“Ông Hồ đã tìm thấy bên trong đất nước của mình điều bí mật về sức mạnh dân tộc”

Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta đã được thế giới tôn vinh là người anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới.

Nhân dân ta đã phải tiếp tục trải qua 30 năm dài chiến đấu, đầy gian khổ hy sinh để giữ vững nền độc lập, thống nhất của mình. Ngày nay, lịch sử Việt Nam đã bước sang những trang mới vẻ vang của thời kỳ đổi mới, nhưng chúng ta đều biết rằng: Tất cả những thành quả đó đều bắt nguồn từ những hoạt động tìm đường cứu nước của Bác, từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và từ cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại!

Tháng 4-1921, với bài báo “Đông Dương” trên tạp chí Revue Communiste, Nguyễn Ái Quốc viết:

“Người Đông Dương không được học, đúng thế, bằng sách vở và bằng diễn văn, nhưng người Đông Dương nhận sự giáo dục bằng cách khác. Đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo là những người thầy duy nhất của họ… Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến.

Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi. Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”(1).

Tháng 5-1921, Nguyễn ái Quốc viết tiếp:

“Người ta đưa người Đông Dương vào chỗ chết trong cuộc chém giết của bọn tư bản để bảo vệ những cái gì mà chính họ không hề biết. Người ta đầu độc họ bằng rượu cồn và thuốc phiện. Người ta kìm họ trong ngu dốt… Người ta bịa đặt ra những vụ âm mưu để cho họ nếm những ân huệ của nền văn minh tư sản ở trên máy chém, trong nhà tù hay đày biệt xứ!

… 20 triệu dân bị bóc lột tàn nhẫn trong tay một nhóm kẻ cướp thực dân, đấy là xứ Đông Dương hiện nay”(2).

Ngày 23-6-1924, tại phiên họp thứ 8 Đại hội lần thứ 5 Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã thẳng thắn phát biểu, mạnh mẽ đấu tranh cho mục tiêu giải phóng dân tộc:

“Tôi thấy rằng hình như, các đồng chí chưa hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng cho rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, sẽ gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa…

Các đồng chí thứ lỗi về sự mạnh bạo của tôi, nhưng tôi không thể không nói với các đồng chí rằng, sau khi nghe những lời phát biểu của các đồng chí ở chính quốc, tôi có cảm tưởng là các đồng chí ấy muốn đánh chết rắn đằng đuôi. Tất cả các đồng chí đều biết rằng, hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc. Các thuộc địa cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, các thuộc địa cung cấp binh lính cho quân đội của chủ nghĩa đế quốc. Các thuộc địa trở thành nền tảng của lực lượng phản cách mạng. Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, các đồng chí lại khinh thường thuộc địa”(3).

Trong tài liệu nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh của Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2003, cũng nêu rõ:

“Nếu ở phương Tây, các nhà kinh điển mác xít cho rằng sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người tuy có liên quan chặt chẽ với nhau, nhưng trước hết, phải giải phóng giai cấp công nhân, thì Hồ Chí Minh khẳng định: Đối với phương Đông, trong đó có Việt Nam, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ trên hết, trước hết.

Hồ Chí Minh cho rằng, trong điều kiện các nước thuộc địa thì giải phóng dân tộc là cơ sở để giải phóng giai cấp, giải phóng con người”.

Ngay từ khi thành lập Đảng, trong Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng ta đã nêu rõ nhiệm vụ của cuộc Cách mạng là: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”(4).

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 họp tại Pác Bó tháng 5-1941, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, khẳng định: “Nhiệm vụ bức thiết nhất của Cách mạng Đông Dương lúc này là giải phóng dân tộc… Trong lúc này quyền lợi của bộ phận giai cấp phải đặt dưới sự tồn vong sinh tử của quốc gia dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(5).

Đêm 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Ban Thường vụ Trung ương họp mở rộng và ra Chỉ thị lịch sử: “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
Ngày 13-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào.

Ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân tiếp tục họp tại Tân Trào, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa, quyết định quốc kỳ của nước ta nền đỏ sao vàng, chọn bài “Tiến quân ca” làm Quốc ca và bầu ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(6).

Ngay trong đêm 13-8-1945, Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc đã gửi Quân lệnh số 1 cho đồng bào và chiến sĩ cả nước, nhanh chóng vùng dậy giành độc lập.

Từ 14 đến 18-8-1945, Tổng khởi nghĩa đã diễn ra ở nông thôn miền Bắc, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và các thị xã Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An (Quảng Nam).

Ngày 19-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành được thắng lợi rực rỡ tại Thủ đô Hà Nội. Hàng vạn nhân dân nội, ngoại thành xuống đường thị uy. Quần chúng tiến vào chiếm lĩnh phủ Khâm sai, Toà Thị chính, Trại Bảo An…

Từ 19-8 đến 22-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa tại các thị xã Yên Bái, Thái Bình, Phúc Yên, Thanh Hoá, Khánh Hoà, Bắc Ninh, Ninh Bình, Thái Nguyên, Nam Định, Hưng Yên, Kiến An, Quảng Yên đã giành thắng lợi.

Ngày 23-8-1945, cuộc khởi nghĩa đã thắng lợi ở thành phố Huế. 15 vạn nhân dân Huế, Thừa Thiên đã nổi dậy bắt vua Bảo Đại phải thoái vị, nộp ấn kiếm cho cách mạng, xoá bỏ chính thể quân chủ ở Việt Nam.

Từ 23-8 đến 25-8-1945, các tỉnh Quảng Ngãi, Gia Định, Sóc Trăng, Trà Vinh, Tây Ninh, Biên Hoà, Đồng Nai Thượng giành thắng lợi.

Sáng 24-8-1945, tại Sài Gòn, Đảng ra hoạt động công khai, đông đảo quần chúng phấn khởi nhìn lá cờ đỏ búa liềm tung bay trước gió.

1 giờ sáng ngày 25-8-1945, toàn bộ chính quyền thành phố Sài Gòn đã thuộc về Cách mạng.

Như vậy là chỉ trong vòng nửa tháng, cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại đã thành công trong cả nước!

L.A Pat-ti, một tình báo Mỹ, người đã được Bác Hồ đọc cho nghe Bản Tuyên ngôn độc lập trước ngày đọc ở Ba Đình và cũng là người có mặt ở Hà Nội ngày 2-9-1945 đã viết trong cuốn sách “Why Viet Nam” (Tại sao Việt Nam) dày ngót một nghìn trang, có đoạn kể lại ngày 2-9 ở Ba Đình:

“Tiếng loa phóng thanh nổi lên phá vỡ sự im lặng, người ta giới thiệu “ông Hồ là người giải phóng, vị cứu tinh của dân tộc”. Quần chúng hát vang và trong mấy phút liền hô vang “Độc Lập”, “Độc Lập”. Ông Hồ mỉm cười, nhỏ nhắn trong tầm cỡ, nhưng vĩ đại trong sự hoan hô của nhân dân ông. Ông giơ tay ra hiệu im lặng và bắt đầu đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, mà ngày nay đã trở thành nổi tiếng…”(7).

Hen Xơ-bớc-lem, tác giả cuốn “Việt Nam một dân tộc trong Cách mạng” đã viết: “Đối với Việt Nam, Cách mạng Tháng 8 là cuộc thử sức bằng cả lực lượng và tài trí. Ông Hồ đã tìm ra giải pháp đúng, đi nước cờ thật tài ba tuyệt diệu… Những người đứng đầu Việt Minh được tán thành do quá khứ của họ và quá khứ lâu dài của Đảng Cộng sản Đông Dương… Ông Hồ đã tìm thấy bên trong đất nước của mình điều bí mật về sức mạnh dân tộc, sức mạnh của 25 triệu người Việt Nam lúc ấy”(8).

___

(1, 2, 3) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 1, tr.28, 34, 273. (4, 6) Sđd, tập 3, tr.1, 554. (5) Văn kiện Hội nghị TW Đảng lần thứ 8. (7) Why Việt Nam – NXB Đà Nẵng, năm 2001. (8) Cách mạng Tháng 8 với các học giả nước ngoài, Báo Người Đại biểu nhân dân, tháng 8-2001.

Bùi Công Bính

xaydungdang.org.vn

Advertisements