Bác Hồ viết lịch sử và chúc Tết bằng thơ

“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

Đó là yêu cầu trên hết mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định ngay từ dòng đầu tiên của cuốn Lịch sử nước ta. Tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho nền khoa học xã hội và nhân văn nước nhà, đặc biệt là nền sử học và địa lý Việt Nam ngay cả khi đất nước còn chìm trong đêm đen nô lệ.

Năm 1941, sau 30 năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển tìm đường cứu nước, Bác trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Sống và làm việc tại hang Pắc Bó (Cao Bằng), công việc đầu tiên Người bắt tay thực hiện là dịch từ tiếng Nga sang tiếng Việt cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Bôn-sê-vích (Nga), viết Địa dư nước ta – cuốn địa lý Việt Nam đầu tiên bằng thơ lục bát, khẳng định cương vực lãnh thổ đất nước. Sao cho “Dân ta phải biết nước ta, một là yêu nước, hai là trí tri” (trí tri nghĩa là hiểu biết). Sau Địa dư nước ta, Bác Hồ viết tiếp cuốn Lịch sử nước ta. Đó là tập diễn ca lịch sử gồm 208 câu lục bát, phần kết có 30 mốc lịch sử quan trọng, trong đó Người tiên đoán “năm 1945, nước nhà độc lập”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Lịch sử nước ta, trước hết, nhằm làm tài liệu học tập cho cán bộ trong các lớp huấn luyện ở chiến khu và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, để giáo dục, động viên mọi người phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, góp phần chuẩn bị cho cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại năm 1945. Cuốn Lịch sử nước ta được Bộ Tuyên truyền của Việt Minh xuất bản tháng 2-1942.

Với thực trạng Việt Nam lúc đó có trên 90 phần trăm dân số mù chữ, Hồ Chí Minh đã sáng suốt chọn thơ ca làm phương tiện thể hiện và chuyển tải những kiến thức lịch sử cơ bản cho người dân. Bởi Người hiểu sâu sắc rằng, thơ ca rất gần gũi, quen thuộc với người dân nước Việt, nhờ đặc tính có vần, có điệu nên dễ thuộc, dễ nhớ, dễ đi sâu vào lòng người.

Từ năm 1942 đến năm 1969, sau Lịch sử nước ta, hằng năm vào dịp đầu Xuân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều viết tiếp Lịch sử nước ta dưới dạng độc đáo là thư và thơ chúc tết, Người đã để lại cho kho tàng lịch sử và văn học Việt Nam một gia tài quý báu gồm hai mươi sáu bài thơ và năm mươi tám bức thư, điện chúc Tết, ba tập diễn ca lịch sử và địa lý.

Viết lịch sử đất nước, dân tộc bằng thơ và thư chúc Tết, Chủ tịch Hồ Chí Minh ý thức rằng từ thuở xa xưa, chúc Tết là một trong muôn vàn nét đẹp truyền thống trong ứng xử của người dân Việt Nam.

Hằng năm vào những ngày đầu Xuân, dù giàu, nghèo, sang, hèn, nhà nhà, người người đều chúc nhau với những lời tốt đẹp nhất để vượt qua mọi khốn khó, trở ngại trên đường đời và mơ ước về một cuộc sống thanh bình, ấm no, hạnh phúc. Đó cũng là dịp để mỗi thành viên trong gia đình nhớ tới những người thân đi xa và tưởng niệm ông bà, tổ tiên cùng những người thân yêu đã khuất.

Hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất trân trọng, nâng niu, gìn giữ và ra sức phát huy những nét đẹp trong truyền thống văn hóa đó của dân tộc.

Thư và thơ chúc Xuân là hai thể loại được

Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng để viết sử, do ưu thế về khả năng chuyển tải tư tưởng, tình cảm một cách ngắn gọn, sinh động và súc tích, trở thành cuốn Biên niên lịch sử đất nước sống động, vô giá.

Tư tưởng chung nhất trong thư và thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên hết là lời chúc tốt lành, vừa là lời kêu gọi hết thảy cán bộ, chiến sĩ, đồng bào hăng hái thi đua hoàn thành nhiệm vụ cách mạng của từng năm, từng thời kỳ để cùng nhau mau chóng đưa nước nhà đến độc lập, thống nhất, xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc.

Khởi đầu từ tập diễn ca Địa dư nước ta, viết năm 1941 ở Pác Bó, đến Xuân Nhâm Ngọ (năm 1942), giữa núi rừng Việt Bắc ngút ngàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài thơ Mừng Xuân, chúc đồng bào đoàn kết, nước nhà mau được độc lập. Đó không chỉ là khát vọng của cả dân tộc, mà Người đã chủ động dự báo lịch sử, đón đầu thời cơ một cách tài tình:

“Chúc đồng bào ta đoàn kết mau,
Chúc Việt Minh ta càng tấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong năm nay,
Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới!”

Bài “Chào Xuân” năm Giáp Thân (năm 1944) đã vượt ra ngoài khuôn khổ của một bức thư chúc Tết, trở thành câu đối sắc sảo, dự báo chiến thắng của phe Đồng minh trước trục phát-xít:

“Rót cốc rượu Xuân, mừng cách mạng.
Viết bài chào Tết, chúc thành công!”

Xuân Bính Tuất (năm 1946) – Tết Độc lập cũng là Tết Kháng chiến đầu tiên sau gần một thế kỷ bị thực dân Pháp đô hộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ và toàn thể đồng bào chúc Tết các chiến sĩ Quyết tử yêu quý ngoài mặt trận, trên chiến lũy Sài Gòn, Hà Nội, với lời ước hẹn sắt son:

“Bao giờ kháng chiến thành công,
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.
Tết này ta tạm xa nhau,
Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy”;

Với đồng bào cả nước, Người chúc mừng và khẳng định:

“Trong năm Bính Tuất mới,
Muôn việc đều tiến tới.
Kiến quốc mau thành công!
Kháng chiến mau thắng lợi
Việt Nam độc lập muôn năm!”

Với Nam Bộ trên tuyến đầu chống Pháp xâm lược, món quà Xuân mà Người thay mặt Chính phủ trao tặng là danh hiệu vẻ vang “Thành đồng Tổ quốc”.

Xuân Đinh Hợi (năm 1947), lời chúc Xuân của Người mang âm hưởng của khẩu hiệu hành động:

“Trường kỳ kháng chiến nhất định
thắng lợi!
Thống nhất độc lập, nhất định
thành công!”

Trong những bài thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1948 đến năm 1954, Người luôn khẳng định lòng tin son sắt vào thắng lợi cuối cùng, đồng thời động viên hết thảy đồng bào, chiến sĩ cả nước hăng hái thi đua cứu quốc, đưa kháng chiến đến thắng lợi. Những vần thơ chúc Xuân ngắn gọn của Người diệu kỳ thay đã trở thành phương thức, những khẩu hiệu nổi tiếng, đi vào lịch sử kháng chiến, gây xúc động và cuốn hút lòng người như vần thơ chúc Xuân Kỷ Sửu (năm 1949):

“Người người thi đua,
Ngành ngành thi đua,
Ta nhất định thắng!
Địch nhất định thua!”

Trong những mùa Xuân: Canh Dần (năm 1950), Tân Mão (năm 1951), Nhâm Thìn (năm 1952), bên cạnh những bài thơ mừng Xuân mới, Bác Hồ còn viết thư chúc Tết nhằm động viên được cao nhất sức người, sức của cho tiền tuyến, đặc biệt ở những thời điểm bước ngoặt của cuộc kháng chiến như mùa Xuân năm 1951:

“Xuân này kháng chiến đã năm Xuân.
Nhiều Xuân thắng lợi càng gần thành công.
Toàn dân hăng hái một lòng.
Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời”.

Suốt mười năm cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Bảo vệ miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, ủng hộ đồng bào miền Nam đấu tranh cho thống nhất nước nhà, những bài thơ Xuân và thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều hướng vào mục tiêu động viên hết thảy đồng bào, chiến sĩ cả nước thi đua xây dựng cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam và sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Trong thư chúc mừng năm mới Bính Thân (năm 1956), thêm một lần Bác khẳng định:

“Miền Bắc thi đua xây dựng,
Miền Nam giữ vững thành đồng
Quyết chí bền gan phấn đấu
Hòa bình, thống nhất thành công”.

Với niềm tin son sắt vào thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, Xuân Tân Sửu (năm 1961), Người hướng tầm nhìn của muôn người tới tương lai xán lạn:

“Mừng Việt Nam, mừng thế giới!
Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh”.

Xuân Giáp Thìn (năm 1964) là năm thứ tư của kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất ở miền Bắc (1960 – 1965). Những năm tháng đồng bào miền Nam anh dũng chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn ra sức động viên đồng bào, chiến sĩ cả nước thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

“Bắc Nam như cội với cành,
Anh em ruột thịt đấu tranh một lòng.
Rồi đây thống nhất thành công,
Bắc Nam ta lại vui chung một nhà.
Mấy lời thân ái nôm na,
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”.

Năm 1965, khi đế quốc Mỹ ồ ạt đem quân vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam, những vần thơ chúc Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng về đồng bào, chiến sĩ ở cả hai miền Nam – Bắc, hết lòng động viên phong trào chống Mỹ, cứu nước của cả dân tộc. Vào đúng năm này, Người bắt tay viết Di Chúc, sau những vần thơ chúc Xuân:

“Chào mừng ất Tỵ Xuân năm mới,
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi,
Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi,
Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới,
Đồng bào hai miền thi đua sôi nổi,
Đấu tranh anh dũng, cả nước một lòng,
Chủ nghĩa xã hội nhất định thắng lợi!
Hòa bình thống nhất ắt hẳn thành công”.

Theo những cánh sóng báo tin thắng trận dồn dập, vần thơ chúc Xuân Đinh Mùi (năm 1967) của Bác Hồ vút lên, ngân dài, vang xa, rộn rã như khúc ca chiến thắng:

“Xuân về xin có một bài ca,
Gửi chúc đồng bào cả nước ta,
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi
Tin mừng thắng trận nở như hoa”.

Đặc biệt, Xuân Mậu Thân (năm 1968), đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người không chỉ gửi thư chúc mừng năm mới tới đồng bào, chiến sĩ cả nước, mà gửi cả bạn bè năm châu, bốn biển để nói lời cảm ơn và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ đế quốc Mỹ đưa quân trực tiếp vào xâm lược miền Nam và gây chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhưng nhân dân Việt Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết đánh Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua.
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên toàn thắng ắt về ta!”.

Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt của Bác, ngay sau khi phát đi đã được phổ nhạc thành bài ca mang âm hưởng lạc quan, hào hùng, sang sảng như lời hịch, hàm chứa một nội dung lớn, mới mẻ, nâng tầm những định hướng và mục tiêu cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến đỉnh cao.

Năm 1969, cuộc chiến tranh giải phóng (1945 – 1975) của nhân dân ta bước sang năm thứ 24, cuộc kháng chiến chống Mỹ bước sang năm thứ 15, Bác Hồ ở độ tuổi 79. Với dự cảm hết sức chuẩn xác, tinh tế, Người chuẩn bị kỹ lưỡng, chu toàn mọi việc riêng, chung, trước lúc đi xa về cõi vĩnh hằng. Người đã hoàn chỉnh bản Di chúc.

Lúc này bệnh tình của Bác đã trở nên trầm trọng. Người đã phải khổ luyện hàng tháng trời và ra sức thuyết phục các bác sĩ đang chăm sóc sức khỏe cho Người, để có thể chúc Tết đồng bào, chiến sĩ cả nước như thông lệ hằng năm, để không ai biết được Người đang lâm bệnh nặng. Trong chúng ta chắc chẳng ai cầm lòng được, mỗi khi nhớ về phút giao thừa năm Kỷ Dậu (năm 1969). Dù lâm bệnh nặng là thế, Người vẫn làm thơ, viết hai thư, gửi ba bức điện chúc Tết tới nhà nhà, người người. Phút giao thừa như lặng đi khi Đài Tiếng nói Việt Nam vang lên lời chúc Xuân của Bác. Vẫn giọng trầm ấm, truyền cảm da diết của quê hương Xứ Nghệ, chứa đựng hết thảy tình thương bao la của Bác dành cho đồng bào, chiến sĩ cả nước, cho kiều bào ta ở nước ngoài và cho cả bạn bè khắp năm châu. Gói trọn tấm lòng nhân hậu của người cha, người bạn, trước lúc đi xa:

“Đồng bào và chiến sĩ yêu quý!

Năm 1968 là một năm quân dân cả nước ta chiến thắng rất oanh liệt…

Nhân dịp năm mới 1969, thay mặt nhân dân cả nước ta, tôi nhiệt liệt chúc mừng và cảm ơn các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước bầu bạn và nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã hết lòng ủng hộ và giúp đỡ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.

Tôi thân ái chúc đồng bào, chiến sĩ, cán bộ và bà con Hoa kiều cả hai miền Nam Bắc và kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới đoàn kết, chiến đấu, thắng lợi. Và có mấy lời mừng Xuân như sau:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào,
Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào!
Bắc Nam xum họp, xuân nào vui hơn!”

Sáu khổ thơ chúc Xuân cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay lập tức được phổ nhạc, theo cánh sóng Đài Tiếng nói Việt Nam đã bay cao, vang xa khắp mọi miền đất nước, đến cùng bạn bè xa gần khắp năm châu, bốn biển, trở thành Bản anh hùng ca sống mãi cùng năm tháng.

Từ Xuân Nhâm Ngọ (năm 1942) đến Xuân Kỷ Dậu (năm 1969), người Việt Nam may mắn có được trên một phần tư thế kỷ được Bác gửi thư chúc Tết và thơ mừng Xuân. Mỗi lá thư, vần thơ của Người là một bản tổng kết, một trang sử thi, địa lý, một bức tranh lịch sử về những sự kiện nổi bật, hay những chiến công vang dội của dân tộc, đất nước trong năm qua, đồng thời vạch ra phương hướng, sách lược và từng bước đi cụ thể cho năm mới.

Trong thư và thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quá khứ, hiện tại và tương lai luôn đan xen, quyện chặt vào nhau, dệt thành bức tranh lịch sử sống động về cuộc kháng chiến oanh liệt của nhân dân ta chống thực dân Pháp, chống phát-xít Nhật và đế quốc Mỹ xâm lược.

Hơn một phần tư thế kỷ, với hai mươi sáu khoảnh khắc mùa Xuân, cả Việt Nam luôn hướng về Việt Bắc – thủ đô kháng chiến, hướng về Thủ đô Hà Nội – trái tim của đất nước, được đón chờ phút giao thừa thiêng liêng, với lời chúc Xuân nồng ấm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thông lệ đó đã trở thành nhu cầu tình cảm và nỗi khát khao trong sâu thẳm tâm hồn của người dân Việt Nam. Qua rồi hơn bốn thập niên, dẫu không còn hạnh phúc được nghe Bác Hồ chúc Tết, nhưng cuốn Địa dư nước ta, Lịch sử nước ta, Thư và thơ chúc Tết cùng với Di chúc của Bác Hồ mãi mãi là những pho sử vàng cả về hình thức lẫn nội dung thể hiện.

Đinh Thu Xuân

tapchicongsan.org.vn

Advertisements