Những lời dạy dễ hiểu của Người (Phần 5)

Chúng ta xem phim về Bác thường thấy cảnh Bác Hồ quàng khǎn đỏ cùng nhảy múa vui vầy với đàn cháu nhỏ hay chơi bóng chuyền cùng anh em trong cơ quan hoặc cuốc đất trồng cây trong vườn với mọi người… những sinh hoạt đời thường cùng vui với mọi người là một bộ phận không thể thiếu được trong cuộc đời của con người, nó càng làm giàu thêm đời sống tinh thần, tâm linh trong mối bang giao giữa người với người, ở Bác càng đặc biệt hơn.

Nhớ lần chị Giôhana sang Việt Nam, vào thǎm Bác lúc đó Bác đang câu cá ở ao, chị cùng vui câu cá với Bác, chị nói: “Thưa Bác, ở nhiều nước trên thế giới vì muốn vị nguyên thủ của mình vui lòng nên người ta dồn cá thật nhiều, có khi bí mật mắc cá vào câu, hoặc khi đi sǎn thì dồn thú thật nhiều vào một chỗ để vị nguyên thủ dễ sǎn được thú”. Bác cười vui và bảo: “Bác là người câu cá lành nghề và có đôi chân tay vững vàng, đôi mắt tinh tường nên không phải làm như thế”.

Nǎm 1969, sức khoẻ Bác đã yếu, lúc đó có đoàn làm phim của Đảng cộng sản Nhật Bản sang làm bộ phim “Việt Nam chống Mỹ” yêu cầu kịch bản có nhiều hình ảnh Bác Hồ, mặc dầu sức yếu, Bác không những luôn có mặt ở trường quay đúng giờ để quay những cảnh cần hình ảnh Bác, mà còn động viên các diễn viên tham gia nhiệt tình giúp đỡ đoàn làm phim hoàn thành nhiệm vụ. Giờ nghỉ Bác chuyện trò vui vẻ với mọi người như một diễn viên già yêu nghệ thuật điện ảnh.

Nếp sinh hoạt thường ngày những việc nào làm được, Bác tự làm, không nhờ vả hay ỷ lại cho người khác làm thay mình, việc nào không làm được Bác thường mới nhờ đến những anh em gẫn gũi trong cơ quan, việc cắt tóc cũng vậy. Hồi hoạt động ở nước ngoài, Bác không mấy khi đến tiệm cắt tóc mà nhờ anh em cắt giúp, dành tiền để mua sách báo, khi về nước dù ở chiến khu hay về Hà Nội Bác thường nhờ anh em ai biết cắt tóc thì giúp Bác. Bác không yêu cầu mốt này kiểu nọ. Cắt tóc cho Bác cũng có nhiều kỷ niệm sâu sắc, một lần Bác yêu cầu đồng chí Mẫn, chỗ nào tóc dài cắt ngắn để cho gọn và mát mẻ, thấy chỗ tóc cắt ra quá đẹp, đồng chí giấu đi làm kỷ niệm. Hiện nay đồng chí đã trao lại kỷ vật đó cho phòng trưng bày khu di tích thân phụ Bác ở Cao Lãnh.

Biết đồng chí Thiệt là lính lần đầu đến cắt tóc cho Bác, Bác rất tâm lý, vừa gặp Bác chủ động chuyện trò vui vẻ: “Chú chờ Bác đã lâu chưa? Nhờ chú làm “tổng vệ sinh” giúp Bác”. Bác ân cần hỏi han chuyện gia đình, công tác… không khí tự nhiên ấm cúng, tình người được khơi dậy, tâm trạng lo âu, hồi hộp, chân tay lóng ngóng ở đồng chí tự biến mất. Trong lúc cắt tóc, Bác đùa vui: “Bác thì điều khiển cuộc họp, còn chú và chú thợ ảnh thì điều khiển Bác”. Tóc cắt xong, Bác đứng dậy khoe “Đấy, chú xem hôm nay Bác trông thanh niên chưa”.

Nǎm 1960, Tổng thống và phu nhân một nước châu Phi sang thǎm Việt Nam. Tổng thống rất quý Bác, thường nêu gương giản dị, tiết kiệm của Bác cho vợ nghe ngụ ý phê bình lối ǎn mặc kiểu cách xa hoa của vợ, thế là hai vợ chồng “bất đồng quan điểm”. Bác biết được sự việc, Bác mời hai vợ chồng vào thǎm nơi ở và làm việc của Người. Bác trực tiếp ra đón vợ chồng Tổng thống khi gặp, Bác tươi cười và khen: “ồ hôm nay trông phu nhân mặc đẹp quá, vẻ lộng lẫy của phu nhân làm cho những bông hoa trong vườn cũng phải ghen đấy”. Phu nhân Tổng thống cảm ơn và hỏi: “Thưa Bác, nếu ai đó có vinh dự là người bạn đời của Bác thì người đó ǎn mặc thế nào ạ?”. Bác vui vẻ trả lời: “Tất nhiên phải ǎn mặc đẹp chứ, thật đẹp, đẹp như phu nhân hôm nay”. Mọi người đều vui vẻ, riêng Tổng thống trong ánh mắt nhìn Bác tỏ lòng biết ơn và cảm phục Bác đã giảng hoà cuộc chiến tranh lạnh” giữa hai người.

Sau chiến dịch Biên giới 1950, ta bắt được một số tù binh, nhưng chúng rất ngoan cố, không nhận chúng sang Việt Nam là đi xâm lược biết chuyện Bác cải trang trong vai người lính già biết tiếng Pháp đến ôn tồn hỏi chuyện gia đình, quê hương, vợ con, anh em bạn bè ở bên Pháp, Bác nói cụ thể dễ hiểu là trên đời ai cũng có gia đình quê hương, bạn bè, quê hương người Pháp phải ở bên Pháp chứ còn ở đây, núi rừng, đồng ruộng này là của người Việt, vì sao người Pháp sang đây gây ra chiến tranh chết chóc cho người Việt, cho người Pháp, đây là phi nghĩa hay là chính nghĩa người Pháp là người vǎn minh trên thế giới thì rõ hơn ai hết về việc đó… Nghe Bác nói, những tên cứng cổ nhất cũng phảỉ thừa nhận là “ông già nói đúng” , chứ mấy ông trẻ Việt minh thì cứ bắt chúng phải nghe theo lệnh này, lệnh nọ, nên chúng không nghe, không phục.

Hồi ở chiến khu, đi đâu Bác thường đi ngựa, con ngựa của Bác có tên là Ba Đen, nó nhỏ nhất đàn nhưng nhanh nhẹn và rất khôn; nó ít nghe theo người cưỡi nó, lên yên là nó phóng bạt tử, khi gặp suối nó vùng phi qua, có khi người cưỡi nó rơi xuống suối. Nhưng Bác đến vỗ về âu yếm, nó đứng yên như chờ lệnh. Mỗi lần khi lên xuống yên Bác đều làm động tác vuốt ve âu yếm tỏ thái độ biết ơn chân tình, có lẽ từ tình cảm đó mà giữa Bác và Ba Đen có sự đồng cảm, nó tuân thủ, ngoan ngoãn khi Bác ở trên lưng, nó hiểu ý Bác khi đi chậm, nhanh hoặc nghỉ hoặc đứng yên.

Là Chủ tịch nước, nhưng mỗi lần có dịp gợi lại chuyện xưa, Bác vẫn nhớ những kỷ niệm, những con người Bác đã từng gặp, từng quen, nhiều ký ức không phai mờ trong tâm trí Người. Có lần nhà điện ảnh Hà Lan Giôrít Ivan sang làm phim về Việt Nam, được gặp Bác, trong câu chuyện, nhớ lại ngày xưa, Bác nói: “Bây giờ chú mới biết tôi chứ tôi đã biết chú từ đầu những nǎm hai mươi”, lvan rất cảm động và ngạc nhiên, Bác kể tiếp: “Khi đó chú vừa hoàn thành tác phẩm xuất sắc “Tư bản và tôn giáo” cuốn phim tố cáo bọn tư bản lợi dụng tôn giáo lừa bịp nhân dân. Vua Hà Lan và bọn tư sản rất cǎm tức chú, chúng ra lệnh trục xuất chú ra khỏi Hà Lan, lúc đó tôi viết bài đǎng báo “Nhân đạo” bênh vực cuốn phim và vạch trần luận điệu vu cáo của chúng”. Ivan rất cảm kích trước những lời của một vị Chủ tịch nước nói về mình.

Nhớ lần Bác đến thǎm triển lãm ở Hà Nội, Bác đứng ngắm bức tường của Tiêu Tam (Trung Quốc), Bác bảo: “Bác biết đồng chí ấy, đồng chí ấy là bạn của Bác”. Khi Tiêu Tam sang Việt Nam, Bác mời vào nhà sàn chơi, hai người nhắc lại những kỷ niệm xưa. Hai người đàm luận về thơ vǎn Trung Quốc. Tiêu Tam vừa đi thǎm Vịnh Hạ Long về có bài “Phú Vịnh Hạ Long” Bác vừa ngâm vừa gật gù khen. Đến câu “Thuỷ liên thuỷ, sơn liên sơn” Bác bảo câu này không ổn, xin sửa lại là “Sơn liên thuỷ, thuỷ liên sơn” , Tiêu Tam mừng rỡ tiếp thu.

Nǎm 1961, Nguyên soái Diệp Kiếm Anh sang thǎm Việt Nam, chương trình đón tiếp đưa đến Bác, Bác đọc và nói:”Hồi trước Bác và đồng chí Diệp Kiếm Anh cùng làm việc với nhau, đồng chí là đội trưởng, Bác là bí thư chi bộ, nay đồng chí ấy sang đây mà Bác lại đợi đồng chí ấy đến chào là không nên, Bác sẽ ra đón và mời cơm thân mật, nhưng không công bố trên báo chí vì không tiện về mặt lễ tân”.

Một lần Thượng tướng Culicốp sang ta cùng chuyến hàng viện trợ, đồng chí yêu cầu gặp Bác. Các đồng chí trong Bộ Quốc phòng đề nghị chỉ nên tiếp ở cấp tương đương, Bác phê bình và bảo “Các chú chỉ biết một mà không biết hai, các chú chỉ nghĩ đến việc có tương xứng hay không mà không nghĩ đến tình cảm khách dành cho ta, khách quý lãnh tụ là quý dân tộc ta, Bác đã gặp các đoàn vǎn công, gặp đội bóng đá thì tại sao không gặp một thượng tướng mang vũ khí sang tặng ta, các chú phải nên nhớ rằng: phải làm sao mỗi người dân Xô Viết đến Việt Nam là gần với Việt Nam thêm một Chút”. Nǎm 1966, Bác tiếp nhà báo Mỹ Đêvít Đenlinhgiơ, Bác có nói: “Khi trở về Mỹ ông có thể nói rằng tôi đã đi ở cho người ta ở Bruklin vớl lương tháng 40 đôla, còn bây giờ làm Chủ tịch nước Việt Nam tôi được lĩnh 44 đôla hồi ấy không đến nỗi vất vả lắm, tôi dùng một số thời gian rỗi để học tập và đi thǎm một số nơi trong thành phố, tôi thường tới khu Háclem và rất cảm động trước nỗi khổ của người dân da đen”.

Là Chủ tịch nước, nhưng đối với người nhiều tuổi hơn, Bác luôn tỏ ra cung kính, hàng nǎm Bác thường gửi lụa tặng quà cho các cụ cao niên, khi tiếp các Cụ, Bác thường xưng hô cung kính “các cụ ông, cụ bà”, có khi Bác nhận mình là em, là cháu đối với các Cụ. Nhớ lần Bác về thǎm Trà Cổ, gặp gỡ nói chuyện với nhân dân xứ đạo, Bác gặp và chúc thọ riêng Cụ Thiệm là người cao tuổi, Bác khen cụ đã già nhưng vẫn làm gương cho các cháu, chǎm lo thờ phụng Chúa, thực hiện giới rǎn, thi đua sản xuất công tác Bác nói: “Chúng ta nên kết nghĩa anh em, Cụ nhiều tuổi hơn xin cụ nhận là anh”. Cụ Thiệm luống cuống xua tay. “Không dám, không dám. Cụ làm việc cho cả nước cả dân tộc, Cụ phải là anh, còn tôi chỉ quanh quẩn ở xã không dám nhận vinh dự đó, Cụ nhận tôi là em cũng là phúc lắm rồi”. Bác nói chân tình: “Dẫu sao Cụ là lớp đàn anh đi trước, xin Cụ nhận cho”. Nói rồi Bác thân ái tặng Cụ Thiệm vải và chǎn bông.

Tháng 8-1948, tù chiến khu Việt Bắc, nhân danh Chủ tịch nước Bác gửi cho Cụ Phụng Lục, một hội viên hội phụ lão cứu quốc huyện Ư’ng Hoà, Hà Đông, nhân ngày thượng thọ 90 tuổi, một bức thư “Thưa cụ, những cụ thượng thọ như Cụ là của quý vô giá của dân tộc và nước nhà. Trong ngày chúc thọ Cụ lại miễn tế lễ, đám đình và đem số tiền 500 đồng quyên vào quỹ kháng chiến như vậy là Cụ nêu cái gương hǎng hái kháng chiến và cái gương sửa đổi cổ tục, thực hành đời sống mới cho toàn thể đồng bào noi theo. Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn Cụ và trân trọng chúc Cụ sống lâu và luôn luôn mạnh khoẻ để kêu gọi con cháu ra sức tham gia công việc kháng chiến kiến quốc. Cháu lại kính chúc Cụ lời chào thân ái và quyết thắng. Hồ Chí Minh” .

Nǎm 1965, Bác về thǎm Côn Sơn, sau khi dâng hương và thǎm cảnh quan chùa và đọc từng chữ trên bia đá, Bác yêu cầu đồng chí trong tỉnh dẫn Bác đến thǎm Thạch Bàn (nơi Nguyễn Trãi thường ngồi uống rượu ngâm thơ trên một tảng đá to phảng như một chiếc chiếu), động Thanh Hư rồi Ngũ Nhạc (tức 5 đỉnh cao nhất ở Côn Sơn). Đến nơi Bác nói chuvện thân mật với các cụ già ở đó. Bác nói “nhớ Nguyễn Trãi thì phải nhớ “Lệ chi viên” ở đâu?”. Sau đó Bác đề nghị các cụ ở Chí Linh trồng một vườn vải ở khu Chùa để con cháu và khách thập phương đến đây để nhớ lại nỗi oan “Lệ chi viên”.

quangbinh.gov.vn

Advertisements