Những năm Sửu hào hùng và thông tuệ của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Cuộc đời của vĩ nhân Hồ Chí Minh đã trải qua sáu năm Sửu:

Năm Tân Sửu (1901) Nguyễn Tất Thành 11 tuổi. Đây là năm cậu được sống bên người cha ở quê hương và thông qua quan hệ của người cha mà Thành được nghe hai câu thơ cụ Sào Nam hay đọc:

Mỗi phận bất vong duy trúc bạch
Lập thân tối hạ thị văn chương

Nhờ cha giảng giải, Thành hiểu được đại ý: Mỗi bữa ăn phải xem mình sống có ích gì cho đời hay không, nếu chỉ lấy văn chương khoa bảng làm phương tiện lập thân thì quá thấp hèn.

Ai ngờ câu thơ ấy hoàn toàn ứng với suốt cuộc đời nhà cách mạng Hồ Chí Minh. Và, tới nay nó vẫn đang còn có sức cảnh tỉnh đối với những ai học giả lấy bằng thật để mong đủ “tiêu chuẩn” nhằm đoạt lấy chức quyền mưu vinh thân phì gia.

Năm Quý Sửu (1913) chàng thanh niên 23 tuổi Nguyễn Tất Thành lao động cực nhọc ở xứ sương mù (nước Anh) để kiếm sống và lấy tiền học tiếng Anh ngoài giờ làm việc với tâm nguyện: Biết thêm một ngoại ngữ là có thêm một chiếc chìa khoá để mở cánh cửa vào kho tàng kiến thức của nhân loại.

Năm Ất Sửu (1925) ở tuổi 35, quả là “tam thập nhi lập”, với tên mới là Nguyễn ái Quốc (được dùng chính thức từ năm 1919 khi anh Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp), anh đã trở thành một chiến sĩ quốc tế già dặn, tràn đầy sức phấn đấu và cũng là tâm điểm truy lùng của bọn mật thám  quốc tế. Nguyễn Ái Quốc dành rất nhiều công sức và trí tuệ để gieo trồng các hạt giống cách mạng. Đầu năm, Người mở lớp huấn luyện chính trị tại số nhà 13/1 phố Văn Minh (Quảng Châu, Trung Quốc). Phần lớn học viên là những thanh niên Việt Nam yêu nước, xuất thân từ học sinh, trí thức, cũng có một vài người là tú tài nho học.

Trong khoảng đầu năm này, Nguyễn Ái Quốc sáng lập tổ chức chính trị chân chính của Việt Nam, bao gồm hầu hết những người trẻ tuổi, lấy tên là Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội với mục đích: Sẵn sàng hy sinh tính mệnh, quyền lợi để làm cuộc cách mạng dân tộc (đập tan bọn đế quốc Pháp) rồi sau làm cách mạng cộng sản chủ nghĩa. Điều lệ của Hội thể hiện Hội như một đảng chính trị, đã đề cập đến chương trình hoạt động như kết nạp hội viên, tổ chức các đoàn thể (công hội, nông hội, hội học sinh, hội phụ nữ…), thành lập chính phủ nhân dân. Điều nổi bật bộc lộ sự thông tuệ, tầm nhìn xa, đúng quy luật của Nguyễn Ái Quốc là đã chỉ rõ việc xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân sau khi giành được chính quyền: áp dụng những nguyên tắc “tân kinh tế chính sách”. Ở Liên Xô, sau Cách mạng Tháng Mười đã phạm sai lầm là áp dụng chính sách cộng sản thời chiến. Đầu năm 1920, V.I.Lênin đã sửa chữa, đề ra chính sách kinh tế mới. Điều này cho thấy từ những năm 20 của thế kỷ trước, với sự thông tuệ của mình, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra hướng phát triển kinh tế của Việt Nam sau khi giành được độc lập là đi theo chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin chứ không phải làm theo chính sách cộng sản thời chiến.

Quan niệm báo chí là cơ quan ngôn luận và vũ khí đấu tranh cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập ra tờ báo cách mạng đầu tiên là tuần báo Thanh niên – cơ quan Trung ương của Tổng bộ Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội.

Nguyễn Ái Quốc yêu quý dân tộc mình, đau đáu một nỗi lo sao cho dân nước mình khỏi kiếp đời nô lệ, đồng thời Người cũng nặng nỗi niềm với những dân tộc cùng bị áp bức. Tiếp theo một tổ chức quốc tế, Hội liên hiệp thuộc địa, mà Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập năm 1921, ngày 9-7 năm này (1925 – Ất Sửu) với bí danh là Lý Thụy, Người lại cùng một số đồng chí người Trung Quốc chính thức thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức. Đây là một đoàn thể có tính chất quốc tế bao gồm người Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, In-đô-nê-xi-a, Miến Điện. Tôn chỉ của Hội là liên lạc với các dân tộc cùng làm cách mạng nhằm đánh đổ đế quốc với tuyên ngôn: Con đường thoát duy nhất để xoá bỏ ách nô lệ chỉ có thể là liên hiệp các dân tộc nhỏ yếu bị áp bức và giai cấp vô sản toàn thế giới áp dụng những phương pháp cách mạng để lật đổ chủ nghĩa tư bản đế quốc cực kỳ hung ác. Nguyễn Ái Quốc đã được đại hội bầu làm Bí thư đồng thời trực tiếp phụ trách Chi bộ Việt Nam của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức.

Ở Nguyễn Ái Quốc, dân tộc và quốc tế quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể tách rời. Người luôn chứng tỏ vừa là nhà yêu nước lỗi lạc, vừa là một chiến sĩ quốc tế kiên cường. Người là nhà hoạt động dân chủ khi gia nhập Đảng xã hội Pháp (1919); là nhà cách mạng xã hội chủ nghĩa và là người cộng sản Việt Nam đầu tiên khi tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (1920); là thành viên sáng lập và Uỷ viên Thường trực Hội liên hiệp thuộc địa (1921). Năm 1925 (ất Sửu), Nguyễn Ái Quốc còn đảm nhiệm công tác vận động nông dân ở Trung Quốc và các thuộc địa Đông Dương, Miến Điện, Xiêm, Đài Loan, Phi-líp-pin. Năm Ất Sửu là một trong những năm đồng thời với hoạt động thực tiễn sôi nổi là sự bừng sáng của trí tuệ thể hiện ở những tác phẩm Nguyễn ái Quốc viết bằng tiếng Pháp đăng trên các sách báo ở Pa-ri. Tác phẩm tiêu biểu nhất là Bản án chế độ thực dân Pháp. Nội dung và hình thức của tác phẩm toát lên tinh thần cách mạng tiến công, tư tưởng cách mạng triệt để, kết hợp tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng; thể hiện sự phân tích khoa học kết hợp với tình cảm cách mạng nồng nhiệt của Nguyễn Ái Quốc. Cuốn sách vừa có giá trị cao về lý luận cách mạng, tư tưởng chính trị, vừa có giá trị lớn về văn học. Thật kỳ diệu, Nguyễn Ái Quốc – người truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam chính là người đã dịch lời Quốc tế ca một cách tài hoa để phổ biến rộng rãi ở nước ta vào mùa xuân năm Sửu ấy.

Năm Đinh Sửu (1937), 40 tuổi, Nguyễn Ái Quốc lập kế hoạch nghiên cứu sinh và cuối năm Người chuẩn bị tư liệu để viết luận án tiến sĩ với đề tài: “Cách mạng ruộng đất ở Đông Nam Á” sau khi đạt điểm xuất sắc môn lịch sử hiện đại. Nhưng rồi tình hình thực tiễn của cách mạng Đông Dương thôi thúc, Nguyễn Ái Quốc đành bỏ dở việc bảo vệ luận án, tìm cách trở về lãnh đạo phong trào cách mạng.

Năm Kỷ Sửu (1949), Hồ Chí Minh 59 tuổi, là năm cùng với những hoạt động sôi nổi, khẩn trương lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp trong giai đoạn gay go quyết liệt là những chỉ dẫn mang tầm tư tưởng của một vĩ nhân văn hoá – chính trị kiệt xuất.

Đầu năm mới, Người có thơ chúc Tết động viên mọi người gắng sức thi đua kháng chiến kiến quốc. Lời thơ của Người cho tới hôm nay vẫn như một lời hịch:

“Người người thi đua,
Ngành ngành thi đua,
Ngày ngày thi đua,
Ta nhất định thắng,
Địch nhất định thua”(1).

Cũng như những mùa xuân trước, xuân này Người lại dành những tình cảm sâu sắc cho Đảng và cho Nhân dân:

Với Đảng, Người nói: “Trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng”(2). Người chỉ rõ:

– Về vai trò, “Đảng ví như cái máy phát điện, các công việc trên ví như những ngọn đèn, máy mạnh thì đèn sáng”(3).

– Về tư cách của Đảng, Người nghiêm khắc nhắc nhở: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến.

Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hoá. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho các đồng chí đó.

Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính.

Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên…

Muốn đi tới mục đích, không phải chỉ tổ chức là đủ, phải chân thành trong tư tưởng nữa”(4).

– Với nhân dân, Người đồng cảm với những gian truân, vất vả của đồng bào. Đọc lại bức thư chúc Tết đồng bào trong vùng tạm bị chiếm của Người, chúng ta không thể không bồi hồi xúc động: “Trong ngày trời xuân tươi ấm, Tết nhất vui vẻ, đại gia đình Việt Nam ở vùng tự do sum họp vui vầy, để tưởng nhớ đến tổ tiên và hân hoan cùng con cháu, tôi ngậm ngùi nghĩ đến đồng bào.

Cùng ngày tốt lành, trời Nam đất Việt, mà các đồng bào phải riêng chịu sự lạnh lùng, nhục nhã, cơ cực, tức buồn dưới gót sắt lũ quỷ thực dân tàn bạo.

Mắt tôi như trông thấy các cụ tuổi cao tóc bạc đang đau xót, tức giận trước một cảnh tượng điêu tàn.

Mắt tôi như trông thấy những gia đình túng thiếu khổ sở, đã vất vả về vật chất, càng cay đắng về tinh thần.

Mắt tôi như trông thấy các cháu nam nữ thanh niên đang đau xót, hoặc bị truỵ lạc, hoặc bị giày vò, đang ngóng đợi ngày mai tươi sáng.

Mắt tôi như trông thấy các cháu nhi đồng, đang run rẩy bồi hồi như những đàn chim con bị mưa sa gió bão.

Tôi rất đau lòng thương xót đồng bào tạm lâm vào hoàn cảnh ấy, vì lũ thực dân hung ác, nhưng một phần cũng vì tôi, người phụ trách số phận đồng bào, chưa lập tức xua đuổi được loài thú dữ và cứu vớt ngay đồng bào ra khỏi địa ngục thực dân”(5). Ngày nay hoàn cảnh cụ thể tuy đã đổi thay nhiều lắm, nhưng nỗi niềm suy tư thì vẫn còn đó. Tư tưởng, tình cảm của Người vẫn đang nhắc cán bộ, đảng viên rằng: Sự khổ đau, vất vả của đồng bào là do đâu? Và trách nhiệm của người lãnh đạo trước số phận nhân dân phải thế nào?

Đề cập đến việc phê bình những vấn đề của Đảng và Chính phủ trên các phương tiện thông tin đại chúng, Người đã có bài “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng” đăng trên báo Sự Thật ngày 15-4-1949, phê phán quan niệm cho rằng việc phê bình công khai sẽ làm mất uy tín, mất thể diện của người được phê bình và có thể sẽ bị địch lợi dụng. Theo Người, nghĩ như thế là sai lầm, “ốm sợ thuốc”, không hiểu ý nghĩa và sức mạnh của phê bình.

Lời Người ghi ở trang đầu quyển sổ vàng của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (nay là Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) có thể khẳng định rằng đó là lời vàng để lại cho muôn đời cháu con:

“Học để làm việc,

làm người,
làm cán bộ,

Học để phụng sự Đoàn thể,

giai cấp và nhân dân,
Tổ quốc và nhân loại.

Muốn đạt mục đích, thì phải

cần, kiệm, liêm, chính   
chí công, vô tư”(6).

Chân lý sáng ngời: Mục đích của việc học trước tiên là để làm việc. Có biết làm việc mới biết làm người. Và có biết làm người mới có thể làm cán bộ, muốn đạt mục đích phải cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Như vậy, việc học ấy mới có ích, học là để phục vụ cộng đồng.

Tác phẩm Dân vận của Người xuất bản trong năm này là một dấu mốc quan trọng về lý thuyết văn hoá dân chủ ở nước ta. Dân vận là một tác phẩm ngắn, vẻn vẹn 573 từ mà hàm chứa những nội dung phong phú, những quan điểm lớn, những tư tưởng vĩ đại. Nó tựa như một sự chắt lọc tinh khiết đến mức cao minh, ngời ngời chân lý. Xét về mặt văn chương chính luận thì có thể coi đó là một mẫu mực. Nếu người ta coi thế kỷ 21 là thế kỷ của thông tin, của nền kinh tế tri thức thì tác phẩm Dân vận của Người (viết giữa thế kỷ 20) đúng là văn phong của một trí tuệ đi trước thời đại. Với tác phẩm này, thêm một minh chứng rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là văn hoá của tương lai:

Nước ta là nước dân chủ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự việc kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(7).

Năm Tân Sửu (1961), tuy đã 71 tuổi nhưng Bác vẫn khoẻ và rất vui vì miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng, đang hăng hái thi đua xây dựng CNXH và làm hết sức mình để góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Như thường lệ, đầu xuân, Người có Thơ mừng năm 1961:

Mừng năm mới, mừng xuân mới,
Mừng Việt Nam, mừng thế giới!
Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh,
Kế hoạch 5 năm thêm phấn khởi.
Chúc miền Bắc hăng hái thi đua;
Chúc miền Nam đoàn kết tiến tới!
Chúc hoà bình thống nhất thành công!
Chúc chủ nghĩa xã hội thắng lợi”(8).

Cả nước ta nô nức bước vào thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất, nhưng để đề phòng những sai lầm có thể mắc phải, Bác đã có lời khuyên: “Đường lối chủ trương có rồi, phải có biện pháp thực hiện cho tốt. CNXH là phải có biện pháp. Kế hoạch một phần biện pháp phải hai phần và quyết tâm phải ba phần, có như thế mới có thể hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch nhà nước”(9).

Xuân này chúng ta nghĩ gì về lời dạy ấy khi mà không ít kế hoạch đề ra nhưng biện pháp không rõ và quyết tâm không cao, ý thức trách nhiệm kém… nên biết bao công trình, dự án đề ra rồi mà vẫn đang còn dang dở?

Năm này Bác cũng dành nhiều công sức để giảng giải, động viên, khích lệ làm cho mọi người hiểu đúng đắn thế nào là CNXH ở Việt Nam và làm cách gì để xây dựng thành công CNXH. Người nói đơn giản, cụ thể, dễ hiểu, nôm na đi vào lòng người một cách sâu sắc: “Chủ nghĩa xã hội là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng”(10). CNXH là một chế độ chính trị, là “chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ”. Chế độ dân chủ ấy cần sự lãnh đạo của Đảng. Nhưng Đảng lãnh đạo là thế nào? Phải có những điều kiện gì? Người chỉ rõ: Đảng lãnh đạo nghĩa là tất cả các cán bộ từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào, ngành nào đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Tất cả cán bộ đều phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân, đều phải theo đúng chính sách của Đảng và đi đúng đường lối quần chúng. Do đó mà lãnh đạo phải dân chủ, thiết thực, cụ thể và toàn diện. Phải tránh cách lãnh đạo đại khái, phiến diện, chung chung. Cán bộ phải tuyệt đối tránh bệnh quan liêu mệnh lệnh, phải hết sức tránh bệnh hình thức, chống lãng phí, tham ô.

Người nhấn mạnh: Chúng ta sẽ xây dựng CNXH bằng chính tiềm năng, sức lực, từ hoàn cảnh và phương pháp của dân tộc Việt Nam. Vì vậy “muốn xây dựng CNXH trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”(11). Đó là: những con người có ý thức và năng lực làm chủ nước nhà, là những người chẳng những thạo về chính trị mà phải giỏi về chuyên môn, biết đoàn kết, học hỏi quần chúng; là những người yêu lao động và biết lao động, dám nghĩ, dám làm, dám  chịu trách nhiệm, sáng tạo tìm ra cái mới, ủng hộ cái mới, thực hiện cái mới, là dũng cảm chống chủ nghĩa cá nhân, quan liêu mệnh lệnh, chống tham ô, lãng phí, bảo thủ, dụt dè.

Người khẳng định: Chúng ta chỉ có thể xây dựng CNXH bằng tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Sản xuất mà không tiết kiệm thì khác nào gió vào nhà trống. Cho nên phải biết giữ gìn của công. Tham ô, lãng phí tài sản của Nhà nước, của tập thể, của nhân dân là hành động trộm cắp mà ai cũng thù ghét, phải trừ bỏ. Phải biết quý trọng sức người là vốn quý nhất của ta. Chúng ta cần hết lòng chăm sóc sức khoẻ và sử dụng hợp lý sức lao động của nhân dân ta.

Xác định giá trị của con người và cách dùng người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: bất cứ ai, làm việc gì có lợi cho dân cho nước thì đều vẻ vang, còn làm đến “bộ trưởng mà không làm tròn nhiệm vụ là tồi”(12). Do vậy mà bất kỳ ai có khả năng, đủ tiêu chuẩn, cần cho nhu cầu cách mạng là phải dùng.

Năm Tân Sửu (1961) cũng là năm Sửu cuối cùng của Bác, nhưng những lời Người nói, những việc Người làm thì mãi trường tồn cùng dân tộc,  núi sông. Tư tưởng của Người mãi mãi vẫn là vẻ đẹp tâm hồn và sức xuân của dân tộc Việt Nam.

____

(1,2,3,4,5,6,7) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.557, 551, 552, 560, 284, 698. (8,9,10,11,12,) Sđd, tập 10, tr.246, 266, 317, 310, 466.

PGS. Trần Đình Huỳnh

xaydungdang.org.vn

Advertisements