Những bài nói và viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân các ngày kỷ niệm thành lập Đảng ta

(TCTG) – Nhân kỷ niệm thành lập Đảng những năm 1949, 1960, 1963, 1964, 1965 Người đã có 7 bài viết và nói. Đáng kể còn có Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930, và một số bài khác đề cập đến việc thành lập Đảng. Trong đó phản ánh những quan điểm, tư tưởng quan trọng cần tìm hiểu.

 1. Về sự ra đời của Đảng:

Người phác hoạ hoàn cảnh xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp; sự cấu kết của giai cấp phong kiến với đế quốc để tiếp tục nô dịch nhân dân, sự trưởng thành của giai cấp công nhân, phong trào đấu tranh của quần chúng không ngừng phát triển đều bị thất bại. Trong mấy mươi năm khi chưa có Đảng, tình hình đen tối như không có đường ra. Vấn đề được nhấn mạnh là cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và Quốc tế Cộng sản được thành lập. Nhờ đó chủ nghĩa Mác – Lênin và ảnh hưởng của cách mạng Tháng Mười đã chọc thủng lưới sắt của thực dân Pháp để vào Việt Nam bằng hai nhân tố. Một là, người cộng sản Đông Dương đầu tiên tham gia Đảng Cộng sản Pháp trực tiếp thực hiện – đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hai là, lúc đầu nhờ sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Pháp. Từ vấn đề dân tộc và vấn đề thời đại đó Người đi đến khẳng định:

“ Ngọn đuốc Mác – Lênin và kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[1].

Các sự kiện thành lập Đảng được lần lượt nhắc đến những nét chủ yếu: Năm 1925 Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên được thành lập ở Quảng Châu. Năm 1929 Đại hội được tổ chức ở Hương Cảng, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi vắng, Đại biểu Bắc kỳ đề nghị tổ chức Đảng Cộng sản, bị gạt đi nên bỏ hội nghị ra về. Sau đó ba nhóm cộng sản dần dần được thành lập. Cả ba nhóm ngầm hiểu một nước mà có ba Đảng Cộng sản là sai. Cả ba đều tìm cách thống nhất, nhưng do bệnh hẹp hòi và cách làm không khéo nên càng muốn gần nhau lại càng xa nhau. Họ sử dụng nhiều nghị lực và thời gian để đấu tranh nội bộ và bè phái. Từ Xiêm về Trung Quốc, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, có đủ quyền quyết định mọi vấn đề của cách mạng Đông Dương, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập đại biểu 2 nhóm cộng sản là: Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đến Hương Cảng để họp, ngày 6-1-1930. Các đại biểu giả đi xem đá bóng, ngồi ở sân cỏ để bàn bạc. Sau những ý kiến sôi nổi và lời giải thích của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, các đại biểu đã đồng ý thống nhất ba nhóm thành một đảng. Đảng được thành lập. Báo cáo lên Quốc tế Cộng sản Người viết: Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên là quả trứng, từ đó nở ra con chim non cộng sản.

Những vấn đề nói trên cho thấy:

– Người sớm kết hợp vấn đề dân tộc với vấn đề thời đại, khai thác những nhân tố cơ bản của thời đại cho cách mạng Việt Nam, mặc dầu thời đại mới chỉ mở đầu chưa lâu, còn nhiều trở ngại.

– Hội nghị hợp nhất gồm đại biểu 2 tổ chức cộng sản nhưng đã bàn thống nhất cả 3 nhóm, đã có quá trình hiểu nhau, nên chỉ sau thời gian ngắn, ngày 24-2-1930, Trung ương lâm thời đã chấp nhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.

– Nguyễn Ái Quốc đã chọn đúng thời gian, đúng địa điểm để tổ chức Hội nghị an toàn, ngăn chặn tình trạng các nhóm cộng sản “ngày càng xa nhau ra”, không đợi chỉ đạo của quốc tế cộng sản, cũng không tổ chức Hội nghị trong nước như Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã thành lập, cũng không ở nước nào khác, nơi nào khác ngoài Hương Cảng.

2. Tố chất của Đảng khi mới thành lập và ý nghĩa lịch sử của nó.

Theo Người, Đảng ta có những tố chất cách mạng và khoa học ngay khi mới thành lập:

– Đó là Đảng Mác – Lênin chân chính của những người yêu nước Việt Nam. Người cho biết, sau cách mạng Tháng Mười Nga những người Việt Nam yêu nước đã hấp thụ lý luận vĩ đại của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Chủ nghĩa Mác – Lênin được Người nhấn mạnh nhất, nhắc đến nhiều nhất và được coi trọng nhất. Người viết: “ngọn đuốc Mác – Lênin”, chủ nghĩa Mác – Lênin tất thắng”, “vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin” và tự hào xưng danh: “Đảng Mác – Lênin của chúng tôi” với người nước bạn…

– Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong, là bộ tham mưu của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng đại diện cho lợi ích của dân tộc và giai cấp, đảng viên đều hy sinh tận tuỵ không bờ bến để lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp.

– Từ ngày mới ra đời, Đảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng với đường lối chính sách đúng đắn, màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta giành thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế, phản phong. Đó là nhờ Đảng vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin và đi đúng đường lối quần chúng.

– Đảng đoàn kết nhất trí, được tổ chức tốt nhất và hoạt động mạnh mẽ nhất trong tất cả các lực lượng bấy giờ ở nước ta, nên vai trò lãnh đạo hoàn toàn vào tay giai cấp vô sản. Đảng đưa nhân dân ta vượt qua mọi gian khổ khó khăn để đi đến thắng lợi.

– Dù còn non trẻ, nhỏ bé nhưng Đảng ta là con nòi; vì xuất thân từ giai cấp lao động, trong đại gia đình vô sản quốc tế rực rỡ dưới ngọn cờ Mác – Lênin, có những người anh em vĩ đại như Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Pháp và các Đảng anh em khác. Vì thế Đảng kết tinh được sức mạnh tổng hợp của giống nòi ngay từ khi ra đời.

Những tố chất trên được Người đúc kết thành thơ:

“Đảng ta là đạo đức là văn minh

Là thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no”[2]

Những tố chất ấy cho thấy ý nghĩa to lớn về sự ra đời của Đảng. Người nêu rõ:

1. “Chu nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930”[3]

2. “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”[4].

3. Đảng ta vững mạnh ngay từ khi mới thành lập. Vì nó là tất yếu của nhân tố dân tộc và nhân tố thời đại kết hợp chặt chẽ là kết quả kết hợp chủ nghĩa yêu nước và Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Những vấn đề nêu trên cho thấy:

Thành lập Đảng Cộng sản ở một nước thuộc địa khó khăn hơn nhiều so với ở các nước tư bản. Tạo thành Đảng Mác – Lênin chân chính và vững mạnh ngay từ đầu lại còn khó khăn hơn nữa. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời như thế. Đó là công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ Chí Minh, đồng thời bản chất cách mạng vốn có của dân tộc Việt Nam được “trưng bày” rõ rệt.

Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác – Lênin ở nước ta. Đây là thắng lợi của cuộc cách mạng tư tưởng lớn, lại là thắng lợi kép: thắng lợi của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Thắng lợi này còn được thể hiện bằng một tổ chức cách mạng chiếm ưu thế ngay trong phong trào cứu nước của dân tộc. Những điều đó chưa hề có trong lịch sử tư tưởng Việt Nam…

3. Nhiệm vụ cơ bản sau khi ra đời.

Sau khi thành lập Đảng liền lãnh đạo giai cấp vô sản và nhân dân ta tiến hành cách mạng. Trước hết là cuộc khởi nghĩa ở Nghệ Tĩnh. 15 tuổi lãnh đạo cách mạng Tháng Tám thành công, 17 tuổi lãnh đạo kháng chiến và 24 tuổi kháng chiến thắng lợi. Hoà bình lập lại Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềm Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.

Người khẳng định rằng cách mạng tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác do 3 nguyên nhân:

Đó là Đảng xứng đáng với danh hiệu của mình trong lãnh đạo nhân dân đấu tranh.

Có lực lượng quần chúng phấn đấu, hy sinh và phát huy trí thông minh sáng tạo, nhất là công nhân, nông dân và trí thức.

Được sự đồng tình và ủng hộ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới nhất là nhân dân các nước XHCN anh em.

Năm 1960, Người đã nêu 4 kinh nghiệm lịch sử đấu tranh của Đảng:

Một là, Đảng luôn luôn đứng vững lập trường giai cấp vô sản, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp, của nhân dân, biết vận dụng sáng tạo lý luận Mác – Lênin để đề ra đường lối, chính sách đúng đắn. Đảng không ngừng đấu tranh chống các khuynh hướng sai lầm trong xã hội và trong Đảng. Nhờ đó Đảng nắm được quyền lãnh đạo trên cả nước và trên mọi lĩnh vực.

Hai là, Chủ nghĩa Mác – Lênin giúp Đảng ta thấy rõ rằng trong một nước nông nghiệp lạc hậu thì vấn đề dân tộc thực chất là vấn đề nông dân. Đảng ta đã giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân nên củng cố được liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo, nhờ đó cách mạng tiến mạnh không ngừng.

Ba là, Đảng ta khéo tập hợp mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Để đoàn kết dân tộc cần đấu tranh chống hai khuynh hướng: cô độc hẹp hòi và đoàn kết một chiều, nhờ đó vai trò lãnh đạo của Đảng trong Mặt trận dân tộc thống nhất mới được bảo đảm, nền tảng công nông của Mặt trận mới được vững chắc, tính chất rộng rãi của Mặt trận mới được phát huy đầy đủ.

Bốn là, chính vì biết kết hợp phong trào cách mạng nước ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức mà Đảng ta đã vượt qua mọi khó khăn, đưa cách mạng nước ta đến thắng lợi.

Từ những vấn đề đó Người không ngần ngại khi viết:

“Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng, Đảng ta thật vĩ đại”[5].

Bàn đến nhiệm vụ đang thực hiện, Người nhắc nhủ chúng ta phải nhớ công ơn Đảng. Tâm niệm về điều đó, Người đã 4 lần làm thơ nhân kỷ niệm ngày thành lập Đảng (30 năm, 33 năm, 34 năm, 35 năm):

“Đảng ta vĩ đại như biển rộng như núi cao,

Ba mươi năm phấn đấu biết bao nhiêu tình.

Đảng ta là đạo đức, là văn minh,

Là thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no.

Công ơn Đảng thật là to,

Ba mươi năm lịch sử Đảng là cả một pho lịch sử bằng vàng”[6]

Người căn dặn phải nhớ ơn các liệt sỹ đã hy sinh cho Tổ quốc, cho Đảng; không được chủ quan dù thắng lợi đã to lớn, vì bên cạnh thắng lợi Đảng cũng có khuyết điểm, cách mạng cũng còn nhiều khó khăn phức tạp. Thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ, thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều. Vì vậy phải xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh, đảng viên phải không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, nghiệp vụ và đạo đức, phải nghiêm khắc phê bình và thật thà sửa chữa khuyết điểm.

4. Mấy vấn đề thu hoạch.

– Những bài viết đã nêu thể hiện quan điểm: “nhìn lại những đoạn đường dài đã qua, rút ra những kinh nghiệm quí báu và ấn định đúng đắn những nhiệm vụ cách mạng hiện nay và sắp tới để giành lấy những thắng lợi to lớn hơn nữa, vẻ vang hơn nữa”[7]. Đó là một nhân tố quan trọng giúp Đảng rút ngắn thời gian, tiết kiệm công sức, nâng cao hiệu quả trong các công việc lãnh đạo của mình. Người cho thấy lịch sử là chuyện đã qua nhưng hình ảnh của nó luôn luôn sống cùng hiện tại và tương lai của dân tộc. Không mấy ai coi nhẹ lịch sử nhưng cũng không mấy ai học được và vận dụng tốt kinh nghiệm lịch sử. Nhận thức đúng lịch sử đã khó vận dụng thành công bài học lịch sử càng khó hơn. Vì vậy Người muốn giáo dục chúng ta điều đó nhân những ngày kỷ niệm quan trọng của lịch sử.

– Kỷ niệm ngày thành lập Đảng là cơ hội để nâng cao nhận thức tư tưởng, lý luận cho cán bộ, đảng viên. Chủ ý của Người là làm rõ những nguyên nhân thắng lợi và kinh nghiệm cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng nhằm nâng cao trình độ lý luận và năng lực công tác của cán bộ, đảng viên. Sự lãnh đạo của Đảng phải bao trùm cả nước và phải gần gũi tận trong lòng mỗi người dân. Đảng phải lo tính việc lớn như biến đổi nền kinh tế và văn hoá lạc hậu thành tiên tiến đồng thời lo cả những việc nhỏ như tương cà mắm muối cho đời sống hàng ngày của dân. Đó cũng là lý luận tổng quát về vai trò và trách nhiệm của Đảng trong cách mạng XHCN bằng nêu công việc cụ thể. Nội dung và phương pháp rèn luyện của đảng viên cũng được Người quan tâm đặc biệt.

Nhìn chung, điều đọng lại trong mỗi cán bộ, đảng viên sau khi đọc những bài viết kể trên là nâng cao lòng tự hào về Đảng, về dân tộc, nâng cao ý thức trách nhiệm bản thân và thúc đẩy năng lực tư duy về con đường thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

– Lịch sử Đảng ta được Người đánh giá “là cả một pho lịch sử bằng vàng”. Người đã xác định rõ những sự kiện cốt yếu và bản chất của việc thành lập Đảng. Tư tưởng và lý luận đúc kết từ lịch sử ấy có giá trị rộng lớn và trở thành kinh điển của khoa học lịch sử Đảng. Các công trình khoa học lịch sử về thời ký này của giới sử học đã làm phong phú nhiều sự kiện và hiệu quả tư tưởng của nó đều phải dựa trên cơ sở đó.

Những vấn đề Người nói và viết về sự ra đời của Đảng không chỉ với tư cách một nhân chứng lịch sử hiếm hoi mà còn với tư cách một nhà cách mạng kiệt xuất đã trực tiếp quyết định bước ngoặt lịch sử vô cùng quan trọng ấy nên không ai có thể vượt qua, càng không thể xuyên tạc được.


[1] Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh toàn tập, xuất bản lần thứ hai ,CTQG. 1996, Tập 9, Tr.314.
[2] Bài nói tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng. Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản lấn thứ hai. CTQG. 1996, tập 10, tr.5
[3] Ba mươi năm hoạt động của Đảng, Sđd, tr.8
[4] Ba mươi năm hoạt động của Đảng, Sđd, tr.8
[5] Ba mươi năm hoạt động của Đảng Hồ Chí Minh toàn tập, xuất bản lần thứ hai, CTQG. 1996, T.10, tr.2
[6] Sđd, tr.5
[7] Sđd, tr.7

PGS. Lê Thế Lạng

tuyengiao.vn

Advertisements