Chính phủ là công bộc của dân

Phát biểu trong buổi lễ ra mắt ứng cử viên tổ chức tại Việt Nam học xá ngày 5- 1- 1946 Người nói: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu. Ngày mai, không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”.

1. Giữ gìn, kiến thiết là một công việc khó khăn, phức tạp

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ từ nhân dân, của nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Khi đất nước còn đắm chìm trong đêm dài nô lệ, Người quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, không sợ hy sinh, không ngại khó khăn, gian khổ với mục đích cao nhất là giải phóng đồng bào. Sau khi tìm được con đường cứu nước đúng đắn, khoa học, cách mạng và nhân văn, Người đã tổ chức và lãnh đạo toàn dân đứng lên xóa bỏ chính quyền bóc lột của thực dân – phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.

Chỉ một ngày sau khi giành được chính quyền ở Hà Nội, Hồ Chí Minh đã nhắc lại ý kiến của Lê-nin với các học trò của mình, rằng “giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”. Người tiên tri, tiên lượng cái khó của chính quyền mới trên nhiều phương diện. Đó là thù trong giặc ngoài, nạn đói, nạn dốt. Dưới chế độ quân chủ cai trị rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, người dân bị đầu độc nhiều thói xấu như lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác; nước ta không có Hiến pháp, nhân dân không được hưởng quyền tự do dân chủ. Đặc biệt là những khó khăn của đội ngũ cán bộ, công chức do hạn chế về tài năng, sự hiểu biết và điều hành, quản lý một xã hội mới – xã hội do dân làm chủ.

Chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, khi trình bày những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Sau tám mươi năm bị áp bức, bị bóc lột, và dưới chính sách ngu dân của thực dân Pháp, các bạn và tôi, chúng ta đều chưa quen với kỹ thuật hành chính. Nhưng điều đó không làm cho chúng ta lo ngại. Chúng ta vừa làm vừa học. Chắc rằng chúng ta sẽ phạm khuyết điểm, nhưng chúng ta sẽ sửa chữa, chúng ta có can đảm sữa chữa khuyết điểm”(1). Người thấy rõ và hình dung những khó khăn của việc kiến thiết đất nước: “Công việc phá hoại xong rồi. Nay bước đầu công việc dọn dẹp, sắp đặt, giữ gìn, kiến thiết. À! Việc này mới khó chứ. Trong việc phá hoại chống kẻ thù đòi độc lập, thì dễ dàng kéo cả toàn dân. Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn, vì nó đụng chạm đến quyền lợi riêng của một đôi giai từng trong nước. Vả lại, chúng ta phải thật thà thừa nhận rằng kinh nghiệm chúng ta còn ít, tài năng chúng ta còn kém, mà công việc thì nhiều: nào quân sự, nào ngoại giao, nào tài chính…, trăm đầu nghìn mối, đều những việc mới lạ cho chúng ta. Lại thêm nguy hiểm ngoại xâm và tình hình nội trị”(2). Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất là một bộ phận cán bộ bắt đầu có biểu hiện thoái hóa biến chất, lên mặt làm quan cách mạng, hủ hóa, không quan tâm gì đến đời sống của nhân dân.

Trăn trở, chăm lo xây dựng chính quyền vững mạnh, thật sự của dân, do dân, vì dân, Chính phủ là công bộc của dân, chính quyền “sao cho được lòng dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm cảnh báo những căn bệnh của cán bộ và sự quan liêu hóa của bộ máy nhà nước. Đúng nửa tháng sau ngày đọc Tuyên ngôn độc lập tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), ngày 17- 9- 1945, trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà, Hồ Chí Minh đã nói tới việc “đề phòng hủ hóa”. Người chỉ rõ “cán bộ ta nhiều người “cung cúc tận tụy”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”(3). Người nhấn mạnh “những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động”. Vì vậy, “chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi. Chúng ta phải lấy lòng chí công vô tư”. Hồ Chí Minh nghĩ tới những kế sách xây dựng một nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, được lòng dân.

2. “Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu”(4)

Để khắc phục những khó khăn và hạn chế đó, Hồ Chí Minh đã đặt lên hàng đầu việc củng cố sự đoàn kết toàn dân, mà một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài là chính sách dùng người, “đem những người có danh vọng hoặc có tài cán ở địa phương vào giúp việc”, tìm người tài đức, chiêu hiền đãi sĩ, cầu người hiền tài. Theo Người, “việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe. Miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng, không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc là có thể dùng được. Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy”(5).

Ngày 19 – 9 – 1945, với bút danh Chiến Thắng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Chính phủ là công bộc của dân, đăng báo Cứu quốc số 45 phân tích rõ sự đảo lộn cách mạng giữa Chính phủ trước và sau cuộc khởi nghĩa 19-8-1945. Trước, nói tới hai chữ Chính phủ, người ta nghĩ ngay tới một bọn đầu đảng cướp nguy hiểm, xảo quyệt. Sau, nói tới Chính phủ, ai ai cũng đều có một cảm tình thân mật xen lẫn với một tôn kính sâu xa: Chính phủ đối với ta như người “anh cả” trong gia đình, một đồng chí phụ trách trong một địa phương, một người đứng mũi chịu sào ta có thể vững lòng trông cậy và gửi số mệnh vào.

Với quan điểm xuyên suốt “Chính phủ là công bộc của dân”, Hồ Chí Minh chỉ rõ “các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”. Người khẳng định: “Các Ủy ban nhân dân làng, phủ là hình thức Chính phủ địa phương phải chọn trong những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo nhân dân tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui lọt vào các Ủy ban đó”(6).

Ngày 17-10-1945, Hồ Chí Minh viết bài “Bỏ cách làm tiền ấy đi” đăng trên báo Cứu quốc, số 69. Nội dung bài báo là đề cao Ủy ban nhân dân tổ chức theo một tinh thần dân chủ mới, khoa học, rất cấp tiến nên không thể “đè đầu bóp cổ”, hay dùng những thủ đoạn không chính đáng như làm tiền bằng cách bán ngôi thứ. Người viết: “Làm tiền bằng cách bán ngôi thứ tức là gây cho dân chúng có óc hiếu danh, trong khi cần phải trừ tiệt óc đó để gây cho mọi người có óc thiết thực, góp sức vào công cuộc giữ gìn và xây dựng đất nước… Bán ngôi thứ làm cho óc người ta đen tối thêm! Tiền lấy như vậy cũng là một thứ tiền phi nghĩa… Cách làm tiền đó có hại cho sự tiến hóa của dân, cần phải bỏ ngay đi, cũng như cần phải phủi đi hết những hủ tục khác như làm rượu ăn mừng được bầu vào Ủy ban”(7).

Cùng với việc phê phán việc mua chức bán quyền, đồng thời Hồ Chí Minh cũng chỉ ra những lỗi lầm khác rất nặng nề như “cậy mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu ra mình là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân… Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên, cho đến các cô các cậu ủy viên, cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai phải chịu?”(8).

Với một nhãn quan văn hóa chính trị sáng suốt, Hồ Chí Minh thấu suốt sự nghiệp kiến thiết cần phải có nhân tài. Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà. Chính phủ mới cần phải có những người có đức có tài để quản lý đất nước. Chế độ dân chủ cộng hòa phải khác hẳn về chất so với chế độ vua quan, thực dân đế quốc. Một trong những cái khác căn bản là quyền làm chủ, quyền dân chủ và quyền bầu cử của nhân dân để nhân dân lựa chọn ra những người thật sự có đức có tài để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Một ngày trước khi tổ chức Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh có lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Người nói: “Ngày mai, là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ… Ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình… Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước… Ngày mai, mỗi người nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”(9).

Phát biểu trong buổi lễ ra mắt ứng cử viên tổ chức tại Việt Nam học xá ngày 5- 1- 1946 Người nói: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu. Ngày mai, không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”(10).

Sau khi nước nhà được độc lập, nỗi quan tâm lớn nhất của Hồ Chí Minh là dân được hưởng tự do, hạnh phúc. Hạt nhân trong di sản của Người là chữ “DÂN”: “Đối với dân, ta đừng làm gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy”(11). Dân muốn có những cán bộ, đảng viên quyết tâm, suốt đời hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Dân muốn cán bộ phải đủ phẩm chất đạo đức, năng lực trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phong cách công tác quần chúng, có như vậy thì mới làm tròn bổn phận là công bộc của dân. Dân muốn những cán bộ khi đạo đức và năng lực trí tuệ không tương thích với chức vụ, quyền hạn, không còn được dân tín nhiệm thì phải sẵn sàng, vui vẻ từ chức. Dân không muốn có những cán bộ “chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”(12).

3. Quản lý, điều hành đất nước cần phải có lớp trẻ

Hồ Chí Minh luôn luôn nói đi đôi với làm. Người là tấm gương sáng về người lãnh đạo, người đứng đầu ở vị trí cao nhất nhưng không tham quyền cố vị, luôn luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Người tâm sự khi phải giữ trọng trách Chủ tịch nước: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa. Sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”(13).

Tư tưởng và tấm gương “tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào” một lần nữa lại được Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I (31-10-1946): “Lần này là lần thứ hai Quốc hội giao phó cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội ủy cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm. Tôi xin nhận. Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài”(14).

Trong lời tuyên bố của Hồ Chí Minh, chúng ta chú ý rằng Người nhấn mạnh việc đảm nhận chức vụ trong một hoàn cảnh đất nước khó khăn, đầy gian khổ, hy sinh khi “Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất”. Chức vụ đó là do Quốc hội (nhân dân) ủy thác thì phải gắng sức làm. Còn khi đồng bào đã cho lui thì lại vui vẻ trở về cuộc sống của một người dân bình thường, vui thú trong một “căn nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc, câu cá trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.

Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về việc không tham quyền cố vị. Người thấy trước công việc xây dựng, tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi là cả một cuộc chiến đấu khổng lồ; thắng bần cùng lạc hậu khó hơn nhiều so với thắng đế quốc phong kiến. Vì vậy, cần phải có lớp trẻ. Người nói: “Thế hệ già thua thế hệ trẻ mới là tốt. Các cháu không hơn là bệt. Bệt là không tốt. Người ta thường nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”(15). Tất nhiên phải là lớp trẻ có đức có tài. Người phê phán quan điểm đưa lớp trẻ vào nhưng lại mong muốn là con cháu của mình. Người nói: “Con cháu mình là ai? Con cháu mình là tất cả, là thanh niên Việt Nam. Chứ không phải như thời phong kiến: Cha làm quan, con là cậu ấm. Con mình xấu thì đề bạt sao được”(16).

Nói chuyện với những đảng viên hoạt động lâu năm ở Nghệ An trong lần về thăm quê năm 1961, Người tâm sự: “Còn vấn đề lo cho con cháu các đồng chí. Cái đó là đúng. Nhưng, nếu là con tôi – à, tôi không có con – mà nó không có khả năng, nó xấu cũng phải dẹp lại. Không phải hễ cứ bố là cán bộ thì con là “cậu ấm”. Bố có việc của bố, con có việc của con. Cố nhiên, con của những đồng chí đã mất đi, Đảng phải lo. Nhưng bố mẹ nó đang còn, nó xấu, mà đòi hỏi đặc biệt chú ý, thì chú ý cái gì?”(17).

Để Chính phủ được lòng dân thì Chính phủ phải là công bộc, thật sự công bộc của dân theo nghĩa là hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Nhưng đồng thời Chính phủ cũng phải chọn được người có phẩm chất đạo đức, có năng lực trí tuệ, có bản lĩnh chính trị và phong cách làm việc quần chúng. Không thể chấp nhận trong Chính phủ có những người thiếu tâm, dưới tầm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, có khuyết điểm nhưng không nhận, không dám chịu trách nhiệm, lại tham quyền cố vị. Cách đây hơn nửa thế kỷ, Hồ Chí Minh thấy trước được trong bộ máy quản lý đất nước, cần những người có tài năng thật sự, nếu kém thì phải loại ra. Người chỉ rõ: “Có người nay còn lãnh đạo đó, nhưng sau này tiến lên máy móc, nếu không biết kỹ thuật, có lãnh đạo được không? Nếu không biết, phải mời anh ra, cho người khác giỏi hơn vào làm chớ không phải như ngày xưa mà tưởng rằng: “sống lâu lên lão làng”(18).

65 năm trước, theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh, cuộc bầu cử Quốc hội khóa I thành công tốt đẹp. Chúng ta đã tìm ra được những người thật sự có tài có đức, vì dân vì nước vào Quốc hội và Chính phủ. Hy vọng dưới ánh sáng Đại hội XI, học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tinh thần dân chủ, trách nhiệm và sáng suốt đó lại được thể hiện rõ nét ở kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 để đất nước có được những người thật sự có tài, có đức quản lý đất nước, tạo được niềm tin của nhân dân, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, vững bước tiến vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI./.

1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (13), (14), Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.4, 7, 20, 21, 147, 39, 22, 54-55, 57, 145-146, 147, 148, 161, 427
12) Sđd, t.5, tr.255
(15) (16), (17), (18), Sđd, t.10, tr.465, 465, 469, 469

Theo tuyengiao.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn