Ra đi tìm đường cứu nước là sự khởi đầu một con đường đi đúng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911- 5/6/2011)

(TCTG)- 100 năm là độ lùi lịch sử đủ tin cậy để có thể khẳng định rằng: sự lựa chọn, khởi đầu chính xác của Nguyễn Tất Thành từ ngày 5/6/1911, đã góp phần làm nên “nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh và chắc chắn Người là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta, mà người ta có thể nói rằng: không có Người, lịch sử có thể đã đi theo một con đường khác. Lịch sử đã đặt Người vào đúng chỗ của mình, trong quá trình đó, Người là nhân vật sáng tạo quyết định”.

Một quyết định đúng đắn

Trước khi rời Tổ quốc ra đi tìm đường giải phóng dân tộc, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống của người dân xứ Nghệ. Lòng yêu nước, ý chí ham học hỏi, ham hiểu biết của người cha; lòng yêu thương con trẻ, sự chịu thương, chịu khó của người mẹ; tinh thần vượt khó và vươn lên, cần cù trong lao động, cố kết trong tình làng nghĩa xóm của quê hương, đất nước, v.v..là chiếc nôi tốt, sớm nuôi dưỡng trong Nguyễn Tất Thành tình yêu nước, thương dân với một thiên hướng đặc biệt đến mẫn cảm. Tuy nhiên, tuổi thơ của Nguyễn Tất Thành có nhiều biến động. Không chỉ sống ở xứ Nghệ, Nguyễn Tất Thành còn được sống ở kinh thành Huế. Người không chỉ được học chữ Hán, bước đầu làm quen với thời đại qua những sách “Tân thư”, “Tân văn” bằng tiếng Hán, mà còn được học tiếng Pháp, làm quen với văn minh phương Tây qua câu khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” nổi tiếng của cách mạng tư sản Pháp 1789.

Hơn nữa, không chỉ chịu ảnh hưởng bởi các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ta (cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa nông dân do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, mang “nặng cốt cách phong kiến” dù cốt cách đó có chiều dày hàng ngàn năm; phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh…theo lập trường dân chủ tư sản Việt Nam – một nước thuộc địa nửa phong kiến và tính không triệt để của nó) liên tiếp nổ ra và thất bại, mà Nguyễn Tất Thành còn sớm bị mất mẹ và người em ruột khi mới hơn 10 tuổi đầu.

Trong bối cảnh đó, những suy tư của một Nguyễn Tất Thành “sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào” đã được cộng hưởng bởi bầu không khí yêu nước, cảnh thực dân Pháp chém giết người yêu nước, đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta trong bể máu và những bất công diễn ra thường ngày…Luôn bận tâm, trăn trở về con đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành đã dần hiểu được những hạn chế của các vị tiền bối cách mạng trong việc quy tụ sức mạnh của quần chúng nhân dân; khoảng cách quá xa trong tương quan so sánh lực lượng giữa một Việt Nam (đại diện cho phương thức sản xuất phong kiến đã lỗi thời) và thực dân Pháp (đại diện cho phương thức sản xuất TBCN hiện đại); cùng những bế tắc trong việc định hướng đường lối, con đường đi của các phong trào đấu tranh yêu nước.Vì vậy, dù rất khâm phục lòng yêu nước của các bậc tiền nhân, nhưng khác họ, qua những kiến thức mới mẻ tiếp thu được từ Tân thư, từ những năm tháng học tập, sinh sống ở Huế, và bằng nội lực bẩm sinh, Nguyễn Tất Thành hiểu rằng một thời đại mới, đòi hỏi một con đường đi mới, một phương thức đấu tranh mới, khác hẳn con đường cách mạng cải lương từng diễn ra, đó là làm cách mạng. Đây là một suy nghĩ đúng đắn, hợp quy luật và thời đại.

Dấu ấn quê hương và gia đình, sự tác động về nhiều mặt đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Nguyễn Tất Thành, trong đó thực tế, sự hiểu biết, chí hướng yêu nước, hành động tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Trung Kỳ năm 1908, đã là cơ sở, là tiền đề chuẩn bị cho quyết định của Nguyễn Tất Thành sau này. Đầy nhiệt huyết và mang trong lòng hoài bão giành lại “độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi”, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết định rời nhà trường, rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Và khác những vị tiền bối cách mạng, vì muốn tìm hiểu và khảo nghiệm thực tế những gì đang diễn ra trong lòng chế độ tư bản, trong “nội bộ kẻ thù của dân tộc mình”, Nguyễn Tất Thành đã chọn con đường sang phương Tây, nơi sản sinh những tư tưởng lớn, những cuộc cách mạng lớn với mong muốn, đến “xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào …sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”[1].

Vậy là, khi quyết định không sang phương Đông, không nhờ cậy vào những người “anh lớn” như Trung Quốc và Nhật Bản, mà muốn làm quen với văn minh Pháp, muốn xem những gì ẩn dấu đằng sau những từ mỹ từ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của Đại cách mạng tư sản Pháp, Nguyễn Tất Thành đã muốn học hỏi nhiều hơn những gì mình có, dân tộc mình có. Đó cũng đồng thời là, “trong khi lòng yêu nước và tư tưởng chống Pháp của các sĩ phu có nguồn gốc trong sự đối lập giữa hai nền văn hoá (Đông -Tây) và ở sự khác nhau về chủng tộc (da vàng – da trắng) thì tinh thần yêu nước và ý thức phản đế của Nguyễn Ái Quốc xuất phát từ chế độ xã hội với cốt lõi của nó là quan hệ giữa người với người”[2]. Xuất phát điểm này, sự vượt lên chính mình này, đã quyết định con đường đi sau đó của Người – mở đầu một chặng đường dài xa Tổ quốc.

Hành trình khảo nghiệm thực tiễn

Với ý chí và quyết tâm của một người dân mất nước, với nhiệt huyết và sức trẻ của tuổi thanh xuân, Nguyễn Tất Thành đã khởi đầu một con đường đúng, khi quyết định xin làm thuê trên tàu Đô đốc Latútxơ Trêvilơ, rời Tổ quốc ngày 5/6/1911 để “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”.

Suốt thời thanh niên sôi nổi của đời mình, Nguyễn Tất Thành dành cho việc lao động kiếm sống, tích luỹ tri thức và tìm hiểu đời sống chính trị, xã hội các quốc gia, dân tộc và các nền văn hoá của nhiều châu lục. Trải qua những tháng ngày lao động vất vả, bằng nghề làm phụ bếp trên tàu, thợ chụp ảnh, vẽ đồ giả cổ Trung Hoa ở thủ đô Pari của nước Pháp, cào tuyết cho trường học, bồi bàn trong khách sạn ở nước Anh, v.v..và vượt qua cái lạnh giá của châu Âu, với viên gạch ủ nóng thay cho lò sưởi, là một Nguyễn – Người thanh niên yêu nước đã sống, học tập và hoạt động không mệt mỏi.

Bằng những nỗ lực hoạt động của mình trong nhiều tổ chức, trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – một người dân nô lệ ở thuộc địa, ham học hỏi, không sợ cường quyền, từng bước vượt qua mọi thử thách, gian truân, luôn phấn đấu cao độ với một nghị lực phi thường và một định hướng chính trị đúng, để gom góp và đanh thép đưa ra bản cáo trạng tội ác thực dân – Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925.

Được chứng kiến nhiều diễn biến lớn của thời đại, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy những tồn tại, những khoảng cách và cả những bất công về quyền lợi và hưởng thụ trong lòng xã hội tư bản, tất yếu sẽ dẫn đến những “khủng hoảng” không thể tránh khỏi ở cả các nước chính quốc, như nước Mỹ (với bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776) và nước Pháp (với bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng 1791). Đó chính là sự phân biệt giàu nghèo giữa những người bị áp bức và những kẻ bị áp bức ở các thuộc địa, giữa nhân dân lao động tại các nước tư bản với những tên thực dân, những kẻ hữu sản, và Người đã đưa ra nhận định sâu sắc: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”[3].

Một Nguyễn Ái Quốc sau chặng đường bôn ba qua nhiều châu lục, qua nhiều quốc gia trên thế giới, cùng với sự khảo nghiệm và so sánh đó, khi được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của Lênin (7/1920), đã đi đến một quyết định trọng đại – đó là đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, đến với con đường cách mạng vô sản, đến với cách mạng tháng Mười Nga và Quốc tế thứ ba do Lênin sáng lập. Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã không chỉ tìm được con đường cứu nước, cứu dân phù hợp quy luật của thời đại, mà còn trang bị cho mình một nhân sinh quan mới để định hình con đường phát triển cho một đất nước Việt Nam còn lạc hậu, kém phát triển, nhưng ở đó “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”.

Đây là quá trình khảo nghiệm, tiếp biến và vượt gộp của Hồ Chí Minh, khi thâu thái tinh hoa, tri thức của các nền văn minh nhân loại, để vừa sáng tạo, vừa độc lập vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam sau đó. Và trong quá trình đó, Người không chỉ thành công trong việc vận dụng một học thuyết, vốn có cơ sở thực tế từ xã hội phương Tây vào thực tiễn một nước thuộc địa, nửa phong kiến, chưa phát triển như Việt Nam, mà còn phát triển học thuyết Mác – Lênin lên một tầm cao mới, phù hợp với phần thế giới còn lại – đó là những nước chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, mà Việt Nam là một điển hình.

Vậy là, với quyết định đi sang “phương Tây”, với hành trình gần 30 năm lao động, học hỏi và hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đã có thời gian khám phá, chiêm nghiệm, để hiểu được thực chất của “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, của pháp quyền, dân chủ và mô hình tổ chức Nhà nước tư sản; của nhân quyền, pháp quyền, dân chủ, mô hình tổ chức Nhà nước Xô viết, và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo tinh thần của V.I.Lênin. Và sự lựa chọn đúng đắn của Hồ Chí Minh sau khi đã “trưng cất” những tinh hoa của nền văn minh Đông và Tây, TBCN và XHCN, nói giản dị như linh mục Nguyễn Bá Cần, đó là “Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn Mác- Lênin bởi vì không còn một sự lựa nào khác”, và còn hơn thế nữa “Nguyễn Ái Quốc đã trở thành cộng sản vì….Liên Xô và Đệ tam quốc tế đã chủ trương giải phóng các dân tộc bị áp bức như là một chặng đường cần thiết trong cuộc giải phóng toàn diện con người …Họ đã đơn độc tố cáo những tội ác của thực dân và Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn họ”[4]. Sự lựa chọn con đường cách mạng chính xác này sẽ giúp Người thực hiện hoài bão của mình, đó là giải phóng dân tộc mình, giải phóng “các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”- sự nghiệp giải phóng toàn diện loài người.

Người trở về tạo dựng, lãnh đạo của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam thắng lợi

Từ những tri thức tích luỹ được, tháng 11/1924, một Hồ Chí Minh thấu hiểu được nguồn sức mạnh nội lực “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”; với niềm tin cháy bỏng về một Tổ quốc Việt Nam được độc lập, nhân dân Việt Nam được tự do; với mong muốn đem lại hạnh phúc “cho tất cả mọi người” đã về đến Quảng Châu, Trung Quốc. Trên cơ sở những nguyên lý của học thuyết Mác-Lênin về xây dựng Đảng, Nhà nước, về phương pháp vận động quần chúng, tập dượt đấu tranh cách mạng được tích luỹ trong những năm tháng hoạt động của tuổi trẻ, Nguyễn Ái Quốc đã tận tâm, tận lực truyền giảng cho những thanh niên Việt Nam yêu nước, đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán đầu tiên, chuẩn bị những tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức, để xúc tiến cho sự ra đời của một chính Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.

Mở lớp huấn luyện chính trị, thành lập tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1925, sáng lập báo Thanh niên 6/1925, tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, về Đảng Cộng sản, về cách mạng tháng Mười Nga, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh đầu năm 1927.v.v, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đem đến cho những thanh niên Việt Nam yêu nước, những người chủ tương lai của nước nhà, những người cũng giống như cha anh mình phải sống trong thân phận nô lệ, một luồng sinh khí mới, một con đường cách mạng mới. Bằng khát vọng tuổi trẻ và kinh nghiệm của chính bản thân mình, Người muốn thức tỉnh thanh niên, truyền cho họ con đường cách mệnh, để đi tới thức tỉnh cả dân tộc – Đó là phương pháp cách mạng đúng đắn, thể hiện một tầm nhìn vĩ đại.

Từ những định hướng chính trị nêu trên, cùng với những hoạt động về lý luận và thực tiễn, Người và những người Việt Nam yêu nước từng học tập ở Quảng Châu đã ngày mỗi ngày, góp phần đưa tư tưởng của thời đại mới về Việt Nam, đưa đến sự chuyển biến về chất trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sau đó, khi các tổ chức cộng sản Việt Nam ra đời, khi nguy cơ phân liệt, mất đoàn kết, sự tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau của các tổ chức cộng sản đe dọa sự phát triển của phong trào cách mạng cả nước, Hồ Chí Minh đã quyết định viết thư mời, triệu tập, tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (từ 6/1-8/2/1930) tại Hương Cảng, và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập và rèn luyện, với đường lối cách mạng đúng đắn, nhân dân Việt Nam nồng nàn yêu nước, đoàn kết muôn người như một kiên cường đấu tranh cách mạng, sau 15 năm đấu tranh gian khổ, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã thành công. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời. Người dân Việt Nam đã từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập, tự do, với bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945.

Như vậy là, hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành cách đây tròn một thế kỷ đã trở thành sự thật. Từ một sự khởi đầu đúng đắn, với ý chí, quyết tâm và sự phấn đấu không mệt mỏi cho con đường mình đã chọn, Hồ Chí Minh – Người ra đi từ bến cảng Sài Gòn năm xưa đã tìm thấy con đường và lãnh đạo nhân dân Việt Nam đi đến độc lập và thống nhất, tự do và hạnh phúc, ngày một phát triển và bền vững.

Đồng thời, cũng từ một sự khởi đầu đúng đắn đó, kiên định con đường cách mạng do Người và Đảng ta đã chọn, 100 năm sau – một nước Việt Nam hồi sinh sau những năm dài chiến tranh ác liệt, đã chủ động hội nhập toàn diện cùng bạn bè quốc tế đang ngày một giàu mạnh và phồn vinh. Vì vậy mà, sẽ không ngạc nhiên khi mỗi người nhìn thấy trên bức tường “Những người làm nên thế kỷ 20″ (Ils ont fait le XX Siecle) ở thủ đô Pari của nước Pháp, có nụ cười của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giữa những trí tuệ, những tâm hồn lớn của thời đại chúng ta – thời đại mà, dù thế giới vẫn còn nhiều đổi thay, vẫn còn bạo ngược và lẫn lộn, nhưng luôn có cuộc đời Hồ Chí Minh, một con người Hồ Chí Minh đã biết khởi đầu đúng và đi tới đích. /.

Bài và ảnh: TS. Văn Thị Thanh Mai

[1]Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Sự Thật, Hà Nội 1975, tr.13
[2] Nguyễn Khánh Toàn: Tuyển tập, Nxb. KHXH, 1999, tr.34
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H,1996, t.1, tr. 266
[4] Song Thành: Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb. LLCT, H, 2005, tr.60 (theo Lý Chánh Trung, Nói chuyện với người đã khuất ,Tạp chí Đất nước, Sài Gòn, số 14, tháng 10/1969)

tuyengiao.vn

Advertisements