Đoàn kết Lương Giáo – một quan điểm xuyên suốt của Đảng

Đêm Giáng sinh an lành tại Thủ đô Hà Nội. (Ảnh minh hoạ).

(TCTG) – Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết Lương Giáo, phát huy các giá trị nhân văn trong tôn giáo và với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhất quán khẳng định vị trí và vai trò của tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội qua việc thực hiện chiến lược đoàn kết dân tộc và tôn giáo…

1. Đoàn kết Lương Giáo là một nội dung quan trọng trong chiến lược đoàn kết toàn dân tộc

Đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng, nhất quán trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Đây là một bài học mang tính lịch sử. Giai đoạn nào chính sách đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo được thực hiện tốt thì đất nước thái bình, các thế lực ngoại bang cũng ít nhòm ngó.

Đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc đã trở thành tư tưởng xuyên suốt, một chiến lược cách mạng quan trọng của Đảng ta. Cơ sở của chiến lược này là luôn tôn trọng và bảo đảm trên thực tế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, không tôn giáo; đoàn kết tôn giáo; hoà hợp dân tộc. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (ngày 3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương để dễ bề thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và Lương Giáo đoàn kết”(1), và đây đã trở thành một trong sáu nhiệm vụ của nhà nước non trẻ. Điều này xuất phát từ một lẽ hiển nhiên là, người Việt Nam, dù theo tôn giáo, tín ngưỡng hay không theo tôn giáo, tín ngưỡng nào cũng có chung một dân tộc, đều là con cháu của dòng dõi Lạc Hồng. Do vậy, đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề tất yếu, là nhân tố quyết định thành công của cách mạng. Trong mối quan hệ giữa dân tộc và nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, và nhân dân chỉ có thể được tự do khi đất nước độc lập. Điều này là ước nguyện của mọi người dân, dân tộc bị áp bức, kể cả đồng bào có đạo. Người viết: “Hơn ai hết, đồng bào công giáo càng mong cho Tổ quốc độc lập, cho tôn giáo được hoàn toàn tự do”(2), do vậy, “toàn thể đồng bào ta, không chia Lương Giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, để giữ gìn non sông Tổ quốc mà cũng để giữ gìn quyền tôn giáo tự do”(3).

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi vấn đề đoàn kết Lương Giáo là một nội dung quan trọng của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam. Điều này được thể hiện rõ trong nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về đoàn kết toàn dân, về tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo.

Từ việc xác định tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới, năm 1990, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 24/NQ-TƯ, về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”, khẳng định chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là: “tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện đoàn kết Lương Giáo, đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(4).

Những quan điểm này được tiếp tục thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (1991); Văn kiện Đại hội VII, VIII, IX. Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (năm 2003), về Công tác tôn giáo cũng khẳng định:

“- Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

– Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào,…

– Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo”(5).

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4/2006) tiếp tục khẳng định: Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc. Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”. Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ… Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân (6).

Gần đây nhất, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục nhất quán khẳng định: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”(7). Đây chính là cơ sở quan trọng nhằm đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta – giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

2. Phát huy các giá trị trong tôn giáo, tín ngưỡng nhằm đoàn kết lương giáo xây dựng chủ nghĩa xã hội

Đây cũng là một trong những nhận thức lại của Đảng ta về vị trí, vai trò của tôn giáo, là giải pháp quan trọng nhằm phát huy tính tích cực của tôn giáo, làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần của xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời, ngăn chặn có hiệu quả những hành vi lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Hồ Chí Minh từng cho rằng, học thuyết của Khổng Tử, Thiên chúa giáo của Giêsu, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên và chủ nghĩa Mác đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Do vậy, trong quan niệm và hoạt động thực tiễn của mình, Người luôn tôn trọng vai trò của các tôn giáo; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của các tầng lớp nhân dân; phát huy các giá trị mang tính nhân văn trong các tôn giáo để tiến tới xây dựng một nước Việt Nam đoàn kết, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết Lương Giáo, phát huy các giá trị nhân văn trong tôn giáo và với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhất quán khẳng định vị trí và vai trò của tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội qua việc thực hiện chiến lược đoàn kết dân tộc và tôn giáo; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của các tầng lớp nhân dân; phát huy các giá trị mang tính nhân văn của các tôn giáo trong xây dựng đạo đức xã hội, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Các quan điểm trên đã được khẳng định trong Nghị quyết 24-NQ/TƯ của Bộ Chính trị, về các Văn kiện và nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Nghị quyết 24-NQ/TƯ nhấn mạnh, cần phải: “khắc phục nhận thức thiển cận đối với tôn giáo và thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo”(8).

Điều 5, Pháp lệnh về Tín ngưỡng Tôn giáo, ngày 18/6/2004, khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “tôn trọng giá trị văn hoá, đạo đức tôn giáo; giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng nhằm góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”(9). Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng khẳng định: “Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(10).

3. Bảo đảm sự đoàn kết lương giáo trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, đồng thời nghiêm trị mọi hành động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung và đoàn kết lương giáo nói riêng.

Hiến pháp và pháp luật là cơ sở quan trọng, bảo đảm chiến lược đoàn kết lương giáo nói riêng, đại đoàn kết dân tộc nói chung. Đây chính là những sự cụ thể hóa quan điểm của Đảng về đoàn kết lương giáo, là cụ thể hóa quyền lực của nhà nước trong việc bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết Lương Giáo.

Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2004) đều nhất quán khẳng định quan điểm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Các quyền này thể hiện ở các điểm sau:

– Mọi công dân Việt Nam đều có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo, tín ngưỡng bất kỳ và đây là một trong những quyền dân chủ quan trọng. Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau.

– Các tôn giáo dù lớn hay nhỏ (ít hay nhiều tín đồ) đều bình đẳng trước pháp luật cả về quyền lợi và nghĩa vụ. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

– Nhà nước luôn tôn trọng những giá trị đạo đức, văn hoá tốt đẹp của các tôn giáo; động viên chức sắc, tín đồ, các tổ chức tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

– Nhà nước bảo đảm quyền hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật; tôn trọng giá trị văn hoá, đạo đức tôn giáo.

– Mọi sự xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân đều bị pháp luật nghiêm khắc trừng trị.

– Nhà nước Việt Nam tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước, bảo đảm khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tóm lại, trong những năm qua, nhất là thời kỳ đổi mới, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng, vấn đề đoàn kết toàn dân tộc nói chung, đoàn kết lương giáo nói riêng có những phát triển vượt bậc. Điều này thể hiện rõ nét qua xu hướng chủ đạo trong hoạt động của các tôn giáo là gắn bó, đồng hành cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với phương châm “Tốt đời, đẹp đạo”, các tôn giáo ở Việt Nam đã có những định hướng hành đạo tiến bộ, như: “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” của Phật giáo; “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Thiên chúa giáo; “Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc” của Hội thánh Tin lành Việt Nam; “Nước vinh, đạo sáng” của Cao Đài… Các khuynh hướng này vừa phù hợp với đạo lý, truyền thống, văn hóa của dân tộc, vừa phù hợp với Hiến pháp, pháp luật và xu hướng phát triển của thời đại./.

TS. Nguyễn Dương Hùng
___________________________

(1), (3) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, t.4, tr.9, 490.
(2) – Sđ d, t.5, tr.44.
(4), (8) – Nghị quyết 24-NQ/TW về Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới.
(5) – ĐCSVN: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb. CTQG, H, 2003.
(6) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H.2006, tr.122-123.
(7), (10) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H.2011, tr.81, 245.
(9) – Xem: Pháp lệnh về Tín ngưỡng Tôn giáo.

Theo http://www.tuyengiao.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn