Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế – Phần 3

III. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA,
VỀ PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ta trong bối cảnh thế giới đầy biến động hiện nay đang ngày càng làm sáng tỏ những giá trị lâu bền trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó, tư tưởng của Người về cách mạng xã hội chủ nghĩa, về phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là một vấn đề quan trọng.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và xây dựng xã hội chủ nghĩa.

a- Trong thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc mình và góp phần giải phóng các dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về việc gắn liền giải phóng dân tộc với giải phóng xã hội và giải phóng con người. Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác- Lênin. Lúc đầu là từ chủ nghĩa yêu nước, chứ không phải chủ nghĩa cộng sản. Người tìm thấy ở chủ nghĩa Mác – Lênin con đường giải phóng dân tộc và bước phát triển tiếp theo của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đề cập nhiều đến vấn đề giải phóng dân tộc, vấn đề cǎn bản nhất. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không phải là một nhà cách mạng có tư tưởng độc lập dân tộc thuần tuý hay “dân tộc chủ nghĩa”. Người không hướng cách mạng giải phóng dân tộc tới một chế độ dân chủ tư sản thông thường. Người chủ trương cách mạng phải triệt để, tức là giải phóng nhân dân khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, làm cho đời sống được ấm no, hạnh phúc.

Để đạt được mục tiêu này, việc giải phóng dân tộc phải gắn với chủ nghĩa xã hội. Gắn liền độc lập dân tộc với ấm no, hạnh phúc của nhân dân trong xây dựng chủ nghĩa xã hội là một nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là một đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam và các dân tộc bị áp bức nói chung. Tư tưởng này chưa có trong suy nghĩ và hành động của các bậc tiền bối yêu nước và cách mạng của Việt Nam cũng như của nhiều nước thuộc địa khác. Trước kia các vị anh hùng dân tộc mới khơi dậy ở nhân dân lòng yêu nước nồng nàn để đánh đuổi giặc ngoại xâm chứ chưa đề cập nhiều đến việc xây dựng cuộc sống tự do, hạnh phúc mai sau của họ. Trong thời đại mới, Hồ Chí Minh có điều kiện nhận thức được nguyện vọng lâu đời của nhân dân về độc lập dân tộc và một cuộc sống tự do, hạnh phúc, ấm no. Ngay từ nǎm 1911, khi quyết định ra đi tìm đường cứu nước, Người đã nghĩ đến mong ước này của đồng bào mình. Càng ngày, Người càng hiểu thêm rằng độc lập cho mỗi dân tộc, tự do cho mỗi con người là khát vọng lớn lao, sâu xa nhất của mọi dân tộc cũng như của cả loài người. Điều đó giải thích vì sao ngay từ đầu những nǎm 20 của thế kỷ, trong lúc chủ nghĩa xã hội khoa học còn bị kẻ thù bưng bít, còn khá xa lạ với nhiều dân tộc bị áp bức thì Nguyễn ái Quốc đã nhận thức được con đường tất yếu và tất thắng của cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng ở các nước thuộc địa khác trong thời đại mới là chủ nghĩa cộng sản.

Đầu nǎm 1922, trong Truyền đơn cổ động mua báo Người cùng khổ, Người viết: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc”. Nǎm 1930, khi viết Chính cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng và được hội nghị hợp nhất Đảng nhất trí thông qua, Nguyễn ái Quốc đã cho chúng ta thấy rõ rằng, ngay từ khi mới thành lập, trong Cương lĩnh đầu tiên của mình, Đảng cộng sản Việt Nam đã lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa, khi đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc trong triển vọng tiến lên chủ nghĩa xã hội . Đó là một tư tưởng chính trị hết sức quan trọng mà sau này Người khẳng định con đường cách mạng vô sản là con đường duy nhất đúng cho giải phóng dân tộc. ý nghĩa của luận điểm này không chỉ giới hạn trong cách mạng Việt Nam mà ngày càng được mở rộng trên phạm vi thế giới ở những mức độ, phạm vi, hình thức, phù hợp với điều kiện mỗi nước. Khi khẳng định chỉ có giải phóng giai cấp vô sản mới giải phóng được dân tộc, Người vẫn nhấn mạnh rằng: “Dân tộc cách mạng vẫn là một nhiệm vụ trong giai cấp cách mạng; sự chuyển biến lối này hay lối khác đó là do hoàn cảnh từng nơi, từng lúc, chứ không phải hai đường sai trái với nhau”.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam, cách mạng Lào, một số nước sau khi giành được độc lập, chứng minh tính đúng đắn của luận điểm tư tưởng này trong thời gian trước đây cũng như ngày nay và mai sau. Như vậy, Hồ Chí Minh đã làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa giải phóng dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đặt nền tảng cho sự quá độ từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta cũng như ở nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc khác. Điều này không chỉ thể hiện tính quy luật của sự phát triển lịch sử mà còn vì chính bằng cách mạng xã hội chủ nghĩa mới giữ vững thành quả của công cuộc giải phóng dân tộc. Tư tưởng về chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh tập trung chủ yếu vào hai vấn đề cơ bản đối với các dân tộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Một là, xác định con đường đấu tranh giải phóng dân tộc và phương hướng tiến lên của cuộc cách mạng này.

Hai là, từng bước xây dựng kế hoạch và biện pháp xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, ngay cả khi còn làm nhiệm vụ dân tộc dân chủ.

Những tư tưởng và lý luận về các giai đoạn cách mạng Việt Nam và sự phân định các bước đi trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta, đã được Hồ Chí Minh và Đảng ta giải quyết một cách sáng tạo và cǎn bản ở Đại hội lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951). Khi xác định tình hình đặc điểm thế giới để xác định con đường phát triển cách mạng Việt Nam, ngay từ lúc còn kháng chiến chống Pháp, tại Đại hội lần thứ II của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phân tích khía cạnh chính trị – xã hội của thời đại mà còn đề cập đến tính chất của lực lượng sản xuất. Qua phân tích thành tựu cuộc cách mạng khoa học – công nghiệp, Người đã nhận thức: “loài người đã tiến một bước dài trong việc điều khiển sức tự nhiên”. Đây là một nhận thức đúng đắn, toàn diện về thời đại, đã cùng với nhận định khác về tình hình trong nước và thế giới để vạch ra chính cương sách lược của Đảng trong việc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chuẩn bị điều kiện thực hiện những nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Nhận thức quy luật phát triển của lịch sử, phân tích những điều kiện chủ quan và khách quan, Đại hội lần thứ II của Đảng đã thông qua Chính cương, trong đó đã nêu rõ các giai đoạn từ cách mạng dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa: “… Giai đoạn thứ nhất, nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành giải phóng dân tộc; giai đoạn thứ hai, thực hiện triệt để người cày có ruộng, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; giai đoạn thứ ba, nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội. Ba giai đoạn cách mạng ấy không tách rời nhau, mà mật thiết xen kẽ với nhau. Nhưng mỗi giai đoạn có một nhiệm vụ trung tâm, phải nắm vững nhiệm vụ trung tâm đó để tập trung lực lượng vào đó mà thực hiện”. Tư tưởng về chủ nghĩa xã hội trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Hồ Chí Minh không chỉ xác định con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống ngoại xâm, phương hướng tiến lên của cách mạng, mà còn chỉ rõ bước đầu tiến hành xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội khi đang còn làm nhiệm vụ dân tộc, dân chủ.

Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không diễn ra theo con đường từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mà là một sự quá độ từ một nước nông nghiệp lạc hậu, mức sản xuất kém phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội. Những luận điểm ấy được đề ra trong một hoàn cảnh rất đặc biệt, trên một đất nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng trong suốt hơn 20 nǎm (1954-1975) – tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Có thể coi tư tưởng về chủ nghĩa xã hội và xây dựng xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh là một cuộc “khai phá” chưa hề có trong lịch sử, đặc biệt có ý nghĩa với các nước vốn là thuộc địa và phụ thuộc. Giáo sư Nhật bản Shingo Shibata đã có lý khi nhận xét rằng: “Một trong những cống hiến quan trọng của Cụ Hồ Chí Minh và của Đảng Lao động Việt Nam là đã đề ra lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội trong khi vẫn tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân… ý kiến chung về chủ nghĩa xã hội cho tới nay vẫn còn thịnh hành trong chủ nghĩa Mác là chỉ có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội sau khi chiến tranh đã chấm dứt… Họ (nhân dân Việt Nam – TG) phải thực hiện việc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong khi vẫn có chiến tranh. Theo tôi được biết, Đảng Lao động Việt Nam là Đảng đầu tiên trong các Đảng mácxít trên thế giới áp dụng lý luận này”. Là người mở đường, Hồ Chí Minh đã đề ra những luận điểm về chủ nghĩa xã hội với sự nhạy cảm đặc biệt đối với lịch sử, với nhận thức sâu sắc về vận mệnh dân tộc, về hướng đi của thời đại.

Những luận điểm của Người về chủ nghĩa xã hội đã được thực tế chứng minh là đúng đắn và sáng tạo. Con đường kết hợp và giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không những đã đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc nước ta đến thắng lợi hoàn toàn, mà ngày nay vẫn đang được tiếp tục phát triển sáng tạo trong sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mỗi người dân Việt Nam. Hồ Chí Minh đã nhìn thấy con đường phát triển tất yếu của lịch sử, tìm thấy ở chủ nghĩa xã hội nguồn động lực mạnh mẽ để thúc đẩy cách mạng Việt Nam đi tới. Hơn thế nữa, Người đã đặt nền tảng cho sự định hướng tất yếu về sự quá độ từ cách mạng dân tộc dân chủ lên cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cũng như ở các nước dân tộc thuộc địa khác trên thế giới.

Ngày nay tư tưởng của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội vẫn giữ nguyên sức sống của nó, dù chủ nghĩa xã hội đang gặp sự khủng hoảng sâu sắc, sau khi Liên Xô tan vỡ, chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Đông Âu. Việc đổi mới, cải cách, điều chỉnh ở các nước xã hội chủ nghĩa khẳng định chủ nghĩa xã hội vẫn là niềm tin, tương lai của loài người. Bởi vì sau khi giành độc lập về chính trị, các nước chậm phát triển đang phải đấu tranh chống lại các thế lực thực dân mới lợi dụng sức mạnh về tài chính, kỹ thuật và công nghệ cao để kìm hãm họ trong vòng lạc hậu và phụ thuộc. Trong điều kiện đó, các dân tộc “trong khi chối từ con đường đau khổ của chủ nghĩa tư bản, có thể nghiên cứu để tìm thấy trong tư tưởng xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh một hướng đi thích hợp cho sự lựa chọn của mình”.

b- Xuất phát từ mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội và điều kiện cụ thể của Việt Nam cũng như các nước dân tộc độc lập, Hồ Chí Minh đã phác thảo những nét lớn, cơ bản về một xã hội xã hội chủ nghĩa tương lai ở Việt Nam: “Chủ nghĩa xã hội làm sao cho dân giàu, nước mạnh…”. Dân có giàu thì nước mới mạnh, sự phồn vinh của đất nước không thể tách khỏi tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân lao động – người chủ của đất nước. Hồ Chí Minh không đưa ra những định nghĩa cao xa về chủ nghĩa xã hội, nhưng với những câu nói rất dễ hiểu, Người làm cho chúng ta nhận thức rõ rằng xây dựng chủ nghĩa xã hội là xây dựng cuộc sống phồn vinh cho đất nước, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Mục đích của việc “xây dựng chủ nghĩa xã hội là thay đổi cả xã hội, thay đổi cả thiên nhiên, làm cho xã hội không còn người bóc lột người, không còn đói rét, mọi người đều được ấm no, hạnh phúc”. Qua phác thảo của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, chúng ta thấy quan điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh” là quan điểm nhất quán trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của Người. Nói một cách cụ thể, chủ nghĩa xã hội, như Hồ Chí Minh khẳng định trong nhiều bài nói, bài viết của mình, là: “làm cho mọi người dân sung sướng ấm no”, “hạnh phúc và học hành tiến bộ”, “tất cả mọi người các dân tộc ngày càng sung sướng”.

Những yêu cầu thiết thực ấy không chỉ đối với nhân dân Việt Nam mà phải chung cho mọi dân tộc, đặc biệt là các dân tộc mới giành được độc lập. Bởi vì: nếu muốn tách riêng một mình mà ngồi ǎn no, mặc ấm, người khác mặc kệ, thế là không tốt. Mình muốn ǎn no, mặc ấm cũng cần làm sao cho tất cả mọi người được ǎn no, mặc ấm. Tư tưởng này là sự phát triển của tư tưởng đoàn kết quốc tế trong cách mạng giải phóng dân tộc. Chỉ có sức mạnh của dân tộc chưa thể đánh đuổi được thực dân đế quốc. Một dân tộc riêng rẽ khó xây dựng thành công xã hội “mọi người được ǎn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”. Chúng ta thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện sự công bằng xã hội, thể hiện bản chất ưu việt và sức hấp dẫn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà các dân tộc khát khao vươn tới. ở đây, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy cái gốc bền vững của đất nước là người dân, phải dựa vào gốc rễ sâu chặt trong nhân dân – lực lượng quyết định sự hưng thịnh hay suy vong của quốc gia, dân tộc.

Trong quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh đối với việc phác thảo một xã hội xã hội chủ nghĩa ngoài nhận thức về sự phát triển của xã hội loài người, mà chủ nghĩa Mác – Lênin đã nêu, còn có sự hiểu biết về nguyện vọng lâu dài của nhân dân lao động ở nhiều nước được sống hạnh phúc, no ấm. Từ nghìn đời nay, nhân dân các nước luôn luôn mơ ước đến một xã hội tươi đẹp, không có đói rét, không có áp bức, bóc lột. Cho nên, sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là yêu cầu tất yếu và tư tưởng về chủ nghĩa xã hội khoa học, kết quả đấu tranh hàng bao thế kỷ của quần chúng cho việc tự giải phóng, là thành tựu tư duy tiến bộ của con người về mặt xã hội nhân đạo, chính nghĩa. Việc chuyển chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học là công lao to lớn của những người sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin. Công lao to lớn của Hồ Chí Minh là ở chỗ biến chủ nghĩa xã hội khoa học thành hiện thực ngay trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và đặc biệt trong xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc.

Trong cả cuộc đời cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã tập trung nhiều sức lực cho công cuộc giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam và góp phần vào cuộc đấu tranh giành độc lập của nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc khác. Người chưa vạch ra một kế hoạch, một mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội đích thực, như nhân dân mong chờ, như Người ước vọng. Nhưng trong tư duy lý luận của Người và những thực tiễn ban đầu của công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chúng ta cũng thấy rõ một số quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội; một phác thảo, tuy đơn sơ nhưng khá sâu sắc, về một mô hình xã hội chủ nghĩa.

Thứ nhất, quan điểm tất cả vì con người, vì dân và do dân là quan điểm được thể hiện trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh luôn luôn nghĩ đến việc phát huy sức mạnh của dân; cho nên đã đặt lên hàng đầu nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, phổ biến kiến thức khoa học và kỹ thuật, nâng cao trí tuệ con người trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo quan niệm của Người, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội dù khó khǎn đến đâu nhưng nếu hợp lòng dân, vì dân sẽ khơi dậy được tinh thần tích cực nǎng động, khả nǎng sáng tạo của mỗi con người, biến họ thành lực lượng vật chất để hoàn thành nhiệm vụ đó. Do vậy, vấn đề trồng người vì sự nghiệp lâu dài của đất nước và dân tộc chiếm một phần rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.

Trong phác thảo của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh”, mối quan hệ giữa dân với nước là thống nhất – “dân có giàu thì nước mới mạnh”. Người không sợ dân giàu, bởi một lẽ giản đơn: một nhà nước của dân, do dân và vì dân thì dân giàu tức là nước giàu. Theo Người, một mặt nhà nước phải chǎm lo cho dân: tất cả đường lối, chính sách của Đảng đều nhằm nâng cao đời sống nhân dân. Nhà nước phải biết dựa vào dân: huy động tiền của dân và sức của dân để làm việc ích lợi cho dân thì bao giờ họ cũng hǎng hái, công việc gì cũng thành công. Những tư tưởng ấy của Hồ Chí Minh đã “khơi dậy tiềm nǎng bị chôn vùi, phát huy sức mạnh sẵn có, làm nảy nở những cái mới, cái hay, cái đẹp, trong mỗi con người trong sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội cho thấy sự sáng tạo của Người trong việc vận dụng những lý thuyết, những dự báo khoa học của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học. Phác thảo của Người về chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh” không phải là sự rập khuôn giáo điều, càng không phải biến các nước phương Đông – vốn là những nước nghèo nàn, lạc hậu – thành một phòng thí nghiệm để vận dụng những tư tưởng dân chủ của chủ nghĩa tư bản, cũng như tư tưởng xã hội chủ nghĩa của phương Tây.

Người đã khẳng định chủ nghĩa xã hội có điều kiện phát triển hợp quy luật “ở châu á nói chung và Đông Dương nói riêng”, vì chính “sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, quan niệm về sự giàu có của một dân tộc, sự hùng mạnh của một đất nước do Người nêu ra là sự trở về với bản chất đích thực của chủ nghĩa xã hội mà học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin đã đề cập tới. Đó chính là mục tiêu tiến lên của nhân loại phù hợp với xu thế phát triển chung của lịch sử thế giới.

Không phải ngẫu nhiên mà bạn bè quốc tế khẳng định rằng: “Nói về Hồ Chí Minh cần thấy rõ trong thế giới quan của Người không chỉ những đặc điểm riêng của Việt Nam mà cả những điểm tổng quát, đã khiến Người trở nên gần gũi với nhiều nhà hoạt động tiến bộ hiện đại – Di sản tư tưởng của Người không thuộc riêng Việt Nam”. Chính vì vậy, trong tình hình hiện nay, “trong mọi biến đổi cũng có một số điều quan trọng không hề thay đổi. Đó là lý tưởng xã hội chủ nghĩa, các tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa, tự do, dân chủ và công bằng xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà yêu nước vĩ đại, Người theo chủ nghĩa quốc tế đã cống hiến trọn đời mình cho những lý tưởng đó”.

Thứ hai, nhận thức về chủ nghĩa xã hội phải gắn liền với nhận thức đúng đắn con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nhân dân thế giới đã phấn khởi chứng kiến chủ nghĩa xã hội khoa học từ lý thuyết trở thành hiện thực, đồng thời cũng đau lòng nhận thấy sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội với sự tan vỡ của Liên Xô, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu trong những nǎm qua. Song đó chỉ là thất bại của một mô hình xã hội chủ nghĩa, chứ không phải là sự sụp đổ lý thuyết xã hội chủ nghĩa như nhiều nhà nghiên cứu phương Tây đã vội vàng khẳng định. Việc xác định con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội với bản chất đích thực của nó đòi hỏi chúng ta phải trở về với những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội, mà Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo.

Hồ Chí Minh luôn khẳng định rằng con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội “dân giàu nước mạnh” là một quá trình gian khổ, khó khǎn và lâu dài. Để đạt được mục tiêu đó, không thể nôn nóng, duy ý chí, “không thể làm mau được, mà phải làm dần dần”, phải đề ra những biện pháp cụ thể để từng bước xác lập chủ nghĩa xã hội trong cuộc sống. Nhận thức về con đường xây dựng một mô hình cụ thể cho xã hội tương lai là cả một quá trình. Nó đòi hỏi phải luôn được thực tế cuộc sống kiểm chứng, không được chủ quan duy ý chí. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (cũ) trong bảy thập kỷ qua bên cạnh những thành tựu to lớn, đã cho thấy những thiếu sót về tư tưởng nêu trên. Lần đầu tiên xã hội xã hội chủ nghĩa đã được xem như hoàn thành về cǎn bản ở Liên Xô vào giữa những nǎm 30. Với thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa và chiến thắng vĩ đại của Liên Xô trong chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít, những nhà lãnh đạo xô viết lúc ấy đã đặt dấu chấm hết cho sự tìm kiếm con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của loài người, nhất là các dân tộc vốn là thuộc địa và phụ thuộc.

Chủ nghĩa xã hội đã được định hình – chủ nghĩa xã hội hiện thực xô viết dường như trở thành khuôn mẫu cho những ai mơ ước về chủ nghĩa xã hội tương lai. Con đường mà các nước Đông Âu đi lên chủ nghĩa xã hội là sự mô phỏng theo khuôn mẫu đó. Liên Xô có công lớn trong việc đi đầu xây dựng một xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa. Nhân dân Xô viết đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong xây dựng đất nước, đã chiến thắng chủ nghĩa phát xít, giúp đỡ nhân dân các nước giành độc lập, làm cách mạng thành công. Nhưng mô hình xã hội chủ nghĩa xô viết không thể là mô hình chung của các dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là mô hình ấy lại có một số điểm thiếu sót, sai lầm cần khắc phục.

Vốn giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường trong đấu tranh giữ nước, cũng như dựng nước, Hồ Chí Minh một mặt học tập kinh nghiệm cách mạng của các nước anh em, mặt khác, tìm tòi sáng tạo đường lối, kế hoạch đáp ứng được tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ của các nước vừa giành độc lập dân tộc. Người cho rằng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở các nước như Việt Nam phải phù hợp với những điều kiện cụ thể “vốn là nước thuộc địa, một nước nông nghiệp lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá”. Hồ Chí Minh cho rằng nước ta khác Liên Xô về kinh tế – xã hội, phong tục tập quán, cho nên con đường của ta đi lên chủ nghĩa xã hội khác con đường của Liên Xô. Những tư tưởng về sự phân định các bước đi trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta giải quyết một cách sáng tạo ở Đại hội lần thứ II của Đảng (2-1951).

Vào những nǎm đầu, khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những đặc điểm và những khó khǎn mà đất nước sẽ phải trải qua. Trong những điều kiện như thế cần phải suy nghĩ để “dùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến dần lên chủ nghĩa xã hội”. Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá I, kỳ họp thứ 11 ngày 18-12-1959 đã đặt cơ sở lý luận cho việc giải đáp những câu hỏi trên: “Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tiến dần (tác giả nhấn mạnh) từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến”.

Nếu nhìn lại lịch sử thế giới trong thời kỳ đó chúng ta cần thấy tính độc lập, vững vàng của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lúc bấy giờ ở một số nước đã có những chủ trương “tả khuynh”, duy ý chí về xây dựng xã hội chủ nghĩa; nó làm nảy sinh tư tưởng nôn nóng “sợ chậm chân”, muốn bỏ qua những giai đoạn phát triển tự nhiên của cách mạng trong điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế kém phát triển. Nǎm 1957, tuyên bố của Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa, họp ở Mátxcơva, được soạn thảo dựa trên nhiều quan điểm không thích hợp với tình hình cụ thể của thế giới, nhưng lại được coi là cương lĩnh của đảng “cầm quyền”. Sau đó, Trung Quốc “chớp nhoáng” hoàn thành hợp tác hoá nông nghiệp và bước vào thời kỳ “đại nhảy vọt”, thực hiện “công xã nhân dân hoá” chuẩn bị tiến lên “chủ nghĩa cộng sản”, Liên Xô đưa cương lĩnh hai mươi nǎm quá độ lên chủ nghĩa cộng sản.

Việc thực hiện kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội như vậy thể hiện chủ nghĩa duy ý chí, chủ quan… tất nhiên không tránh khỏi thất bại. Tình hình này không phải không ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng. Nhưng Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện sai lầm, kịp thời điều chỉnh hợp lý. Thực tế đã chứng minh tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội đúng đắn, khoa học và là một kinh nghiệm, một đóng góp lớn của Người đối với nhiều dân tộc tự nguyện chọn con đường phát triển không tư bản chủ nghĩa.

Trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, điều quan trọng mà Hồ Chí Minh luôn luôn cǎn dặn là không bao giờ được xa rời mục đích của chủ nghĩa xã hội. Bởi vì đó là đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, càng bảo đảm cho sự thành công của việc mưu cầu no ấm, hạnh phúc cho dân tộc. Đó là nhân tố bất biến, là chân lý vĩnh hằng trong muôn vàn sự đổi thay của tự nhiên và xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và xây dựng xã hội chủ nghĩa không chỉ củng cố lòng tin cho nhân dân các nước vừa thoát khỏi ách thống trị, nô dịch của chủ nghĩa đế quốc mà còn phác hoạ cho họ con đường đi đến một xã hội “dân giàu, nước mạnh”, hạnh phúc ấm no.

Thực ra từ sau Cách mạng tháng Mười Nga nǎm 1917, chủ nghĩa xã hội đã chinh phục con tim khối óc của hàng triệu những người lao động ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội là tất yếu, dù những mô hình xã hội chủ nghĩa cũ đã sụp đổ. Đó là niềm tin có cơ sở khoa học. Chúng ta không hề nghiêng ngả trước việc nhiều người khẳng định rằng “sự kết thúc của thế kỷ XX cũng là việc chấm dứt những cuộc xung đột giữa Đông – Tây” và phương Tây đã “thắng cuộc”, đã “hoàn thành mỹ mãn nhất nhiệm vụ lịch sử của mình trong việc làm cho “cuộc đấu tranh của chủ nghĩa tư bản đa nguyên thắng lợi hoàn toàn đối với chủ nghĩa xã hội mác xít – lêninnít”.

Trong điều kiện thế giới ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng cho nhân dân nhiều nước đang phát triển đi tìm một mô hình xã hội công bằng, ấm no, hạnh phúc, tuy con đường đi tới chủ nghĩa xã hội không phải hoàn toàn thuận lợi, phẳng phiu. “Một chế độ này biến đổi thành một chế độ khác là cả một cuộc đấu gay go, kịch liệt và lâu dài giữa cái xấu và cái tốt, giữa cái cũ và cái mới, giữa cái thoái bộ với cái tiến bộ, giữa cái đang suy tàn và cái đang phát triển”. Song lịch sử cho thấy, “cái mới đang tiến bộ nhất định thắng”; “chế độ tư bản chủ nghĩa nhất định sẽ biến đổi thành chế độ xã hội chủ nghĩa”. Công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã lựa chọn, được thực hiện từ nǎm 1986 là sự tuân thủ nghiêm túc, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và xây dựng xã hội chủ nghĩa, đúng với bản chất đích thực của chủ nghĩa xã hội mà học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã đề cập tới.

Nhân dân thế giới thấy rõ rằng chính nhờ quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh mà “trước những thử thách rất lớn vừa qua nhân dân ta vẫn có đủ tỉnh táo, biết phân biệt chính tà, kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa. Đảng ta giữ được vai trò lãnh đạo của mình, cả nước ra sức phấn đấu cho sự nghiệp đổi mới, đồng thời tránh được cho đất nước những rối loạn, những đổi mới nguy hiểm”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội có sức sống mạnh mẽ và lâu bền vì nó thể hiện sự nhận thức quy luật phát triển của lịch sử, như Người đã nhiều lần khẳng định: “Con đường tiến tới chủ nghĩa xã hội của các dân tộc là con đường chung của thời đại, của lịch sử, không ai ngǎn nổi” và “sớm hay muộn tất cả các nước đều sẽ đi theo con đường đó”.

Trong lịch sử cũng như trong hiện tại và tương lai, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội đã soi sáng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta và góp một kinh nghiệm cho các nước lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa. Không phải ngẫu nhiên mà bạn bè quốc tế đã khẳng định rằng: “Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa sáng tạo vĩ đại và một người hành động. Chủ nghĩa xã hội của Người không bè phái, cũng không giáo điều mà nhân đạo và nhân loại”. Chính vì thế đối với những người bạn ở châu Phi xa xôi, “Giá trị của những tư tưởng Hồ Chí Minh vào thời điểm lịch sử hiện nay cũng là một động lực quan trọng đối với các nước châu Phi trong cuộc đấu tranh vì sự thống nhất và phát triển kinh tế – xã hội của dân tộc mình”.

2- Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược đoàn kết quốc tế trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Hồ Chí Minh gắn bó cả đời mình với phong trào công nhân và cộng sản quốc tế và có nhiều đóng góp to lớn. Người có những quan điểm về cách mạng thế giới, về chủ nghĩa xã hội. ở đây chúng tôi giới hạn việc trình bày ở nội dung tư tưởng nổi bật của Người là tư tưởng đoàn kết quốc tế. Tư tưởng này bao gồm nhiều mặt: đoàn kết giai cấp vô sản thế giới, đoàn kết giữa nhân dân các nước thuộc địa đấu tranh cho độc lập tự do, đoàn kết giữa vô sản và nhân dân bị áp bức các nước.

a- Đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh đã nêu một nguyên lý là:

Để thoát khỏi mọi sự áp bức, bóc lột và xây dựng cuộc sống hạnh phúc thì luôn luôn phải giải quyết tốt mối quan hệ đúng đắn giữa lợi ích của dân tộc với lợi ích của nhân dân thế giới. Vấn đề này không những có tính lý luận mà còn là thời sự nóng hổi, đang đặt ra trước những người cách mạng trong thế giới đang biến đổi nhanh chóng hiện nay. Về lịch sử, lợi ích dân tộc đã có từ lâu, gắn liền với sự xuất hiện các quốc gia.

Chủ nghĩa quốc tế vô sản chỉ xuất hiện khi giai cấp công nhân trở thành một giai cấp quốc tế gắn liền với nền sản xuất lớn. Mác và Ǎngghen là những người đầu tiên nói đến chủ nghĩa quốc tế vô sản khi đưa ra khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”. Phát triển tư tưởng của Mác- Ǎngghen, kết hợp với thực tế lịch sử lúc bấy giờ – khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, Lênin cho rằng chủ nghĩa tư bản đã là một lực lượng quốc tế, nên muốn thắng nó cần phải xây dựng liên minh quốc tế và “vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”.

Như đã nói, trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã nhận thức rằng trước hết và cần thiết phải có liên minh chiến đấu chặt chẽ giữa các dân tộc thuộc địa, giữa nhân dân thuộc địa với giai cấp vô sản của các nước đế quốc để thắng kẻ thù chung. Nhận thức này là cơ sở cho một kết luận khái quát về bức tranh chung của thế giới trong thời đại đế quốc chủ nghĩa: “dù màu da có khác nhau trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”.

Hồ Chí Minh đã hoạt động không mệt mỏi để nhân dân các nước “chính quốc” và thuộc địa hiểu nhau. Người đã giúp các đồng chí của mình ở chính quốc nhìn rõ hơn bản chất chính sách thuộc địa của bọn đế quốc, hiểu biết và ủng hộ công cuộc giải phóng của nhân dân Việt Nam , các dân tộc phương Đông thuộc địa, cũng như làm cho nhân dân thuộc địa đoàn kết với nhân dân chính quốc đấu tranh chống kẻ thù chung – chủ nghĩa đế quốc. Nǎm 1921, trong bài viết nhan đề Đông Dương, Nguyễn ái Quốc khẳng định rằng, công cuộc giải phóng các dân tộc châu á, Đông Dương, phải đặt trong mối quan hệ với công cuộc giải phóng vô sản ở phương Tây, trên phạm vi thế giới và sự phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Cơ sở vững chắc của sự đoàn kết giữa nhân dân thuộc địa và nhân dân, giai cấp vô sản chính quốc là lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Trả lời câu hỏi có thể vận dụng được chế độ cộng sản ở châu á nói chung, ở Đông Dương nói riêng hay không? Người khẳng định là được. Chủ nghĩa quốc tế của Hồ Chí Minh trong quan hệ giữa nhân dân thuộc địa và nhân dân chính quốc được xây dựng trên một quan điểm tư tưởng thực sự khoa học, chân chính chứ không phải là biểu hiện của “chủ nghĩa dân tộc” cực đoan. Không thấy sự kết hợp nhuần nhuyễn và độc đáo những yếu tố dân tộc và quốc tế sẽ không hiểu được tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều này thể hiện một tầm nhìn rộng lớn của một con người hết lòng yêu nước, đã sống cuộc sống cùng khổ của các dân tộc thuộc địa và cũng tự mình hoà vào cuộc sống lao động của công nhân các nước tư bản. Nhờ vậy Hồ Chí Minh đã đưa sự nghiệp cứu nước của dân tộc hoà vào trào lưu cách mạng thế giới và tạo nên sự ủng hộ quốc tế đối với phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam.

Hồ Chí Minh là một trong những người dân thuộc địa đầu tiên chứng minh rằng, các nước thuộc địa và phụ thuộc có thể và sẵn sàng tiếp nhận chủ nghĩa cộng sản, công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc phải đặt trong mối quan hệ mật thiết với cách mạng vô sản ở phương Tây, trên phạm vi thế giới và phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, cần phải truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào các nước thuộc địa và phụ thuộc. Phong trào công nhân và cộng sản quốc tế không bao giờ quên những đóng góp to lớn của Nguyễn ái Quốc trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào nhiều nước, trong việc xây dựng và củng cố một số Đảng cộng sản, chỉ đạo phong trào cách mạng ở phương Đông, vận dụng một cách sáng tạo học thuyết mácxít lêninít vào điều kiện cụ thể ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Cùng với việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh cũng đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của nó.

Trong nhiều bài viết về phong trào công nhân các nước Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ và các nước phương Đông khác, Nguyễn ái Quốc không chỉ rút kinh nghiệm cuộc đấu tranh chống tư bản đế quốc, mà còn chống những khuynh hướng sai lầm trong phong trào công nhân và cộng sản quốc tế. Theo Người, chủ nghĩa xét lại hay chủ nghĩa giáo điều đều là những kẻ thù nguy hại của chủ nghĩa Mác – Lênin, dẫn tới nguy cơ làm cho cách mạng thất bại. Trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng sáng tạo, có hiệu quả vào hoạt động thực tế cụ thể là nét đặc trưng trong tư duy và hành động của Hồ Chí Minh. Người khẳng định: “Lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo, lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới, rút ra từ trong thực tiễn sinh động. Những người cộng sản các nước phải cụ thể hoá chủ nghĩa Mác – Lênin cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh từng lúc và từng nơi… Phải học tập tinh thần … lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin … mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tiễn trong công tác cách mạng của chúng ta”.

Có thể xem đây là một nguyên tắc phương pháp luận của Hồ Chí Minh về học tập và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin. Chính bằng phương pháp này Người đã phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin về việc giải quyết mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc, về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc, về mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng… Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa và giải phóng dân tộc mà còn là sự bảo vệ tích cực chủ nghĩa xã hội khoa học đang trong cơn sóng gió. Việc tổ chức và lãnh đạo thắng lợi cách mạng Việt Nam là minh chứng về sự thắng lợi của chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại ngày nay. Việc làm sáng tỏ, bổ sung, phát triển nhiều luận điểm quan trọng về cách mạng giải phóng dân tộc, về xây dựng Đảng, về mối quan hệ quốc tế, về xây dựng xã hội chủ nghĩa… không chỉ làm phong phú mà còn có tác dụng, có hiệu quả trong cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, xây dựng lòng tin vững chắc của công nhân, nhân dân lao động thế giới vào chủ nghĩa Mác – Lênin.

Trong tình hình thế giới hiện nay, khi phong trào công nhân và cộng sản quốc tế gặp nhiều khó khǎn, nhiều nhà lý luận phương Tây khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác đã lỗi thời. Cho nên việc bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin là làm đúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh: tiếp thu, vận dụng sáng tạo và phát triển. Một trong những điều kiện để bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, chống sự tấn công của mọi kẻ thù là đảm bảo sự đoàn kết trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trong quá trình hoạt động cho phong trào cách mạng thế giới, Hồ Chí Minh bao giờ cũng coi trọng sự đoàn kết quốc tế của giai cấp vô sản thế giới. Vấn đề này trước đây cũng như hiện nay là một đối tượng tấn công của những người chống chủ nghĩa Mác – Lênin. Họ gây ra sự nghi ngờ và phủ nhận tính chất hiện thực, đúng đắn của tinh thần quốc tế vô sản. Hơn lúc nào hết, tư tưởng Hồ Chí Minh làm chúng ta thấy rõ hơn ý nghĩa to lớn của sự đoàn kết quốc tế, sự “đoàn kết giai cấp” – như tên một bài viết của Người đǎng trên báo Người cùng khổ, tháng 5-1924.

Đoàn kết quốc tế không chỉ vì lợi ích của phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, mà còn là sự thể hiện tình cảm sâu nặng của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giải phóng toàn thể nhân dân lao động và vô sản thế giới. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh sự đoàn kết quốc tế không chỉ dừng ở nhận thức về chủ nghĩa quốc tế vô sản mà còn phải thực hiện bằng hành động cụ thể. Trong việc xây dựng tình đoàn kết hữu nghị với nhân dân Lào, Campuchia và các nước khác, Hồ Chí Minh đã thể hiện tư tưởng này. Người nhiều lần nhấn mạnh rằng sự đoàn kết giữa nhân dân ba nước là một yêu cầu khách quan trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, trong kháng chiến và kiến quốc. Người nói: “Dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ với dân tộc anh em Miên – Lào thì sức mạnh sẽ đủ để đánh tan thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ”. Đồng thời Người cũng chỉ ra rằng “Ba nước bang giao với nhau trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng và tôn trọng độc lập quốc gia của nhau”.

Như vậy, sự đoàn kết quốc tế, theo tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là sự đoàn kết giai cấp vô sản thế giới mà còn là sự đoàn kết giữa nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc đấu tranh cho độc lập, tự do. Vì vậy Hồ Chí Minh cho rằng phải bình đẳng, tôn trọng tinh thần độc lập, tự chủ, kết hợp khả nǎng của mỗi dân tộc với sự giúp đỡ của các dân tộc khác để hoàn thành nhiệm vụ của dân tộc và góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng thế giới. Cho nên “giúp nhân dân nước bạn tức là giúp mình”. Và giải phóng cho dân tộc mình cũng “góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc” trên thế giới. Điều đó cho thấy cuộc đấu tranh của mỗi dân tộc vừa phục vụ lợi ích dân tộc vừa làm nghĩa vụ quốc tế. Hai yếu tố đó quyện chặt với nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp nhân dân ta và nhân dân các nước anh em đạt những thắng lợi to lớn và góp phần vào thắng lợi của cách mạng thế giới.

Trung thành với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn kết hợp hài hoà giữa lợi ích dân tộc và lợi ích của cách mạng thế giới trong chính sách, chủ trương và hành động. Trong chiến tranh chống Mỹ, Đảng ta luôn gắn lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập và thống nhất Tổ quốc với lợi ích của nhân dân thế giới là hoà bình. Do vậy, trong lúc tranh thủ viện trợ to lớn của các nước anh em và các lực lượng tiến bộ trên thế giới, Đảng ta luôn chủ trương phải thắng đế quốc Mỹ bằng sức của mình là chính và ở ngay trên đất Việt Nam. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã góp phần không nhỏ vào việc tạo điều kiện cho Liên Xô tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng lớn mạnh, vào sự phát triển của cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới. Lịch sử trong nhiều nǎm qua chứng tỏ sự đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết chân chính: “Quan san muôn dặm một nhà Bốn phương vô sản đều là anh em”.

b- Đoàn kết quốc tế là cần thiết, tất yếu, Đảng phải thực hiện theo những nguyên tắc nào ?

Thiếu nguyên tắc chỉ đạo đúng đắn sẽ dẫn tới những hậu quả lớn, do chia rẽ, bè phái gây ra. Về lý luận và thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xác định những nguyên tắc trong quan hệ giữa các Đảng cộng sản và công nhân, cũng như với các tổ chức dân chủ và tiến bộ trên thế giới. Ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước (1911), nhất là khi trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên (1920), Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng đến quan hệ quốc tế giữa các đảng cộng sản, các tổ chức yêu nước tiến bộ trên thế giới. Dù với tư cách nào – đảng viên của Đảng cộng sản Pháp, hay đại diện cho Đảng cộng sản Đông Dương ở nước ngoài, hoặc là nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước – Hồ Chí Minh bao giờ cũng tuân thủ những nguyên tắc nhất định trong quan hệ quốc tế. Về cơ bản có thể rút ra những nguyên tắc sau đây:

Thứ nhất, thể hiện tính tất yếu của mối quan hệ giữa các Đảng cộng sản, công nhân và tổ chức chính trị tiến bộ. Từ nhận thức tính chất thời đại thể hiện ở sự đối kháng giữa người bị áp bức và những kẻ áp bức, Hồ Chí Minh đi đến nhận thức về tính tất yếu của sự đoàn kết quốc tế giữa các dân tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức trên thế giới để chống lại sự liên kết đã mang tính quốc tế của chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Bởi vì, “Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc đã tiến tới một trình độ hoàn bị gần như là khoa học. Nó dùng những người vô sản da trắng để chinh phục những người vô sản các thuộc địa. Sau đó nó lại tung những người vô sản ở một thuộc địa này đi đánh những người vô sản ở một thuộc địa khác. Sau hết, nó dựa vào những người vô sản ở các thuộc địa để thống trị những người vô sản da trắng”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế đã trở thành hiện thực trong quan hệ giữa Đảng ta với các đảng vô sản, các tổ chức yêu nước dân chủ và tiến bộ. Mối quan hệ, sự đoàn kết giữa các đảng cộng sản, công nhân và tổ chức tiến bộ đã có ý nghĩa trong lịch sử, càng có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay của thời đại chúng ta, khi mà chủ nghĩa xã hội bị tấn công dồn dập từ nhiều phía, bị sụp đổ ở nhiều nơi khi mà phong trào công nhân và cộng sản quốc tế bị phân liệt, chia rẽ. Chúng ta đã cố gắng khôi phục và phát triển mối quan hệ ngoại giao truyền thống với các nước vốn là xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Liên Xô (cũ); nhanh chóng góp phần củng cố và phát triển mối quan hệ với các đảng công nhân, cộng sản và các tổ chức dân chủ tiến bộ khác trên thế giới.

Đây là một phần quan trọng trong việc thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VII: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Tư tưởng hoà nhập vào cộng đồng quốc tế đã có ở Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người gắn liền cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam vào phong trào cách mạng thế giới, khi Người chủ trương Việt Nam muốn làm bạn với mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai. Sự hoà nhập vào cộng đồng quốc tế không phải là sự hoà tan vào thế giới tư bản chủ nghĩa, mà trái lại đó là góp phần giữ vững và phát triển chủ nghĩa xã hội. Sự hoà nhập vào cộng đồng quốc tế ngày nay đòi hỏi càng phải củng cố vững mạnh hơn mối quan hệ giữa các đảng cộng sản và công nhân, các tổ chức dân chủ tiến bộ. Đảng cộng sản Việt Nam có kinh nghiệm, vai trò để góp phần thực hiện nhiệm vụ này theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ hai, tập hợp lực lượng cách mạng trong việc thực hiện mục tiêu của mình, giữ vững tính độc lập tự chủ trên tinh thần quốc tế chân chính. Trong việc nhận thức thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy giai cấp vô sản và tầng lớp nhân dân lao động thế giới có mục tiêu chung trong việc đấu tranh cho độc lập, tự do, cho xây dựng xã hội hạnh phúc, tiến bộ. Đồng thời Người cũng nhận thấy trong lãnh đạo các đảng, các tổ chức cách mạng tiến bộ ở nhiều nước có những bất đồng, khác biệt nhau, thậm chí đối địch nhau vì những nguyên nhân, tác động chủ quan và khách quan.

Trong quan hệ với các đảng công nhân và cộng sản, các tổ chức dân chủ và tiến bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giữ vững mục tiêu nhất quán không thay đổi là “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”, như Người ghi trong Di chúc. Người có ý thức xác lập mối quan hệ với các đảng, các tổ chức chính trị khác trên cơ sở độc lập, bình đẳng, tranh thủ sự giúp đỡ cao nhất, song kiên trì giữ vững quan điểm của mình, chịu trách nhiệm với dân tộc mình và với phong trào cách mạng thế giới.

Tuy nhiên, trong quan hệ với các đảng anh em, Hồ Chí Minh bao giờ cũng giữ vững tinh thần thẳng thắn, đoàn kết đấu tranh, không xuê xoa, xuôi chiều, đề cao nguyên tắc phê bình, tự phê bình, tinh thần chiến đấu của một đảng cộng sản. Điều này đã thể hiện trong cuộc đấu tranh chống những quan niệm sai lầm về thuộc địa, chống việc không quan tâm đến phong trào giải phóng dân tộc của các đảng Anh, Pháp và một số đảng cộng sản ở châu Âu vào những nǎm 20 của thế kỷ này. Người thẳng thắn phê bình: “… sẽ không phải là quá đáng nếu nói rằng chừng nào đảng Pháp và đảng Anh chưa thi hành một chính sách thật tích cực trong vấn đề thuộc địa, thậm chí chưa đề cập đến quần chúng các nước thuộc địa thì toàn bộ chương trình rộng lớn của hai Đảng đó vẫn không có hiệu quả gì. Chương trình ấy sẽ không có hiệu quả gì vì nó trái với chủ nghĩa Lênin”.

Quan hệ của Nguyễn ái Quốc với Quốc tế cộng sản, với ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng cộng sản Đông Dương, với một số đảng khác thể hiện sự thẳng thắn, ý chí kiên định trong việc giữ vững quan điểm, lập trường đúng đắn của mình mà vẫn đảm bảo ý thức tổ chức kỷ luật, sự đoàn kết. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ quốc tế giữa các Đảng cộng sản, công nhân, các tổ chức chính trị khác thể hiện sự tôn trọng tính độc lập của mỗi đảng, mỗi tổ chức. Trong bài Củng cố và phát triển sự thống nhất tư tưởng của các đảng mácxít – lêninnít, viết cho bài Sự thật (Liên Xô) ngày 3-8-1956, Người khẳng định: “Trong tình hình quốc tế hiện nay, những đặc điểm dân tộc và những điều kiện riêng biệt ở từng nước ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong việc vạch ra chính sách của mỗi đảng cộng sản và mỗi đảng công nhân”. Đồng thời Người lại nhấn mạnh rằng “không thể nào hạn chế những hoạt động hiện nay và tương lai… trong khuôn khổ dân tộc thuần tuý”, rằng “những hoạt động đó có muôn vàn sợi dây liên hệ với cuộc đấu tranh chung của thế giới tiến bộ…”.

Cho nên khi đảm bảo tính độc lập tự chủ, những điểm riêng biệt của mỗi Đảng, mỗi nước, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải có “sự nhất trí về mặt tư tưởng và sự đoàn kết anh em giữa các đảng mácxít – lêninnít của giai cấp công nhân các nước”. Thực hiện mục tiêu chiến lược trong việc đoàn kết các đảng cộng sản, công nhân, các tổ chức dân chủ, tiến bộ khác, Hồ Chí Minh đi đến việc tập hợp, sắp xếp lực lượng cách mạng trong cuộc đấu tranh chống đế quốc. Đây là một yếu tố quyết định cho sự thành bại của cách mạng, vì biết rõ “đâu là những người anh em thật sự và đâu là kẻ thù” mới có thể chiến thắng được. Việc tập hợp lực lượng không chỉ để tạo nên sức mạnh của cách mạng, trên cơ sở đoàn kết các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản trên thế giới, mà còn củng cố và phát triển chủ nghĩa quốc tế chân chính, khắc phục tư tưởng “nước lớn”, “đảng lớn”, “chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi” hay “tự ti dân tộc”.

Khi khẳng định chân lý “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình” thì phải bảo đảm nguyên tắc “tôn trọng chủ quyền, tôn trọng phong tục tập quán, kính yêu nhân dân của nước bạn”. Như đã nói, đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, kết hợp lợi ích dân tộc với lợi ích của nhân dân thế giới không phải chỉ là vấn đề đường lối, mà là sự nhận thức quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng, giữa nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài, giữa bộ phận và toàn thể. Không tính đến những mối liên hệ đó thì không những không có cái chung mà cái riêng cũng không thể phát triển và dẫn đến những sai lầm cực đoan.

Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, sự tuỳ thuộc lẫn nhau để phát triển đã trở thành quy luật chính chi phối quan hệ giữa các nước cả về mặt kinh tế, lẫn chính trị và an ninh. Sự đoàn kết quốc tế giữa các dân tộc, các lực lượng hoà bình và cách mạng, sự nương tựa lẫn nhau trong thế giới ngày nay, do đó, lại càng phải được tǎng cường. Từ tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta thấy bất cứ Đảng cách mạng nào muốn làm tròn sứ mạng là Đảng lãnh đạo đều phải chú ý đến lợi ích dân tộc, giương cao ngọn cờ dân tộc. Điều cơ bản là phải đặt lợi ích dân tộc mình trong tổng thể lợi ích của nhân loại – đó là hoà bình và phát triển.

Lợi ích dân tộc chân chính không đồng nghĩa với chính sách tự cung tự cấp, đóng cửa và chủ nghĩa dân tộc ích kỷ. Trái lại, lợi ích dân tộc chân chính đòi hỏi phải thay đổi chế độ “bao cấp” quốc tế bằng nguyên tắc hiệu quả, bình đẳng và cùng có lợi. Lợi ích dân tộc chân chính kết hợp với lợi ích cách mạng thế giới cũng đòi hỏi những nước giàu hơn, có kinh nghiệm hơn giúp các nước khác nhanh chóng phát huy tiềm lực, rút ngắn khoảng cách phát triển và trở thành những thành viên hợp tác bình đẳng và cùng có lợi. Đồng thời bản thân các nước nghèo cũng không thể ỷ lại, lợi dụng cái nghèo của mình để duy trì chế độ “bao cấp quốc tế”.

Trong thế giới ngày nay, khi các dân tộc có chế độ xã hội khác nhau, có trình độ phát triển khác nhau đều đi vào hợp tác để phát triển, đều liên hệ với nhau trong một tổng thể là nền kinh tế thế giới thì lẽ nào những người cách mạng, những dân tộc cùng chí hướng lại không đoàn kết và hợp tác với nhau. Thế giới đã chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, nhưng các giai cấp đối kháng vẫn tồn tại, vấn đề đấu tranh giai cấp và tính giai cấp trong quan hệ quốc tế vẫn tiếp tục dưới những hình thức mới. Hiện nay những thế lực hiếu chiến vẫn luôn sẵn sàng chà đạp lên chủ quyền độc lập của các dân tộc.

Trong cuộc chiến đấu của mình, các dân tộc bị xâm lược, tuy phải dựa vào sức mình là chính nhưng vẫn rất cần sự viện trợ và giúp đỡ của bên ngoài. Tất cả các dân tộc yêu chuộng hoà bình, độc lập dân tộc có nghĩa vụ quốc tế đối với các dân tộc đang chiến đấu. Điều khác trước đây là, trong khi viện trợ, giúp đỡ cho các dân tộc đang chiến đấu phải làm cho họ thông qua chiến đấu mà trưởng thành và tự đảm đương sự nghiệp cách mạng nước mình theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Hiện nay, lợi ích của cách mạng thế giới đòi hỏi các lực lượng cách mạng và xã hội chủ nghĩa phải đoàn kết thống nhất, tiến hành đấu tranh giai cấp bằng nhiều biện pháp, cùng nhau chống lại các thế lực đế quốc đang lợi dụng sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội hòng thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình, lật đổ từ bên trong, phá hoại những thành quả của chủ nghĩa xã hội. Điều đó hoàn toàn phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích cách mạng thế giới. Bài học đó đang được Đảng ta tiếp tục trong sự nghiệp đổi mới với chính sách mở rộng cửa để Việt Nam hoà nhập vào thế giới, đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đến thành công, thực hiện những ước muốn mà suốt đời Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi. Thư ba, “có lý”, “có tình” trong quan hệ quốc tế của các đảng cộng sản, công nhân là một nguyên tắc quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Do điều kiện chủ quan và khách quan (tình hình nhiệm vụ cụ thể của mỗi đảng, mỗi dân tộc; sự nhận thức và vận dụng đường lối chung của cách mạng vào cuộc đấu tranh của mỗi nước; ảnh hưởng của những tư tưởng thù địch với chủ nghĩa Mác – Lênin; sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc…) nên những sự bất đồng trong phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, việc mất đoàn kết giữa một số đảng, nhất là những đảng cầm quyền ở những nước xã hội chủ nghĩa là điều khó tránh khỏi. Việc phân liệt, chia rẽ này đã làm cho phong trào cách mạng thế giới suy yếu, gây nên những tổn thất to lớn. Sự tan rã của Liên Xô, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu có một nguyên nhân là sự chia rẽ, xung đột trong phong trào cộng sản quốc tế, giữa các nước xã hội chủ nghĩa và trong nội bộ mỗi nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức hậu quả của hiện tượng chia rẽ, mất đoàn kết. Trong Di chúc, Người đã cǎn dặn: “là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em. Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt đông, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình”.

Những lời tâm huyết ấy không chỉ là tấm lòng, tình cảm, trách nhiệm của một người cộng sản, một chiến sĩ của phong trào giải phóng dân tộc thế giới, mà còn là nguyên tắc – nguyên tắc bao trùm – trong quan hệ giữa các đảng. “Có lý” trước hết là tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, xuất phát từ lợi ích chung của cách mạng thế giới. Bởi vì “Chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn là cơ sở không lay chuyển nổi của cuộc đấu tranh chung của tất cả các đảng ấy, việc trao đổi kinh nghiệm về cuộc đấu tranh ấy vẫn giữ tất cả ý nghĩa của nó và những vấn đề đặt ra cho đảng này hoặc đảng khác tuyệt nhiên không phải là “việc riêng” của mỗi đảng mà quan hệ thiết thân đến toàn bộ giai cấp vô sản quốc tế”. “Có tình” là sự thông cảm, tôn trọng nhau trên tinh thần, tình cảm của những người cùng chung lý tưởng, mục tiêu đấu tranh, khắc phục tư tưởng sô vanh, “nước lớn”, “đảng lớn”, “áp đặt’, “ức chế” nhau. Vậy “có tình” đòi hỏi chờ đợi nhau cùng nhận thức, hành động vi lợi ích chung, lợi ích của mỗi đảng, mỗi dân tộc mà không làm phương hại đến đảng khác, dân tộc khác.

Tránh việc giải quyết bằng công kích, nói xấu công khai, tránh dùng sức ép chính trị, kinh tế, ngoại giao, dùng lực lượng vũ trang đối với các đảng cầm quyền. “Có tình” là một nội dung của chủ nghĩa nhân vǎn Hồ Chí Minh – chủ nghĩa nhân vǎn cộng sản chủ nghĩa. Những nguyên tắc như vậy đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chính Minh vận dụng vào việc giải quyết những bất đồng giữa các nước xã hội chủ nghĩa, giữa các đảng công nhân và cộng sản. Trong bài phát biểu tại Hội nghị các đảng cộng sản và công nhân ở Mátxcơva nǎm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Chúng ta đều là anh em ruột thịt trong đại gia đình cộng sản quốc tế, cùng nhau chung sức phấn đấu cho tương lai tươi sáng của cả loài người.

Trước mắt chúng ta đang có kẻ thù cực kỳ hung ác là chủ nghĩa đế quốc. Dù nội bộ của chúng đầy mâu thuẫn, chúng vẫn nhất trí để chống lại phong trào cộng sản quốc tế của chúng ta. Để đánh thắng kẻ thù chung, chúng ta nhất định phải đoàn kết chặt chẽ. Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, xây dựng xã hội chủ nghĩa và quan hệ quốc tế giữa các đảng cộng sản có ý nghĩa to lớn đối với sự thành công của cách mạng Việt Nam, đóng góp vào thắng lợi của phong trào cách mạng thế giới. Tư tưởng này đã thể hiện tính đúng đắn của nó trong quá khứ. Ngày nay khi quan hệ giữa các Đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng dân chủ, tiến bộ đang gặp nhiều khó khǎn, phức tạp nó vẫn giữ nguyên giá trị chân chính.

GS. Phan Ngọc Liên (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995)

cpv.org.vn

Advertisements