Hồ Chí Minh với nền hành chính dân chủ cộng hoà

(ĐCSVN) – Hồ Chí Minh có ý thức từ rất sớm và rất sâu sắc về việc xây dựng một nền hành chính mới của chính thể dân chủ cộng hoà. Người đã sử dụng các biện pháp khoa học và hiệu quả để xây dựng một nền hành chính mới. Theo đó, nhiều quan niệm, nguyên lý đã định hình và đến nay còn nguyên giá trị với sự nghiệp cải cách hành chính nước ta hiện nay.

134.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh với những thành viên của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Ảnh: Tuấn Anh)

1. Xây dựng nền hành chính công vụ vì dân, khoa học

65 năm trước đây, trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta đã đánh đổ xiềng xích thực dân gần 100 năm để xây dựng nên Nhà nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ cộng hòa”[1]. Bản chất của chế độ mới là dân chủ, cộng hòa. “Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta.”[2] Chế độ ấy đã tạo ra và đòi hỏi một nền hành chính mới với chất lượng, tổ chức hoạt động và bộ máy nhân sự khác về chất so với trước đây.

Hồ Chí Minh rất coi trọng và quan tâm xây dựng nhà nước pháp quyền hợp pháp – hợp hiến với nền hành chính công vụ vì dân và khoa học. Đây chính là những công cụ đảm bảo cho tính chất của dân, do dân, vì dân của nền dân chủ, cộng hòa. Người đã quan tâm cả hai mặt: tổ chức các thiết chế của bộ máy nhà nước và ban hành các thể chế (hiến pháp và pháp luật) tạo cơ sở pháp lý và khoa học để tổ chức “một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”. Đó là một Nhà nước có cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động thích hợp với điều kiện lịch sử Việt Nam đương thời, mang tính khoa học về chính trị học, xã hội học, luật học và khoa học tổ chức hành chính.

Ngay từ khi còn đi tìm đường cứu nước, năm 1919, Nguyễn Ái Quốc thay mặt những người yêu nước Việt Nam trong yêu sách 8 điểm gửi tới Hội nghị Véc-xây đã yêu cầu cải cách pháp luật ở Đông Dương để người bản xứ được bảo đảm về luật pháp như người châu Âu. Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ tư tưởng: “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Ngay từ trước Cách mạng tháng Tám 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, Hồ Chí Minh đã chủ trương “thành lập chính quyền cách mạng” ở các căn cứ địa, các khu giải phóng lúc bấy giờ. Đến đầu tháng Tám 1945, mặc dù tình hình rất khẩn trương, Người đã kiên quyết triệu tập Đại hội quốc dân ở Tân Trào, cử ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam – một tổ chức “tiền chính phủ” để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu lực quản lý của chính quyền mới.

Trong Đường cách mệnh (1927) Người đã quan niệm rằng: “…làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ” [3].

Với tư cách là người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ, Trưởng ban soạn thảo Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy trí tuệ của Đảng, toàn dân cùng với Quốc hội được bầu ra ngày 6-1-1946, soạn thảo bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Trong hoàn cảnh “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, việc thông qua Hiến pháp là thành quả to lớn của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta.

Những quy định của Hiến pháp 1946 về tổ chức bộ máy nhà nước từ Quốc hội, Chính phủ đến Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp, về cơ quan tư pháp đều chứa đựng sâu sắc bản chất của một nhà nước pháp quyền kiểu mới, của dân, do dân và vì dân. Hiến pháp 1946 khẳng định: Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam. Đó là sự hiện thực hóa, pháp chế hóa chế độ dân chủ, cộng hoà. Nhà nước của dân và do dân nghĩa là nhân dân xây dựng, củng cố, bảo vệ chính quyền nhà nước, coi chính quyền là ruột thịt của mình. Nhà nước vì dân nghĩa là nhà nước mưu cầu quyền lợi, hạnh phúc cho nhân dân.

Khác với thuyết “Pháp trị” trong xã hội phong kiến coi pháp luật là công cụ bảo vệ lợi ích của thiểu số cầm quyền; khác với lý luận pháp quyền của xã hội tư sản coi pháp luật là công cụ duy lý chặt chẽ và vô tình để quản lý sao cho có lợi cho giai cấp tư sản, quan điểm về pháp luật của chế độ mới theo Hồ Chí Minh luôn xoay quanh vấn đề xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đồng thời hình thành pháp luật phục vụ cho quyền lợi của nhân dân. Nhân dân vừa là chủ thể quyền lực vừa là người được pháp luật bênh vực bảo vệ và theo đó, tính tích cực chính trị của công dân có vai trò rất quan trọng. Người cũng nhấn mạnh rằng, để Hiến pháp và pháp luật đảm bảo tính khách quan, phù hợp và phản ánh đúng đắn ý chí, nguyện vọng của nhân dân, Nhà nước phải thực hiện trưng cầu ý dân. Hồ Chí Minh là người đã nhiều lần kêu gọi nhân dân “ủng hộ chính phủ”, “giúp đỡ chính phủ” trong công việc hay “tìm người có tài đức” cho bộ máy nhân sự. Có lẽ đây là điểm khác biệt lớn nhất của chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa so với các nền dân chủ đương thời.

Nền hành chính dân chủ cộng hòa theo Hồ Chí Minh còn là nền công vụ “chú trọng thực tế và nỗ lực làm việc”.

Cái thực tế mà Hồ Chí Minh quan tâm đầu tiên (và cũng chính là ham muốn tột bậc của Người) là độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân. Trong cuộc họp đầu tiên của Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc sau tháng 8 năm 1945, Người nêu rõ mục tiêu của Nhà nước là: “1. Làm cho dân có ăn; 2. Làm cho dân có mặc; 3. Làm cho dân có chỗ ở; 4. Làm cho dân có học hành”. Người còn nói: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ.” [4] Bởi vậy hoạt động của nền hành chính nhà nước trước hết phải phục vụ cho “độc lập – tự do – hạnh phúc”. Chính Người đã chọn tiêu ngữ ấy cho mọi văn bản hành chính của chế độ dân chủ cộng hòa.

Trách nhiệm lo hạnh phúc cho dân là trách nhiệm rất quan trọng của nền hành chính dân chủ cộng hòa. “Chính sách của Đảng và Chính phủ phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân, nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi.”[5]

Người nêu quan niệm về nền hành chính mới: “Hành chính: Chính phủ dân chủ cộng hòa là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. Nhưng khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp chính phủ. Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, nhưng không phải là chửi.”[6]

Thực tế ấy còn là sự nghiệp “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, là kế thừa được những giá trị truyền thống dân tộc và những thành tựu tổ chức nhà nước của các nước tiên tiến để tổ chức một bộ máy nhà nước pháp quyền phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Tinh thần thực tế còn là biết điều chỉnh khi hoàn cảnh đã thay đổi. Khi trực tiếp chủ trì và chỉ đạo việc sửa đổi Hiến pháp năm 1946, Hồ Chí Minh khẳng định rằng, đó là bản “Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước ta, thích hợp với tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ đó. Nó đã hoàn thành sứ mệnh của nó. Nhưng so với tình hình mới và nhiệm vụ cách mạng mới hiện nay thì nó không thích hợp nữa. Vì vậy mà chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp ấy”.

2. Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về nền hành chính mới

Hồ Chí Minh – người đặt nền móng cho nền hành chính Việt Nam hiện đại

Trước tiên là trên một quan niệm và triết lý tiên tiến, khoa học để xây dựng nền hành chính quốc gia theo chính thể dân chủ, cộng hòa. Có thể thấy rất rõ dấu ấn của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong việc Hồ Chí Minh lựa chọn mô hình, tổ chức, phương pháp vận hành nền hành chính mới. Nhu cầu của thực tiễn kháng chiến kiến quốc, phát triển sức sản xuất và chăm lo đời sống nhân dân…luôn được quán triệt sâu sắc trong qúa trình xây dựng nhà nước mới. Và công cuộc xây dựng nền hành chính mới cũng trước tiên phải phục vụ cho sự nghiệp “kháng chiến, kiến quốc” và xây dựng CNXH.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về một nền hành chính của dân, do dân, vì dân vừa mới mẻ vừa phản ánh đúng quy luật phát triển dân chủ. Nền hành chính gần dân, vì dân và có bổn phận “đem chính trị vào ở giữa dân gian” đã là một hiện thực của chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đó là nền hành chính làm công cụ đắc lực cho một nhà nước pháp quyền XHCN. Đó là nền hành chính ngay từ đầu tiên đã cương quyết chống lại những biểu hiện của các căn bệnh được coi là “mãn tính” của nhà nước như quan liêu, xa dân, cồng kềnh, giấy tờ và xa thực tiễn. Đó là nền hành chính vì dân và, trên nhiều lĩnh vực, được chính người dân bổ sung, điều chỉnh, giúp đỡ …

Từ khá sớm, trong bề bộn của công việc “kháng chiến, kiến quốc”, nhiều tiêu chí căn bản của công chức và công vụ của chế độ mới đã được Hồ Chí Minh xác lập với những quan điểm rất khoa học – cách mạng và chỉ dẫn rất chi tiết về phẩm chất, năng lực của công chức và tổ chức, hoạt động của bộ máy hành chính.

Các tư tưởng và biện pháp mà Hồ Chí Minh thực hiện trong quá trình xây dựng nền hành chính mang tính định hướng cho cải cách hành chính hiện nay.

Rất nhiều nguyên tắc do Hồ Chí Minh quy định hiện nay vẫn còn nguyên giá trị. Chẳng hạn nguyên tắc pháp quyền dân chủ, nguyên tắc “những gì có lợi cho dân phải hết sức làm, những gì có hại cho dân phải hết sức tránh”; nguyên tắc “vì việc mà tìm người chứ không vì người mà đặt việc”; nguyên tắc “xây dựng một nhà nước ít tốn kém”; xây dựng một nền hành chính gần dân, vì dân và gọn nhẹ (Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa 1946 chỉ có 10 Bộ)

Tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh về xây dựng nền hành chính cũng rất nhiều độc đáo. Bên cạnh việc chỉ ra sự khác biệt về bản chất của nhà nước và nền hành chính khi so sánh với các nền hành chính đương thời, Người thấy được sự bất công của nền hành chính thực dân nhưng cũng thấy được những yếu tố hợp lý của nhà nước pháp quyền để kế thừa. Một số thao tác của quản lý truyền thống hoặc của nền hành chính nước ngoài có tính hợp lý cũng được Hồ Chí Minh kế thừa, chẳng hạn “chỉ thị tìm người tài đức”; phát huy dân chủ để chọn đúng người cho công việc kết hợp với thi tuyển để lựa chọn công chức; đề cao sự giám sát của nhân dân kết hợp với chế độ trách nhiệm và tính nêu gương của người lãnh đạo; thực hiện chế độ quản lí cán bộ – công chức…

Khá nhiều trí thức, công chức của chế độ cũ đã được Hồ Chí Minh “đắc nhân tâm”, sử dụng và họ đã tận hiến cho chế độ mới. Chẳng hạn, Giáo sư Vũ Đình Hoè đã hoàn thành sự uỷ thác của Hồ Chủ tịch, củng cố Bộ Tư pháp, xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp từ trung ương đến địa phương, đắc lực giúp Người đặt nền móng cho Nhà nước pháp quyền trong suốt 14 năm (1946 – 1960). Là người đứng đầu Bộ, ông đã kiên trì nguyên tắc “tư pháp nhân dân” và “tư pháp độc lập với hành chính” được ghi trong Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh chúng ta còn có thể thấy sự kế thừa khá nhiều nguyên lý của khoa học pháp quyền hiện đại và kinh nghiệm pháp lý – hành chính của nhiều quốc gia đương đại có nền hành chính pháp quyền, dân chủ. Hồ Chí Minh đã kế thừa hợp lý những kinh nghiệm thực tiễn và lý luận ấy nhưng không hề xa rời thực tiễn Việt Nam. Luật gia Vũ Đình Hoè – nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã nhận xét về qúa trình Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng thể chế và thiết chế hành chính cho nền dân chủ cộng hòa lúc đó rằng: “Người có một tư duy pháp lý nhạy bén tuỵệt vời, gần như thiên bẩm, thấu hiểu và thi hành một cách sáng tạo lý luận và thực tiễn chế độ pháp quyền của thời đại và của thế giới văn minh. Với quan điểm rất mới về nhà nước và pháp quyền, Người xây dựng chính quyền nhân dân trên đất Việt Nam ngàn năm văn hiến, vừa thoát vòng nô lệ của phương Tây”[7]

Từ những nền móng đồ sộ và rất căn bản ấy, Nhà nước Việt Nam dân chủ công hòa non trẻ cùng nền hành chính của mình đã hoàn thành trách nhiệm lịch sử của mình với quốc gia, trong sự nghiệp lãnh đạo cả dân tộc kháng chiến, kiến quốc xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa thành công và lãnh đạo đất nước trong suốt sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Những thành tựu lịch sử, to lớn của nền dân chủ cộng hòa không tách rời những tư tưởng rất khoa học và đầy đủ của Hồ Chí Minh về công vụ, công chức và nền hành chính mới mà chính Người đã dày công xây đắp.

3. Những việc cần làm để tiếp tục vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về công vụ, công chức trong cải cách hành chính hiện nay.

Giữ vững tính chất XHCN, của dân, do dân, vì dân của nền hành chính pháp quyền nước ta.

Cải cách hành chính (CCHC) là để góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; phát huy vai trò tham gia quản lý, tư vấn, giám sát và phản biện…của các tổ chức quần chúng với những quyết sách của nhà nước; là để cải thiện quan hệ giữa cơ quan, công chức nhà nước với công dân ở một số lĩnh vực hành chính công theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ trên cơ sở bình đẳng, song vụ giữa quyền và nghĩa vụ của hai bên.

Hồ Chí Minh đã nêu cao tinh thần thực tế và gần dân của Chính phủ. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân; nó có thể tiếp thu những yếu tố công năng – kỹ thuật của văn minh pháp quyền đương đại, nhưng cần lọc bỏ những yếu tố không phù hợp với tính chất và mục tiêu của chế độ XHCN mà toàn Đảng toàn Dân ta đang phấn đấu. Theo đó, mục tiêu của CCHC ở nước ta cũng là một trong những thao tác thực tiễn để định hướng XHCN.

Kiện toàn hệ thống chính trị để hỗ trợ cho cải cách hành chính

CCHC trước hết phải hướng tới giữ vững chế độ dân chủ XHCN. Nó phải hướng tới việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ phận trụ cột của nền dân chủ là Nhà nước. Cải cách và hoàn thiện nền hành chính nhà nước gắn liền với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và nền hành chính, nhằm giữ vững bản chất GCCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Các chủ trương, giải pháp cải cách hành chính phải gắn liền chặt chẽ với quá trình đổi mới kinh tế, yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, hình thành và hoàn thiện các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững trật tự, kỷ cương trong các hoạt động kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân…

Đẩy mạnh thể chế hóa công vụ và thực hiện nghiêm Luật công chức

CCHC và thể chế hóa công vụ, thực hiện nghiêm chỉnh Luật Công chức hiện nay thực chất là để cho nền hành chính công, công chức và công vụ của nước ta trước hết thực sự trở thành “công bộc, đày tớ của nhân dân”. Mục tiêu cụ thể là phải tạo ra được những thiết chế, bộ máy, nhân lực và phương thức quản lý để xây dựng chế độ dân chủ XHCN, để “chính quyền và công chức “thực sự là công bộc của dân”. Bình đẳng giữa quyền và nghĩa vụ giữa nhà nước và công dân; hiện đại hóa và khoa học hóa nền công vụ, khắc phục tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ lạm dụng, lợi dụng quyền lực nhà nước để mưu lợi riêng… Đó là những bước tiến cơ bản của việc cải cách bộ máy nhà nước, chuyển từ một bộ máy thiên về thống trị, kiểm soát, điều hành… thành một bộ máy phục vụ xã hội, một nền hành chính “thật sự của dân, do dân và vì dân”.

Tiếp tục thực hiện các cơ chế mới (chẳng hạn cơ chế “một cửa”) để đảm bảo công khai hoá, minh bạch hoá các thủ tục hành chính, chống phiền hà và mất thời gian của nhân dân khi tới cơ quan nhà nước, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức đối với dân để góp phần đổi mới mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân. Việc làm này giúp cho cán bộ – công chức nhà nước thật sự trở thành những đầy tớ mẫn cán, thạo việc, công tâm bởi luôn được minh bạch hoá công việc và phẩm chất. Nó cũng giúp cho dư luận xã hội được lành mạnh hoá: làm cán bộ là làm việc cho dân, làm người chân chính chứ “không phải là con đường thăng quan phát tài”; cán bộ là công bộc chứ không phải là nhóm xã hội được hưởng đặc quyền. Nó cũng góp phần điều chỉnh những lệch chuẩn, sai lệch giá trị xã hội đang xuất hiện ngay cả trong cơ quan nhà nước.

Công khai, minh bạch và tăng cường sự giám sát hoạt động hành chính công hiển nhiên là giải pháp tất yếu để khắc phục những vấn đề của hiện trạng hành chính nước ta. Tăng cường tính chuyên môn và đạo đức của người công chức và tính nêu gương của cán bộ lãnh đạo cũng là một trong những khâu rất quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp CCHC./.

[1] Hồ Chí Minh – Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 tập 4, tr.11
[2] Hồ Chí Minh – Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.160
[3] Hồ Chí Minh : Sđd, tập 4, tr. 8
[4] Hồ Chí Minh, Sdd, tập 7, tr. 274
[5] Hồ Chí Minh, Sdd, Tập 7, tr. 572-574.
[6] Hồ Chí Minh, Sdd; NXBCTQG. 1995, Tập 5, tr.60.
[7] Hồi ký Vũ Đình Hoè, NXB Hội Nhà văn. 2004 tr. 701.

PGS. TS Nguyễn An Ninh

hochiminhhoc.com

Advertisements