Bầu cử ở Việt Nam: “Dân chủ hình thức” hay dân chủ thực chất

Thực hiện nghĩa vụ công dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II (ngày 8/5/1960) tại tiểu khu Trúc Bạch, quận Ba Đình, Hà Nội - Ảnh: tư liệu

Bản chất của luận điệu chống đối này là lợi dụng những quan điểm của Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam trong quá trình phát triển đường lối đổi mới, nhất là trên phương diện chính trị, để loại bỏ vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam, đưa Việt Nam sang mô hình chính trị phương Tây, lệ thuộc vào nước ngoài. Theo những kẻ chống đối lại Nhà nước Việt Nam hiện này thì: “Việt Nam phải thực hiện ngay tam quyền phân lập”, và muốn vậy phải “trưng cầu dân ý có sự giám sát của Liên hợp quốc về Điều 4, Hiến pháp 1992” – về vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Và rằng, ở Việt Nam làm gì có dân chủ trong bầu cử, ứng cử – đó là cơ chế “Đảng cử – dân bầu”, là “dân chủ trình diễn”…; phải sửa đổi hệ thống bầu cử, tạo điều kiện cho tất cả mọi người được ứng cử tự do…

Vậy nội dung, bản chất của hệ thống bầu cử Việt Nam như thế nào – xét về mặt lý luận, pháp lý và thực tiễn? Hệ thống bầu cử ở nước ngoài ra sao, phải chăng Việt Nam nhất thiết phải thay đổi mô hình dân chủ theo phương Tây?

Trước hết phải nhắc lại lịch sử để những kẻ đang cố tình bôi nhọ ĐCS Việt Nam và những người nhẹ dạ, cả tin hiểu rằng, chế độ cộng hòa, Hiến pháp dân chủ, nhà nước pháp quyền, quyền công dân và quyền con người ra đời ở Việt Nam là thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, do ĐCS Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Trên 80 năm thống trị của thực dân Pháp, 30 năm chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, trong vùng chúng chiếm đóng trên đất nước này, làm gì có bầu cử, ứng cử thật sự, làm gì có Hiến pháp, có quyền công dân và quyền con người, làm gì có tự do ngôn luận, báo chí. . . Lúc đó sao không thấy các “đại gia” phương Tây chia sẻ các giá trị dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam. Đến nay, họ và những kẻ tay sai lại lên giọng dạy bảo dân chủ, nhân quyền cho các quốc gia, thậm chí còn can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Những động thái chính trị của phương Tây ở Ai Cập, Bắc Phi và nhiều quốc gia Trung Đông khác trong những ngày qua cho thấy, “diễn biến hòa bình” không phải là “con ngáo ộp” của những người làm chính trị ở Việt Nam, mà là một thực tế đang diễn ra sôi động trên chính trường quốc tế. Nói cách khác, những gì phương Tây đã và đang làm không phải vì dân chủ, nhân quyền đích thực cho nước khác, dân tộc khác, mà vì những lợi ích chính trị – kinh tế mà họ đang theo đuổi.

Hệ thống chính trị nói chung, hệ thống bầu cử nói riêng trên thế giới hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào chế độ chính trị được hình thành trong lịch sử và ý chí của nhân dân các nước. Hệ thống bầu cử ở những nước theo thể chế liên bang (như: Hoa Kỳ, Ố-xtrây-li-a…) khác với các quốc gia theo thể chế hệ thống hành chính tập trung, thống nhất. Về kỹ thuật cũng có nhiều mô hình khác nhau: mô hình bầu cử ở các quốc gia theo chế độ đa đảng (lấy việc bầu cho đại diện của mỗi đảng làm tiêu chí khác với các quốc gia bầu cử theo tỷ lệ cử tri và theo địa bàn hành chính; mô hình bầu cử trực tiếp khác với mô hình bầu cử gián tiếp – thông qua đại cử tri… Hệ thống bầu cử được các nhà nghiên cứu xem là có nhiều ưu điểm là hệ thống bầu cử theo nguyên tắc đa số, trực tiếp. Nguyên lý của hệ thống này đơn giản, đó là ứng cử viên (hoặc đảng phái chính trị) nào thu được nhiều phiếu hơn sẽ trúng cử.

Khi nói đến bầu cử, ứng cử ở một quốc gia có dân chủ, công bằng hay không? người ta phải xem xét toàn bộ hệ thống bầu cử, ứng cử và nhất là kết quả của hệ thống đó được áp dụng vào bối cảnh đặc thù về lịch sử và văn hóa chính trị của một quốc gia – dân tộc và xu thế tiến bộ của nhân loại như thế nào, chứ không thể chỉ nhìn vào một yếu tố nào đó để khái quát đánh giá. Hệ thống bầu cử của Việt Nam ra đời từ khi ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Hiến pháp và Luật Bầu cử Việt Nam quy định: cử tri bầu đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Phù hợp với nguyên tắc “phổ thông”, số lượng đại biểu của mỗi địa phương tỷ lệ với số cử tri của địa phương đó. Các cử tri được bầu cử trực tiếp các đại diện của mình ở các cơ quan dân cử từ cấp cơ sở đến Quốc hội.

Là một quốc gia có nhiều dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến điều này. Điều 10 Luật Bầu cử Việt Nam quy định: “Số đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số do Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến theo đề nghị của Hội đồng dân tộc của Quốc hội, bảo đảm để các thành phần dân tộc thiểu số có số đại biểu thích đáng”. Thực hiện quy định này trong nhiều nhiệm kỳ qua, tỷ lệ đại biểu thuộc dân tộc thiểu số luôn luôn cao hơn tỷ lệ dân số. Nhiệm kỳ khóa XI, số đại biểu là người dân tộc thiểu số, chiếm 17,2%; nhiệm kỳ khóa XII, chiếm 17,6%; trong khi đó, tỷ lệ 53 dân tộc thiểu số chỉ chiếm 13% dân số Việt Nam.

Phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội, nâng cao vai trò của Phụ nữ, Điều 10a, Luật Bầu cử Việt Nam quy định: “Số đại biểu Quốc hội là Phụ nữ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bảo đảm để Phụ nữ có số đại biểu thích đáng“. Theo Báo cáo của Quỹ phát triển Phụ nữ Liên hợp quốc (UNIFEM), tỷ lệ đại biểu Quốc hội nữ của Việt Nam (Khóa XII) cao hơn nhiều nước ở khu vực Đông Nam Á. Trong khi tỷ lệ nữ là đại biểu Quốc hội ở Việt Nam là: 25,8%, thì tỷ lệ đó ở Thái Lan là 11,7%, Ma-lai-xi-a là 23,7%, In-đô-nê-xi-a là 11,6%, Xinh-ga-po là 24,8%, Lào là 25,2%, Cam-pu-chia là 19,5%…

Còn việc người ta nói rằng ở Việt Nam “đảng cử dân bầu”, bầu cử ở Việt Nam chỉ là “dân chủ hình thức, dân chủ trình diễn”, “hầu hết đại biểu dân cử đều là đảng viên ĐCS Việt Nam thì sao có dân chủ được?”.Quả thật đây là một cách lập luận điển hình cho tư duy dân chủ, nhân quyền nhập ngoại. Thử hỏi ở quốc gia nào mà không có vận động bầu cử của các đảng phái chính trị, không có “đảng cử, dân bầu” ? Lấy hệ thống bầu cử ở Mỹ làm một ví dụ. Ở quốc gia này, cuộc bầu cử Tổng thống có tới hai chiến dịch bầu cử: Chiến dịch vận động bầu của hai đảng Dân chủ và Cộng Hòa, kéo dài tới 6 tháng để lựa chọn đại biểu của mỗi đảng. Chiến dịch thứ hai mới là vận động tranh cử của các ứng cử viên Tổng thống. Hai chiến dịch vận động rầm rộ, tốn kém này thu hút sự quan tâm của nhân dân tới cả năm. Đương nhiên đảng nào, ứng cử viên nào có nguồn lực dồi dào, nhất là được giới truyền thông ủng hộ nhiều thì có lợi thế hơn và ngược lại. Còn về sự quan tâm của cử tri, ở Mỹ, có nhiều người dân không đi bỏ phiếu. Theo Duoglas K. Stevenson trong chuyên khảo: “Cuộc sống và các thể chế ở Mỹ”: Cuộc bầu cử năm 1988 chỉ có 57,4% người đăng ký tham gia bầu cử. Trong số đó chỉ có 86,1% người đi bỏ phiếu. Như vậy. trên thực tế chưa đến 50% số người có quyền công dân đi bỏ phiếu. Lại nói về tính ưu việt và khiếm khuyết của hệ thống bầu cử. Thử hỏi những ai đang vận động cho thể chế bầu cử của Hoa Kỳ, họ nghĩ như thế nào về hệ lụy của thể chế đại cử tri? Đó là trường hợp xảy ra vào cuộc bầu cử năm 2000: trong cuộc bầu cử này, đại diện của đảng Dân chủ – ông Al Gore giành được 48,38% số phiếu phổ thông toàn quốc, cao hơn đối thủ là ông George Bush – đại diện của đảng Cộng hòa chỉ giành được 47,87% số phiếu bầu. Mặc dù vậy, theo thể chế bầu cử của quốc gia này, ông Bush vẫn trúng cử Tổng thống vì ông có số phiếu đại cử tri cao hơn ông Gore. Một vấn đề khác liên quan đến sự công bằng của bầu cử ở đây là thể chế liên bang. Sở dĩ ông Bush thắng cuộc là vì ông đã giành chiến thắng trước ông Gore ở bang Florida. Chúng ta không chỉ trích hệ thống bầu cử ở Hoa Kỳ, mà chỉ muốn nói rằng, không có bất cứ một hệ thống bầu cử nào là hoàn hảo. Tuy vậy, như nhà triết học Heghen đã nói: “cái tồn tại là cái hợp lý”, hệ thống bầu cử của Hoa Kỳ được hình thành trên ba trăm năm, gắn liền với văn hóa chính trị của dân tộc Mỹ, nó được nhân dân Mỹ chấp nhận. Tương tự như vậy, ở nhiều quốc gia phát triển, như: Anh, các nước Bắc Âu…, bên cạnh quyền uy của Nhà nước, Nghị viện, Chính phủ, Thủ tướng, Tòa án…, còn có vai trò của Nhà vua, Hoàng tộc, cho dù vai trò đó là nhỏ bé, thậm chí chỉ là hình thức. Ở Việt Nam, hệ thống chính trị, thể chế bầu cử, ứng cử, pháp luật…, của quốc gia ra đời sau thắng lợi của cuộc cách mạng do ĐCS Việt Nam lãnh đạo, nó không thể không để lại dấu ấn của ĐCS Việt Nam, không thể không phản ánh văn hóa chính trị được hình thành trên một nửa thế kỷ qua, trong đó có hệ thống bầu cử, ứng cử – vai trò của chính quyền các cấp, Mặt trận Tổ quốc – trong hiệp thương, dự kiến – định hướng cơ cấu đại biểu thuộc các nhóm xã hội yếu thế như phụ nữ, dân tộc thiểu số, hình thức tiếp xúc cử tri…

Tin rằng những người cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, thông minh để hiểu rằng, họ phải làm gì để giữ vững niềm tin của nhân dân đối với mình, nhưng chắc chắn đó không phải là biện pháp du nhập mô hình dân chủ, nhân quyền của phương Tây, mà các thế lực thù địch đang cố tình gieo rắc, áp đặt./.

(Theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân)

cpv.org.vn