Những lời dạy dễ hiểu của Người (Phần 4)

Có lần Bác đến thǎm và nói chuyện với một lớp học, trời nóng, hội trường chật, Bác và các học viên đều ướt đẫm mồ hôi, có đồng chí cán bộ vội lấy chiếc quạt quạt cho Bác, Bác bảo: “Ai nhờ chú quạt cho Bác, anh em ngồi dưới cũng nóng như Bác”. Lần Bác về thǎm tỉnh Thái Bình, các đồng chí chuẩn bị bài phát biểu cho Bác. Bác xem qua trước Bác không nhất trí đoạn nói về việc xoá mù chữ, Bác nói: “Nếu lát nữa Bác phát biểu trước đồng bào, nhỡ còn có người mù chữ, thì họ đánh giá Hồ Chủ tịch cũng mắc bệnh quan liêu thì sao?”.

Đến thǎm một trường học khi nghe báo cáo về nhiều mặt tốt Bác khen ngợi, đến đoạn trồng cây, mỗi người trong nhà trường từ sinh viên đến cán bộ mỗi người đều trồng 3 cây. Bác bảo: “Chỉ nên trồng một cây thôi nhưng phải chǎm sóc cho nó sống”. Nǎm 1961, Bác trở lại thǎm Pắc Bó, khi lên thǎm hang, thấy đường vào hang được phát quang sạch sẽ, dễ đi, Bác bảo: “Các chú làm thế này thế hệ sau tưởng hồi xưa đường đi lối lại cũng dễ dàng, nếu muốn sửa sang để đón khách, nhất là khách quốc tế thì các chú làm con đường bên cạnh, để khách thǎm thấy được đúng hoạt động khó khǎn gian khổ hồi xưa”.

Hồi ở chiến khu khi đến địa điểm mới là Bác bảo với mọi người tǎng gia sản xuất, khi biết cơ quan sắp chuyển đi chỗ khác có đồng chí thưa với Bác là không nên trồng nữa, Bác bảo: “Ta trồng nếu ta không thu hoạch thì để lại cho nhân dân, nếu sau này có trở lại thì đã có rau ǎn rồi”.

Đơn vị thông tin cải thiện được món tươi, cử một đồng chí mang thư dán kín ngoài đề “hoả tốc” đến để mờl Bác cùng dự liên hoan, khi đồng chí trở về mang theo lá thư của Bác vẻn vẹn mấy chữ “Cái gì đáng hoả tốc thì hoả tốc, nếu không thì đi bằng “thuỷ tốc” nhé, chào thân ái, Bác Hồ”.

Một lần các đồng chí thông tin mắc điện thoại cho Bác, Bác mời hút thuốc, có đồng chí rút liền 3 điếu, Bác nói vui: “Sao chú lấy nhiều thế” đồng chí thưa Bác là lấy phần cho đồng chí khác, Bác khen, rồi lấy ra một điếu nữa đưa cho đồng chí và nói: “Ưu tiên biếu chú thêm một điếu nữa vì biết nghĩ đến người khác”.

Khi giặc Mỹ tǎng cường bắn phá ra miền Bắc, Bác tham dự cuộc họp bàn về tình hình cách mạng mới. Có đồng chí phát biểu: “Mỹ ném bom ra miền Bắc thì tình hình cũng không có gì thay đổi cả, chúng ta vẫn tiến công…”. Bác bình tĩnh nói. “Sao chú lại nói tình hình không có gì thay đổi cả. Ta không sợ địch, nhưng Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc tất nhiên gây nhiều khó khǎn cho ta, cần phải thấy hết khó khǎn để có biện pháp khắc phục…”.

Trong vườn Bác có cây đa, một lần chỉ cây đa, Bác hỏi đồng chí phục vụ: “Chú cỏ biết làm cho rễ cây đa theo ý mình cắm xuống đất được không?” Đồng chí trả lời Bác là lâu và khó lắm, Bác bảo: “Ư` nếu lâu và khó thì Bác làm thử”. Bác lấy 3 lọ thuỷ tinh và 3 sợi dây, mỗi rễ Bác cho một lọ và đổ nước, cột sợi dây vào lọ rồi treo lên thân cây, ngày qua ngày Bác theo dõi, khi nào hết nước Bác thêm vào. Rễ trong lọ thuỷ tinh phát triển ngày một dài, dần dần kéo xuống đất vào đúng chỗ theo ý định của Bác, cây rễ tạo nên một thế cảnh độc đáo và đẹp, Bác đặt tên cho là “cây đa kiên trì”.

Bác là tấm gương tiêu biểu tiết kiệm của công, thái độ giữ gìn tài sản chung của nhân dân được Bác luôn luôn chú ý. Bác không những nghiêm khắc đối với bản thân mình, mà Bác không cho phép bất cứ một cán bộ nào, ở bất cứ cấp nào, không được đụng đến của công. Bác rèn luyện cán bộ phải có thói quen tiết kiệm, từ những việc nhỏ nhất trong sinh hoạt hàng ngày đến việc lớn quốc gia đại sự.

Lúc đầu Việt Nam thông tấn xã cung cấp bản tin chỉ in một mặt, Bác đọc thấy lãng phí giấy, Bác phê bình. Những loại giấy tờ nào chỉ mới dùng một mặt Bác để riêng dùng để viết bài ở mặt trắng. Bác đến thǎm một trường cán bộ, được biết khi có lương là anh em tiêu pha thoải mái, được mấy ngày hết tiền lại phải đi vay. Bác vào phòng thấy anh em đông vui, Bác bảo, Bác có trà mời các chú cùng uống, nói rồi tự tay Bác pha trà, mỗi lần pha xong Bác lại rót vào một cái cốc to, Bác làm đến 4 lần như vậy, khi ấy Bác mới rót từ chiếc cốc to ra chén rồi mời anh em uống. Bác bảo: “Trà Bác pha lần thứ 4 mà vẫn thơm ngon, các chú học cách pha trà của Bác vào việc chi tiêu lương hàng tháng nhé”. Mọi người được một bài học nhẹ nhàng mà thấm thía.

Lần khác đến một trường học có hơn 4000 học viên, Bác được biết hàng ngày trường phải thuê xe chở nước từ xa về cho học viên dùng. Khi nói chuyện với mọi người, Bác hỏi: “Các cô các chú mỗi người có thể đào nổi một mét khối đất không?” Cả hội trường đồng thanh là làm được. Bác nói: “Thế thì tại sao không tập trung tổ chức đào giếng để dùng mà phải dùng xe hàng ngày chở nước vừa tốn kém lại dùng không thoải mái”. Khi về thǎm công trình đập nước Suối Hai, thấy có ngôi nhà nghỉ mát của tỉnh uỷ xây to, đẹp Bác bảo: “Sao các chú không lo xây nhà cho dân mà lại lo xây nhà nghỉ cho Tỉnh uỷ?”.

Nǎm 1969, Bác đọc báo thấy Nghị quyết Bộ Chính trị chỉ thị chuẩn bị chào mừng 4 ngày lễ lớn, trong đó có ngày sinh của Bác. Bác cho gọi đồng chí có trách nhiệm lên và hỏi: “Tại sao các chú cho tổ chức sinh nhật Bác linh đình thế, Lênin là bậc thầy của cách mạng thế giới, Bác chỉ là học trò của Lênin sao các chú đặt Bác ngang với Lênin, sao lại đặt việc riêng của Bác ngang với việc chung của Nhà nước, của Đảng?”. Bác chỉ tay lên trang báo nói tiếp; “Vì sao các chú cho in sách của Bác nhiều thế này, nên dành nhiều giấy cho các cháu học sinh, còn việc xây nhà bảo tàng này, nhà lưu niệm nọ là quan trọng nhưng nước ta còn chiến tranh, nên dành vật liệu để làm nhà cho dân ở những nơi họ tự phá nhà mình làm đường cho xe đi, khi nào đời sống sung túc ta sẽ xây dưng bảo tàng, nhà lưu niệm…”.

Bác thích ǎn cà pháo quả nhỏ vùng Nghệ An, đồng bào Nghệ An chở cả một xe quả ra biếu Bác. Bác dặn đồng chí cấp dưỡng, Bác chỉ ǎn một ít, cà thì rất nhlều, chú trừ phần của Bác riêng, phần cà còn lại, ai ǎn thì trả tiền cho đồng bào. Bác về thǎm quê, các đồng chí tỉnh uỷ chiêu đãi Bác đủ các món ǎn sang trọng. Đến bữa ǎn Bác nhắc đồng chí Nguyễn Khai, người cùng đi với Bác: “Cơm của ta đâu, đem ra”, đồng chí mang ra một gói, mở xong lần lá bọc, lộ ra nắm cơm độn ngô và gói thịt bǎm nhỏ, kho khô hạt tiêu, Bác mời mọi người: “Ta ǎn gói cơm này trước rồi ǎn cơm của tỉnh sau”. Nói rồi tự tay Bác chia cơm và thịt kho cho từng người như nhắc nhở mọi người trong lúc toàn dân đang phát động tiết kiệm vì đồng bào miền Nam ruột thịt, thì suất ǎn của ai kể cả Chủ tịch nước cũng phải độn ngô. Đối với các đồng chí tỉnh ủy bài học hôm đó, trong suốt cuộc đời khó có thể quên được.

Có lần Bác vào thǎm vǎn phòng Giao tế thấy có hai chiếc tủ gương to quá cỡ, Bác phê bình vừa lãng phí tiền, lại không hợp, không đẹp. Vào phòng dành riêng cho khách ở, thấy giường to quá Bác bảo nên làm nhỏ vừa, phía dưới lót đệm cỏ cho êm và sạch.

Nǎm 1961, sức khoẻ Bác đã yếu, Bác vẫn yêu cầu đi bỏ phiếu để thực hiện quyền công dân, các đồng chí bố trí Bác đến địa điểm hòm phiếu cạnh Hồ Tây cho thuận tiện việc đi lại và lợi cho công tác bảo vệ. Hôm đó tuy vắng người nhưng đến phòng viết phiếu đang có người, Bác đứng đợi, các đồng chí phụ trách bầu cử ngại Bác đứng lâu bèn mời Bác vào phòng viết trước, Bác bảo: “Bác đi bỏ phiếu thực hiện quyền công dân, người khác cũng vậy, ai đến trước viết trước, Bác đến sau thì phải chờ. Bác là một cử tri”. Bác vào phòng viết phiếu, mấy phóng viên quay phim, chụp ảnh loay hoay ghi hình Bác, đèn chiếu sáng cả phòng Bác đang viết phiếu, Bác vội bảo: “Các chú làm gì thế, đây là phòng viết phiếu kín của cử tri, sao các chú vào đây”. Bỏ phiếu xong Bác nói chuyện với cử tri, thấy em bé được mẹ bế đi bỏ phiếu, Bác đến gần âu yếm em thân thiết như ông cháu. Thấy cử tri không đông như mọi nǎm, Bác biết đây là do các đồng chí bảo vệ bố trí, Bác tỏ vẻ không vui, khi về, Bác bảo đồng chí phụ trách công tác bảo vệ: “Chú có biết vì sao Nguyễn Hải Thần bị dân ghét không? Sau nǎm 1945, Nguyễn Hải Thần đi đâu cũng có binh lính bồng súng chĩa ra hai bên, trên xe gắn một khẩu súng trung liên luôn luôn chực nhả đạn, dân rất ghét, chú nên nhớ rằng nhân dân là người bảo vệ tốt nhất”.

Đời thường của Bác thật bình dị từ câu nói, tác phong đến vật dùng tư trang hàng ngày, từ ǎn uống đến sở thích sống hoà mình với nhân dân. Những nǎm tháng sống ở nước ngoài Bác vẫn thích sống trong không khí đầm ấm tình đồng chí. Hồi ở Pari, Bác thường tham gia sinh hoạt trong các câu lạc bộ, hoạt động vǎn nghệ để tuyên truvền cách mạng. Có lần Bác tham gia đóng kịch mà tiền bồi dưỡng là một cốc cà phê. Trong các trò vui giải trí Bác thường tham gia các trò chơi, góp một chuyện vui, một trò ảo thuật để gây cười. Ơ’ Bác tính vui dí dỏm rất độc đáo. Các bạn nước ngoài thường gọi Bác một cách âu yếm “Người bạn phương Đông”.

Khi làm phụ tá giúp việc phiên dịch đồng chí Bôrôđin bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên, Bác vẫn giữ nếp sống đời thường vui vẻ hoà nhã với mọi người. Chị thư ký của đồng chí Bôrôđin kể lại về người bạn Việt Nam hay cười, hoà nhã, luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác, thường giúp chị học tlếng Trung Quốc, tiếng Việt Nam, chị không ngờ “Người bạn vui tính” đó lại là Chủ tịch nước Việt Nam mới.

Về chiến khu Việt Bắc sống trong cảnh núi rừng chiến khu, công việc nhiều, vật chất thiếu thốn, Bác và các đồng sự vẫn duy trì một cuộc sống tinh thần phong phú. Nhân dịp sau cuộc họp Hội đồng chính phủ, đủ các cụ, các bộ trường, ông Hoàng Đạo Thuý, một hướng đạo sinh hồi xưa tổ chức đêm lửa trại. Lửa trại nổi lên ai cũng tham gia theo “luật chơi” của “trùm lửa” yêu cầu. Lúc đầu ông Hoàng Đạo Thuý làm “trùm lửa”. Lửa bùng lên ông chắp tay: “Xin mời Cụ Chủ tịch hát mở lửa trại” ai cũng lo không biết Bác xử trí ra sao, không chần chừ Bác bước nhanh vừa đi quanh đống lửa vừa cất tiếng hát: “Anh hùng xưa, là thời niên thiếu, dấy binh gậy lau làm cờ…” ai cũng ngạc nhiên vì sao Bác biết được bài hát “tôn chỉ” của hướng đạo lửa trại. Rồi Bác đề cử bác sĩ Trần Duy Hưng làm “trùm lửa” tiếp, bác sĩ đi vòng quanh đống lửa giang hai tay miệng kêu “ù ù” như máy bay rồi gọi loa “A lô, a lô đồng bào chú ý Cụ Chủ tịch vào thǎm đồng bào, Cụ có huấn thị” Bác nhanh trí đứng lên “chơi lại” “trùm lửa”, “A lô, a lô thưa đồng bào, tôi vào thǎm đồng bào nhưng đi tàu bay mệt quá xin để bác sĩ Trần Duy Hưng nói với đồng bào thay tôi”. Bác sĩ bí quá, mọi người cười vui vẻ.

quangbinh.gov.vn

Advertisements