Chuyện về người đầu bếp đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đó là đồng chí Hoàng Văn Lộc, tên thật là Nguyễn Văn Ty, sinh năm 1900, quê tại xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, đồng chí Lộc vốn là một Việt kiều ở Xiêm (Thái Lan).

Năm 1928, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc đó là Nguyễn Ái Quốc) đến Xiêm, đồng chí được chọn đi cùng Bác khắp 16 tỉnh Đông Bắc Xiêm có Việt kiều sinh sống nhằm tuyên truyền cách mạng cho kiều bào yêu nước. Từ Xiêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe tin ở trong nước, ba tổ chức cộng sản đã ra đời và đang có sự phân liệt tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau. Trước tình hình đó, tháng 11 năm 1929, Người trở về Hồng Kông để triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức Đảng, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2-1930). Cũng chính dịp này đồng chí Hoàng Văn Lộc cũng tạm chia tay người vợ trẻ ở Xiêm, để đi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc, tiếp tục con đường hoạt động cách mạng.

Sau đó, hàng loạt sự kiện liên tiếp diễn ra: Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, tạo tiền đề cho phong trào đấu tranh cách mạng phát triển lên một tầm cao mới; nhưng ngày 6-6-1931, Chủ tịch Hồ Chí Minh bị bắt tại Hồng Kông. Trải qua gần 3 năm bị giam giữ và lưu lạc, tháng 6-1934 Người trở về hoạt động ở Liên Xô. Năm 1938, đứng trước thực tế lò lửa chiến tranh Thái Bình Dương đã xuất hiện, không thể yên tâm học tập và hoàn thành luận án nghiên cứu sinh Phó Tiến sĩ sử học, Nguyễn Ái Quốc đề nghị và được Quốc tế Cộng sản điều về hoạt động ở Trung Quốc. Trong khoảng thời gian từ 1938-1940, Người cùng một số đồng chí đã di chuyển qua nhiều địa điểm ở Trung Quốc, một mặt tiếp tục hoạt động và tuyên truyền cách mạng, mặt khác Người cùng các đồng chí không ngừng tìm cách chắp nối liên lạc để tìm đường về nước.

Cuối tháng 5-1940, đồng chí Hoàng Văn Lộc và đồng chí Đặng Văn Cáp tới Côn Minh, Vân Nam, Trung Quốc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh phái Bùi Thanh Bình và Hoàng Văn Lộc về Hà Khẩu thăm dò đường sá để về nước bằng đường Côn Minh – Lào Cai. Cuối tháng 6-1940, đường giao thông Côn Minh – Lào Cai bị tắc, kế hoạch về nước bằng đường Lào Cai phải hủy bỏ. Đồng chí Hoàng Văn Lộc được gọi trở về Côn Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định chọn đường về nước qua Cao Bằng.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941 đoàn cán bộ cùng Bác Hồ vượt qua cột mốc biên giới Việt – Trung số 108 về Cao Bằng. Cùng đến Pác Bó với Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có 5 đồng chí: Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp và Hoàng Văn Lộc – người đã gắn bó với Bác từ những ngày đầu hoạt động đầy khó khăn ở Thái Lan những năm 1928, 1929.

Những ngày hoạt động ở Pác Bó cuộc sống vô cùng gian khổ và thiếu thốn. Đồng chí Lộc được giao nhiệm vụ nấu ăn cho cả cơ quan. Để cải thiện bữa ăn đạm bạc cho Bác và các anh em, đồng chí Lộc không ngại khó khăn gian khổ mò cua, bắt ốc, trồng rau, đơm cá, đặc biệt đồng chí biết rất nhiều các loại rau rừng và cũng rất chịu khó cải tiến món ăn. Trong thời gian hoạt động tại Cao Bằng, đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một người đầu bếp đầu tiên của Bác Hồ.

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và các cơ quan Trung ương trở về thủ đô Hà Nội. Các đồng chí hoạt động cách mạng từ trước khởi nghĩa nhiều người được giao đảm đương những cương vị xứng đáng. Riêng đồng chí Lộc cùng với một số đồng chí khác được Bác Hồ cử ở lại Việt Bắc tiếp tục xây dựng “hậu phương lưu trú”. Bởi với tầm nhìn chiến lược, trên cơ sở phân tích tương quan lực lượng địch và ta, đặc biệt nhìn rõ dã tâm xâm lược của thực dân Pháp đối với dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán việc Chính phủ sớm muộn sẽ phải trở lại Tân Trào để tiếp tục kháng chiến. Vì vậy, việc không ngừng củng cố và xây dựng hậu phương là một vấn đề tối cần thiết. Người đã tin tưởng giao nhiệm vụ khó khăn này cho đồng chí Hoàng Văn Lộc.

Đúng như Bác dự đoán, ngày 19-12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Bác Hồ cùng Trung ương Đảng đi qua các tỉnh Sơn Tây, Phú Thọ, và đến tháng 5-1947, Người trở lại Tân Trào, bắt đầu cuộc trường kỳ kháng chiến. Đồng chí Lộc đang làm việc tại công binh xưởng, được gọi trở về cơ quan Phủ Chủ tịch để làm nhiệm vụ cấp dưỡng, nấu ăn cho Bác. Để biểu thị quyết tâm trong cuộc kháng chiến, cũng là để nhắc nhở các cán bộ chiến sĩ đồng lòng quyết tâm, Bác Hồ đã đặt tên cho các chiến sĩ, cán bộ phục vụ xung quanh Người theo khẩu hiệu: Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi và Đồng, Tâm, Kiên, Quyết, Trung, Dũng, Cần, Kiệm, Liêm… Đồng chí Lộc được mang tên là Đồng. Không phụ lòng tin cậy của Bác, Đồng chí Lộc một lần nữa nỗ lực hết mình, tận tụy hoàn thành nhiệm vụ được Đảng phân công.

Trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ nhưng hào hùng ấy, ngày 3-5-1948, do bị một cơn sốt rét ác tính, đồng chí Lộc qua đời. Anh em ngậm ngùi chôn cất đồng chí trong khu rừng Khuôn Tát, xã Phú Đình, Định Hoá, Thái Nguyên. Sau khi đồng chí qua đời, có một kỷ niệm vô cùng sâu sắc mà tất cả các anh em đều nhớ mãi. Đó là, sáng 19-5-1948, anh em cảnh vệ phục vụ giúp việc Bác Hồ bí mật sửa soạn từ tối hôm trước để tổ chức chúc thọ Bác. Anh em dậy từ đêm, hái một bó hoa rừng, chờ sẵn Bác, khi Người bước từ căn gác nhỏ nhà sàn xuống, anh em chạy lại xếp hàng ngang trước mặt Bác, và cử một đồng chí nhanh nhẹn nói một câu vắn tắt: “Nhân dịp sinh nhật Bác, chúng cháu kính chúc Bác mạnh khỏe, sống lâu”.

Anh em đều rất vui mừng vì đã tổ chức một buổi sinh nhật Bác rất đúng kế hoạch, giản dị mà vui vẻ. Nhưng khi cầm bó hoa rừng anh em vừa trao tặng, Bác rưng rưng nước mắt, Người nói: “Bác cám ơn các chú. Bác nhờ các chú đem bó hoa này đặt lên mộ chú Lộc cho Bác”. Lúc đó anh em ai cũng chảy nước mắt vì nhớ thương một người đồng chí và vì cả tình cảm mà Bác dành cho anh. Sau khi các anh em đem bó hoa rừng ra viếng mộ đồng chí Lộc theo đúng ý Bác, trở về Bác cháu quây quần dưới nhà sàn, Bác kể cho anh em nghe về đồng chí Lộc. Lúc này anh em mới biết người đồng chí nhỏ nhắn, thông minh, nhanh nhẹn, linh hoạt, hay cười, lạc quan không bao giờ nói đến khó khăn gian khổ, một người làm công việc tưởng chừng như nhỏ bé, giản đơn lại có một tiểu sử đáng khâm phục đến như vậy. Anh em càng xúc động hơn khi kết thúc câu chuyện, Bác nói: “Chú Đồng làm nhiệm vụ nấu ăn cho Bác và cho các chú, không phải vì chú ấy không có năng lực, ngược lại chú Đồng rất có khả năng, có thể đảm đương nhiều công việc quan trọng. Nhưng do tổ chức tin tưởng phân công cho chú ấy nấu ăn cho Bác và các chú, nên chú vui vẻ làm và làm việc gì cũng đến nơi đến chốn”. Vậy là lễ mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh năm ấy đã trở thành một buổi Bác dạy anh em giúp việc, cảnh vệ về tấm gương của người cộng sản chân chính, mẫu mực và vô cùng giản dị, gần gũi: Hoàng Văn Lộc (tức Đồng, tức Ty).

Câu chuyện về đồng chí Lộc được đồng chí Vũ Kỳ – nguyên Thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trên báo Nhân dân năm 1970. Hơn 10 năm sau (1981), Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh bất ngờ được đón một bà cụ cùng một người cháu từ Quảng Bình ra. Bà cụ xưng tên là Nguyễn Thị Cúc, và nói rằng bà chính là vợ ông Đồng (ông Lộc) – người đã được đồng chí Vũ kỳ viết bài trên báo Nhân dân. Sau khi tìm hiểu các nhân chứng để xác minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh khẳng định đây chính là vợ của đồng chí Lộc, người vợ trẻ năm 1929 khi ông Lộc chia tay đi cùng Bác Hồ về Trung Quốc có dặn lại: “Anh đi công việc cho thượng cấp, em ở lại, nếu 3 năm anh không về em cứ đi lấy chồng”. Nhưng không phải chỉ 3 năm mà là hơn 50 năm sau, tức là đến năm 1981, chị Cúc mà hôm nay đã là bà Cúc mới có tin tức và biết về những việc làm của chồng qua bài báo của đồng chí Vũ Kỳ. Rất tiếc khi chia tay hai người chưa có con, nhưng bà Cúc ở vậy và tích cực tham gia các phong trào yêu nước của Việt kiều sinh sống tại Thái Lan.

Bà đã được về nước trong đoàn Việt kiều đầu tiên hồi hương năm 1960. Về đến Việt Nam bà được ban Việt kiều phân công định cư tại Quảng Bình. Trải qua hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, hầu như tài sản của bà không còn gì. Không vốn liếng, không con cái, bà sống một cuộc sống khá chật vật, nhờ vào mở một quán nước bên bến phà.

Năm sau (1982), khi đi công tác qua phà Quảng Bình, tôi đã được theo đồng chí Vũ Kỳ tìm đến thăm bà cụ. Chứng kiến cảnh nghèo khó của bà Cúc, đồng chí Vũ Kỳ rất xúc động. Khi vào đến thành phố Huế, đồng chí Vũ Kỳ đã đề nghị Bí thư Tỉnh Uỷ Bình Trị Thiên khi đó là đồng chí Vũ Thắng đón bà cụ vào nhà dưỡng lão của tỉnh Bình Trị Thiên (ở thành phố Huế) để thuận tiện chăm sóc cụ khi tuổi già sức yếu. Năm 1985, đích thân đồng chí Vũ Kỳ làm văn bản đề nghị Nhà nước truy tặng đồng chí Lộc là liệt sỹ, và giải quyết cho bà Cúc được hưởng chế độ vợ liệt sỹ. Sau đó, trong những buổi nói chuyện với chúng tôi, đồng chí Vũ Kỳ thường hay nhắc: Chúng ta có cuộc sống hôm nay bởi có biết bao những tấm gương hy sinh thầm lặng như đồng chí Lộc, như bà Cúc. Những con người hy sinh hạnh phúc cá nhân của mình vì hạnh phúc chung của toàn dân tộc, mà không một toan tính, không một lần đòi hỏi được đền đáp.

Trọn đời mình, đồng chí Lộc là một cán bộ trung thành, tận tụy, liêm khiết, lạc quan, hoàn thành xuất sắc tất cả các nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó, một tấm gương trung thành với Đảng, suốt đời làm việc cho Đảng, không tính toán cá nhân, đòi hỏi địa vị.

Với truyền thống uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa những chiến sĩ cách mạng cống hiến cả cuộc đời mình cho dân tộc. Đặc biệt nhằm ghi nhận đầy đủ những đóng góp của đồng chí Lộc và người bạn đời của ông đối với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, những người cán bộ viên chức của Bảo tàng Hồ Chí Minh chúng tôi có nguyện vọng tiếp tục thực hiện mong mỏi của bà Cúc mà trước đây bà vẫn chưa kịp hoàn thành: Đề nghị nhà nước truy phong danh hiệu “gia đình có công với nước” và Huân chương cao quý cho đồng chí Hoàng Văn Lộc – người đảng viên cộng sản chân chính, người được Bác Hồ nhận xét bằng những lời giản dị, ngày 19-5-1948: “Trong lúc khó khăn gian khổ làm việc không chút nề hà, đến lúc nước nhà độc lập cũng không mảy may đòi hưởng thụ”./.

Theo TS. Chu Đức Tính – Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Advertisements