Hãy viết cho người đọc hiểu được, nhớ được, làm theo được

Trong lý lịch còn giữ tại kho lưu trữ của Quốc tế cộng sản trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi ở phần nghề nghiệp: Nghề viết báo bên cạnh một số nghề khác.

Đồng chí Phạm Văn Đồng viết: “Hồ Chí Minh là nhà chiến lược, nhà lãnh đạo, nhà tổ chức, đồng thời là nhà văn hoá, nhà thơ lớn. Suốt đời Hồ Chí Minh là người cầm bút chiến đấu trên mặt trận văn hoá, báo chí, với một văn phong đa dạng, nhiều sắc thái”. Và “Người ta đã nói nhiều về phong cách nói và viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi không nhắc lại, nhưng phải nhấn mạnh rằng: anh em, đồng chí chúng ta vẫn chưa học được phong cách tuyệt vời của Bác. Trong một bài viết hoặc bài nói, Bác không chỉ chú ý từng câu, từng chữ, mà còn chú ý nói cái gì trước, cái gì sau, bởi vì có khi đó lại chính là điều quan trọng nhất”(1).

Một điều rất dễ nhận thấy là các bài viết của Bác Hồ thường ngắn. Phải có bản lĩnh, có trí tuệ phong phú mới viết ngắn được! V.I.Lênin cũng thường viết ngắn và lần nào gửi bài cho báo Sự Thật mà viết hơi dài thì V.I.Lênin thường ghi: Vì ít thời gian nên bài này tôi viết hơi dài, các đồng chí sửa chữa giúp! Như vậy, theo V.I.Lênin nếu có thời gian thì ông sẽ viết ngắn hơn, chứ không phải như nhiều người thường nói: Bận quá, nên không viết được dài!

Những bài báo của Bác được viết ra với một mục đích là để người đọc hiểu, nhớ và làm theo được. Người nói: “Muốn cho người đọc hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ người xem”(2). Bác còn nhắc nhở: Nhiều người cứ tưởng mình viết gì, nói gì, người khác đều hiểu cả!

Trong cách nói, cách viết, Bác Hồ luôn chú ý tránh những thông tin thừa, những gì mọi người đã biết rồi thì Bác không viết nữa. Trong những bài viết, Bác thường dùng những câu ngắn, giản dị, sáng rõ. Trong “Thư gửi thiếu nhi Việt Nam đêm Trung thu đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” ngày 22-9-1945, in trên Báo Cứu Quốc số 49, Bác Hồ chỉ viết có 192 từ. Thư gửi Báo Thiếu Sinh số 1, tờ báo của trẻ em đầu tiên, Bác chỉ viết có 49 từ. Thư gửi các vị phụ lão ngày 20-9-1945, Bác viết có 299 từ. Bản Tuyên ngôn độc lập – Một văn bản lập quốc vĩ đại, đọc tại Ba Đình lịch sử ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ viết có 1.025 từ.

Là một người được làm việc gần Bác trong nhiều năm, đồng chí Trường Chinh đã viết: “Về văn phong, cách nói và cách viết của Hồ Chủ tịch có những nét rất độc đáo: Nội dung khẳng khái, thấm thía, đi sâu vào tình cảm con người, chinh phục cả trái tim và khối óc của người ta; hình thức sinh động, giản dị, dễ hiểu, giàu tính dân tộc và tính nhân dân. Người rất ghét văn chương sáo rỗng, nhạt nhẽo, rất ghét nói và viết dài dòng, khó hiểu, lung tung, lằng nhằng và kiên quyết phản đối dùng chữ nước ngoài không cần thiết”.

Trong những lời kêu gọi hoặc những bài viết của Người, chúng ta thấy âm vang tinh thần quật cường, bất khuất của dân tộc:

“Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ, chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước”.

“Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”.

“Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng chung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”. Văn Hồ Chủ tịch thường ngắn gọn, nhưng thấm thía, xúc động lòng người. Hồ Chủ tịch viết y như nói, tiếng nói của dân tộc, của nhân dân Việt Nam”(3).

Bác Hồ vận dụng ngôn ngữ và cách nói của quần chúng. Bác thường khuyên: “Chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng, phải học cách nói của quần chúng, mới nói lọt tai quần chúng… Vì cách nói của quần chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực, mà lại giản đơn”(4). Người viết:

– “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống”(5).

– “Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc”(6).

– “Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào… Việc dễ thì tranh lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh”(7).

– “Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình không tài năng gì, cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài”(8).

– “Thứ nhất dân ghét các ông chủ tịch, các ông uỷ viên vì cái tật ngông nghênh, cậy thế, cậy quyền… Người ta còn thì thào chỉ chỏ ông tỉnh trưởng kia vác ô tô đưa bà “tỉnh trưởng” đi chơi mát mỗi buổi chiều”(9).

– “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(10).

Những câu viết của Bác giản dị, sâu sắc và đi thẳng vào lòng người, khiến người đọc chỉ một lần đã nhớ.

*

Bác luôn nhắc nhở, báo chí của ta còn nhiều bài viết dài dòng quá. Bác phê bình lối viết “rau muống” và còn “ham dùng chữ”. Các ông viết báo nhà mình hay dùng chữ quá. Những chữ tiếng ta có mà không dùng, lại dùng cho được chữ kia. Ba tháng thì nói “tam cá nguyệt”, xem xét thì nói “quan sát”, máy bay thì nói “phi cơ”, người đánh cá thì nói “ngư dân”, nhà in lại in nhầm chữ ư thành chữ u, thế là do bệnh dùng chữ mà người đánh cá hoá thành ngu dân!(11).

Bác nhắc nhở những chữ mà tiếng ta có thì phải dùng tiếng ta. Nhưng ngày nay, đọc các báo chúng ta vẫn còn thấy bệnh dùng chữ nước ngoài và gần đây bệnh đó lại có xu hướng lan tràn hơn!

Bác Hồ là người hết lòng yêu mến, quý trọng tiếng Việt và tin tưởng vào khả năng to lớn của tiếng Việt. Bác nói: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”(12).

Bác đã góp phần làm phong phú tiếng Việt. Bác là người đầu tiên đưa ra một số từ ngữ mới mà nay chúng ta quen dùng như: Giặc đói, giặc dốt, óc bè phái, óc hẹp hòi, thói ba hoa, nghị quyết túi áo, báo cáo túi quần, bệnh quan liêu, tệ lãng phí, nạn tham nhũng, thói mệnh lệnh, óc địa phương, đảng viên đi trước, làng nước theo sau, ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, các dân tộc anh em, các đảng bạn, các nước bầu bạn, miền Nam thành đồng Tổ quốc, đồng bào công giáo kính Chúa yêu nước vv…

Nhà văn hóa Hà Huy Giáp nhận định: “Hồ Chủ tịch rất chú trọng cách viết. Người rất cẩn trọng ngay đến cách dùng một từ nhỏ, một dấu chấm câu, cách bố cục một bài viết. Hồ Chủ tịch là một nhà ngôn ngữ nghiêm khắc. Cũng như V.I.Lênin, Người dùng rất ít chữ, mà là những chữ đúng nhất, cần thiết nhất, để một viện sĩ hàn lâm đến người nông dân đều có thể hiểu được”(13).

____

(1) Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, NXB Giáo dục, 1997.
(3,13) Hồ Chí Minh – Tác gia, tác phẩm, nghệ thuật ngôn từ, NXB Giáo dục 1997, tr.51, 123.
(2) Nâng cao hơn nữa chất lượng của báo chí, Báo Nhân Dân số 3095 ngày 9-9-1962.
(5) Hồ Chí Minh, toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 9, tr.293.
(6,8,9,10) Sđd, tập 4, tr.47, 56.
(4,7) Sđd, tập 5, tr.301, 255.
(11) Bài nói của Bác Hồ tại Đại hội lần thứ 2 Hội Nhà báo Việt Nam, HCM toàn tập, tập 9, tr.415.
(12) Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ 3 của Hội Nhà báo Việt Nam, HCM toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập 10, tr.613.

Bùi Công Bính

xaydungdang.org.vn

Advertisements