Bác đến thăm Văn Miếu

Tôi nhớ mãi chiều tết nguyên đán năm Nhâm Dậu (ngày 5 tháng 2 năm 1962) một ngày nắng ấm đẹp nhất của những ngày tết ở thủ đô ta.

Khoảng 11 giờ trưa, tôi vừa xuất hành sang Văn Miếu về được mấy phút thì có tiếng gõ cửa.

Tôi ra đón: người đầu tiên đến xông nhà tôi năm ấy lại là một đồng chí công an chưa hề quen biết. Sau những  lời chúc mừng theo phong tục của chủ và khách, câu chuyện đầu xuân bên chén trà thơm trở nên thân mật, xoay quanh nội dung chương trình văn nghệ tại Văn Miếu sẽ khai mạc vào mười bốn giờ. Đồng chí công an nói nhỏ, báo trước một tin vui là trung ương sẽ đến dự, rồi bắt tay tôi ra về.

Tôi thầm nghĩ miên man. Biết đâu đấy, Bác sẽ đến cũng nên. Tôi đoán rằng Bác thấy báo đăng tại Văn Miếu có ngâm thơ và hát ca trù mừng Đảng mừng xuân mà Bác thì chắc chắn chưa được nghe hát ca trù thì khi thiếu thời Bác ở Huế và Sài Gòn là những nơi không có ả đào, nay Bác sẽ đến Văn Miếu để chúc tế đồng bào và thưởng thức di sản tinh thần dân tộc độc đáo này đây. Và tôi cứ khấp khởi mừng thầm điều mình vừa dự đoán.

Mới hơn 13 giờ một chút, các nghệ nhân, diễn viên và nhạc công đã có mặt đông đủ tại phòng khách đặt trong hai gian của dãy Hữu vụ. Sau lời chúc tết, tôi báo tin vui đột xuất và yêu càu mọi người sẽ biểu diễn hết sức mình cho

thật kết quả trước Trung ương Đảng. Ai nấy đều phấn khởi, nét mặt rạng rỡ thêm. Như linh tính báo, tôi ra Khuê Văn Các đón.

Một lát sau, có tiếng còi ô tô. Tôi ngoảnh nhìn, chạy vội ra thì thấy Bác, đúng Bác rồi. Chao ôi sung sướng! Bác đương ung dung bước qua cổng lớn, bước chân thoăn thoắt đi giữa hai hàng hoa tươi vào cửa Đại Trung.

– Bác, Bác ạ! – Tôi xúc động chào Bác không rõ lời và đi theo sau chân Bác, bên cạnh đồng chí bảo vệ. Đằng sau có mấy cháu nhỏ lon ton chạy theo vui vẻ lạ thường. Qua gác Khuê Văn, vòng một bên giếng Thiên Quang, Bác hỏi có bao nhiêu bia, dựng từ bao giờ?

– Thưa Bác, bia dựng từ năm Hồng Đức thứ 15 (1984) còn 82 tấm bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ trở lên. Đáng lẽ ra phải có 116 bia, vì mỗi khoa thì dựng một bia. Các bia này có khắc tên nhiều danh nhân lịch sử như Ngô Sĩ Liên, Lương Thế Vinh, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Thậm…

Bác dừng lại nhìn bao quát cả hai dãy bia một lượt rồi bước qua cửa Đại Thành vào khu chính tẩm có nhà Đại Bái và Hậu Cung.

Khi Bác bước xuống sân Văn Miếu, các cụ phụ lão và nhân dân đương ngồi các dãy ghế sát thềm Bái Dương mới biết Bác đến; tất cả mọi người đứng dạy ùa ra đón Bác, tíu tít vây quanh  Bác, mừng vui khôn xiết.

Bác vẫy tay mời các cụ phụ lão và đồng bào cùng ngồi.

Bác nhìn khắp lượt, ra hiệu cho các cháu thiếu nhi cũng ngồi xuống.

Tôi kính cẩn đưa Bác bản chương trình các tiết mục ngâm thơ và hát ca trù mừng Bác, mừng Đảng, mừng xuân mới, có ghi rõ nghệ nhân Nguyễn Thị Phúc gần 60 tuổi, Quách Thị Hồ ngoài 50 và giới thiệu với Bác hai bà đang ngồi gần

micrô, Bác gật gù tán thưởng. Tôi liếc nhìn hai bà thật xúc động được vinh dự đặc biệt, lần đầu tiên trong đời hát trực tiếp cho Bác nghe.

Ông Vũ Đình Khoa, Phó Giám đốc Sở Văn hóa Hà Nội điều khiển chương trình biểu diễn.

Các nghệ nhân hào hứng vô cùng, diễn xuất đạt hơn hẳn mọi lần trước.

Đến tiết mục thứ 6, hay thứ 7 gì đó, sau khi ông Khoa vừa dứt lời giới thiệu “Bà Hồ hát ca trù” thì Bác giơ tay đính chính một cách rất vui và dí dỏm “Phải nói rõ thế này cho đúng: “Bà Quách Thị Hồ hát ca trù” kẻo các cụ phụ lão cười cho. Bác Hồ đã không có vợ thì lấy đâu ra Bác gái”.

Mọi người cười sảng khoái, phục tài Bác ứng xử, rất mau lẹ, sắc sảo, và thoải mái hồn nhiên. Hôm ấy Bác rất vui, ngồi xem từ đầu đến cuối. Trước khi đứng lên, Bác còn ứng khẩu hiệu độc hai câu thơ tặng các cụ phụ lão Thủ đô:

“Tuổi già nhưng chí không già

Góp phần xây dựng nước nhà phồn vinh”

Sau đó Bác còn đi xem mấy di vật quý giá trong Bái Đường như bức hoành phi “Cổ kim nhật nguyệt” và quả chuông Bí chung có khắc tên Nguyễn Nghiễm (thân phụ thi hào Nguyễn Du) và cái trắc tải bằng gỗ chạm trổ rất tinh vi, mặt trước có năm chữ Hán xếp chéo nhau, đọc thành “chiêm tại tiền, hốt tại hậu” (nhìn thấy đằng trước, thoắt ra đằng sau), mặt sau cũng có năm chữ Hán xếp chéo nhau “ngưỡng di cao, toản di kiên” (ngửa trông càng cao, càng mài càng rắn).

Rồi Bác ung dung sang cổng bên, phía phố Văn Miếu, lên xe về Phủ Chủ tịch, như minh họa ý nghĩa mười chữ Hán khắc nổi công phu trong trắc tải mà Bác vừa ngắm nghía rất tâm đắc.

(Trích từ sách Bác Hồ với thủ đô Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, H.2005)

P.S.: Cám ơn chị Kim Yến đã cung cấp bài viết này.

Việt Nam – Hồ Chí Minh

Advertisements