Khoan dung – một giá trị đạo đức trong nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh

1- Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng lỗi lạc. Người là lãnh tụ của cách mạng và của dân tộc Việt Nam. Người được nhân loại tôn vinh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Trong con người ấy, trong nhân cách ấy, cái sâu thẳm nhất và cũng tinh túy nhất là ở chỗ, Người là hiện thân của những giá trị văn hóa rực rỡ nhất, đẹp đẽ nhất, kết tinh từ những tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại. Người không thuần túy là một nhà chính trị mà cao hơn là một nhà văn hóa chính trị. Ở Người, những giá trị văn hóa đã thấm sâu vào mọi suy nghĩ, hành vi, hình thành một lối ứng xử riêng giàu tính văn hóa.

Nhân cách văn hóa của nhà chính trị Hồ Chí Minh vô cùng đa dạng, đa diện, được biểu hiện một cách nhất quán trong tư tưởng và hành động, lý trí và tình cảm, trong suy nghĩ nội tâm và những hành vi ứng xử với cộng đồng… Trong nhân cách ấy, khoan dung là một giá trị. Giá trị này không chỉ tồn tại như một yếu tố của cấu trúc đạo đức cá nhân mà còn thẩm thấu trong mọi phương diện của nhân cách mà chính trị là một lĩnh vực biểu hiện.

2- Khoan dung là một khái niệm đa nghĩa có vai trò như quy phạm đạo đức, luân lý, góp phần hình thành một lối ứng xử giữa người với người trong cuộc sống. Theo nghĩa thông thường nhất, khoan dung được hiểu là sự tha thứ, sự thừa nhận, sự tôn trọng lẫn nhau mà ở cấp độ cao nhất là sự tiếp nhận. Vì vậy, đạt đến phẩm chất khoan dung, biểu hiện đầu tiên là sự tha thứ. Tha thứ cho lỗi lầm của kẻ khác, tha thứ cho những dị biệt của kẻ khác trong sự so sánh với chính bản thân mình. Rõ ràng, về phương diện đạo đức, đây không phải là sự khoan thứ của bề trên đối với kẻ dưới mà là sự khoan thứ của những cá thể đồng loại – giữa con người với nhau; là sự khoan thứ của cái thiện đối với cái ác, của chân lý với sai lầm, của cái đẹp với cái xấu…

Ngoài tha thứ, khoan dung còn là sự thừa nhận lẫn nhau giữa con người với con người. Thừa nhận sự cùng tồn tại, thừa nhận về những giá trị mà cá nhân, cộng đồng biểu hiện cho dù trong hệ thống giá trị ấy có những dị biệt, thậm chí là đối lập.
Trong khoan dung, tôn trọng là một biểu hiện quan trọng. Sự tôn trọng lẫn nhau là cơ sở điều chỉnh hành vi của con người khiến cho những giá trị của cá nhân, cộng đồng không bị kỳ thị. Nhờ đó những giá trị riêng được bảo tồn, các nền văn hóa không dẫn đến xung đột, các dân tộc nhược tiểu không bị đồng hóa văn hóa bởi toan tính của những thế lực cường quyền.

Trong khoan dung, tiếp nhận là biểu hiện cao nhất, bởi chỉ có tiếp nhận thì sự tha thứ mới làm cho nhân loại tốt đẹp hơn, mới làm cho những cái hay, cái đẹp được bảo tồn, phát huy và mặt khác, nhờ tiếp nhận mà chủ thể của sự khoan dung cũng hoàn thiện hơn. Theo ý nghĩa đó, nhân loại sẽ tốt đẹp hơn bởi những giá trị của cá nhân, nhóm, cộng đồng được tích hợp, phát triển.

Sự phát triển của lịch sử đã chứng minh điều ấy. Xã hội loài người ngày càng hoàn thiện hơn không chỉ bởi nhân loại biết tha thứ cho nhau, thừa nhận nhau, tôn trọng nhau mà căn bản là biết tiếp nhận nhau. Điều này thể hiện ở chỗ, khi mối giao lưu giữa con người với nhau còn hạn hẹp, sự tiếp nhận chủ yếu diễn ra trong nội bộ cộng đồng thì lịch sử phát triển chậm chạp. Khi mối quan hệ càng mở rộng, sự tiếp nhận lẫn nhau được đẩy mạnh thì lịch sử phát triển nhanh hơn. Vì vậy, từ chối sự tiếp nhận là chấm dứt sự phát triển. Ngày nay, tốc độ phát triển của lịch sử nhanh chưa từng thấy cũng bởi các cá nhân, các cộng đồng có cơ hội hơn trong giao tiếp, có cơ hội hơn để tiếp nhận lẫn nhau, có ý thức hơn về sự cần thiết phải tiếp nhận và biết cách tiếp nhận có hiệu quả hơn.

3- Nếu có một sự thống nhất nào đó về cách hiểu khái niệm khoan dung như trên thì Hồ Chí Minh là một biểu hiện của sự khoan dung và cao hơn là mẫu mực về sự khoan dung. Khoan dung ở Hồ Chí Minh cũng được biểu hiện rất đa dạng, đa diện. Đây là một giá trị đạo đức mà ý nghĩa và tầm ảnh hưởng của nó không giới hạn ở lĩnh vực luân lý thuần túy. Ngược lại, nó được lan tỏa, trải rộng trong mọi biểu hiện của nhân cách Hồ Chí Minh mà tập trung nhất là trong lĩnh vực chính trị, trong lối ứng xử với các dân tộc, các nền văn hóa khác hay nói cách khác, trong lĩnh vực văn hóa.

Với Hồ Chí Minh, khoan dung là một trong những giá trị đạo đức trụ cột trong một nhân cách hoàn thiện bởi nhờ nó, Người có thể chia sẻ với những khổ đau của người lao động bị áp bức, với những dân tộc bị nô dịch. Người trở nên thân thương, gần gũi với người dân. Ngay cả những người không cùng ý thức hệ, thậm chí, ở một chiều cạnh nào đó là “địch thủ” vẫn phải kính trọng, thừa nhận Người.

Ở Hồ Chí Minh, khoan dung cũng được biểu hiện là sự tha thứ, sự thừa nhận, sự tôn trọng và cao nhất là tiếp nhận. 

Trong con người Hồ Chí Minh, tha thứ cho lỗi lầm của người khác không chỉ là hành vi bị thôi thúc bởi yêu cầu của chính trị mà cao hơn, sâu hơn, từ trong cội rễ của vấn đề, đó là, từ lương tâm đạo đức, từ việc ý thức sâu sắc về tính đồng loại giữa con người với con người. Tha thứ, vì thế, trở thành một thuộc tính đạo đức có tính văn hóa. Trong Thư gửi đồng bào và chiến sỹ Nam Bộ, miền Nam Trung Bộ nhân ngày kỷ niệm Nam Bộ kháng chiến (năm 1947) Người viết: “Nhân dịp này, tôi thiết tha kêu gọi những đồng bào vì một cớ gì mà lầm đường lạc lối hãy kịp trở về với Tổ quốc. Dù sao các người cùng là ruột thịt. Tôi tin rằng các người không thể nỡ lòng giúp địch làm cho đồng bào Việt Nam ta khổ nhục mãi; tôi rất đau lòng thấy cảnh nồi da nấu thịt, huynh đệ tương tàn.

Tôi mong rằng các người hãy mau mau tỉnh ngộ. Và tôi cam đoan rằng Tổ quốc, đồng bào và Chính phủ bao giờ cũng khoan hồng. Một khi các người đã trở về với Tổ quốc thì các người sẽ được hoan nghênh rộng rãi như những người con đi lạc mới về”(1).
Ngoài tha thứ, đức khoan dung ở Hồ Chí Minh còn là sự thừa nhận người khác, thừa nhận những giá trị riêng của người khác.

Cả cuộc đời Người là sự phấn đấu quên mình để cho nhân loại, dân tộc được sống trong hòa bình, tự do và hạnh phúc. Người cùng Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng không ngoài mục đích buộc các thế lực xâm lược phải thừa nhận Việt Nam độc lập, thống nhất, được hưởng các quyền dân tộc cơ bản như các dân tộc khác trên thế giới. Trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Người đã dẫn ra tư tưởng trên đây trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1789 để một lần nữa khẳng định quyền được thừa nhận, quyền được hưởng các quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam. Sau đó, Người khẳng định: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Trong điều kiện Việt Nam, một quốc gia có đông đồng bào có đạo, Người thừa nhận đồng bào có đạo là một bộ phận hữu cơ của dân tộc. Đồng bào có đạo cũng là lực lượng cách mạng, họ cũng bị thực dân, đế quốc áp bức, bóc lột, vì vậy họ cũng là đối tượng của sự giải phóng mà cách mạng hướng tới. Đó là lý do để Người theo đuổi và thực thi chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc – một chiến lược đem lại sức mạnh to lớn cho cách mạng để giành thắng lợi trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Cùng với tha thứ, thừa nhận, khoan dung ở Hồ Chí Minh còn là sự tôn trọng lẫn nhau giữa con người với con người. Hồ Chí Minh tôn trọng đồng bào của mình, tôn trọng cộng sự của mình, tôn trọng những nhu cầu, khát vọng, phẩm giá, lương tri của nhân loại tiến bộ. Vì lẽ ấy Người đánh giá cao những ai vì lẽ phải, vì chính nghĩa, vì sự tiến bộ của con người mà đấu tranh cho dù họ ở quốc gia nào, màu da nào, giai cấp, đảng phái nào. Người đấu tranh không khoan nhượng chống các thế lực thực dân, đế quốc song phân biệt rất rõ bạn và thù. Đó là lý do để khoan dung ở Người không trở thành một giá trị trừu tượng.

Người bày tỏ sự tôn trọng, lòng biết ơn đối với những ai ủng hộ dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành và giữ nền độc lập, kể cả nhân dân tiến bộ Pháp và Mỹ và căm ghét những kẻ chống lại mục tiêu ấy.

Ở Hồ Chí Minh, sự tôn trọng lẫn nhau giữa người với người suy cho cùng là sự tôn trọng những nhu cầu, lợi ích chân chính, tôn trọng những ai vì nhân phẩm mà hy sinh, mà phấn đấu. Vì lẽ ấy, Người đề cao những đóng góp của Đức Phật, Đức Ki-tô, của những người sáng lập các tôn giáo chân chính bởi suy cho cùng, những vị ấy cũng có khát vọng về hạnh phúc cho nhân loại. Đó cũng là lý do để Người thừa nhận Khổng Tử, Giê-su, Đức Phật, Tôn Dật Tiên, C. Mác đều có ưu điểm chung bởi họ đều muốn mưu hạnh phúc cho con người, mưu phúc lợi cho xã hội. Và, với đồng bào có đạo Người tôn trọng niềm tin của họ, kiên trì, nhất quán thực thi chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Như đã nói ở trên, tiếp nhận là biểu hiện cao nhất của khoan dung và cuộc đời, nhân cách Hồ Chí Minh là biểu hiện sinh động nhất của sự tiếp nhận. Nhờ biết tiếp nhận, Người đã làm giàu vốn tri thức, nâng tầm văn hóa của mình để trở thành biểu tượng của sự kết tinh những tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, của truyền thống và thời đại. Với tư cách là một lãnh tụ cách mạng, một nhà văn hóa, cũng nhờ biết tiếp nhận mà Người đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ yếu đến mạnh để cuối cùng – như đã thấy – làm nên những chiến công càng ngày càng hiển hách, chói lọi.

Nhờ phương pháp tiếp nhận đúng đắn, Người đã phát hiện được những ưu điểm của các học thuyết, chủ nghĩa, của các nền văn hóa và ngay trong từng cá nhân con người. Với Người, đạo Khổng có ưu điểm là “có đạo tu thân”; đạo Phật có ưu điểm là có lòng từ bi; tôn giáo của Chúa Giê-su có ưu điểm là lòng Bác ái; chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm đó là chính sách thích hợp với cách mạng nước ta; chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp cách mạng đúng đắn. Với cá nhân con người cũng vậy, Người nhìn thấy trong họ những khả năng, những tiềm năng và vai trò của cách mạng là phát hiện, nuôi dưỡng, phát huy những phẩm chất ấy. Người nói:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền;
Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên”. 

Tiếp nhận truyền thống khoan dung, chuộng hòa bình của dân tộc ta, trước họa ngoại xâm, Hồ Chí Minh đã tìm đủ mọi cách để cứu vãn hòa bình cho đất nước. Song các thế lực ngoại xâm đã không cho phép Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam lựa chọn giải pháp hòa bình và hai cuộc kháng chiến của dân tộc ta chống thực dân pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, vì vậy, về thực chất chỉ là giải pháp cuối cùng nhằm giành và giữ độc lập cho Tổ quốc.

Thiết nghĩ, đó là nét độc đáo trong tư tưởng và nhân cách Hồ Chí Minh, được hình thành trên cơ sở truyền thống và được phát huy trong điều kiện mới của thời đại. Nhờ đó, những tư tưởng của truyền thống có thêm nội dung mới của thời đại. Cũng nhờ đó mà Hồ Chí Minh, với hành trang của một người yêu nước đã trở thành một người mác-xít chân chính, một nhà nhân đạo chủ nghĩa của xã hội hiện đại có khả năng đại diện cho một nền văn hóa tương lai.

4- Thời đại ngày nay đang chứng kiến những thay đổi nhiều mặt của xã hội về mọi chiều kích. Cuộc sống đã thúc ép con người mở rộng tầm quan hệ với thế giới vô tri (giới tự nhiên) và thế giới hữu tình (thế giới loài người). Chưa bao giờ con người cảm thấy không gian hẹp, nhỏ bé như vậy và thời gian trôi nhanh như vậy. Cũng chưa bao giờ con người cảm thấy sự khó khăn to lớn đến như vậy khi phải lựa chọn thái độ sống đối với tự nhiên và đồng loại bởi toàn cầu hóa đã không chỉ làm các chiều quan hệ tăng nhanh mà còn làm tăng tính phức tạp của các quan hệ lên gấp bội. Xét về một tầm mức nào đó, có thể thấy, việc mở rộng các quan hệ đã làm cho lịch sử phát triển nhanh hơn. Tuy nhiên, trong sự phát triển ấy vẫn tiềm ẩn những xung đột mà ở đây đó, những xung đột đó đã bộc phát gây nên những hậu quả tiêu cực cho con người. Dù muốn hay không, con người phải lựa chọn một trong hai lối ứng xử trước tự nhiên và đồng loại – Thù hận hay khoan dung. 

Thực ra, trong quá khứ, đã từng tồn tại cả hai cách ứng xử ấy của con người. Với thái độ thù hận, trước tự nhiên, con người tự cho mình là chúa tể để rồi tước đoạt nó, khiến tự nhiên có nguy cơ không tự tái tạo kịp. Tình trạng sa mạc hóa đất đai, ô nhiễm môi trường, lỗ thủng tầng ô-zôn ngày càng rộng… là hậu quả của cách làm đó. Với thái độ thù hận, trước đồng loại, giai cấp bóc lột thống trị xã hội đã tìm mọi cách để tước đoạt người lao động. Hành động đó đã biến con người thành công cụ biết nói, thành thần dân, thảo dân, thành người “trần như nhộng” để rồi sản vật quí báu cuối cùng nhờ sự tiến hóa lâu dài của tự nhiên và công sức của chính con người mới tạo ra được – sản vật tinh thần – cũng bị biến dạng, bị méo mó. Con người bị tha hóa toàn diện, bị làm nhục bởi chính nó.

Tuy nhiên, trong một xã hội mà những hành động của con người còn bị thôi thúc bởi thái độ thù hận, một lô-gíc khác của cuộc sống vẫn tồn tại như những mạch ngầm trong lòng đất. Lúc âm ỉ, lúc dữ dội, mạch ngầm ấy đã tạo nên những xung lực hướng con người về phía khoan dung, lựa chọn sự khoan dung. Cội nguồn của chủ nghĩa nhân văn vẫn được bồi đắp, tôn tạo để định hình như là giá trị cơ bản mà nhân loại hướng tới. Những áp đặt phi lý với tự nhiên và đồng loại dần dần được nhận diện, được vượt qua. Nhân loại ngày nay đã biết xa lánh quan hệ đơn trị giữa người với tự nhiên và đang làm mọi cách để bảo tồn sự sống trong một nỗ lực to lớn nhằm thiết lập mối giao hòa với tự nhiên. Trong quan hệ xã hội, họ cũng đã biết ghê tởm sự áp bức, bóc lột, biết xa lánh thái độ cực quyền của các thế lực tư bản tàn bạo muốn áp đặt cho nhân loại một thái độ sống duy nhất – chấp nhận thực tại tư sản. Cao hơn nữa, họ đã biết cùng nhau liên hợp nhằm loại bỏ dần những bất công và quyết tâm theo đuổi lý tưởng giải phóng con người một cách triệt để. Vì lẽ ấy dù chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, dù phong trào cách mạng thế giới đang có khó khăn, sự nghiệp giải phóng con người vẫn tiếp tục diễn ra với những hình thức ngày càng đa dạng, phong phú ở khắp các châu lục. Mặc dù để đạt đến sự tự do, hạnh phúc thật sự còn lắm gập ghềnh mà nhiều khi phải trả giá song xu thế thời đại đặt ra yêu cầu buộc con người dứt khoát phải lựa chọn khoan dung. Đó là thái độ sống, lối ứng xử duy nhất đúng để các dân tộc, các nền văn hóa có thể xích lại gần nhau hơn trong hành trình phát triển. Cuộc đấu tranh đó là gian khổ và trong cuộc đấu tranh đó, một lần nữa, khoan dung lại được biểu hiện. Biểu hiện này ở chỗ, một bộ phận nhân loại tiến bộ đã biết vượt qua những sai lầm của quá khứ để hướng về một tương lai tốt đẹp hơn; biết thừa nhận quyền con người, quyền dân tộc chân chính; biết tôn trọng các giá trị khác nhau của các nền văn hóa. Cao hơn nữa là biết tiếp nhận những thành quả vĩ đại của nhân loại để kiến tạo một tương lai không còn áp bức, bất công, con người thật sự tự do, hạnh phúc.

Theo ý nghĩa đó, khoan dung theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một giá trị của thời đại. 

5- Trong nhiều nghìn năm lịch sử, bằng những nỗ lực to lớn của nhiều thế hệ, người Việt Nam đã tạo cho mình một hệ giá trị văn hóa đa dạng và độc đáo. Trong hệ giá trị ấy có khoan dung.

Trong quan hệ với tự nhiên, theo minh triết Đông phương, người Việt không tự xem mình là kẻ thống trị. Ngược lại, họ gần gũi với tự nhiên, gắn bó với tự nhiên, biết ơn tự nhiên.

Trong quan hệ xã hội, người Việt coi trọng giá trị cộng đồng với những tầng bậc khác nhau mà cộng đồng hẹp nhất là Nhà, tiếp đến là Làng và cao nhất là Nước. Với văn hóa của nước ngoài, họ thừa nhận, tôn trọng, biết bỏ qua những dị biệt để tiếp thu những giá trị phù hợp cuộc sống của mình nhằm xây dựng, bảo tồn, phát triển nền văn hóa bản địa. Với các thế lực ngoại xâm, họ kiên cường đánh trả khi không còn lựa chọn nào khác và những cuộc đánh trả ấy không phải vì muốn mình trở thành kẻ chiến thắng. Suy cho cùng, người Việt Nam muốn bảo vệ giang sơn, xã tắc, bảo vệ mảnh đất thiêng được gọi là Tổ quốc. Vì lẽ ấy, thắng giặc vẫn khoan cho giặc, vẫn cấp thuyền, cấp ngựa cho giặc về quê. Thậm chí những vong hồn của kẻ xâm lược vẫn được thờ phụng bởi một triết lý nhân bản đến kiệt cùng – đó cũng là vong hồn của đồng loại.

Tiếp nhận mạch ngầm truyền thống và tinh hoa nhân loại, Hồ Chí Minh đã đưa giá trị khoan dung của truyền thống lên một tầm cao mới. Điều này được thể hiện trong 3/4 thế kỷ đấu tranh cách mạng của Đảng ta do Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện. Trong cuộc đấu tranh ấy, Đảng đã lãnh đạo toàn dân kiên quyết giành độc lập cho dân tộc, kiên quyết dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng cực kỳ tàn bạo của kẻ thù.

Sau ngày toàn thắng, khi Nam Bắc đã về trong một nhà, đất nước đã độc lập, thống nhất, nhiều kẻ dự báo sẽ có cuộc “tắm máu” song điều đó không diễn ra. Ngược lại, Đảng chủ trương hòa hợp dân tộc, thực thi chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, xem đại đoàn kết là động lực quyết định sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với những thế lực đã từng gây chiến, Đảng chủ trương khép lại quá khứ, hướng về tương lai và tuyên bố Việt Nam muốn làm bạn với các dân tộc khác. Xem thế đủ biết tầng nấc và sự kiên trì theo đuổi giá trị khoan dung của Đảng ta đến mức độ nào, ý nghĩa của tư tưởng khoan dung của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam đến mức độ nào! Và, có lẽ, trong hành trình tiếp theo của cách mạng, khoan dung vẫn là một giá trị càng ngày càng lan toả ảnh hưởng, định hướng cho dân tộc Việt Nam, cho toàn nhân loại trong hành trình tiến về phía trước.

Theo Hồ Trọng Hoài, Tạp chí Cộng sản tháng 9/2005

cpv.org.vn

Advertisements