân thế giới là những lời căn dặn, những tình cảm, niềm tin của Bác đối với mỗi chúng ta ngày nay và các thế hệ mai sau. Di chúc Bác thể hiện toàn diện, nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh; đoạn trích trên chỉ 86 chữ, Bác vừa ghi nhận công lao của phụ nữ trong suốt chặng đường đấu tranh giành độc lập; vừa căn dặn “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực và bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên” đồng thời chỉ rõ “Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”.

Lịch sử của dân tộc, tuy phải trải qua hơn nghìn năm bị các triều đại phong kiến phương Bắc xâm chiếm, dân tộc ta đã không ngừng đấu tranh: Trước là giành độc lập chủ quyền, sau là bảo vệ truyền thống, không để bị đồng hóa với Hán tộc. Dù ra sức giữ gìn, song sự tiếp cận và giao thoa nền văn hóa chúng ta vẫn khó tránh ảnh hưởng tư tưởng phong kiến của Trung quốc, đặc biệt tư tưởng của Khổng giáo với thuyết Chính danh một học thuyết chủ trương xây dựng chế độ xã hội theo một tôn ti trật tự nghiêm ngặt, với nhiều luật lệ hà khắc, nô dịch, khống chế mọi quyền tự do và bình đẳng của phụ nữ. Người phụ nữ bị ràng buộc suốt đời bởi lễ giáo: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” (tại gia đình nghe lời cha, đi lấy chồng theo và nghe chồng, nếu chồng chết thì theo và nghe con); rồi quan niệm nối dõi tông đường, duy trì dòng giống là con trai, “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (một con trai xem như có, mười con gái cũng như không). Coi con gái là “nữ sinh ngoại tộc”; Thuyền theo lái, gái theo chồng; sinh con gái, mất cả con và sau này là mất cả họ (con cái mang họ cha). Đạo Khổng coi phụ nữ là “tiểu nhân”, “nan hóa”, khó thể cải đổi, không học chữ được, cho nên nhiều người không cho con gái đi học, họa hoằn có cho thì cũng hạn chế chỉ nhằm mục đích “trang trí” …

Hơn 80 năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, chế độ thuộc địa đưa việc học văn minh phương Tây vào cũng chỉ nhằm đào tạo một lớp tay sai phục vụ thực dân, nhãn hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” không mang lại cho phụ nữ sự tiến bộ nào hơn ngoài đẩy một bộ phận phụ nữ Việt Nam phải rời khỏi gia đình gia nhập đội quân lao động ở các xưởng máy hay những đồn điền cao su tăm tối, bị bóc lột, chà đạp nhân phẩm, thậm chí số ít bị tha hóa với sự gia tăng các tệ nạn xã hội.

Được sinh ra trong gia đình Nho học, lớn lên trong hoàn cảnh Tổ quốc bị xâm lược, đồng bào bị đày đọa dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, lòng nhân ái của Người đã sớm trỗi dậy mãnh liệt, khi chứng kiến cảnh nhân danh những người đi “khai hóa văn minh cho An Nam” bạo tàn đến mức Bác phải thốt lên “Chưa có bao giờ, ở một nước nào mà người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách dã man, độc ác trắng trợn đến thế, Không phải chỉ có những cuộc khám nhà hàng loạt, liên tục, mà còn có những cuộc khám xét thân thể người bản xứ bất kể ở chỗ nào, bất kể là nam hay nữ. Nhân viên nhà đoan (Sở thuế vụ – NV), vào nhà người bản xứ, bắt đàn bà, con gái cởi hết áo quần trước mặt chúng, và khi họ đã trần truồng như nhộng thì chúng giở trò dâm đãng kỳ quặc đến mức đem cả con dấu nhà đoan đóng lên người họ.” (2)

Với Bác trong cảnh tình “Thưở đất nước đắm chìm trong tăm tối”(3). Cứu nước là tiếng gọi thống thiết của non sông, và từ rất sớm Bác thấy rõ “Đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân. Nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do. Ngược lại nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ đó thôi.” (4)

Khi hoạt động ở hải ngoại, để chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức và phương pháp đấu tranh cách mạng cho đội tiên phong chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam là các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu (1925-1927), Đường kách mệnh tác phẩm tập hợp các bài giảng của Người đặt cơ sở cho việc hình thành đường lối và phương pháp của cách mạng Việt Nam theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, dẫn lời C.Mác, Bác viết rằng: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tiến bộ ra thế nào?”. Dẫn lời Lê-nin, Bác viết: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công”; Người không chỉ thấy cần thiết phải giải phóng phụ nữ khỏi bất công mà còn nhìn ra sức mạnh tiềm tàng ở chính trong phụ nữ “Những lời ấy không phải câu nói lông bông. Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia”(5).

Cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân; trong tuyên ngôn độc lập đọc tại Quảng trường Ba đình lịch sử ngày 02/9/1945 Bác đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới, quốc dân và đồng bào “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(6). Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Bác đã dẫn câu nói đó từ Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ.

Nói như vậy đúng nhưng chưa đủ, bởi vì nếu đọc lại Tuyên ngôn độc lập Mỹ 1776(7) và Hiến pháp Mỹ năm 1787 cho thấy “all men” trong tuyên ngôn độc lập Mỹ chỉ là những người đàn ông da trắng, theo đạo Tin Lành có tài sản mới được bầu cử;tiêu chuẩn sở hữu này chấm dứt vào đầu thế kỷ 19 và tới năm 1920 phụ nữ mới giành được quyền bầu cử, tức là sau 144 năm giành độc lập phụ nữ Mỹ mới được quyền đi bầu bởi tu chính hiến pháp lần thứ 19: “Quyền bầu cử của các công dân Hoa Kỳ sẽ không bị phủ nhận hoặc hạn chế bởi Liên bang hoặc bất cứ bang nào với lý do giới tính”. Đối với người Mỹ da đen thì tới phong trào đòi quyền dân chủ diễn ra vào những năm 1960 mới giành được quyền bầu cử đầy đủ và đến 1971 các công dân trẻ tuổi mới được trao quyền bầu cử khi Hoa Kỳ hạ tuổi bầu cử từ 21 xuống 18 tuổi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với phụ nữ các dân tộc.

Trong khi “Tất cả mọi người” mà trên thực tế được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam Dân chủ cộng hoà bao gồm tất cả các công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc hay chính kiến. Đó chính là một sự phát triển sáng tạo khi tiếp thu Tuyên ngôn độc lập Mỹ, và điều đó không chỉ là lời nói mà là bằng chỉ đạo, lãnh đạo và thực tiễn, ngày 06/01/1946 mọi công dân Việt nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính, tôn giáo, dân tộc đều đã “phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và kín” để bầu ra quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, và chính quốc hội này đã soạn thảo, thông qua hiến pháp năm 1946, Bản “Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân”.(8)

Không chỉ bình đẳng về chính trị, mà còn từ thực tiễn sinh hoạt của cuộc sống xã hội, trong tài liệu tuyên truyền thực hành đời sống mới Bác nói “Việc đời không gì khó, chỉ sợ chí không bền”. Bác đã chỉ ra “Chồng đánh chửi vợ, cha mẹ đánh chửi con, là điều rất dã man”(9). Bằng sự trân trọng, thương yêu, Bác xác định “Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi.”(10); Người còn nói “Phụ nữ chiếm một nửa tổng số nhân dân. Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ. Hiến pháp và pháp luật của nước ta đã quy định rõ điều đó – Người ví dụ:
Hiến pháp điều 24 nói: Phụ nữ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình…v.v. .”

Bác lên án những hành vi bạo hành trong gia đình như:

“Ở Lương Yên (Hà Nội) trong 196 gia đình, thì có 26 người chồng thường đánh mắng vợ, có người đánh vợ bị thương. Ở khu Hai Bà Trưng, có người chỉ vì thức ăn không vừa ý, đã hất cả mâm cơm vào mặt vợ. Có người vợ ốm, chồng để mặc, không săn sóc trông nom. Ở xã Quảng Lưu (Thanh Hoá), có người nhét tro vào miệng vợ và đánh vợ què tay. Có người cạo trọc đầu và lột hết áo quần vợ, rồi giong vợ đi bêu khắp thôn xóm…
Những cử chỉ tàn nhẫn dã man như vậy vừa là phạm pháp luật Nhà nước, vừa trái với tình nghĩa vợ chồng..

Để chống bạo hành, ngược đãi, thật sự bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Bác vừa bày vẽ vừa hướng dẫn cho các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội:

“- Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên phải phụ trách tuyên truyền và giáo dục một cách rộng khắp và bền bỉ cho mỗi gia đình hiểu rõ pháp luật Nhà nước và thấm nhuần đạo đức xã hội chủ nghĩa về vấn đề ấy.

– Bà con trong làng xóm và trong hàng phố cần phải có trách nhiệm ngăn ngừa, không để những việc phạm pháp như vậy xảy ra.

– Bản thân chị em phụ nữ phải có chí tự cường tự lập, phải đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình”.

Song song tuyên truyền giáo dục, thuyết phục với thái độ kiên quyết, Bác còn chỉ ra: “Đối với những người đã được giáo dục khuyên răn mà vẫn không sửa đổi, thì chính quyền cần phải thi hành kỷ luật một cách nghiêm chỉnh. … “Những hành vi trái với luật này sẽ bị xử lý theo pháp luật”. Nói tóm lại, giáo dục phải đi đôi với kỷ luật.”

Về thăm nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Thái Bình là một tỉnh sản xuất khá giỏi năm 1966, sau khi phân tích tình hình, chỉ rõ nhiệm vụ sản xuất, chiến đấu Bác nhấn mạnh: “Một điều nữa Bác cần nói là: Phải kính trọng phụ nữ. Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau. Lê-nin dạy chúng ta: Phụ nữ là một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả. Phụ nữ thì phải tự mình phấn đấu giữ gìn quyền bình đẳng với đàn ông. Đàn ông phải kính trọng phụ nữ. Nhưng Bác nghe nói vẫn có người đánh chửi vợ! Đó là một điều đáng xấu hổ. Như thế thì còn gì là tình nghĩa vợ chồng? Như thế là phạm pháp, là cực kỳ dã man. Chi bộ đảng phải giáo dục đảng viên và nhân dân về quyền bình đẳng giữa vợ chồng. Đoàn thể phụ nữ và thanh niên phải bảo ban nhau cách cư xử hoà thuận trong gia đình. Bác mong rằng: Từ nay về sau sẽ không còn thói xấu đánh chửi vợ nữa”.(11)

Nói về sự thủy chung, phê phán hành vi “được cá quên tôm, được trăng quên đèn”, về sự bội bạc thay đen, đổi trắng “Bác nghe nói có cháu trước khi vào đại học đã có người yêu hoặc đã có vợ, nhưng khi “thành tài” rồi lại chê người cũ. Như thế là không có đạo đức, làm sao trở thành cán bộ tốt được!”(12)

Từ lời dạy và Di chúc của Bác, trong suốt chặng đường đồng hành cùng dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã phát huy cao độ truyền thống vẻ vang dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong quá trình đấu tranh giành chính quyền cũng như trong chiến tranh cách mạng. Hàng triệu những tấm gương kiên trung tô thắm thêm truyền thống phụ nữ Việt Nam “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Đó là những gương trung liệt của Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Thị Chiên, Mạc Thị Bưởi, Trần Thị Lý, Kan Lịch, Nguyễn Thị Út, Hồ Thị Kỷ, Dương Thị Cẩm Vân… và triệu triệu những cô gái, đã cùng các chàng trai cống hiến cả máu của mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Đấu tranh quyết liệt với quân thù, phản ánh phong trào phụ nữ vùng tạm chiếm, nhà thơ Viễn Phương còn ghi lại trên văn bia “Đôi tay yếu mẹ đẩy lùi máy chém/ Tấm thân gầy mẹ cản xích xe tăng/ Nước mắt chảy vào tim mẹ tiễn con ra trận/ “Không có gì quý hơn độc lập tự do” lớp lớp lên đường”(16); trước đó cũng như Bác đã khẳng định trong thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Quốc tế Phụ nữ 8/3/1952: “Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc ta, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng….Nhiều bà cụ ngoài bảy tám mươi tuổi, chẳng những đã xung phong đi dân công, mà còn thách thi đua với các cụ ông và con cháu…

Nói chung là phụ nữ ở vùng tạm bị chiếm, nói riêng là các nữ du kích, không quản khó nhọc nguy hiểm, ra sức giúp đỡ chiến sĩ và cán bộ, hăng hái đấu tranh chống quân thù…”(13)

Qua 35 năm thực hiện lời căn dặn của Bác, năm 2004 trong định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam thế kỷ 21, vẫn còn ghi: “Mặc dù đạt nhiều thành tựu trong việc thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ, Việt Nam còn phải tiếp tục thực hiện nhiều công việc nhằm đạt được sự bình đẳng về giới, cải thiện điều kiện sống và lao động, nâng cao địa vị chính trị và xã hội của phụ nữ, xóa bỏ triệt để mọi hành động xâm phạm những quyền cơ bản của phụ nữ. Phụ nữ hiện vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi hơn nam giới trong việc có cơ hội học tập, đào tạo nghề nghiệp và nâng cao trình độ, tìm kiếm việc làm, gánh váccác công việc gia đình”(14).

Để tiếp tục tâm huyết của Bác Hồ “Một nửa thế giới” cần được giải phóng bình đẳng về mọi mặt và thực hiện tốt mục tiêu thiên niên kỷ quốc gia, toàn Đảng, toàn dân cần ưu tiên mọi nguồn lực để giúp phụ nữ có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển bền vững như: Tăng cường giáo dục, đào tạo, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về mọi mặt, trình độ nghề nghiệp và năng lực quản lý kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường cho phụ nữ; Hỗ trợ phụ nữ làm kinh tế, tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo; đẩy mạnh các chương trình chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ em, cải thiện môi trường sinh hoạt tại từng địa phương; tạo điều kiện để chị em tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện các chính sách, pháp luật về bình đẳng giới…

Từ thực tiễn hoạt động và căn dặn trong di chúc, Bác Hồ đã khẳng định rằng sự tiến bộ của nền kinh tế, văn hóa, xã hội là tiền đề bức thiết để đi tới giải phóng triệt để phụ nữ, điều đó cũng có nghĩa sự nghiệp giải phóng phụ nữ không thể tách rời mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”; đó cũng là thực chất cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đi tới giải phóng xã hội, giải phóng con người dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực hiện di chúc của Bác về sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới, mỗi chúng ta chắc chắn sẽ hết sức đau lòng khi biết rằng “Theo báo cáo của Ủy ban Dân số – Gia đình và Trẻ em, 30% số phụ nữ bị đánh đập, lạm dụng cưỡng bức bằng nhiều hình thức do người chồng gây ra,… Và Một cuộc khảo sát ở Hà Nội, Phú Thọ và Thái Bình vào năm 2007 chỉ ra rằng có đến 40% những người phụ nữ được hỏi thừa nhận có bạo lực trong gia đình mình…”(15). Cho nên tiếp tục thực hiện di chúc của Bác, để Luật bình đẳng giới năm 2006, Luật Chống bạo hành gia đình năm 2007 (có hiệu lực từ 01/7/2008) thực sự đi vào cuộc sống, ngoài việc quan tâm của các cấp ủy Đảng, của chính quyền, sự nỗ lực tự thân của chị em Phụ nữ, còn phải rất cần có sự giúp đỡ, sẻ chia của nam giới từ trong từng gia đình rộng ra đến cả cộng đồng để “hai nửa xã hội” cùng phát triển bền vững, để phụ nữ Việt nam luôn luôn và mãi mãi là một hình mẫu mới thật sự “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, làm gương sáng về bình đẳng giới cho cả thế giới tiến bộ noi theo./.

——————-

(1) Trích dẫn và tham khảo: Di chúc Hồ Chí Minh Trang 509, 510 tập 12, Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG Hà Nội 2000.
(2) Bản án chế độ thực dân Pháp Trang 112, HCMTT, tập 2, NXB CTQG Hà Nội 2000.
(3)Văn bia điển Bến Dược Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh – Viễn Phương.
(4) Trả lời bạn nữ sinh viên X của chúng ta, tr 443, tập 2 – HCMTT, NXB CTQG Hà Nội 2000.
(5)Đường cách mệnh, Trang 288 Tập 2, HCM TT – NXBCTQG Hà Nội 2000.
(6) Tuyên ngôn độc lập Trang 9, Tập 4 – HCM TT- NXB CTQG Hà Nội 2000.
(7) http://vietsciences2.free.fr/lichsu/lichsu_ngaydoclap_hoaky.htm.
(8) Phát biểu ngày 9-11-1946. Báo Cứu quốc, số 401, ngày 10-11-1946 , Tập 2, tr 974 NXB CTQG Hà Nội 2000.
(9) Đời sống mới, trang 343, 344 Tập 5, Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG – Hà Nội -2000.
(10) Trang 408 tập 5, Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG – Hà Nội -2000.
(11) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG – Hanoi-2000; Tập 12, Trang 197,
(12) Sách Hồ Chí Minh: Về công tác văn hoá văn nghệ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1971, tr.78-93.
(13)Văn bia đền Bến Dược Củ Chi, TP Hồ Chí Minh – Viễn Phương.
(14)Trang 431, tập 6, Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG – Hà nội 2000.
(15) Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) ban hành theo quyết định 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/08/2004 của Thủ tướng Chính phủ.

Theo Báo điện tử Đảng Cộng sản
Phương Thúy (st)

nhoNguoicha

Advertisements