Nhân cách người cán bộ lãnh đạo quân đội

Trong cuộc đời hoạt động và lãnh đạo cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, cán bộ lãnh đạo, nhất là cán bộ lãnh đạo quân đội. Hệ thống quan điểm và tư tưởng của người về xây dựng phẩm chất và năng lực, nhân cách cho đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ quân đội nói riêng chứa đựng những nội dung lý luận sâu sắc và ý nghĩa thực tiễn lớn lao. Trong đó tư tưởng và quan điểm của người về vấn đề năng lực luôn có tác dụng định hướng và chỉ đạo việc bồi dưỡng nâng cao năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ quân đội nhất là trong giai đoạn hiện nay. Nhân cách của người cán bộ trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là sự tổng hòa các yếu tố về phẩm chất và năng lực, trong đó nổi lên là vấn đề năng lực và đạo đức. Việc rèn luyện nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý là một nhiệm vụ then chốt, thường xuyên của công tác cán bộ.

Như mọi người cán bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị của đất nước, người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong lĩnh vực quân sự, lĩnh vực luôn đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc, quy định, chế độ của quân đội, lĩnh vực bao gồm những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ tiêu biểu trên mặt trận củng cố quốc phòng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân, thì càng phải thể hiện đầy đủ những phẩm chất nhân cách cần thiết đó. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong lĩnh vực quân sự còn phải thể hiện là những người tiêu biểu cho “nhân, trí, dũng, tín, liêm, trung”; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, tư cách của người cầm quân; coi trọng giữ gìn, phát huy bản chất, truyền thống của quân đội cách mạng; không ham danh lợi, chức quyền.

Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân cách người cán bộ thể hiện trước hết ở lòng “trung với nước, hiếu với dân”.Người coi trung với nước, hiếu với dân là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất của đạo đức cách mạng và là yếu tố cơ bản của nhân cách người cán bộ, đảng viên. Trong điều kiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trung với nước là dám xả thân vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, dẫu biết rằng đi làm cách mạng thì có thể bị tù đày, nhiều gian khổ, thậm trí hi sinh cả tính mạng. Ngày nay, trong hòa bình xây dựng, những điều kiện ấy không còn, nhưng những thử thách không kém phần nghiệt ngã vẫn còn đó đối với người cán bộ lãnh đạo. Có người không hy sinh bởi mũi tên, hòn đạn trong cuộc chiến đấu khốc liệt để bảo vệ Tổ quốc, nhưng trong hòa bình xây dựng lại bị “chết” bởi những “viên đạn bọc đường”, sa vào tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu – những căn bệnh mà Hồ Chí Minh coi là “giặc nội xâm”, thứ giặc ở trong lòng, nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm.

Trung với nước là phải đặt quyền lợi của Tổ quốc, của Đảng lên trên hết, trước hết. Người cán bộ lãnh đạo là người giữ trọng trách trong bộ máy của hệ thống chính trị càng cần có đức tính hy sinh cho lợi ích của Đảng, của Tổ quốc. Điều này càng đặc biệt quan trọng trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khi các lợi ích đặt ra cho mọi người, trong đó có lợi ích cá nhân trong mối quan hệ với lợi ích của tập thể và lợi ích của Tổ quốc. Theo Hồ Chí Minh cho rằng, không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý đến lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Trong lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, có lợi ích của cá nhân mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: vào Đảng là tự nguyện; nếu vào Đảng mà sợ hy sinh thì đừng vào Đảng hoặc khoan hẵng vào, để khi nào rèn được đức tính hy sinh rồi hãy vào. Mọi người, kể cả những cán bộ lãnh đạo, quản lý được khuyến khích làm giàu, nhưng đó là làm giàu chính đáng, chứ không phải làm giàu với bất cứ giá nào, làm giàu bất chấp đạo lý, làm giàu bằng tham nhũng, dùng mọi biện pháp kể cả vi phạm pháp luật để làm giầu, lấy của công làm của riêng đặt lợi ích của riêng mình lên trên tập thể.

Thực hiện đúng quan điểm của Hồ Chí Minh: “Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên là công bộc của dân, vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Sức mạnh của Đảng, của cả hệ thống chính trị là lấy từ nơi dân, cho nên dân luôn luôn là gốc của cách mạng, đúng như Hồ Chí Minh đã nêu và sau này, Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã tổng kết. Chúng ta không thể chấp nhận tình trạng hiện nay ở không ít nơi, không ít người trong bộ máy của hệ thống chính trị xa dân, không tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, mị dân, theo đuôi quần chúng. Người cán bộ phải luôn thấm nhuần quan điểm của Hồ Chí Minh: “việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố làm; việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng cố tránh”; phải làm cho dân giác ngộ; chớ có “vác mặt quan cách mạng” để “đè đầu cưỡi cổ nhân dân”; đừng có tưởng cứ “dán lên trán hai chữ cộng sản” là dân tin, dân yêu, dân kính, dân phục mà phải thực sự yêu dân, kính dân.

Còn “hiếu với dân” là bao hàm cả hiếu với cha mẹ, có tình yêu thương trong gia đình, nghĩa là có một “đời tư trong sáng”. Trong khái niệm “nhân cách” của một con người, thường người ta hiểu có điểm nhấn về mặt này nhiều hơn. Đứng trước dân, đang ở vị trí lãnh đạo, quản lý mà người cán bộ, đảng viên nêu gương xấu, gương mờ trong đời tư (chẳng hạn như tư cách đạo đức, lối sống không tốt; tác phong, phong cách chưa tốt; con cái hư; bản thân thì chưa đối xử tốt với vợ (chồng) con, với ông bà, cha mẹ, với anh em, v.v.) thì tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng không lãnh đạo, quản lý được ai một cách thực chất; nói không ai nghe, làm không ai theo, là đạo đức giả, gây phản cảm. Hiếu với dân không ở đâu xa, mà trước hết chính ngay ở trong gia đình, họ tộc, xóm giềng của bản thân người cán bộ lãnh đó.

Nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý còn biểu hiện ở đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư – điều mà Hồ Chí Minh rất coi trọng trong việc rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Cần, theo quan điểm của Hồ Chí Minh ngoài việc đòi hỏi người cán bộ phải cần cù, siêng năng, chịu khó, biết vượt qua khó khăn, gian khổ để làm việc, còn là yêu cầu tăng năng suất lao động. Đây là một quan điểm hợp với nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin khi coi năng suất lao động chính là một điều kiện cốt yếu để chủ nghĩa xã hội chiến thắng chủ nghĩa tư bản. Năng suất lao động của mỗi cá nhân là điều kiện để tạo thành năng suất lao động xã hội, nhưng điều đó mới chỉ nói lên phần nào sự phát triển kinh tế, chứ chưa phản ánh được nhiều tăng năng suất lao động xã hội. Đức tính “cần” của người cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay là phải chú ý tới hiệu quả, chất lượng công tác, phải đo được bằng kết quả cụ thể của từng người, từng ngành, từng địa phương, từng đơn vị.

Kiệm, theo Hồ Chí Minh, đó là tiết kiệm. Đáng chú ý là tình trạng lãng phí ở nước ta hiện nay diễn ra khá nặng và đang có chiều hướng nghiêm trọng hơn. Hồ Chí Minh chỉ rõ: cần phải đi đôi với kiệm; cần mà không kiệm thì tiền như “gió vào nhà trống”. Thực tế hiện nay, lãng phí biểu hiện ở nhiều mặt: lãng phí tiền của trong đầu tư; lãng phí trong chi tiêu; lãng phí thì giờ, v.v.. Điều đáng chú ý nhất, đáng nhấn mạnh nhất trong quan điểm này của Hồ Chí Minh là ở chỗ, kiệm không có nghĩa là bủn xỉn, mà là việc gì đáng chi thì phải chi, việc gì chưa đáng chi thì khoan hẵng chi, việc gì không đáng chi thì dứt khoát không chi. Đây chính là bài học cơ bản nhất, lâu dài nhất, cần phải học cả đời người, đối với mọi đối tượng, từ con người bình thường và càng đặc biệt hơn đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Ngày nay, đời sống đã được cải thiện đáng kể so với trước đây, nhưng những nội dung cơ bản mà Hồ Chí Minh nêu ra trên đây còn nguyên giá trị, kể cả sau này khi nước ta đã trở nên giàu có, mỗi người, mỗi gia đình đều khá giả hơn. Người cán bộ lãnh đạo, quản lý là những người nắm quyền, nắm tiền, nếu không chịu rèn luyện đức tính tiết kiệm theo quan điểm và tấm gương của Hồ Chí Minh thì rất dễ bị tha hoá nhân cách.

Liêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đức “liêm” của con người ta là điểm để phân biệt con người với con vật. Liêm là liêm khiết, là trong sạch, không tham ô, tham lam (cả tiền bạc, địa vị,v.v..). Đức tính liêm khiết là một biểu hiện rất rõ của nhân cách con người. Trong hoàn cảnh hiện nay, người cán bộ không những cần rèn cho mình đức tính không tham lam, không tham nhũng mà còn phải đấu tranh không khoan nhượng chống lại những biểu hiện tham nhũng. Hồ Chí Minh gọi tham ô, lãng phí, quan liêuvới đúng nghĩa của nó là “giặc nội xâm”. Chúng ta cần chú ý cách gọi của Người; nếu coi tham nhũng là “nạn” hay mạnh hơn là “quốc nạn”, thì phải dùng phương pháp chống nạn, quốc nạn; còn đã gọi đó là giặc thì phải dùng phương pháp chống giặc. Điều chú ý nữa trong vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề này là phải đề phòng và khắc phục bệnh tham danh vọng, địa vị. Trong thực tế, đã có không ít người tìm mọi cách “hạ bệ” nhau, nói xấu nhau, kèn cựa, níu kéo nhau, nịnh bợ, cơ hội,… trong công tác cán bộ, công tác nhân sự để kiếm chác chức vụ. Với những biện pháp, thủ đoạn để có được chức vụ này nọ hay gọi là “chạy chức, chạy quyền”, thì đó là điều đáng báo động về nhân cách người cán bộ, đảng viên.

Chính, theo quan điểm của Hồ Chí Minh là không tà, là thẳng thắn; việc thiện dù nhỏ cũng cố làm, việc ác dù nhỏ cũng cố tránh. Rèn luyện đức tính “chính” theo quan điểm của Hồ Chí Minh cũng có nghĩa là người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có thái độ rõ ràng, trong cuộc sống và công tác luôn yêu cái thiện, ghét cái ác; luôn hành động, làm gương cho mọi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý”.

Chí công vô tư là một đức tính nữa của nhân cách người cán bộ, đảng viên mà Hồ Chí Minh đề cập. Chí công vô tư là chống chủ nghĩa cá nhân – một thứ bệnh mà Hồ Chí Minh cho đó là “bệnh mẹ” đẻ ra muôn vàn “bệnh con”. Rèn đức tính này theo gương Hồ Chí Minh, người cán bộ phải luôn có ý thức và hành động chăm lo đến lợi ích của Đảng, của Tổ quốc. Với bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ coi chức Chủ tịch nước của mình là do dân uỷ thác và mình phải có bổn phận làm tròn cái sự uỷ thác đó. Trong điều kiện hiện nay, người cán bộ phải vừa tôn trọng tập thể, bảo đảm dân chủ, người cán bộ phải dám làm, dám chịu trách nhiệm, có tính quyết đoán mới có thể hoàn thành tốt mọi công việc và nhiệm vụ được giao.

Người cán bộ thể hiện ở thường xuyên nói đi đôi với làm. Đạo đức cách mạng không phải cứ tự nhiên mà có, mà phải là kết quả của sự rèn luyện thường xuyên trong suốt cuộc đời. Tự giác, tự nguyện, tự tu dưỡng nhân cách phải trở thành nếp sống hằng ngày của người cán bộ. Hồ Chí Minh quan niệm: “một con người hôm qua là vĩ đại, được mọi người yêu mến thì hôm nay không còn là vĩ đại nữa, nếu lòng mình không trong sáng”.

Nhân cách của người cán bộ còn biểu hiện ở mối quan hệ thống nhất giữa nói và làm, điều mà trong tác phẩm Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Nói thì phải làm”. Hiện nay, có không ít cán bộ chỉ nói mà không làm, nói nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về nói đi đôi với làm; Người còn làm nhiều hơn nói. Là người cán bộ mà nói không đi đôi với làm thì sẽ bị sa vào lối đạo đức giả, phản tác dụng trong việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đang tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước. Đất nước ta đang cần những tấm gương mẫu mực, luôn biết học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và chỉ có như vậy người cán bộ lãnh đạo nói chung, cán bộ lãnh đạo quân đội nói riêng sẽ tạo nên sức mạnh của toàn hệ thống chính trị thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người giữ chức vụ càng cao, trọng trách càng lớn càng phải đòi hỏi nhiều hơn về nhân cách, tư tưởng, phong cách. Nếu không là tấm gương sáng thì người cán bộ không thể nào lãnh đạo được quần chúng, đó là sự thật, là những điều đơn giản mà ai cũng có thể nhìn thấy.

Tâm Trang

bqllang.gov.vn