Thiêng liêng… lời hứa với Người

Chuyện về người phụ nữ hai lần gặp Bác:

Bà Phạm Thị Thược bây giờ (ảnh chụp tại nhà khách T.78, nơi bà Thược đã ở đây từ gần 7 năm qua.

Một phụ nữ đã sống, chiến đấu cho quê hương đất nước. Sau đó, bà lấy chồng là người nước ngoài làm nhà báo, chuyên viên chiến dịch Điện Biên Phủ, biên tập Đài Tiếng nói Việt Nam đầu tiên. Khi theo chồng về nước, bà cũng làm việc cho một số cơ quan bên đó. Như để trải lòng và nguôi ngoai nỗi nhớ nhà, trong tâm trí của bà luôn khắc ghi lời hứa thiêng liêng với Bác Hồ là sẽ trở về quê hương trong những ngày cuối đời…

Để thực hiện lời hứa về chuyện sinh ra rồi mất đi sẽ trên đất nước Việt Nam thương yêu của mình, bà phải xa con cháu để trở về quê hương. Và nỗi lòng ấy như được sẻ chia khi chúng tôi tiếp chuyện bà. Đó là ước nguyện của bà Phạm Thị Thược (nguyên quán ở Thái Nguyên). Bà sinh trưởng trong nỗi bất hạnh cùng nhiều đau thương, trái ngang. Nhưng cũng không vì thế mà bà chịu đầu hàng số phận.

Ký ức trở về

Sau một hồi tâm sự, như hồi tưởng lại thời thơ ấu khó khăn cùng những tháng ngày gian khổ, bà kể lại: “Lúc mới được sinh ra thì bố lấy vợ hai, mẹ bỏ tôi lại cho ông bà nội. Hằng ngày, ông bà nội phải xin sữa những người có con nhỏ ở trong xóm làng để nuôi tôi. Khi gần 14 tuổi, ông bà nội mất, tôi phải di tản lên chiến khu Việt Bắc (Thái Nguyên) tìm mẹ nhưng mẹ đã có chồng khác.

Không ở được với mẹ, tôi xin đi dân công tải đạn nơi chiến trường phía Bắc và được giữ lại trong đơn vị quân nhu (sau này là đơn vị hậu cần). Sau đó, tôi kết hôn với một bác sĩ quân y, sinh được một đứa con gái đặt tên là Nguyễn Thị Trọng Hiền. Niềm vui chưa tày gang, ngay sau đó là nỗi buồn khi chồng tôi hy sinh nơi chiến trường.

Ngày giải phóng Hà Nội, tôi về với gia đình bên chồng ở phố Kim Mã và bán tân dược theo bằng cấp của chồng để lại. Một thời gian sau, tổ chức của Đài Tiếng nói Việt Nam tại 58 phố Quán Sứ – Hà Nội mai mối tôi với đồng chí Tarrago làm chuyên gia ở Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, do yêu cầu của Đảng và Nhà nước chuyển chồng tôi sang Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam làm biên tập chương trình phát thanh thời sự quốc tế vào năm 1955.

Nghĩ lại, tôi vẫn cảm thấy sợ vì mình không biết tiếng Đức để nói với chồng, nhưng bản thân thì đặt trọn niềm tin vào tổ chức lãnh đạo của Đảng. Đám cưới của chúng tôi được lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam đứng ra tổ chức. Chúng tôi nhận được nhiều lẵng hoa chúc mừng hạnh phúc của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các lãnh đạo cao cấp của Quân đội, Bộ Ngoại giao và các cơ quan Sứ quán nước ngoài.

Sau lễ cưới, chúng tôi được ở trong toà nhà số 8 Hồ Xuân Hương, Hà Nội. Lúc đó, ông Phạm Ngọc Thạch (Bộ trưởng Bộ Y tế), ông Phạm Huy Thông (Giáo sư giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ở chung toà nhà) và Giáo sư Tôn Thất Tùng (công tác bên Bệnh viện Việt Đức, bạn của chồng tôi lúc công tác ở bên Pháp) đã giúp đỡ chúng tôi mọi trở ngại về ngôn ngữ.

Một vinh dự lớn lao là vợ chồng tôi được Bác Hồ mời cơm tại Phủ Chủ tịch. Tại đây, chúng tôi gặp ông trưởng lễ tân Nguyễn Việt Dũng, sau đó là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ta tại Cộng hòa Dân chủ Đức. Năm 1964, Đảng và Nhà nước giải quyết cho tôi đi theo chồng, trở về phục vụ cho đất nước Cộng hòa Dân chủ Đức. Khi chuẩn bị lên đường theo chồng về nước, gia đình tôi lại được Bác mời ăn cơm và dặn dò.

Gặp Bác, tôi chỉ biết khóc mà không nói được lên lời. Thấy vậy, Bác liền nói những lời căn dặn: “Cháu đi theo chồng cũng là một nghĩa vụ lớn, vì đồng chí Tarrago là người có đóng góp công lao to lớn cho Tổ quốc Việt Nam và là một đồng chí vô sản quốc tế đến làm nghĩa vụ với cách mạng Việt Nam. Người vợ của đồng chí là người con gái của đất nước Việt Nam anh hùng, cháu phải làm sao cho xứng đáng với người vợ của người chiến sĩ cách mạng vô sản quốc tế. Đây cũng là nghĩa vụ của người con gái Việt Nam với Tổ quốc”.

Thấy tôi khóc nhiều quá, chồng tôi đã hứa với Bác: “Nếu vợ tôi qua đời trước, xin hứa với các ngài là tôi sẽ đưa thi hài vợ tôi bằng chuyên cơ về Việt Nam để chôn cất theo truyền thống của người Việt Nam là “lá rụng về cội”. Lời hứa của tôi như vậy, nhưng nếu tôi chết trước vợ, tôi sẽ không thực hiện được lời hứa này với các ngài”. Chính vì lời hứa của chồng tôi với Bác nên tôi mong muốn bản thân mình thực hiện lời hứa thiêng liêng này.

Thiêng liêng… lời hứa với Người

Đó là lời hứa thiêng liêng mà chồng tôi đã hứa với Hồ Chủ tịch và các lãnh đạo của Đảng lúc bấy giờ. Dù thế nào, bằng mọi giá tôi cũng muốn thực hiện ước nguyện với Bác, với đất nước của mình. Giờ đây, tuổi đã cao (gần 80 tuổi), tôi nói lại những suy nghĩ của quá khứ này cũng là để mọi người hiểu dù đi đến chân trời góc bể nào thì con người Việt Nam cũng sẽ luôn tìm về nguồn cội.

Cũng bởi một lý do nữa là giờ đây khi phải xa con cháu nên không còn ai bên cạnh để lo cho mình. Ai cũng cần tình yêu thương thật sự, nhất là những người già như tôi. Chính vì thế, khi trở về đất nước của mình, tôi vẫn còn nhiều người thân ở ngoài Bắc, mong mọi người thân đón nhận sự trở về của mình. Thế nhưng, sự thật không được như mong muốn. Nó khiến tôi ngỡ ngàng, cứ suy nghĩ miên man và không thể thốt thành lời.

Từ phải sang, ông Trần Duy Hưng, bà Phạm Thị Thưọc, ông Lê Quý (TGĐ Đài Tiếng nói VN đầu tiên và trợ lý của ông Qúy).

Một phần do chồng tôi mất năm 1988, nên lời hứa của chồng tôi với Bác Hồ đã không thực hiện được. Tôi thay chồng thực hiện lời hứa với Người cũng là thực hiện cho tâm nguyện của tôi, một người con được sinh ra trên đất nước Việt Nam sẽ lại trở về với đất nước Việt Nam yêu quý. Thế là, từ năm 1990 đến nay, tôi vẫn sống với nỗi cô đơn của người phụ nữ già nhưng không quên được lời hứa mà chồng đã hứa với Người. Lời hứa đó cứ in sâu trong tâm nguyện của bản thân tôi.

Lý do mà tôi phải sống cô đơn cũng một phần vì các con đã có gia đình riêng nên tôi vẫn một mình đi về Việt Nam. Đến năm 2001, tôi về Việt Nam ở hẳn cho đến nay. Những năm đầu tôi sống ở Tuyên Quang, sau lên Thái Nguyên rồi vào Vũng Tàu và cuối cùng là TP HCM. Hơn 6 năm, tôi ở tại Nhà khách T.78 thuộc Văn phòng Trung ương Đảng phía Nam, số 145 Lý Chính Thắng, phường 7, quận 3, TP HCM.

Không biết cái ngày “gần đất xa trời” sẽ đến lúc nào và lo lắng cho hậu sự của mình nếu có xảy ra thì ai, cơ quan nào đứng ra tổ chức đám tang cho mình? Vì vậy nên tôi mong rằng những ước nguyện của mình nếu qua đời cũng chỉ biết nhờ vào Ban lãnh đạo Nhà khách T.78 lo hậu sự.

Thiết tha hơn nữa là mong các cơ quan chức năng giúp tôi thực hiện mong ước được “ra đi” trên mảnh đất Việt Nam quê hương yêu dấu. Đây chính là lời hứa thiêng liêng của chồng tôi đã hứa với Bác và là ước nguyện thiết tha nhất trong cuộc đời mình.

Cũng chính vì lời hứa với Người nên tôi mong các con của tôi là Nguyễn Thị Trọng Hiền Tarrago – Kleivert và Antoine Tân Việt Tarrago hiểu bố mẹ của chúng đã được Bác Hồ quan tâm, dạy bảo. Và vì đất nước Việt Nam có Bác Hồ là niềm kính yêu của cả thế giới nhân loại. Cũng là để các con, cháu của tôi luôn nhớ mãi và ghi sâu trong tim chúng có dòng máu của con người, đất nước Việt Nam anh hùng.

Sau khi theo chồng sang Cộng hoà Dân chủ Đức, bà đã tham gia hoạt động, làm việc ở Hội Liên hiệp Phụ nữ và Bộ Giáo dục Cộng hòa Dân chủ Đức. Bà đã đóng góp nhiều công lao vào việc nêu cao tinh thần “uống nước nhớ nguồn” vì mình là người Việt Nam. Bên cạnh đó, bà cũng tham gia, giúp chồng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ biên tập phát thanh tình hình quốc tế. Nhất là mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Cộng hoà Dân chủ Đức.

Thiên Hùng (ghi theo lời kể của bà Phạm Thị Thược)

cand.com.vn