Tag Archive | Tin Việt Nam

Những con tem mang hình Bác kính yêu

Tem Bác Hồ năm 1946.

Ngay từ mùa thu năm 1946, một năm sau khi giành được độc lập, Nha Bưu điện Việt Nam được Chính phủ cho phép phát hành bộ tem mới thể hiện chân dung Hồ Chủ tịch. Người có vinh dự được vẽ mẫu tem này là họa sĩ Nguyễn Sáng, dựa vào bức ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh do nghệ sĩ Vũ Năng An chụp. Giống như ảnh, mẫu tem thể hiện được những nét đặc sắc của Bác Hồ: Thông minh, hiền hậu, kiên nghị được lồng trong khung những ngôi sao năm cánh. Tem có kích thước nhỏ xinh, in trên giấy tàu bạch mỏng mịn, gồm 5 mẫu, mỗi mẫu một màu (xanh lá mạ, đỏ, vàng, lam, tím), nhìn rất sinh động và trang trọng. Đã có những vần thơ mừng đón con tem:

“Tem mang hình Bác trên mình
Tem thêm sức mạnh, thêm tình trong tem”

Sau khi tem được phát hành, người ta chen nhau ở các bưu cục trong cả nước để mua tem Bác Hồ. Hồi này, đất nước ta đang ở thời kỳ bị “giặc đói” hoành hành. Mỗi con tem màu lam giá bốn hào, nhưng ai cũng mua với giá một đồng vì trên mặt tem in dòng chữ “+ phụ thu cứu quốc 6 hào”. Con tem nhỏ bé này đã đóng góp phần mình vào phong trào cứu đói và “Tuần lễ Vàng” lịch sử.

Tem Bác Hồ năm 1949.

Năm 1949, để đáp ứng yêu cầu kháng chiến, họa sĩ Nguyễn Sáng lại thiết kế bộ tem thứ hai về Bác Hồ, nhưng lần này Người ngồi ở tư thế hơi nghiêng, vẻ mặt trầm tư, sâu lắng, cũng dựa vào bức ảnh do Vũ Năng An chụp. Có thể nói, người chụp ảnh cũng như người thiết kế tem đã thực hiện tác phẩm của mình với tấm lòng kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tem Liên Xô kỷ niệm 90 năm Ngày sinh Bác Hồ.

Tính đến nay, trong số trên 3.000 mẫu tem Việt Nam hiện có, có hàng trăm mẫu tem về Bác Hồ. Nếu cộng cả các mẫu tem về Bác Hồ mà nhiều nước trên thế giới phát hành, chúng ta có trên 500 con tem về Bác. Đó là con số mà một nhà sưu tầm tem có tiếng, ông Lê Đức Vân, đồng thời là một cán bộ cách mạng lâu năm, nghiên cứu, thống kê và công bố. Đã ngót 10 năm, ông Vân sưu tầm tem Bác Hồ, có ý định trưng bày một bộ sưu tập vô giá vào dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 120 của Người. Bộ sưu tập ấy in dấu chân của vị lãnh tụ trên từng chặng đường đấu tranh vì dân, vì nước, từ ngày Sài Gòn bôn ba ra nước ngoài tìm đường cứu nước cho đến lúc Người đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, từ khi Người chỉ đạo quân và dân ta tiến hành hai cuộc kháng chiến thần thánh chống ngoại xâm cho đến khi Người đi vào cõi vĩnh hằng.

Tem thể hiện bức ảnh “Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoàn”.

Có một điều rất đáng nói là phần lớn những con tem mang hình Bác đã được thiết kế trên cơ sở những bức ảnh cụ thể. Ngoài hai bức ảnh nói trên của Vũ Năng An, chúng ta được gặp những bức ảnh thể hiện trên tem như “Bác Hồ đọc báo tại chiến khu Việt Bắc” do nghệ sĩ Nguyễn Hồng Nghi chụp năm 1949 được dùng làm mẫu tem trong bộ tem “Kỷ niệm 35 năm truyền thống ngành Bưu điện” phát hành năm 1980 do họa sĩ Trần Huy Khánh thiết kế, hoặc từ bức ảnh nổi tiếng “Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoàn” do nghệ sĩ Lâm Hồng Long chụp năm 1960 cũng được các họa sĩ Trần Lương, Đặng Quý Quyền, Trần Thế Vinh và Nguyễn Thị Sâm thể hiện trên ba mẫu tem phát hành năm 1978, 1990 và 2000. Để thống nhất phương thức thiết kế tem theo dạng ảnh chụp, họa sĩ Trần Lương đã nghiên cứu 8 ảnh gốc của người chụp để đưa vào tem sao cho trung thực với lịch sử, thay cho phác thảo đơn nét bút sắt. Và để tính khái quát và ý nghĩa rộng lớn hơn, họa sĩ đưa nguyên hình Bác như trong ảnh, lược bỏ những chi tiết dàn hợp xướng và thay thế bằng hình mặt trống đồng Ngọc Lũ, tượng trưng cho 4.000 năm văn hiến Lạc Việt – Hùng Vương.

Tem thể hiện bức ảnh “Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tours (Pháp) năm 1920”.

Cũng cần đề cập những tác phẩm nhiếp ảnh tiêu biểu khác như bức ảnh “Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tours (Pháp) năm 1920” mà Đoàn thanh niên Cộng sản Pháp đã sưu tầm được và kính biếu Bác đã được dùng làm cơ sở thiết kế mẫu tem “Kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam” phát hành năm 1985, hay như bức ảnh “Bác Hồ cùng Bộ Chính trị chỉ đạo chiến dịch Điện Biên Phủ” (do Đinh Đăng Định chụp) cũng được đưa vào một mẫu tem trong bộ tem “Kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ” phát hành năm 1984.

Tem thể hiện bức ảnh “Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam”.

Tem bưu chính Việt Nam về thành phố mang tên Bác đã thể hiện tình cảm sâu lắng của đồng bào thành phố Hồ Chí Minh đối với vị lãnh tụ kính yêu, thông qua nhiều hình ảnh thân thương từ cuộc đời hoạt động phong phú của Bác như: Bác Hồ tưới cây vú sữa do đồng bào miền Nam gửi biếu, Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam… Mẫu tem 2 đồng trong bộ tem “Kỷ niệm 10 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam” phát hành năm 1985 ghi lại hình ảnh chiếc xe tăng cùng đoàn Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc lập, phía trên bên phải là hình ảnh Bác Hồ đang giơ tay vẫy chào thành phố thân yêu. Hình ảnh Bác Hồ giơ tay vẫy chào cũng có trong mẫu tem kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước phát hành năm 1995, phía trên cánh cổng chợ Bến Thành rợp cờ đỏ sao vàng.

Tem thể hiện bức tượng “Bác Hồ với thiếu nhi”.

Bức tượng “Bác Hồ với thiếu nhi” của nhà điêu khắc Diệp Minh Châu tại vườn hoa phía trước Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh cũng đã được đưa lên tem hai lần vào năm 1995 và 1998.

Có dịp chiêm ngưỡng các bộ tem về Bác, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, chúng ta trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đối với các họa sĩ tài hoa, từ các cố họa sĩ lão thành như Nguyễn Sáng, Bùi Trang Chước, Nguyễn Văn Khanh… cho đến Nguyễn Thế Vinh, Trần Lương, Huy Toàn, Nguyễn Hiệp, Trịnh Quốc Thụ, Đỗ Việt Tuấn, Trần Ngọc Uyển, Đỗ Lệnh Tuấn, Nguyễn Thị Sâm, Trần Thế Vinh… Họ đã đem toàn bộ tâm huyết và tài năng nghệ thuật của mình để sáng tác những mẫu tem đẹp nhất, trang trọng nhất về Bác kính yêu./.

Theo Trần Đương
(vietstamp.net)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ – hiện thân của tình đoàn kết các dân tộc Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của tình đoàn kết các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam. Sinh thời, Bác Hồ thường gọi mọi người dân và toàn dân ta là đồng bào, thể hiện một tình cảm tốt đẹp về nguồn gốc của dân tộc Việt Nam trong truyền thống lịch sử. Trong suy nghĩ và việc làm của Bác thì nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi.

Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mới thắng lợi, trước những sự chia rẽ dân tộc của kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chính sách đoàn kết dân tộc và nêu rõ: Cộng đồng các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam dù là dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số “đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt”, có chung giang sơn và Chính phủ nên phải đoàn kết, thật sự bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sớm nhìn thấy âm mưu thủ đoạn “chia để trị” của chế độ thực dân phong kiến và những thành kiến, định kiến còn nặng nề trong tư tưởng tình cảm của đồng bào các dân tộc, trong một bộ phận cán bộ…tạo nên những khoảng cách và các vết rạn, nứt trong mối quan hệ của chính quyền cách mạng với đồng bào. Người chỉ rõ rằng: Ðiều cần thiết nhất cho chúng ta là đoàn kết, cần phải xóa bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ, để cùng phục vụ nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng kêu gọi: Ngày nay, các dân tộc anh em muốn tiến bộ, muốn phát triển văn hóa của mình thì chúng ta phải tẩy trừ những thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau như anh em một nhà.

Từ suy nghĩ và tầm nhìn như thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Ðảng Cộng sản Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong xây dựng và phát triển khối đoàn kết dân tộc. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo giáo dục cán bộ, đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết thống nhất của Ðảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình để làm hạt nhân của tình đoàn kết các dân tộc Việt Nam. Ðồng thời phải đoàn kết có nguyên tắc chống đoàn kết xuôi chiều hoặc cô độc, hẹp hòi. Bác Hồ đã dành nhiều tâm huyết xây dựng, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất để tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng, mọi người dân yêu nước để thực hiện mục tiêu chung của cách mạng, không phân biệt dân tộc, tôn giáo…

Trong khối đoàn kết các dân tộc Việt Nam, Bác Hồ là người đặc biệt quan tâm vun đắp tình hữu ái giữa dân tộc đa số với các dân tộc thiểu số, tình đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số cũng như tình hữu ái, đoàn kết của từng dân tộc thiểu số. Có thể nói Chủ tịch Hồ Chí Minh là một lãnh tụ nêu tấm gương tiêu biểu nhất về chăm lo xây dựng, vun đắp đoàn kết các dân tộc thiểu số và nâng cao cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho tổ chức các hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số để đồng bào thực hiện quyền bình đẳng về chính trị và các quyền lợi khác cũng như trách nhiệm của các dân tộc đối với đất nước.

Tại các hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số, Bác Hồ rất quan tâm chăm lo vun đắp tình đoàn kết và đời sống của đồng bào các dân tộc. Phát biểu tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Anh em thiểu số chúng ta sẽ được:

1. Dân tộc bình đẳng: Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những điều hủ tệ cũ, bao nhiêu bất bình đẳng trước sẽ sửa chữa đi.

2. Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt:

a) Về kinh tế, sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộc được hưởng.

b) Về văn hóa, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho dân tộc.

Các dân tộc được tự do bày tỏ nguyện vọng và phải cố gắng để cùng giành cho bằng được độc lập hoàn toàn, tự do và thái bình (Xem Hồ Chí Minh Toàn tập, t4, tr110-111).

Nghiên cứu tư tưởng và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta nhận thấy rất rõ là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, củng cố và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tình đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số và đoàn kết của từng dân tộc thiểu số trong thời đại mới. Người đã lãnh đạo và đoàn kết được các dân tộc Việt Nam thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc, kháng chiến thắng lợi và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho dân giàu, nước mạnh. Ðồng thời toàn bộ cuộc đời của Bác còn là hiện thân, một tấm gương tiêu biểu nhất của khối đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết và giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số. Nổi bật nhất là suốt thời gian gần 30 năm, kể từ khi về nước chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam năm 1941 cho đến khi từ biệt thế giới này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Ðảng và Chính phủ luôn luôn quan tâm xây dựng và thực hiện các chính sách đối với đồng bào các dân tộc phát triển kinh tế, văn hóa, từng bước nâng cao đời sống đồng bào.

Bác Hồ về thăm lại Việt Bắc

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn để lại cho chúng ta một bài học lớn về nghĩa tình của người cộng sản, của người lãnh đạo đối với đồng chí, đồng bào các dân tộc thiểu số đã cưu mang giúp đỡ cách mạng khi khó khăn, khi chưa có chính quyền. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ có nhiều năm tháng sống gắn bó với đồng chí, đồng bào các dân tộc thiểu số từ đầu năm 1941 đến những năm kháng chiến chống thực dân Pháp lâu dài và gian khổ, ác liệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thương nhớ và ghi ơn những đồng chí, đồng bào các dân tộc đã nuôi dưỡng, chở che, đùm bọc. Người nhiều lần gửi thư thăm hỏi và tâm tình “Ở Hà Nội, xa cách với đồng bào nhưng không bao giờ tôi quên các đồng bào. Tôi luôn luôn nhớ đến lòng yêu mến và sự giúp đỡ của các đồng bào trong những ngày tháng tôi ở thượng du” (Xem Hồ Chí Minh Toàn tập, t4, tr.210). Chính vì sống gắn bó trong lòng đồng bào các dân tộc thiểu số, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh là người hiểu và biết rất rõ những nỗi khổ đau của đồng bào các dân tộc thiếu số và Người đã dành nhiều tâm huyết nhằm giúp đồng bào vươn lên có cuộc sống khá hơn trong chế độ xã hội mới của đất nước chúng ta. Khi miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm công tác dân tộc và chỉ rõ: Các dân tộc thiểu số đoàn kết với dân tộc đa số. Cố nhiên cán bộ người Kinh phải giúp đỡ anh em cán bộ địa phương, nhưng phải làm sao cho cán bộ địa phương tiến bộ, để anh em tự quản lý lấy công việc ở địa phương chứ không phải là bao biện làm thay. Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, làm cho đời sống đồng bào địa phương ngày càng khá hơn, cả về vật chất và tinh thần.

Bác bắt nhịp bài ca "Kết Đoàn"
Ảnh: Tuấn Anh

Ðể đoàn kết và nâng cao đời sống đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm giáo dục và huấn luyện cán bộ từ Trung ương đến địa phương phải chăm lo công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện thật tốt chính sách dân tộc của Ðảng. Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ miền núi năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: Miền núi đất rộng người thưa, tình hình vùng này không giống tình hình vùng khác. Vì vậy, áp dụng chủ trương, chính sách phải thật sát với tình hình thực tế của mỗi nơi. Tuyệt đối chớ rập khuôn, chớ máy móc, chớ nóng vội. Mỗi ngành, mỗi Bộ ở Trung ương cần phải nhận rõ phần trách nhiệm của mình đối với miền núi và chú trọng hơn nữa công tác ở miền núi.

Người nhấn mạnh: Nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên là phải làm gương mẫu trong mọi công tác, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc và không ngừng nâng cao đời sống của đồng bào miền núi. Tư tưởng và tấm gương vận động đồng bào các dân tộc thiểu số của Bác đã trở thành kim chỉ nam cho việc xây dựng các chính sách dân tộc của Ðảng và Nhà nước ta, là những giá trị và kiểu mẫu cho chúng ta thực hiện các chính sách dân tộc, thực thi các chương trình đối với vùng đồng bào các dân tộc.

Ðại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số được tổ chức vào dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một sự kiện có ý nghĩa to lớn trong đời sống chính trị đất nước, cũng là một dịp để cùng toàn Ðảng, toàn dân ghi sâu những di huấn và làm theo tấm gương của Bác đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, tiếp tục đổi mới chính sách dân tộc và tăng cường hơn nữa khối đoàn kết toàn dân./.

Theo Hochiminhhoc.com
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hai bức chân dung Bác Hồ đầu tiên được vẽ cách đây 85 năm

Chân dung Nguyễn Ái Quốc do Eric Johanson vẽ ngày 19/9/1924, dòng chữ Việt và chữ Hán là do Người tự ghi (là bức vợ ông Johanson gửi tặng qua Đại sứ quán Việt Nam ở Thụy Điển).

Cho tới nay, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhiều nhạc sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia đã viết, vẽ và tạc tượng vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, hai bức chân dung đầu tiên của Người lại do một họa sĩ nước ngoài vẽ cách đây gần… 85 năm!

Cho tới nay, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhiều nhạc sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia đã viết, vẽ và tạc tượng vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, hai bức chân dung đầu tiên của Người lại do một họa sĩ nước ngoài vẽ cách đây gần… 85 năm!

Cuối năm 1923, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã từ Pháp sang Moskva (Liên Xô) để hoạt động cách mạng trong phong trào Quốc tế cộng sản. Người đã ở đây khá lâu để học tập và nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm con đường cứu dân cứu nước. Hoạt động của Người rất đa dạng và khẩn trương.
Ngoài giờ học tập ở Trường Cộng sản Phương Đông, Người còn tranh thủ tìm hiểu cuộc sống và lao động của nhân dân Xô Viết, tham gia các hoạt động về văn hóa – giáo dục, văn học – nghệ thuật. Và Bác đã tham dự cuộc triển lãm nghệ thuật tạo hình của Đức tại Bảo tàng Nghệ thuật quốc gia Moskva mùa Thu – 1924.

126 họa sĩ và điêu khắc gia tiến bộ của Đức đã trưng bày hơn 500 tác phẩm nghệ thuật của họ tại triển lãm này, được người xem đánh giá cao. Bác đã xem kỹ và đánh giá đúng mức những tác phẩm đó. Kỹ sư kiêm họa sĩ Đức người gốc Thụy Điển Eric Johanson cũng đã sang đây cùng những tác phẩm của mình.

Thấy nhà cách mạng phương Đông chăm chú xem các tác phẩm của mình, Johanson liền đến làm quen và thăm dò trao đổi ý kiến. Qua cuộc trò chuyện cởi mở về nội dung và nghệ thuật hội họa, Nguyễn Ái Quốc và Eric Johanson có những quan điểm hòa hợp. Rồi chẳng bao lâu họ đã thành đôi bạn tâm đắc về văn hóa nghệ thuật cũng như những quan điểm về chính trị, xã hội.

Thế là, họ đã tranh thủ giờ rỗi cùng nhau đi dạo phố, tìm hiểu đời sống người dân Xô Viết trong những năm đầu dưới chế độ mới. Đây cũng là dịp tốt để Nguyễn Ái Quốc hiểu biết thêm không những người Đức mà còn một dân tộc ở Bắc Âu nữa là Thụy Điển. Một ý nghĩ nảy ra trong đầu nhà cách mạng trẻ: Tranh thủ học thêm một ngoại ngữ nữa – tiếng Thụy Điển.

Trong hoàn cảnh đó, không tìm đâu ra được sách giáo khoa về ngôn ngữ nước này, Nguyễn Ái Quốc đã học ở người bạn tâm đồng ý hợp của mình. Và kết quả thật bất ngờ: Chỉ sau một thời gian ngắn, khi họa sĩ Johanson còn làm việc ở Moskva, Người đã trò chuyện với vị này bằng tiếng mẹ đẻ của ông.

Chân dung Nguyễn Ái Quốc đăng ở Báo Phụ nữ Xô Viết số 10 năm 1979. Nguyễn Ái Quốc ghi tên mình bằng chữ Việt và chữ Hán ở phía dưới, chữ ký của chính họa sĩ thì ở sát ve áo của Người.

Johanson đã không tiếc lời khen ngợi và khâm phục nhà cách mạng trẻ phương Đông là người thông minh, nhạy bén và uyên thâm nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa, ngôn ngữ và cả hội họa của nhiều dân tộc. Ông đã linh cảm được về vị lãnh tụ tương lai của một dân tộc đang bị áp bức ở phương Đông mà lúc ấy chưa ai biết tới.

Trước khi rời đất nước Xô Viết về nước, Eric Johanson đã đề nghị người bạn quốc tế đồng cảm cho vẽ bức chân dung làm kỷ niệm. Trước yêu cầu chân thành đó, Nguyễn Ái Quốc đã đồng ý.

Đó là hai bức chân dung đầu tiên về vị lãnh tụ tương lai của một dân tộc bị áp bức ở phương Đông mà lúc đó chưa ai biết và nghĩ tới. Bằng chữ Việt và chữ Hán, Người đã tự tay ghi vào góc dưới bức chân dung: “Nguyễn Ái Quốc – 19/9/1924”

Hình ảnh và phong thái của Nguyễn Ái Quốc đã để lại những ấn tượng tốt đẹp và sâu sắc trong Johanson.

44 năm sau – năm 1968, khi Nguyễn Ái Quốc đã là vị Chủ tịch nước, là Bác Hồ kính yêu của dân tộc Việt Nam, khi Việt Nam đã trở thành biểu tượng của ý chí độc lập tự do đối với các dân tộc bị áp bức đang đấu tranh, người bạn năm xưa ấy của Bác Hồ đã ghi lại trong hồi ký của mình: “Cử chỉ văn hóa và thái độ thân mật chân tình của Người gây một ấn tượng là Người có uy tín lớn. Người có thể trở thành lãnh tụ nhưng không phải bằng một cái gì bề ngoài mà bằng học thức, bằng trí tuệ của mình…”.

Sau khi Johanson qua đời, tới cuối năm 1981, vợ ông kiểm kê lại tất cả những tác phẩm của chồng, đã phát hiện ra 1 trong 2 bức chân dung đó. Bà đã tới Đại sứ quán Việt Nam ở Thụy Điển để tặng lại kỷ vật quý báu này cho nhân dân ta.

Về cuộc đời họa sĩ Eric Johanson xin tóm lược mấy nét chính sau: Ông sinh năm 1895, làm nghề kỹ sư xây dựng và họa sĩ. Ông cùng vợ sang Đức làm ăn rồi gia nhập Đảng Cộng sản Đức, một trong những người sáng lập ra “Nhóm Đổ” – Hội các họa sĩ tiến bộ của Đức hoạt động vì người nghèo.

Là người khiêm tốn, ít nói, hay bẽn lẽn nhưng có cái nhìn nhận xét sâu sắc, nhạy bén, ông nhiệt tình tham gia cách mạng trong phong trào công nhân Đức. Những tác phẩm hội họa của ông thể hiện “nghệ thuật vị nhân sinh”, luôn đấu tranh bênh vực người lao động nghèo khổ. Sau cuộc triển lãm và làm việc ở Moskva, ông trở về Đức và tiếp tục hoạt động chống cuộc chiến tranh thế giới mới mà bọn phát xít Đức đang tích cực chuẩn bị.

Đến khi Hitler công khai phát động cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thẳng tay đàn áp những người cộng sản và phong trào cách mạng, ông cùng vợ con tìm cách bí mật hồi hương. Từ năm 1938, ông đã thoát khỏi nanh vuốt bọn Đức Quốc xã khi đã an toàn trở về Thụy Điển.

Tại quê hương mình ông lại bị chính quyền tình nghi nên không thể liên hệ được với phong trào cách mạng bên ngoài, nhất là với Đảng Cộng sản Đức. Thế là ông cùng gia đình phải “ẩn dật” và kiếm sống bằng nghề vẽ của mình. Nhưng nhiều bức tranh tiến bộ mang đậm tính cách mạng ông không công bố. Một trong số đó là 2 bức tranh vẽ chân dung Bác Hồ của chúng ta.

Một bức (vẽ nghiêng) ông đã gửi cho báo Phụ nữ Xô Viết và báo này đã đăng trên số 10 năm 1979, nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Còn bức chính (vẽ trực diện), về sau (1981) vợ con ông mới phát hiện ra. Người bạn quốc tế thân thiết của Bác Hồ đã qua đời tháng 4/1979 tại ngoại ô Thủ đô Stockholm.

Triệu Hải
Theo antg.com.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Những điều ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Người cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Giadinh.net – Ông là người cận vệ đã bảo vệ Bác Hồ khi từ Côn Minh (Trung Quốc) về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ông vinh dự và tự hào được Bác Hồ đặt tên, từng là Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng Phòng không – Không quân và 23 năm liền giữ cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng.

Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Ông là Thượng tướng Phùng Thế Tài, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ đứa trẻ lang lang ở Côn Minh

Tên thật của ông là Phùng Văn Thụ, sinh ra trong một gia đình nghèo tại xã Văn Nhân, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (cũ). Nhà đông anh em nên làm ruộng quanh năm mà không đủ ăn. Thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên mấy bà con đi buôn bán bên Trung Quốc bảo ông sang xin việc làm để kiếm sống.

Thượng tướng Phùng Thế Tài.

Năm 1933, khi đó mới 13 tuổi, ông theo một người làng đi kiếm sống. Điểm dừng chân đầu tiên của ông là thị trấn Chỉ Thôn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Thị trấn này là một trạm hoả xa trung chuyển tất cả đầu máy từ Vân Nam về, từ Lào Cai của Việt Nam sang. Vì nhỏ tuổi nên ông không xin được việc của người lớn. Một gia đình bản địa nhận ông về làm giúp việc nhà.

Nhưng ở được một thời gian, vì không chịu được cảnh hống hách bắt nạt của con chủ nhà nên ông bỏ lên Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam. Suốt một tuần lễ không xin được việc gì. Giữa trời đông lạnh giá, bụng đói meo, quần áo tơi tả không có một bộ mang theo, ông lang thang rồi mệt ngủ luôn trên ghế đá công viên Hạ Lầu, ngoại thành Côn Minh. Đang thiu thiu, có một người đàn ông đánh thức dậy và nói bằng tiếng Việt: “Em từ đâu đến mà nằm ngủ ở đây?”

Sau khi trình bày hoàn cảnh của bản thân, ông được người đàn ông này đưa về hãng dầu cù là Nhị Thiên Đường. Qua một thời gian thử thách và được giác ngộ, ông được tham gia các đoàn thể và đi theo cách mạng.

Người gặp ông buổi tối ở công viên Hạ Lầu chính là đồng chí Vũ Anh (bí danh Trịnh Đông Hải). Thời gian đó đồng chí Vũ Anh được Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương cử sang Trung Quốc hoạt động cách mạng, làm Biện sự sứ, xây dựng cơ sở trong công nhân lao động. Năm 1939, chính đồng chí Vũ Anh đã dìu dắt, giúp đỡ và giới thiệu kết nạp ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương (đồng chí Vũ Anh đã nhận ông làm con nuôi). Người thứ hai giới thiệu kết nạp ông là đồng chí Thanh Bình (sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đồng chí Thanh Bình là thứ trưởng Bộ Nội Vụ).

Thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Một buổi sáng đầu năm 1940, có người khách đến hãng Nhị Thiên Đường tìm gặp đồng chí Vũ Anh. Hai người đến địa điểm khác trao đổi công việc. Đến chiều, đồng chí Vũ Anh cho biết người đến tìm gặp là ông Trần và giao Phùng Thế Tài bảo vệ người này. Nhìn thái độ và nghe đồng chí Vũ Anh dặn dò cẩn thận, ông biết đây là một người rất quan trọng. Sau này, ông mới biết ông Trần chính là bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Và ông đã trở thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ từ thời khắc ấy. Sau này ông được Bác đặt tên là Phùng Hữu Tài (một thời gian sau ông xin Bác cho đổi tên là Phùng Thế Tài).

Bác Hồ tặng quà Tết và nói chuyện với các chiến sỹ Đoàn không quân Sao Vàng.

Về kỷ niệm ngày đầu bảo vệ Bác Hồ, Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Sau khi đồng chí Vũ Anh giới thiệu tôi là cận vệ, ông Trần nhìn tôi tỏ ý hài lòng. Tuần lễ đầu, ông Trần và tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Trung Quốc, sau mới dùng tiếng Việt. Do nguyên tắc hoạt động bí mật nên cả ông Trần và tôi làm như không quen biết nhau. Gọi là đi bảo vệ nhưng thực ra tôi có súng ống gì đâu. Tôi vốn hiếu động, dạo trước đã làm một quả đấm sắt, một con dao. Vậy là giờ đây nó hữu ích. Tôi không được phép vào nhà ở của ông Trần, mà chỉ được đứng chếch ở bên phải hoặc bên trái lề đường để quan sát. Thấy ông Trần đi là tôi đi theo cách 5 đến 10 mét”.

Trong dịp Tết Tân Tỵ (năm 1941), ông cũng nằm trong số những cán bộ đi cùng để bảo vệ Bác Hồ về nước. Khi về đến cột mốc 108, ông Phùng Thế Tài được tổ chức phân công ở lại Côn Minh hoạt động. Vì thạo tiếng Trung Quốc nên quân đội Tưởng tuyển ông làm cho cơ quan tình báo để chuẩn bị cho kế hoạch “ Hoa quân nhập Việt” và cho ông vào học lớp quân chính về nghiệp vụ tình báo của trường quân sự Hoàng Phố.

Là ngưòi thông minh, tiếp thu nhanh, chỉ sau khóa học ông được phong cấp Thiếu Hiệu (ngang với Thiếu Tá). Chúng cấp cho ông một số giấy chứng nhận đặc biệt, có đóng dấu Tưởng Thống chế. Giấy này cho phép được đi lại trong toàn quốc. Lợi dụng sự ưu đãi này, ông đã tranh thủ hoạt động có lợi cho phía ta. Những giấy tờ đó cũng đã thực sự trở thành “bảo bối” cứu nguy cho những chuyến công tác bảo vệ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sang Trung Quốc sau này.

Đầu năm 1942, ông được tổ chức giao nhiệm vụ phụ trách đợt chuyển vũ khí về nước. Sau đó, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và đồng chí Vũ Anh cho ở lại Pác Bó tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Dạo đó, tổ bảo vệ “Ké Thu” (bí danh của Bác Hồ ở Pác Bó) gồm có: Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Đinh Đại Toàn, Đặng Văn Cáp, Dương Đại Lâm, Phùng Thế Tài… Thời gian này cuộc sống của Ké Thu và tổ bảo vệ rất thiếu thốn. Lúc rảnh rỗi anh em trong tổ bảo vệ đi mò cua bắt ốc, đào củ mài. Thấy lãnh tụ Nguyễn ái Quốc gầy yếu anh em ưu tiên dành gạo nấu riêng. Người không cho làm như vậy và bảo: “Các chú chịu khổ được, Bác cũng chịu được”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chúc Tết Đoàn không quân Sao Vàng và các đơn vị bảo đảm kỹ thuật đường băng thuộc quân chủng Phòng không Không quân vào sáng mồng 1 Tết Đinh Mùi (9/2/1967). Cùng đi có Thượng tướng Văn Tiến Dũng-Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (người đi bên trái Bác) và Đại tá Phùng Thế Tài-Tư lệnh quân chủng Phòng không Không quân (người đi bên phải Bác).

Một mình bảo vệ Bác trở lại Trung Quốc

Tháng 8/1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh và quyết định sang Trung Quốc gặp đại diện quân đồng minh để tranh thủ sự giúp đỡ. Đồng chí Phùng Thế Tài được giao nhiệm vụ bảo vệ Bác trong chuyến đi này.

Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Lần ấy chỉ có một mình tôi đi bảo vệ Bác. Tôi mặc bộ dạ sỹ quan Tưởng oai lắm, nói thạo tiếng Trung Quốc, lại có sẵn giấy thông hành đặc biệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch cấp hồi còn học ở trường quân sự Hoàng Phố nên yên trí. Bác mặc bộ quần áo của quân đội Tưởng, người ngoài nhìn chẳng khác anh lính trẻ đi với ông lính già. Khi đến Tĩnh Tây, cơm nước xong, Bác vào làm việc tại trụ sở của Quốc dân đảng Trung Hoa và là tổng hành dinh của Trung tướng Trần Bảo Xương.

Tối hôm đó, Bác ngủ ngay ở chỗ làm việc. Tôi không rõ Bác liên lạc với Trần Bảo Xương để làm gì, không dám hỏi vì nguyên tắc bí mật. Trên đường về phòng nghỉ, Bác nói bỏ quên mũ ở phòng khách bảo tôi quay lại lấy. Nhờ thế, tôi vô tình nghe lỏm được bọn Trần Bảo Xương đang bàn trong phòng kín tìm cách bắt giữ hai Bác cháu tôi. Tôi nghe thế rất lo, vội quay báo ngay với Bác. Bác rất bình tĩnh, chỉ thoáng một chút đăm chiêu. Suy nghĩ một lúc, Bác quyết định quay về Việt Nam ngay trong đêm hôm đó”.

“Nhưng làm sao mà ra khỏi hai cánh cổng sắt có lính gác của tổng hành dinh Trần Bảo Xương được? Như hiểu được ý tôi, Bác khẽ nói: “Ta đi ngay, không mang hành lý gì, đi người không, giả bộ với lính gác ra ngoài mua bao thuốc lá!”. Thoát khỏi được tổng hành dinh của Trần Bảo Xương, hai Bác cháu quên cả mệt, đi như chạy ra khỏi Tĩnh Tây và cuốc bộ một mạch không nghỉ. Sáng hôm sau trông thấy Bác quá mệt, người phờ phạc, lòng tôi quặn lại”.

Thời gian sau thấy năng khiếu chỉ huy quân sự và nguyện vọng của ông Phùng Thế Tài được đi chiến đấu ngoài mặt trận, Bác đồng ý. Trước khi ra mặt trận, Bác dặn ông: “Chú sẵn sàng đi chiến đấu, thế là tốt, nhưng nhớ đừng có “hữu dũng, vô mưu” đó nhé…”. Những lời Bác dạy, ông luôn thấm thía và là hành trang luôn theo ông, giúp ông vượt qua mọi khó khăn, gian khổ trong suốt cuộc đời. Ông đã trở thành vị tướng mà nói đến ai cũng biết: “Tướng Tài”.

Nguyễn Đức Quý

giadinh.net.vn

Những chuyện ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Giadinh.net – Cuối tháng 2/1940, được tin lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Trung ương Đảng đã cử một số cán bộ như: Phạm Văn Đồng (bí danh là Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh là Dương Hoài Nam), Đặng Văn Cáp (bí danh là Đặng Văn Linh), Hoàng Văn Lộc và một số đồng chí khác sang Trung Quốc để tìm gặp, báo cáo tình hình trong nước và xin chỉ thị của Người.

Sau gần 3 tháng, đến tháng 5/1940 đồng chí Phùng Chí Kiên dẫn đồng chí Đặng Văn Cáp đến Côn Minh gặp Bác.

Những người bảo vệ Bác về nước

Sau khi trao đổi, Bác đồng ý phương án về nước bằng đường Côn Minh – Lào Cai, qua huyện Khai Viễn. Bác phái đồng chí Bùi Thanh Bình, Hoàng Văn Lộc về Hồ Kiều (một thị trấn của tỉnh Vân Nam sát địa phận tỉnh Lào Cai nước ta) để thăm dò đường sá. Người chịu trách nhiệm nhóm công tác bảo vệ Bác trong thời gian chuẩn bị về nước là đồng chí Phùng Thế Tài.

Hưởng ứng cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và tiến tới kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Người, Báo GĐ&XH khởi đăng loạt tư liệu đặc biệt về công tác bảo vệ an ninh cho Bác.

Báo GĐ&XH cảm ơn Trung tá Nguyễn Đức Quý – Đội trưởng đội Nghiên cứu khoa học, Phòng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ -  người đã trực tiếp chắp bút cho loạt bài này. Chúng tôi cũng trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo và cán bộ, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đã giúp đỡ để hoàn thành loạt tư liệu này. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Nhưng bất ngờ cuối tháng 6/1940 đường giao thông Côn Minh- Lào Cai bị tắc nghẽn nên kế hoạch không thực hiện được. Bác chỉ thị cho đồng chí Hoàng Văn Lộc phải trở lại ngay Côn Minh.

Ngày 5/1/1941, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Thường vụ Trung ương Đảng từ Việt Nam sang Tân Khư (Tĩnh Tây- Quảng Tây- Trung Quốc) gặp Bác để báo cáo kết quả thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng và củng cố an toàn khu Cao Bằng và việc tổ chức thành lập Ban Công tác đội cũng như phong trào cách mạng ở đây.

Sau khi báo cáo kết quả việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 8, đồng chí Hoàng Văn Thụ nêu nguyện vọng của Trung ương Đảng, đề nghị Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đồng chí cũng đề nghị Bác về qua ngả Cao Bằng, vì trình độ giác ngộ cách mạng của nhân dân dọc biên giới tương đối cao và cán bộ ở đây vững vàng.

Ngày 6/1/1941, Bác Hồ cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp… được đồng chí Hoàng Sâm dẫn đi qua Nậm Bo xuống Nậm Quang (Tĩnh Tây- Trung Quốc) để chuẩn bị lập kế hoạch cụ thể cho việc về nước. Tại đây, Bác Hồ đang mở lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị cho 43 đồng chí trong Ban công tác đội do Trung ương cử sang. Thời gian lớp học kéo dài khoảng 20 ngày, kết thúc vào dịp gần Tết Âm lịch năm 1941 (Tân Tỵ).

Bức họa bảo vệ Bác về đến cột mốc 108, ngày 28/1/1941 tại Pác Bó (Cao Bằng).

Sau khi kết thúc lớp học, Bác mới chỉ đạo kế hoạch về nước. Người quyết định qua cột mốc 108 về Pác Bó (Cao Bằng). Đoàn về nước được chia làm 3 nhóm. Nhóm thứ nhất do đồng chí Hoàng Sâm phụ trách về nước bằng đường Xuyên Sơn tới Pác Bó.

Nhóm thứ hai do đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách đi qua cột mốc 108, rồi theo đường 203 về Pác Bó. Hai nhóm này về trước nắm tình hình hoạt động của địch, và tổ chức khảo sát đường đi để Bác về nước. Ngay khi hai nhóm đầu lên đường về nước thì nhóm thứ ba, trực tiếp bảo vệ Bác cũng đi về bản Nậm Tẩy (Quảng Tây-Trung Quốc) để chờ tin trong nước, sẵn sàng xuất phát khi điều kiện thuận lợi. Khi về nước, hành lý mà Bác mang theo hầu như chẳng có gì. Chỉ có một chiếc vali nhỏ quần áo cũ và một chiếc máy chữ xách tay hiệu “Ba Bi”. Chiếc máy chữ này là vật dụng cá nhân quý giá mà Bác luôn mang theo bên mình.

Sau một thời gian nắm tình hình, thời cơ đến, Bác Hồ quyết định lên đường về nước. Nhóm bảo vệ trực tiếp và đi theo Bác Hồ lúc này ngoài đồng chí Phùng Thế Tài, còn có những người sau: Hoàng Văn Lộc- một cán bộ người dân tộc Tày, có  kinh nghiệm hoạt động bí mật ở vùng Cao Bằng; Đặng Văn Cáp  là thanh niên rất khoẻ, giỏi võ, bắn súng cũng rất giỏi và biết chữa bệnh bằng thuốc nam; Thế An cũng là một người dân tộc Tày, rất thông thạo đường rừng, đặc biệt là những đường đi tắt; Lê Quảng Ba cũng là một cán bộ người dân tộc Tày, rất am hiểu phong tục của đồng bào dân tộc ít người, thông thạo tiếng  Dao, Mán, Nựng và tiếng Quan Hoả (Trung Quốc). Nhóm trực tiếp bảo vệ Bác Hồ do đồng chí Lê Quảng Ba phụ trách, tuy nhiên Bác Hồ chỉ đạo trực tiếp.

Cái Tết quê hương đầu tiên sau 30 năm xa Tổ quốc

Bác Hồ đã thống nhất kế hoạch hóa trang và phân công nhiệm vụ cho từng người. Về hóa trang, Bác phân tích: Vùng này có nhiều người dân tộc Nùng. Họ có phong tục, cứ đến Tết là các chàng rể (già cũng như trẻ) đều phải mang đồ lễ về “cúng ma” ở nhà bố mẹ vợ. Vì vậy, cả nhóm ăn mặc như những chàng rể người Nùng đang trên đường về nhà bố mẹ vợ. Bác Hồ cũng mặc một bộ quần áo đặc trưng của đàn ông Nùng thường mặc trong dịp Tết: quần áo chàm, đầu đội mũ kiểu bê-rê cũng may bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn để vừa ấm vừa che kín bộ râu.

Khu vực Bác làm việc trước đây.

Sáng sớm 28/1/1941, tức ngày mồng 2 Tết (Tân Tỵ), nhận được tin từ trong nước báo sang tình hình thuận lợi, cả đoàn xuất phát từ bản Nậm Quang từ rất sớm. Sau 8 giờ đi đường, khoảng 12h trưa thì cả đoàn đến dãy núi Phia Sum Khảo, nơi có cột mốc biên giới số 108 trên biên giới Việt – Trung, thuộc xã Trường Hà, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Cùng lúc đó, nhóm được cử nhiệm vụ đi đón Bác do đồng chí Hoàng Sâm từ trong nước cũng có mặt tại cột mốc 108. Tất cả đều xúc động khi thấy Bác đứng lặng đi bên cột mốc số 108, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp của tỉnh Cao Bằng- mảnh đất địa đầu của Tổ quốc. Sau 30 năm xa Tổ quốc, bôn ba đi tìm đường cứu nước, đúng vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về đất nước. Người cúi xuống cầm nắm đất lên hôn. Sau đó Bác vui vẻ bắt tay chúc Tết mọi người.

Rời cột mốc 108, cả đoàn theo con đường mòn xuống thung lũng Pắc Bó. Tại đây đoàn công tác bảo vệ bố trí Bác ở gia đình nhà ông Máy Lỳ, dân tộc Nùng, một cơ sở cách mạng tin cậy.  Gia đình ông Máy Lỳ chỉ có hai vợ chồng và một người con gái. Đây là địa điểm thường được Trung ương Đảng chọn làm nơi hội họp và trạm dừng chân cho cán bộ đi công tác qua lại. Gia đình ông Máy Lỳ rất nghèo nhưng lại có tinh thần yêu nước nồng nàn. Căn nhà của ông nằm độc lập ở dưới một quả đồi nhưng thoáng đãng. Từ sân nhà nhìn ra có thể thấy toàn cảnh thung lũng ở phía trước. Sau nhà là một con suối, kế đến là một khu rừng rậm rất tiện cho yêu cầu bảo vệ khi có tình huống bất trắc có thể xảy ra.

Gia đình ông Máy Lỳ hầu như đã quen mặt biết tên hết các cán bộ trong đoàn nhưng không biết Bác là ai. Khi đến nhà ông Máy Lỳ, Bác mặc áo chàm, đi dép rơm, tay cầm gậy. Mọi người gọi Bác là ông Ké và giới thiệu là cán bộ dưới xuôi lên. Ông Máy Lỳ gọi con gái mang ra một thau nước nóng, mời ông Ké rửa trước.

 Nghỉ ngơi một lát, ông Máy Lỳ lại sai con gái bưng một mâm cỗ Tết ra mời ông Ké và đoàn cán bộ dùng. Bên mâm cỗ Tết, mọi người trò chuyện râm ran, riêng Bác cứ lặng yên, nét mặt rất xúc động. Ông Máy Lỳ nâng bát rượu mời Bác và anh em cán bộ cùng đi. Bác chúc sức khoẻ ông Máy Lỳ. Ông Máy Lỳ rất vui, gọi vợ và con gái ra tiếp khách để tỏ lòng mến khách.

Đến ngày 8/2/1941, đoàn cán bộ bảo vệ tiếp tục đưa Bác vào ở và làm việc trong hang Cốc Bó.

(Còn nữa)

Nguyễn Đức Quý

giadinh.net.vn

Ðền thờ Bác Hồ ở Pác Bó

Ðền thờ Bác Hồ ở Pác Bó

Có một ngôi đền thờ Bác Hồ mới được khánh thành ngày 19-5-2011, theo tôi, cũng là một ngôi đền thờ Bác Hồ hết sức độc đáo. Ðó là đền thờ Bác Hồ ở Pác Bó, Cao Bằng.

Lịch sử đã ghi lại, vào buổi sáng ngày 28-1-1941, từ Trung Quốc, Bác Hồ đã bí mật về nước. Ðiểm dừng chân đầu tiên của Người là cột mốc 108, sau tròn 30 năm bôn ba nơi xứ lạ quê người tìm đường cứu nước. Và hang Cốc Bó, một hang đá lạnh lẽo cách rất gần cột mốc 108 đã được chọn làm nơi tá túc, một “đại bản doanh” của cách mạng với một người duy nhất vừa “Tổng chỉ huy” vừa “lính” là Bác Hồ.

Bác Hồ đã ở trong hang Cốc Bó khoảng hai tháng. Tháng Giêng tháng Hai, khí hậu ở Cao Bằng rất lạnh, hang Cốc Bó dĩ nhiên còn lạnh lẽo hơn bội phần. Năm 1979, hang Cốc Bó đã bị quân xâm lược dùng chất nổ phá toang miệng hang, nhưng lòng hang vẫn còn nguyên vẹn. Người viết bài này đã từng đứng trên miệng hang, vào năm 2003, để nghe và nhìn những giọt nước lạnh rỏ tí tách từ các thạch nhũ xuống lòng hang, nơi Bác Hồ của chúng ta đã nằm ngủ trong những đêm rét mướt. Năm 2011, khi trở lại thăm hang Cốc Bó, thì đường lên miệng hang đã bị chặn lại vì một lý do “nhạy cảm” nào đó, nên khách du lịch không có cảm giác thật sự về cái lạnh trong lòng hang khi được nghe và nhìn những giọt nước lạnh từ trần hang rỏ xuống.

Những sự nghiệp lớn thường bắt đầu từ hành trình gian khổ. Vinh dự cho Pác Bó (tiếng Tày có nghĩa là “Miệng Nguồn”), khi địa danh này được coi là một “cột mốc khởi đầu” cho cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945. Thử nghĩ xem, nếu vào một ngày đầu năm 1941, Bác Hồ không về nước và ở hang Cốc Bó (tiếng Tày có nghĩa là “Hang Nguồn”), thì công cuộc vận động cách mạng chống thực dân Pháp sẽ như thế nào? Tình cờ chăng, khi một địa danh có lẽ khá vô danh như hang Cốc Bó lại trở thành một điểm sáng của lịch sử Việt Nam hiện đại? Nhưng với những ai đã từng đến thăm hang Cốc Bó, họ đều có chung nhận xét, đây không hề là chuyện tình cờ. Hình suối và thế núi ở Pác Bó có một vẻ gì thật đặc biệt, nó vừa khuất vừa mở, vừa kín vừa thông, dễ tiến dễ thoái, và một người có tầm nhìn xa rộng như Bác Hồ khi chọn địa danh này cho công cuộc dựng cờ khởi nghiệp, thì đó là sự lựa chọn sáng suốt và thực tế của một nhà quân sự và một nhà chính trị.

Trên đường vào trung tâm khu di tích Pác Bó, du khách đi sát qua một ngọn đồi có tên “Pò Tếng Chấy”, ngọn đồi có suối Lê-nin bao bọc ba bề, đứng trên ngọn đồi này nhìn về phía nam, tầm mắt chợt mở ra bát ngát.

Tỉnh Cao Bằng đã chọn đỉnh ngọn đồi ấy, ngọn đồi có tên là “Pò Tếng Chấy”, để làm nơi xây dựng đền thờ Bác Hồ. Chữ “Pò” ở đây có nghĩa là “đồi” là “ngọn đồi”, còn “Tếng Chấy” là gì thì tôi đã hỏi một số người dân địa phương, nhưng không ai biết nghĩa. Thôi thì cứ tạm gọi là đồi “Tếng Chấy” vậy. Bây giờ Bác Hồ đã hiển thánh, thì sự hiển thánh của Người cũng vô cùng giản dị, như chính đời sống của Người. Vì thế, đền thờ Bác Hồ được xây trên đỉnh ngọn đồi mang cái tên mộc mạc “Pò Tếng Chấy” cũng thật thú vị, nó đúng như phong cách sống của Bác lúc sinh thời.

Ðược thiết kế cách điệu từ hình dáng một ngôi nhà sàn của đồng bào dân tộc ở Pác Bó, đền thờ Bác Hồ không khiến người đến viếng phải choáng ngợp vì sự đồ sộ hay hình thức tân kỳ, mà có cảm giác ấm áp như đang đến với một ngôi nhà sàn bình dị bên trong có ngọn lửa bếp cháy rực suốt ngày đêm.

Không lặp lại mẫu kiến trúc ở các công trình tương tự trong cả nước, đền thờ Bác Hồ ở Pác Bó thanh thoát trong hình thể và uy nghi như một nơi tụ khí, vừa ung dung như một đài quan sát cho ta mở tầm mắt, lại vừa thân thiện gần gũi trước cảnh quan sông núi và cánh đồng lúa gieo của đồng bào dân tộc Nùng dưới chân đồi. Xây dựng và hoàn thành chỉ trong vòng một năm, từ 19-5-2010 đến 19-5-2011, đền thờ Bác Hồ ở Pác Bó vẫn kịp tỏa lên vẻ thiêng liêng và bình dị, cứ như ngôi đền đã tọa lạc trên ngọn đồi “Pò Tếng Chấy” này từ lâu lắm.

Quay về hướng nam, đền thờ Bác Hồ như gợi nhớ tấm lòng yêu thương vô hạn của Người đối với đồng bào miền Nam ngày đất nước còn phải chịu nỗi đau chia cắt. Bây giờ, đất nước đã liền một dải, thì “phương Nam” đây chính là “Nam quốc sơn hà” vậy! Bên trong đền thờ, đặt nơi trang trọng nhất ở gian chính điện là một bức tượng toàn thân Bác Hồ với dáng ngồi thanh thản. Trên cao nhất là bức hoành phi khắc bốn chữ “Hồng nhật cao minh” được mạ vàng trang trọng. Bên tả bức tượng khắc bài thơ bốn câu của Bác Hồ: “Non xa xa, nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Ðây suối Lênin, kia núi Mác/ Hai tay xây dựng một sơn hà/”. Nhà thơ Trần Hùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng nói với tôi: “Anh nhìn kỹ xem, bức tượng Bác Hồ này rất có thần phải không? Dường như khí thiêng sông núi ở Pác Bó đã tụ cả vào bức tượng đồng này, khiến tôi mỗi lần chiêm ngắm lại một lần ngạc nhiên”. Ðúng là bức tượng Bác Hồ ở đền thờ này kỳ lạ thật, khiến ta có cảm giác an tĩnh khi chiêm ngắm, nhưng lại dấy lên trong ta một nỗi bồi hồi nào đó, vừa theo cách một tác phẩm nghệ thuật tác động tới người xem, vừa mang vẻ thiêng liêng thu hút ta như một bức tượng thánh.

Anh Trần Hùng kể, thời gian xây dựng đền thờ Bác Hồ, lúc đó anh đang là Giám đốc Sở VH, TT&DL, anh đã được lãnh đạo tỉnh cử lên hiện trường với công nhân suốt hai tháng cuối cùng, khi công trình sắp “về đích”. Ðó là thời gian cường độ lao động ở công trình là cao nhất, kỹ sư và công nhân phải làm cả ba ca. “Ðó là niềm vinh dự, một cơ may đã cho tôi được cùng góp sức nhỏ bé của mình vào công trình này anh ạ!”.

Có một chi tiết khiến tôi cảm động, đó là chiếc bàn nhỏ đặt ở góc đền thờ tiếp nhận những công đức của người đến viếng. Khi tôi và mấy người bạn xin được góp chút lòng thành, thì cô gái người Nùng là nhân viên bảo tàng đã cẩn thận ghi họ tên người cung hiến công đức trên tấm giấy hoa in sẵn rất đẹp và trao cho chúng tôi như một ghi nhận. Và như một món quà kỷ niệm./.

Theo nhandan.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Công trường 5: cơ sở nội dung và giá trị lịch sử

Năm 1956, sau khi hoàn thành nhiệm vụ Chủ nhiệm Hậu cần đoàn XP do Bác Hồ sáng lập tôi về nhận công tác mới tại cơ quan Phủ Chủ tịch cùng với đồng chí Vũ Kỳ, Tạ Quang Chiến… Thời gian đầu được giao phụ trách nhà khách. Năm 1957, tôi được cử vào làm nhiệm vụ trực tiếp giúp việc về sinh hoạt và làm việc của Bác kính yêu.

Đầu năm 1958, tôi được giao theo dõi việc làm ngôi nhà sàn bằng gỗ của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Ông Nguyễn Văn Ninh Viện trưởng Viện thiết kế Bộ Kiến Trúc trực tiếp nghe yêu cầu của Bác. Thiết kế xong, anh Ninh trình bản vẽ lên được Bác duyệt và cho thi công. Bác tự chọn khoảnh đất để dựng nhà. Biển gắn tại nhà sàn ông Ninh trực tiếp thiết kế tôi trình lên Bác duyệt và cho gắn lên nhà. Nhà sàn làm xong, Bác chuyển sang ở trong dịp tháng 5-1958. Mọi người đều phấn khởi. Anh em tham gia xây dựng công trình rất xúc động khi được Bác tổ chức buổi gặp gỡ trực tiếp cám ơn, chụp ảnh cùng anh em. Bức ảnh đó hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Năm 1959, tôi được cấp trên giao nhiệm vụ trực tiếp theo dõi, chuẩn bị trang thiết bị, làm đầu mối liên lạc để giúp các đồng chí lãnh đạo Văn phòng PTT và PCT mà trực tiếp là các đồng chí Phan Mỹ, Nguyễn Kim Cương, Vũ Kỳ chỉ đạo điều hành công việc xây dựng Công trường 5 (Sơn Tây) – Tên gọi bí mật của Khu di tích Đá Chông ngày nay. Tên gọi Công trường 5 do ai đặt và tại sao như vậy tôi không rõ. Khi nhận nhiệm vụ và tiếp nhận các tài liệu văn bản tôi đã thấy tên gọi Công trường 5 được ghi trong các văn bản chính thức rồi.

Được tham gia công trình và trên cơ sở các tài liệu gốc của công trình còn lưu giữ trong đó có bản vẽ Bình đồ Công trường 5 do Cục Doanh trại (Tổng cục Hậu Cần – Bộ Quốc phòng) hoàn chỉnh ngày 8-11-1959 gửi VP Chủ tịch nước ngày 11-9-1959 có thể tóm tắt lược những vấn đề chính sau đây:

1. Phạm vi khu vực Công trường 5

Khu A: Được xây dựng trong các chỉ giới cắm mốc từ M1 đến M7gồm 2 dãy nhà nối liền nhau bằng lối đi có mái che (nhà cầu).

Ngôi nhà thứ nhất được thiết kế kiểu nhà sàn ở Hà Nội. Cao 2 tầng
Tầng 1 là nơi tiếp khách, là phòng họp Bộ Chính trị có kê một dãy bàn dài và ghế ngồi. Vì ở núi cao nên khác với nhà sàn ở Hà Nội nhà ở đây có lắp cửa để tránh rắn rết và các loại côn trùng.Cửa lùa làm bằng gỗ có thể có thể tháo rời. Khi cần bệ cửa thành ghế cho khách ngồi.

Tầng 2 chia thành 4 phòng: 3 phòng nghỉ và 1 phòng khách. Phòng nghỉ ở đầu hồi dành riêng cho Bác, hai phòng còn lại dành cho các đồng chí lãnh đạo hoặc tiếp khách và 1 phòng khách. Tổng diện tích xây dựng ngôi nhà này là 318,5m2 trong đó có 191,44m2 sử dụng.

Phía trước bên phải, đầu cầu thang xuống có xây hầm trú ẩn nhỏ bằng đá hộc đủ chỗ cho 3, 4 người sử dụng. Xung quanh nhà có rải sỏi, bó nền bằng gạch lá dừa đỏ. Bậc tam cấp vào nhà và hiên được làm bằng granitô.

Ngôi nhà thứ hai trong khu A là nhà 1 tầng. Được nối liền với nhà 2 tầng và chia thành các phòng chức năng: Thư ký, Bảo vệ tiếp cận, Bếp nấu ăn… Tổng diện tích xây dựng là 124,96 m2 trong đó có 85,2 m2 sử dụng

Khu B: Khu B nằm trên một quả đồi giữa khu nhà A và núi U Rồng theo thế yên ngựa. Khu vực này gồm có 2 nhà:

Ngôi nhà thứ nhất xây 2 tầng chia thành nhiều phòng để các đồng chí Trung ương, các đồng chí lãnh đạo cao cấp làm việc. Nhà xây để liền một lúc có thể đón tiếp và đủ chỗ làm việc cho nhiều người. Ngôi nhà 2 tầng này có diện tích xây dựng 301,65 m2 trong đó có 175 m2 sử dụng. Phía sau nhà có hầm trú ẩn dài cho nhiều người cùng sử dụng được.

Ngôi nhà thứ hai là nhà phục vụ: Bếp ăn, nhà kho… Ngôi nhà này có diện tích xây dựng 141,4 m2 trong đó có 104,25 m2 sử dụng.

Đi tiếp từ khu B sang, lên dốc là địa điểm làm sân bay trực thăng có diện tích 10.000 m2 giữa có sân bê tông phủ đất và trồng cỏ rộng 1600 m2 . Sân bay này được xây theo đồ án thiết kế và có sự giám sát của cán bộ kỹ thuật Cục Không quân

Khu C: Có dãy nhà xây 1 tầng kề hồ và sát phía xóm Đồi, gần đường mòn đi xuống bờ sông. Đây là nhà giành riêng cho cán bộ, chiến sĩ trung đội cảnh vệ Trung đoàn 600 thuộc Công an vũ trang. Diện tích xây dựng khu C là 342,76 m2trong đó có 205 m2 sử dụng.

Cùng với các dãy nhà, sân bay trực thăng… Công trường 5 còn có các công trình phụ trợ thiết yếu như: Nhà kho, nhà tắm, nhà vệ sinh… và nhà máy điện 25KVA, các bể chứa nước cho cả 3 khu vực, trạm lọc nước bảo đảm tiêu chuẩn, bệ rửa xe ôtô, bốt gác, vườn hoa, hòn non bộ….

Đường vào khu vực Công trường 5 có rải nhựa song cỏ mọc lan kín đường chỉ đủ cho một luồng xe vào, ra.

Nối vào khu vực ở Công trường 5 là các đường nội bộ rải đá cấp phối. Ra vào khu vực có đường đi riêng xa các khu nhà ở phía trong, rất kín đáo. Xung quanh khu vực này người dân địa phương vẫn đi lại bình thường, thuận tiện bằng đường mòn ven sông và đường nối các làng với nhau.

Vị trí Công trường 5 nằm giữa một khu rừng tự nhiên có nhiều cây cao bao phủ. ở giữa các ngọn đồi là vùng trũng có một hồ chứa, nước sông Đà có thể lưu dẫn vào hồ tự nhiên. Xung quanh cỏ lác mọc đầy. Các loại gà cỏ, chim, muông thú nhỏ thường lui về đây kiếm ăn tự nhiên.

Để giữ bí mật, khi xây dựng cây trong khu vực không được phép tuỳ tiện chặt phá. Nhiều cây lâu năm cạnh nhà sàn đến nay vẫn còn: Cây gạo, cây vải, long não, cây vải (ngoã), bồ hòn, cà phê… Nhiều cây được trồng thêm sau này như: Bạch Quế của Bộ Lâm nghiệp tặng trồng ở đây vừa thêm bóng mát lại có hương thơm lợi cho môi trường. Cây vú sữa miền Nam trồng trong vườn Bác cũng được chiết vài cành đem trồng trên Công trường 5 và một số nơi khác như: nhà nghỉ Hồ Tây, Khu vườn ươm trong PCT vì sợ nếu Mỹ ném bom trúng vào làm chết cây thì mất giống. Con đường dốc đi bộ từ phía bờ sông lên nhà, Bác nhắc trồng cây dâm bụt. Đến nay một số cây vẫn còn.

2. Quá trình xây dựng

Khu Công trường 5 có quyết định xây dựng từ tháng 6-1959. Sau vài tháng chuẩn bị, tháng 9-1959 bắt đầu khởi công xây dựng. Toàn bộ tài liệu liên quan đến công trình hiện còn lưu giữ đều đóng dấu và bảo quản theo mức độ Mật hoặc Tuyệt mật bởi tầm quan trọng và ý nghĩa chính trị của công trình.

Trước những yêu cầu về chất lượng và thời gian thiết kế, thi công công trình Ban lãnh đạo và Ban chỉ huy công trường đã được thành lập dưới sự chỉ đạo, điều hành của các đồng chí phụ trách Văn phòng Phủ Thủ tướng và Phủ Chủ tịch và đại diện tỉnh Sơn Tây, các lực lượng tham gia công trình.

Ngày 14/10/1959, Cục Doanh trại (Tổng cục Hậu cần) đã ra chỉ thị số 58/XD do Cục trưởng Dương Gia Khương ký đóng dấu Tối mật gửi Thượng khẩn đến Văn phòng Chủ tịch Phủ trong đó ghi rõ:

1/ Phòng thiết kế chịu trách nhiệm thiết kế đồ án theo yêu cầu của sở quan và lập dự toán để sở quan chuẩn bị tài chính và vật liệu cũng như nhân công
Đặc trách đ/c Nguyễn Duy Tuất trưởng ban Hội hoạ theo dõi việc chấp hành các đồ án thiết kế về mặt mỹ thuật cũng như kỹ thuật cho đến khi hoàn thành

2/ Phòng thiết kế phối hợp với Phòng kỹ thuật, ban điện thiết lập đồ án và dự toán thiết bị điện, bàn ghế tủ nước, màn và trang hoàng bên trong và giúp việc hướng dẫn thi công cho đến khi hoàn thành. Đồng chí Huyền có thể đứng trong BCH công trường nếu như được BLĐ chỉ định và chỉ có quan hệ với Cục về mặt kỹ thuật

3/ Tổng đội I chọn 1 đội công trình đảm nhận thi công chính cho việc xây dựng cho đến khi hoàn thành và cố gắng giúp đỡ công trường theo yêu cầu của đồng chí Huyền
4/ Phòng quản lý xây dựng doanh trại biệt phái đ/c Trương Quang Huyền trợ lý kỹ thuật đến làm đội trưởng đội công trình và chịu trách nhiệm hướng dẫn thi công bảo đảm kĩ thuật cho đến khi hoàn thành

Chỉ thị cũng nhấn mạnh: Các phòng, Ban chỉ huy tổng đội và các đ/c có tên có trách nhiệm động viên và làm công tác chính trị thật tốt để hoàn thành nhiệm vụ đúng kỳ hạn, bảo đảm chất lượng…

Theo quyết định của cấp trên UBHC tỉnh Sơn Tây đã cử đ/c Phương Chủ tịch tham gia Ban chỉ đạo và Đ/c Nguyễn Văn Rự Phó CVP UBHC tham gia BCH công trường đồng thời tham gia Đảng uỷ công trường. Tiếp đó cử 1 tổ cán bộ công tác trực tiếp dưới sự lãnh đạo của BCH công trường. Khi đ/c Phương đi học dài hạn TV Tỉnh ủy phân công Đ/c Nguyễn Văn Lễ, Uỷ viên UBHC tỉnh Sơn Tây thay thế. Tỉnh Sơn Tây có nhiệm vụ: Huy động nhân lực; Giải quyết những vấn đề có quan hệ đến tài sản của nhân dân; cung cấp các loại vật liệu có ở địa phương cho Công trường 5 lúc thi công. Văn phòng PTT cung cấp ngân sách và các điều kiện để Hà Tây hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Cục Không quân chịu trách nhiệm trong việc xây dựng đề án sân bay trực thăng: Chọn địa điểm; Làm thiết kế mẫu sân đỗ và chịu trách nhiệm về tiêu chuẩn và quy cách kỹ thuật; Tổ chức kiểm tra các giai đoạn trong quá trình thi công. Nội dung nhiệm vụ đã được ghi rõ trong tài liệu số 164/HC-KQ ngày 8/4/1960 của Cục Không quân do đ/c Cục trưởng Đại tá Đặng Tính ký có đóng dấu Tối mật gửi Văn phòng PCT. Đồng chí Đào Hữu Liêu Chủ nhiệm Hậu cần Cục Không quân được giao nhiệm vụ trực tiếp chăm lo công việc này

Trạm nước và hệ thống bể chứa, máy bơm, bể lọc và đường ống dẫn nước.. do Viện Thiết kế dân dụng thuộc Bộ Kiến trúc chịu trách nhiệm thiết kế và kỹ thuật

Viện Vi trùng học và Viện Vệ sinh (Bộ Y tế) chịu trách nhiệm lấy mẫu và phân tích đối chiếu tiêu chuẩn nước sử dụng trong khu vực.

Nguyên vật liệu xây dựng công trình do Tổng công ty Vật liệu xây dựng (Bộ Nội thương) đảm trách. Người trực tiếp được giao nhiệm vụ này là Đ/c Lưu Trọng Lạc…

Lực lượng xây dựng chủ yếu là bộ đội thuộc tiểu đoàn 2 và đại đội 4 Trung đoàn 259 thuộc Cục Công binh và quân số thuộc trung đoàn 600. Dân công chủ yếu sử dụng người của địa phương ở 3 xã: Thuần Mỹ, Ba trại và Minh Quang…

Các cơ quan, Bộ, Ngành và địa phương đã cùng phối hợp để xây dựng và hoàn thiện khu Công trường 5 theo đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng của một công trình quan trọng và có ý nghĩa chính trị vô cùng to lớn này.

Thời gian thi công khu vực Công trường 5 khoảng 10 tháng nhưng ngôi nhà sàn được xây dựng đầu tiên nên hoàn thành sớm nhất. Khi xây xong, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của anh Vũ Kỳ chúng tôi đã tiến hành việc lắp đặt và sắp xếp các thiết bị, đồ dùng bên trong ngôi nhà. Hầu hết là những thứ có sẵn của PCT đưa lên. Nhiều thứ có từ thời Pháp trong Dinh Toàn Quyền cũ. Bộ bàn ghế dùng họp BCT đưa từ Giao tế sang.

Trang thiết bị lắp đặt sắp xếp trong các phòng nghỉ ở tầng 2 đều giống nhau. Nhà tắm và nhà vệ sinh có lắp các thiết bị dùng chung chứ không chỉ cho riêng mình Bác dùng như nhiều người vẫn nói.

Khi nhà sàn xây xong, đường xung quanh nhà và đường đi từ phía bờ sông lên nhà đều lát sỏi cho thoát nước và mát chứ không phải để tiện cảnh vệ hoặc để Bác massage chân như một vài thông tin trước đây đã công bố trên báo chí. Có một lần khi ở nhà sàn gỗ tại Hà Nội, Bác hỏi tôi (Cù Văn Chước):

- Tại sao các chú lại lát gạch bê tông ? Sao không để sỏi như cũ quanh nhà sàn cho mát?

Tôi báo cáo: Thưa Bác, anh em sợ Bác bị vấp ngã.

Sau đó, không thấy Bác nhắc gì nữa.

Thời gian chúng tôi quản lý Công trường 5, Ban TCQTTW đã cử ông Huấn, ông Ven đến để cùng tham gia bảo quản và chăm sóc. Năm 1962 – 1963 khu Công trường 5 được giao cho Cục quản trị, Ban TCQTTW trực tiếp quản lý và sử dụng. Cử đồng chí Nguyễn Văn Bắc phụ trách nhà máy điện, trạm nước tiếp tục tham gia quản lý công trình. Còn các anh em khác thuộc Văn phòng Phủ Chủ Tịch, Văn phòng Thủ Tướng đều trở lại cơ quan cũ.
Sân bay trực thăng là một trong nhưng hạng mục thi công sau cùng với khu vực phụ trợ như: Bếp ăn, nhà kho ở khu C

3. Giá trị lịch sử Công trường 5

Khu vực Công trường 5 có ý nghĩa lịch sử hết sức đặc biệt: Lúc hoà bình đó là nơi họp Bộ chính trị, nơi làm việc của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Nhìn vào mục đích thiết kế khi xây dựng, căn cứ vào thực tế sắp xếp trong khu vực ta thấy đây là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đến làm việc, tổ chức các kỳ họp, tiếp khách Quốc tế,… và khi cần thì đề phòng với tình thế chiến tranh.

Thời gian đang xây dựng, tôi biết đôi lần Bác đến Công trường 5. Một lần, Bác đi cùng KTS Hoàng Linh và Phó Cục trưởng Đặng Kim Giang. Bác lên từ sáng mãi đến chiều mới về. Thấy đá tường và rèm cửa ngôi nhà màu hồng, Bác hỏi đ/c Hoàng Linh:

- Năm nay chú bao nhiêu tuổi ?

Sau khi nghe trả lời Bác nói:

- Chú sao trẻ tính thế ?

Ý Bác là dùng màu hồng để trang trí ngôi nhà này không hợp. Bác còn góp ý sửa lại cầu thang lên tầng 2 thích hợp với việc đón khách.

Hôm đó mảng trần nhà phòng ở của anh Vũ Kỳ bị lở mảng vữa rơi xuống, Bác nhắc anh em phải làm lại cho cẩn thận. Lần nữa lúc làm xong nhà Bác có lên gặp gỡ và nói chuyện với anh em. Giống như lần trước ở nhà sàn Bác cùng đến gặp và cám ơn anh em khi công trình hoàn thành.

Khối ảnh tư liệu của Bảo tàng cũng cho ta biết ngày 23/2/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng lên thăm khu vực đồn điền cà phê cũ ( CT. 5 sau này), cùng đi có anh Vũ Kỳ, bảo vệ có anh Định (Đội trưởng) và anh Uyển nay đã về hưu sống ở Nghệ An. Đón Bác tại đây có đ/c Phương, CT UBHC tỉnh uỷ Sơn Tây và đ/c Nguyễn Văn Rự, Phó chánh VP UBHC tỉnh hiện đã về hưu sống ở thôn Quảng Yên, xã Yên Sơn, Huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây. Hôm đó, Bác và đoàn công tác nghỉ ăn trưa tại đây. Buổi chiều, lúc 14 h Bác nói chuyện với gần 500 cán bộ chủ chốt của tỉnh và thị xã Sơn Tây về Hội nghị các ĐCS và Công nhân các nước XHCN và Tuyên ngôn hoà bình của Hội nghị đại biểu các ĐCS và Công nhân 65 nước họp tại Liên Xô. Báo Nhân Dân ngày 25/2/1958 đưa tin này trên đầu trang nhất.

Khi Công trường 5 đưa vào sử dụng Bác và một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ: Bác Tôn Đức Thắng, đ/c Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương, Võ Nguyên Giáp… đã lên CT.5. Có lần đồng chí Phạm Văn Đồng đến ở đây nhiều ngày nghiên cứu tài liệu….

Sinh thời, hai lần Bác Hồ mời khách quốc tế thăm Công trường 5. Tháng 3/1961, Bác đưa Bà Đặng Dĩnh Siêu, phu nhân của Thủ tướng Chu Ân Lai – Khách mời của Đại hội Phụ nữ Việt Nam lên thăm Công trường 5. Cùng đi có Đại sứ Hà Vĩ, đ/c Lương Phong cán bộ SQ và 2 nữ đồng chí một là thư ký, một là phiên dịch.

Bà Đặng Dĩnh Siêu khi đến CT. 5 có mang 1 cây quít loại quả tròn có hạt từ Trung Quốc sang và 1 cây hoa Ngọc lan chuẩn bị từ Hà Nội lên để trồng tại đây. Hôm đó, Bà đã chụp nhiều ảnh sau có gửi lại tặng nên ta mới lưu lại được. Đó là những hình ảnh tư liệu rất hiếm về cuộc tiếp khách quốc tế ở CT. 5 Trong ảnh, Bác mặc chiếc áo khoác ngoài bằng lụa màu đen, vải may áo chính là quà tặng của Bà Đặng Dĩnh Siêu trước đó. Bác rất tinh tế và tình cảm trong ứng xử khi mặc chiếc áo này để tiếp người đã tặng vải cho mình.

Tháng 1/1962, Bác đưa anh hùng phi công vũ trụ Liên Xô G.Titốp lên thăm CT. 5. Tại đó

G.Titốp đã trồng cây hoa vàng làm kỉ niệm.

Khi sân bay xây dựng xong, có 2 lần Bác đi CT.5 bằng máy bay trực thăng. Cả 2 lần đều do phi công Liên Xô lái. Xuất phát từ sân Cột Cờ, khi lên đó bên dưới chỉ cần đốt lửa có khói báo hiệu là máy bay xuống được. Bác lên nhiều lần song tôi chưa thấy Bác ngủ lại đêm trên CT. 5. Bác đi trong ngày tối lại về Hà Nội.

Những năm đầu, cán bộ VPPTT và VPCTP chịu trách nhiệm quản lý công trình. Anh Hồ Văn Nhất (Trường), Lưu Quang Lập (Kiệm), Phan Đăng Lưu, Trần Văn Bắc ở đây chăm lo công việc sẵn sàng đón Bác và các đồng chí lãnh đạo lên làm việc, họp hành, nghỉ ngơi… Lực lượng cảnh vệ thuộc Trung đoàn 600 do anh Tăng Văn Dong và anh Việt Dũng phụ trách.

Bây giờ nghĩ lại thấy Bác và TƯ thật sáng suốt, lo xa. Công trường 5 là nơi họp BCT, nơi làm việc rất yên tĩnh, an toàn… Đặc biệt, đây là một trong những nơi tiếp khách quốc tế với không gian rất đẹp, văn minh thể hiện qua sự tinh tế, lịch thiệp không dễ có được ở một đất nước đang chiến tranh, bị chia cắt.

Hơn thế, với các điều kiện làm việc, sinh hoạt lâu dài và những điều kiện cơ sở để đối phó với chiến tranh phá hoại như: Bí mật địa điểm, xây hầm trú ẩn, sân bay và cơ sở vật chất tạm đủ để đáp ứng yêu cầu phục vụ các cơ quan lãnh đạo cuộc kháng chiến… Trên cơ sở các tiêu chí đó ta thấy Công trường 5 thực sự đã mang trong mình tầm vóc của khu căn cứ để có thể tiến lui an toàn khi cần thiết.

4. Công trường 5: Nơi gìn gìn an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tháng 9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Đất nước đang bị chia cắt. Miền Bắc phải đối đầu với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân vô cùng tàn khốc. Điều kiện thời tiết khí hậu vô cùng khó khăn cho công tác gìn giữ bảo vệ an toàn thi hài Bác…

Vấn đề tìm địa điểm bảo vệ an toàn đã trở lên cấp thiết. Chính trong thời điểm đó Công trường 5 được lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Quân đội… chọn làm địa điểm bí mật cho công việc thiêng liêng này.

Lịch sử Công trường 5 từ đó chuyển sang trang mới. Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (Bộ Tư lệnh 969) được thành lập có vinh dự gánh vác trách nhiệm to lớn. Vào những thời khắc quan trọng nhất tập thể cán bộ chiến sĩ đã âm thầm cống hiến trí tuệ, công sức, toàn tâm toàn trí hoàn thành trách nhiệm.

Năm 1975, Tổ quốc thống nhất, Nam Bắc một nhà. Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh khánh thành ngày 29/8/1975, chính thức mở cửa đón đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế đến viếng Bác.

Từ đó Công trường 5 trở thành một địa điểm có ý nghĩa lịch sử văn hoá lâu dài. Nơi đây, đánh dấu những mốc quan trọng trong nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại, về tầm vóc tư duy, trí tuệ và sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc sáng suốt chỉ đạo và lựa chọn để xây dựng một nơi làm việc, tiếp khách một cách khoa học, văn minh đồng thời là căn cứ an toàn nhằm bảo vệ cơ quan đầu não lãnh đạo của ta trong cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược

Ngày nay, Công trường 5 còn là nơi góp phần nghiên cứu, tuyên truyền về sự nghiệp và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, một nơi sinh hoạt văn hóa – chính trị với các hình thức đa dạng, phong phú thu hút được sự quan tâm chú ý của đồng bào và chiến sỹ trong cả nước.
Là đơn vị trực tiếp quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng mà Đảng, nhân dân và quân đội tin cậy giao phó. Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong gần 40 năm qua thực sự đã góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam ngày càng giàu mạnh. Đặc biệt nhất là trong việc gìn giữ an toàn, lâu dài, tôn vinh các giá trị vĩnh hằng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã và sẽ mãi mãi là tấm gương soi sáng sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Chúng ta tự hào là con cháu Bác và nguyện suốt đời giương cao ngọn cờ Bác trao để đi đến thắng lợi cuối cùng

Trên đây là cơ sở nội dung và giá trị lịch sử của Công trường 5 – Khu vực có ý nghĩa và giá trị đặc biệt không gì sánh được. Những trang sử mới của Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng trong giai đoạn tiếp theo, chúng tôi nghĩ đã có nhiều các đồng chí lãnh đạo cơ quan, cán bộ, chiến sĩ đã và đang nghiên cứu sâu sắc hơn chúng tôi vì vậy cho phép chúng tôi xin được dừng tại đây.

Hà Nội, tháng 5/2007

Cù Văn Chước
Nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

50 năm Bác Hồ với Đá Chông Niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân Tỉnh Hà tây

Đ/c Lại Hồng Khánh - Uỷ viên Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây tại hội thảo - ảnh Nguyễn Ngọc Hà

Kỷ niệm 117 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, hôm nay tại K9 – Đá Chông, huyện Ba Vì, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức cuộc Hội thảo khoa học với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Khu Di tích Đá Chông” nhằm khẳng định giá trị văn hoá lịch sử của Khu Di tích, chúng tôi rất phấn khởi, vui mừng về cuộc Hội thảo này do Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng tổ chức.

Bởi vì địa danh K9 Đá chông, cách đây 50 năm Bác Hồ đã đến thăm và xem xét khu vực núi Đá Chông, để rồi sau đó Đá Chông mang mật danh “Công trường 5”, mật danh “K9″ nơi nghỉ và làm việc của Bác Hồ và Trung ương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nơi bảo vệ giữ gìn thi hài Bác những năm 1969 – 1975. Chúng tôi cho rằng cuộc Hội thảo hôm nay còn có thêm một ý nghĩa khác, đó là chúng ta kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ về thăm và khảo sát khu vực núi Đá Chông trên địa phận xã Minh Quang, huyện Bất Bạt ngày trước. Với những thực tế đó tại cuộc Hội thảo này Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà tây chúng tôi phát biểu với nội dung: 50 năm Bác Hồ với Đá Chông niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Tây.

Bác Hồ với Đá Chông là một mảng đề tài nghiên cứu trong toàn bộ chương trình sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn về Bác Hồ với Hà Tây trong công tác lịch sử Đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Tây. Sau khi Bác Hồ qua đời, từ năm 1969 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hà Tây đã chỉ đạo Ban nghiên cứu lịch sử Đảng sau đó là Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tiến hành sưu tầm nghiên cứu và biên soạn những tư liệu Bác Hồ ở Hà Tây. Cho đến nay đã 4 lần Tỉnh uỷ chúng tôi cho xuất bản sách Bác Hồ ở vào thời điểm của các năm 1973; 1980; 1990 và năm 2006. Mỗi lần xuất bản sách Bác Hồ, chúng tôi lại hoàn thiện thêm những tư liệu và Bác. Song cả 3 lần xuất bản sách Bác Hồ trước đó Tỉnh uỷ chúng tôi vẫn chưa được phép công bố những sự kiện Bác Hồ ở Đá Chông. Riêng những sự kiện Bác Hồ ở Đá Chông sau khi Bác mất, vào những năm 1969 – 1972, trong những việc sưu tầm, xác minh được một số thời điểm Bác Hồ đến Đá Chông vào các năm 1957, 1958, 1959. Bởi vì các sự kiện này liên quan đến các sự kiện: Cuối năm 1956 Bác Hồ tặng cho Tỉnh uỷ Hà Tây chiếc xe ô tô GAT do Liên Xô sản xuất, vì Hà Tây có thành tích đóng góp xây dựng một số công trình ở “Công trường 5”. Chiếc xe ô tô đó mang biển số BAA – 257. Tỉnh uỷ giao cho đồng chí Xuân Trường Bí thư Tỉnh uỷ sử dụng.

Năm 1999 Trung ương chính thức công bố cho phép tham quan rộng rãi địa danh K9 – Đá Chông. Điều này đã tạo cho Hà Tây có điều kiện hoàn thiện thêm những tư liệu về Bác Hồ với K9 – Đá Chông ở Huyện Ba Vì . Với sự giúp đỡ của Bảo tàng Hồ Chí Minh, của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 2006 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã cho xuất bản cuốn “Bác Hồ với Hà Tây”. Cuốn sách có 5 mục, trong đó mục II cuốn sách, Tỉnh uỷ Hà Tây công bố 61 lần Bác Hồ về thăm, về ở và làm việc tại Hà Tây. Với địa danh Đá Chông chúng tôi công bố 9 lần Bác Hồ về thăm.

Công bố 9 lần Bác Hồ về Đá Chông, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây có những cơ sở của cả một quá trình sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn những cuốn sách về Bác Hồ. Trước hết, chúng tôi dựa vào các tài liệu do Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng trước đây sau đó là Phòng lịch sử Đảng, ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ sưu tầm bổ sung và dựa vào kết quả hai buổi gặp mặt nhân chứng lịch sử về Di tích K9 Đá Chông do Bảo tàng Hồ Chí Minh chủ trì. Bên cạnh đó chúng tôi còn dựa vào kết quả cuộc Hội thảo “Bác Hồ với Ba Vì” do Ban tuyên giáo Huyện uỷ Ba Vì trước đây tổ chức. Riêng hai cuộc gặp mặt nhân chứng lịch sử do Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức tại Hà Nội ngày 19/4 và ở Đá Chông ngày 1/7/2006 chúng tôi rất chú ý đến ý kiến phát biểu của 2 đồng chí Cù Văn Chước và Nguyễn Văn Mùi. Đặc biệt là ý kiến của đồng chí Nguyễn Văn Mùi, nguyên là lái xe của Phủ Chủ tịch đã từng đưa Bác Hồ lên K9. Ý kiến của đồng chí Mùi là: “Trước khi xây nhà ở trên đó, Bác có đi vài lần” và đồng chí kết luận “Bác lên K9 không quá 10 lần”. Phát biểu của đồng chí Nguyễn Văn Mùi đã phù hợp với kết quả khâu nối giữa 2 nguồn tư liệu: Một phần của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh trước đây và kết quả cuộc gặp mặt các nhân chứng lịch sử do Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức.

Hà Tây là địa phương được Bác Hồ về thăm, về và làm việc nhiều lần. Đây là niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Tây, trong đó K9 – Đá Chông lại là Khu căn cứ, là nơi bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác. Công tác sưu tầm biên soạn lịch sử Đảng của tỉnh Hà Tây được tiến hành từ năm 1963. Việc sưu tầm tư liệu về Bác Hồ, chúng tôi làm thường xuyên từ nhiều năm nay và kết hợp chặt chẽ với Bảo tàng Hồ Chí Minh. Cuốn sách “Bác Hồ với Hà Tây” xuất bản năm 2006, chúng tôi công bố 9 lần Bác Hồ về Đá Chông ở các thời điểm:

- Lần thứ nhất vào mùa hè năm 1957.

- Lần thứ hai vào sáng ngày 23/2/1958.

- Lần thứ ba vào buổi sáng ngày 20/6/1959.

- Lần thứ tư vào sáng mồng 1 Tết Canh Tý năm 1960.

- Lần thứ năm vào tháng 3/1961, Bác đưa Đại sứ Trung Quốc Hà Vỹ lên Đá Chông.

- Lần thứ sáu Bác đưa đoàn Bà Đặng Dĩnh Siêu lên Đá Chông vào ngày 13/3/1961.

- Lần thứ bảy Bác đưa đoàn của Anh hùng phi công vũ trụ Giéc man Ti Tốp lên ngày 24/01/1962.

- Lần thứ tám Bác lên Đá Chông ngày 19/5/1963.

- Lần thứ chín là ngày 20/9/1964, Bác cùng một số Uỷ viên Bộ Chính trị và Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị lên K9 trao đổi về tình hình đất nước sau sự kiện ngày 5/8/1964.
Trong 9 lần đó có 6 lần được giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh kết luận tại cuộc gặp mặt các nhân chứng ở Hà Nội vào ngày 19/4/2006. Ở đây tôi đi sâu vào sự kiện Bác Hồ lên Đá Chông vào các thời điểm 1957; 1958; 1959 và Tết Canh Tý 1960. Bởi lẽ những sự kiện này liên quan mật thiết với việc Bác tặng cho Tỉnh uỷ Hà Tây chiếc xe ô tô GAT vào cuối năm 1965.

Đối với sự kiện Bác Hồ lên Đá Chông vào mùa hè năm 1957 đây là lần đầu tiên Bác Hồ lên Đá Chông. Bác lên Đá Chông lần này là để khảo sát, xem xét địa bàn núi Đá Chông, sau khi có báo cáo của Tỉnh uỷ Sơn Tây, lúc đó đồng chí Nguyễn Xuân Trường làm Bí thư Tỉnh uỷ.

Bác lên Đá Chông lần này rất bí mật. Bởi lẽ ai cũng biết: Tháng 8/1956 đất nước ta không có Tổng tuyển cử để thống nhất Tổ quốc, sự nghiệp đấu tranh giải phóng Miền Nam và cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược sẽ rất gay go, ác liệt. Cuối năm 1956 Trung ương đã giao cho Sơn Tây tìm một địa điểm “Có núi, có sông, có rừng cây che phủ, gần đồng bào” với lý do để xây dựng nhà nghỉ. Thường trực Tỉnh uỷ Sơn Tây đã giao việc này cho Ty Công an và đồng chí Việt Tiến là Phó Ty Công an Sơn Tây thực hiện. Đồng chí tìm mãi và cuối cùng quyết định chọn địa điểm Đá Chông, sau đó trao đổi với đồng chí Tùng rồi mới Báo cáo với Bác, chính vì vậy mùa hè năm 1957 cách đây 50 năm Bác Hồ đã lên khảo sát, xem xét khu vực núi Đá Chông. Khi Bác lên đồng chí Việt Tiến ở phía xóm Bu đi ra và chờ Bác, Bác hỏi:

Chú làm gì ở đây?

Đồng chí Việt Tiến trả lời: Thưa Bác cháu dạy học

Bác nói: Dạy học sao lại đứng ở đây?

Đồng chí Việt Tiến đáp: Thưa Bác cháu dạy buổi chiều. Nói như vậy chính thực hôm đó Công an Sơn Tây có làm nhiệm vụ bảo vệ.

Bác xem xét địa điểm, phong cảnh và nghỉ trưa ở Đá Chông.
Về sự kiện Bác cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng lên thăm Đá Chông vào sáng 23/2/1958 cũng được Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng trước đây ghi nhớ do khi sưu tầm tài liệu sự kiện chiều ngày 23/2/1958 Bác Hồ về thị xã Sơn Tây thăm và nói chuyện với Hội nghị cán bộ tỉnh đang học tập 2 văn kiện: Tuyên bố của Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân các nước XHCN và Tuyên ngôn hoà bình của hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân 65 nước họp ở Matxcơva (11/1957). Chính khi sưu tầm tư liệu Bác về thăm và nói chuyện với Hội nghị cán bộ ở Sơn Tây mà lãnh đạo Ban chúng tôi có biết đến việc đồng chí Nguyễn Lương Bằng và Bác Hồ lên Đá Chông vào buổi sáng.

Sự kiện sáng ngày 20/6/1959, Bác Hồ lên lúc đó các công trình ở đây đang thi công và được mang mật danh “Công trường 5”. Chiều hôm 20/6/1959, Bác về thăm và nói chuyện với hơn 2000 đồng bào huyện Quốc Oai đang làm việc trên công trường đê Ngọc Tảo, huyện Phúc Thọ. Đối với sự kiện này báo tin Sơn Tây số ra 281 ngày 23/6/1959 đã đăng tin và bài nói chuyện của Bác. Khi chúng tôi tìm gặp đồng chí Việt Tiến, đồng chí đã kể lại được các đồng chí cùng đi với Bác nói là rất có thể lúc về Bác sẽ ghé vào thăm đê Ngọc Tảo và ở đây nhân dân đang đắp đê đông lắm. Chỗ nào thấy nhân dân lao động vui Bác thường hay dừng lại thăm hỏi, các anh em nên chuẩn bị trước.

Nhận được tin đó đồng chí Việt Tiến đã báo tin với Tỉnh chuẩn bị micro nếu Bác xuống thăm, quả nhiên buổi chiều ngày 20/6/1959 Bác Hồ vào thăm và nói chuyện với đồng bào Quốc Oai đang đắp đê vừa hết một tiếng đồng hồ. Kết thúc buổi nói chuyện Bác bắt nhịp hát bài “Kết đoàn”. Chính do việc tìm nhân chứng sống kể về sự kiện Bác Hồ thăm đê Ngọc Tảo buổi chiều ngày 20/6/1959 mà lãnh đạo Ban nghiên cứu lịch sử Đảng lúc đó đã biết được buổi sáng Bác về thăm “Công trường 5”.

Về sự kiện ngày mồng một Tết Canh Tý năm 1960, trước hết chúng tôi căn cứ vào cuộc trao đổi của Ban Tuyên giáo Huyện uỷ Ba Vì và cuộc toạ đàm ngày 01/7/2006 do Bảo tàng Hồ Chí Minh và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tổ chức vào sổ ghi nhật ký của đồng chí Đỗ Viết Nam, nguyên là Tiểu đội trưởng cảnh vệ ở K9. Điều chúng tôi rất lý thú là những ý kiến về Bác lên Đá Chông sáng mồng một Tết Canh Tý năm 1960 trong 2 cuộc toạ đàm của huyện Ba Vì và Bảo tàng Hồ Chí Minh và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tổ chức lại trùng với ý kiến của đồng chí Nguyễn Xuân Trường cách đây 15 – 16 năm.

Đồng chí Nguyễn Xuân Trường, nguyên là Bí thư Tỉnh uỷ Sơn Tây 1954 – 1960, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Đông 1961 – 1965, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Tây 1965 – 1976. Một đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ ở cả 2 thời kỳ khi còn là 2 tỉnh Hà Đông và Sơn Tây, khi đã hợp nhất thành tỉnh Hà Tây có vinh dự và đi cùng và chứng kiến nhiều lần khi Bác Hồ về thăm và làm việc ở Hà Tây. Năm 1991 đồng chí Xuân Trường về hưu, hàng tuần thường đi bộ sang Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ đọc các loại tài liệu. Khi ngồi nói chuyện về cuốn sách “Bác Hồ với Hà Sơn Bình” xuất bản năm 1990, đồng chí Xuân Trường có nói đến các sự kiện Bác Hồ ở Đá Chông nhưng do ở K9 Trung ương chưa cho công bố nên trước đây các đồng chí thường trực Tỉnh uỷ chỉ đạo các đồng chí không được nói, không được biên soạn. đồng chí Xuân Trường có nhắc đến sự kiện sáng mồng một Tết Canh Tý năm 1960. Tuy đồng chí không đi cùng với Bác hôm đó nhưng Công an tỉnh có đi bí mật, phần lớn công nhân tham gia xây dựng ở khu quan trọng của “Công trường 5” là người miền Nam nên Bác đã chúc Tết động viên.

Trong việc nghiên cứu Bác Hồ với Hà Tây, từ khi tách tỉnh Hà Sơn Bình, chúng tôi phân thành 4 mảng đề tài:

Mảng thứ nhất là sưu tầm nghiên cứu về các sự kiện của Bác ở Hà Tây trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Về mảng này chúng tôi mở đầu kể từ khi quân đội Pháp nổ súng tấn công Hải Phòng, Lạng Sơn cho đến 3/3/1947, Bác Hồ rời động Hoàng Xá (Quốc Oai) lên chiến khu Việt Bắc.

Mảng thứ 2 là sưu tầm nghiên cứu các sự kiện Bác về Đá Chông kể từ cuối năm 1956 – 1969.

Mảng thứ 3 là sưu tầm nghiên cứu những tư liệu về Bác với Đảng bộ và nhân dân Hà Tây kể từ sau Cách mạng Tháng 8/1945 đến khi Bác qua đời.

Mảng thứ 4 là sưu tầm nghiên cứu các sự kiện Bác Hồ đến thăm các đơn vị Quân đội, Công an đóng trên địa bàn tỉnh.

Tất cả 4 mảng đề tài đó, duy chỉ có mảng sưu tầm nghiên cứu những tư liệu Bác Hồ về Đá Chông là kéo dài nhất, thầm lặng nhất do chúng ta phải chờ đợi vào thời gian Trung ương cho công bố công khai địa danh K9, chính vì vậy những sự kiện Bác Hồ về Đá Chông mà Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây công bố trong cuốn sách “Bác Hồ với Hà Tây” xuất bản năm 2006, theo chúng tôi đó là sự tổng hoà giữa việc sưu tầm khai thác tư liệu của ngành lịch sử Đảng tỉnh Hà Tây kể tù năm 1969 với việc gặp gỡ các nhân chứng do Bảo tàng Hồ Chí Minh và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tổ chức; đồng thời còn là sự kết hợp giữa nhật ký công tác và ảnh tư liệu của những người tham gia công tác ở Đá Chông hoặc từng đến thăm Đá Chông, cũng như có lần đồng chí Vũ Kỳ đến làm việc riêng với Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Hà Sơn Bình về Bác Hồ lên Đá Chông.

Với những cơ sở như vậy năm 2006 khi tiến hành sưu tầm tư liệu bổ sung và biên soạn cuốn “Bác Hồ với Hà Tây”, chúng tôi đã công bố 9 lần Bác Hồ về Đá Chông trong đó có phần Bác tặng thưởng chiếc ô tô GAT vào cuối năm 1965. Vì vậy tại cuộc Hội thảo này chúng tôi muốn trình bày những cơ sở đó mà trước đây bộ phận nghiên cứu – sưu tầm – biên soạn lịch sử Đảng của Đảng bộ tỉnh đã biết để các đồng chí hiểu thêm về quá trình Tỉnh uỷ Hà Tây chỉ đạo toàn bộ việc sưu tầm – biên soạn các sự kiện Bác Hồ về Hà Tây trong đó có sự kiện Bác đến Đá Chông.

Cuộc hội thảo ngày hôm nay, chúng ta vừa kỷ niệm 117 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vừa kỷ niệm 50 năm Bác Hồ lên Đá Chông xem xét và khảo sát địa bàn. Những lần Bác Hồ lên Đá Chông cũng như việc Bộ Chính trị , Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định chọn K9 – Đá Chông làm nơi bảo vệ giữ gìn thi hài Bác đã cải tạo cho Đá Chông ngày hôm nay trở thành Khu Di tích lịch sử văn hoá của cả nước, có giá trị to lớn trong việc tuyên truyền truyền thống cách mạng, học tập đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuộc Hội thảo hôm nay với các bài tham luận đứng ở các góc độ khác nhau, để bàn luận xoay quanh chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với khu Di tích Đá Chông” đã giúp chúng tôi thêm nhiều vấn đề cùng nhau trao đổi sâu hơn những sử liệu về Bác ở Đá Chông, giúp chúng tôi hoàn thiện hơn mảng đề tài “Bác Hồ với Đá Chông” mà chúng tôi đã in trong cuốn “Bác Hồ với Hà Tây” xuất bản cuối năm 2006. Cuộc Hội thảo này đã giúp chúng tôi sưu tầm và xác minh để xuất bản cuốn sách về Bác Hồ trong những năm qua để sau này tiếp tục hoàn thiện ở những lần tái bản sau.

Bài Lại Hồng Khánh
Uỷ viên Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây

bqllang.gov.vn

Như người cha hiền…

Tôi nhớ mãi mùa hè năm ấy, cách đây vừa tròn 50 năm, vào một ngày tháng 6 – 1957, Bác Hồ về thăm sư đoàn 325 chúng tôi, lúc ấy đang đóng quân ở Đồng Hới, Quảng Bình. Bốn giờ chiều, tin Bác đến, lòng chúng tôi rạo rực nôn nao một niềm vui khôn tả…

Chiếc xe con màu trắng đưa Bác đến. Hàng ngũ bộ đội nhốn nháo, ai cũng muốn nhoài người ra để được gần Bác hơn, được nhìn Bác rõ hơn. Đến gần bộ đội, Bác xuống xe, giơ mũ vẫy chào. Bác mặc bộ kaki màu sáng quen thuộc, chân đi đôi dép lốp. Tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!” muốn vỡ tung lồng ngực. Bác đáp lại: “Các cháu về đi, tối nay Bác cháu ta họp mặt”.

Chúng tôi giải tán về doanh trại, bồn chồn đứng ngồi không yên, chỉ chờ tiếng còi tập hợp để ra sân gặp Bác. Từ trong nhà, Bác ung dung đi ra, với bộ đồ nâu giản dị, một tay xách chiếc chiếu đơn gấp lại ở giữa, một tay cầm chiếc quạt giấy, thong thả trải chiếc chiếu lên thềm rồi ngồi xuống.

Tất cả chúng tôi, ai ai cũng muốn ngâm một bài thơ, hát một bài để nói lên niềm kính yêu vô hạn đối với Bác.
Cứ sau một tiết mục, Bác lại lấy ra từ một bọc vải một hoặc hai cái kẹo; ai ngâm thơ hay hát thì Bác cho hai cái, ai đọc thơ thì Bác cho một cái… Cứ như thế, Bác cháu quây quần suốt hai tiếng đồng hồ, giữa lãnh tụ và chiến sĩ không còn khoảng cách mà như hòa làm một, khác nào cha với con trong niềm thương yêu dạt dào tình cảm.

Thời gian trôi đi nhanh quá. Bác đứng dậy nhìn đoàn quân, giọng ôn tồn như lời cha hiền dặn con: “Các cháu ngâm thơ và hát rất hay, Bác còn muốn nghe mãi…. Nhưng trời đã khuya, mai các cháu còn phải học tập và công tác, Bác cũng phải làm việc. Trước khi ra về Bác đề nghị một việc: để kỷ niệm ngày Bác cháu mình gặp mặt, mỗi người hứa trồng cho Bác hai cây phi lao. Các cháu có làm được không?”.

“Được ạ! Được ạ! Hồ Chủ tịch muôn năm !”.

Theo lời Bác, kể từ ngày ấy khắp sư đoàn rộ lên một phong trào trồng cây phi lao phủ xanh bờ biển. Mỗi chúng tôi không chỉ trồng hai cây mà thi đua trồng thật nhiều, có chiến sĩ trồng hàng ngàn cây dọc suốt bờ biển Quảng Bình.
Mười tám năm sau…

Năm 1975, ngày thống nhất đất nước, trên đường về Nam, ngang qua Quảng Bình, tôi chú ý quan sát vùng đất mà bộ đội, trong đó có tôi, trồng phi lao ngày trước. Ôi! Không ngờ ngay trên tuyến lửa này, mặc cho bom cày đạn xới, suốt mười mấy năm chống Mỹ, những cây phi lao bé bỏng ngày xưa đã thành rừng dày đặc, xanh um, chạy dài tít tắp.

Ôi! Bác của chúng ta vĩ đại mà gần gũi biết bao! Màu xanh Bác để lại vẫn muôn đời còn đó.

Lê Đức Minh (Cựu chiến binh, Tân Phú, TP.HCM)

bqllang.gov.vn

Người đi đầu xóa đói, giảm nghèo

Có một cựu chiến binh-đại tá, một người lính dày dạn trận mạc, trở về với cuộc sống đời thường, lại tiếp tục đi đầu trong cuộc chiến chống đói nghèo, mang niềm vui, hạnh phúc đến với mọi người.

Ông là Lê Văn Tá ở xã Hòa Châu, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Một ngày cuối thu, tôi tìm đến căn nhà nhỏ ẩn mình trong khu vườn xinh xắn quay mặt ra cánh đồng mênh mông, ngập nước.

Câu chuyện của ông ngược dòng thời gian trở về những năm tháng chiến tranh ác liệt…. Mùa xuân năm 1961, từ Đại Từ (Thái Nguyên), ông tình nguyện trở về quê hương chiến đấu. Từ một chiến sĩ, tôi luyện trong chiến đấu, ông trở thành cán bộ tiểu đoàn. Với sự mưu trí, linh hoạt, ông cùng ban chỉ huy tiểu đoàn đã tổ chức nhiều trận đánh, phá hủy nhiều kho tàng, phương tiện chiến tranh của địch. Trận chiến đấu mà ông nhớ nhất là trận đánh đại đội hỗn hợp dân vệ, cảnh sát Tuy Hoà sau Mậu Thân 1968. Đêm ấy, trời tối đen như mực, ông cùng đơn vị bí mật tiếp cận mục tiêu, rồi bất ngờ đồng loạt nổ súng tấn công tiêu diệt toàn bộ đại đội địch dưới chân núi Chóp Chài. Sau đó, đơn vị rút lui về hậu cứ, ông ở lại nắm tình hình. Bị thất bại nặng nề, địch tổ chức lực lượng lùng sục hết sức gắt gao. Ông rút xuống hầm bí mật, tay cầm lựu đạn, sẵn sàng chiến đấu đến cùng. Ông tự nhủ: Nếu hi sinh thì cũng phải trong tư thế của người cộng sản. Sau một hồi xăm xoi, địch không tìm thấy gì nên lui quân… Với những chiến công ấy, Tiểu đoàn 85 vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, riêng ông được tặng 3 huân chương chiến công hạng I, hạng II và hạng III.

Năm 1990, ông nghỉ hưu. Thấy quê hương còn nghèo, ông nghĩ: “Còn sức, còn chiến đấu. Dù ở đâu cũng phải sống xứng đáng với danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ”. Khi địa phương và đồng đội tín nhiệm, ông không đắn đo nhận “chức” Chủ tịch Hội Cựu chiến binh của huyện và cùng lãnh đạo địa phương thực hiện công cuộc “xoá đói, giảm nghèo”, đương đầu với nhiệm vụ mới không kém phần cam go, thử thách. Hình ảnh người cựu chiến binh già trong bộ quân phục bạc màu, cùng chiếc xe đạp rong ruổi từ thôn này đến bản khác trở nên quen thuộc đối với đồng bào Hoà Vang. Ngày cũng như đêm, không quản nắng mưa, ông đến với từng chi hội, từng gia đình tìm hiểu hoàn cảnh, cùng họ tính kế làm kinh tế vườn đồi, trang trại, nuôi dạy con cái… Lăn lộn cùng đồng bào vùng dân tộc thiểu số, ông biết đời sống của họ vẫn còn muôn vàn khó khăn. Vì vậy, sau nhiều đêm trăn trở, ông đưa ra sáng kiến thành lập tổ hợp tác cựu chiến binh. Mục tiêu đặt ra là phát động phong trào tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống, góp phần tích cực vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo trong hội viên và giúp đỡ đồng bào dân tộc Cơ Tu. Khi nghe các cựu chiến binh phác hoạ tiềm năng đất đai tại Khe Muông, Khe Dao ở hai bản Tà Lang và Giàn Bí, không chần chừ, ông cùng họ đi ngay đến đó để khảo sát. Cứ thế, ông xông pha đến từng thôn bản hẻo lánh, lội suối, băng rừng đi tìm địa điểm đào núi, dời non lấy đất canh tác.

Thời kỳ đầu hết sức khó khăn, ông phải kiên trì tuyên truyền, vận động đồng bào từ bỏ lề lối làm ăn cũ để theo hướng mới, lập thành hai tổ hợp tác sản xuất. Có đất rồi, phải dựng trại, mở đất trồng bắp, trồng đậu, nuôi trâu bò, lợn gà. Thiếu vốn, ông bàn với Thường vụ Hội Cựu chiến binh của huyện vận động chính quyền, ngân hàng huyện, các cơ quan hảo tâm, hỗ trợ hàng chục triệu đồng mua vật tư, nông cụ sản xuất, giống và phân bón. Có thời gian ông ở lại với các cựu chiến binh hai bản Tà Lang, Giàn Bí cả tháng trời. Sáng ra cùng họ khai phá đất hoang, trỉa đậu, trồng bắp, tối về ông phổ biến kinh nghiệm chăn nuôi gia súc, gia cầm. Trong khoảng thời gian 3 năm, ông và bà con dân bản khai hoang được 18 ha đất canh tác, đào đắp hơn 7.500 m3 đất đá, xây một đập tràn, 4 cống xả lũ, cùng với địa phương quy hoạch lại khu dân cư. Công sức của ông đã giúp 12 hộ cựu chiến binh và nhiều hộ không chỉ đủ ăn mà còn làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình. Mấy năm trở lại đây, nhờ sự vận động của ông, bà con tích cực trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc, bảo vệ môi trường. Bản làng xa xôi ngày ấy từng ngày trù phú.

Trên cương vị Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện, ông đã dồn hết tâm huyết cho công việc, xây dựng nhiều mô hình, đề xuất nhiều giải pháp có tính khả thi. Quỹ “đồng đội” do ông khởi xướng đã góp phần đẩy nhanh công cuộc xóa nghèo trong hội viên. Đến nay, 100% hộ cựu chiến binh ở Hòa Vang có nhà ở kiên cố, 2/3 hộ có mức sống khá và giàu. Mới đây, ông giữ chức Phó chủ tịch thường trực Hội Nạn nhân chất độc da cam, công việc lại càng thêm vất vả. Hằng ngày, ông xuống từng thôn bản khảo sát, phát hiện các trường hợp bị nhiễm chất độc da cam để có kế hoạch thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ kinh phí, làm nhà cửa.

Công việc chung vô cùng bận rộn ông vẫn tranh thủ phát triển kinh tế gia đình. Chỉ với 2 sào đất quanh nhà, ông nghiên cứu kỹ thổ nhưỡng, tính toán xen canh để lúc nào cũng có thu nhập…Vào vườn nhà ông mà thấy mát con mắt. Dưới giàn bầu, bí, khổ qua là những luống khoai môn. Cạnh gốc khoai môn là rau mùi tàu, diếp cá. Giữa luống khoai lang là ngô. Xung quanh bờ rào ông trồng dây mơ và chuối sứ… Mỗi năm gia đình ông thu nhập gần 20 triệu đồng từ khu vườn ấy. Sống mẫu mực, giàu lòng nhân ái, được mọi người tin yêu, hàng chục năm nay, gia đình ông liên tục đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa tiêu biểu xuất sắc”. Với những thành tích xuất sắc trong công tác đoàn thể, ông được Thủ tướng Chính phủ, Trung ương Hội CCB, UBND thành phố tặng 13 bằng khen. Tổng kết phong trào thi đua quyết thắng, từ năm 2000 đến nay, năm nào ông cũng đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, trong đó có cấp thành phố và toàn quốc.

Bà Dương Thị Nhung (từng là chiến sĩ Sư đoàn 2, Quân khu 5) rất tự hào nói về chồng mình: “Từ trước đến giờ ổng là vậy đó, khi đã quyết tâm làm việc gì là kiên trì cho đến cùng, bất chấp gian khổ!”. Còn ông, chỉ “kết luận” với tôi: “Phần thưởng lớn lao nhất của đời tôi là có được niềm tin của đồng đội và bà con lối xóm”.

Theo QĐND

bqllang.gov.vn

Chiếc huy hiệu Bác Hồ

Tôi đến thăm gia đình Bai, thắp cây nhang ngày Tết. Vật kỷ niệm mà tôi đã tặng Bai ngày lên đường thoát ly vẫn còn đây, đang nằm trên bàn thờ anh, bên cạnh những tấm huy chương lấp lánh. Chiếc huy hiệu bằng bạc ánh lên màu biêng biếc của thời gian. Nó như đang trở mình và thầm kể lại những buồn, vui mà nó đã từng chứng kiến.

Năm 1961, tôi lên bảy tuổi, nhà tôi cùng cả làng Lại Yên Thượng bị dồn vào ấp chiến lược. Để chuẩn bị cho việc dồn dân lập ấp, bọn Mỹ-Diệm đã khống chế, bắt bớ dữ dội. Chú Hai Tần, dì Sáu Son và những người nòng cốt khác đã bị bắt giam ở nhà lao tỉnh. Bác Ba, ba của Bai cũng bị bắt.

Cho đến khi, việc dồn dân cả làng Lại Yên Thượng xong, chúng mới thả những người ấy ra. Bác Ba, lúc ra tù trở về nhà thì thân thể đã không còn nguyên vẹn nữa. Bọn chúng đã chặt mất của bác Ba một bàn tay. Từ nay, bà con làng Lại Yên Thượng gọi bác Ba bằng một cái tên mới, như một bằng chứng luôn nhắc nhở lòng căm thù lũ giặc: Ba Cụt.

Hôm nhà tôi được dỡ xuống để đưa vào trong ấp, tôi ngồi trên chạc ba cây me sau nhà, cắn trái me non mà nước mắt cứ trào ra. Tôi đã nghe nhiều người nói rằng, khi con thú hay cái cây mà xa chủ của nó, thì nó nhớ, cứ héo hắt dần và chết đi. Vì thế, tôi cứ đinh ninh, những ngày sắp tới, khi gia đình tôi phải vào sống trong ấp chiến lược, thì cây me của tôi cũng ủ rủ, héo úa mà khô chết đi như lời người lớn nói. Cả nhà chuẩn bị đi. Má tôi giục tôi xuống đôi ba lần không được. Cuối cùng, chị Hai doạ sẽ bỏ tôi lại để mà chết theo cây me luôn, tôi mới chịu bò ra khỏi chạc ba quen thuộc như chiếc giường ngủ, tụt xuống đất. Tôi lững thững như người mất hồn đi theo sau chiếc xe bò lịch kịch, chở lỉnh kỉnh những đồ đoàn của gia đình cùng với chiếc bàn thờ ba tôi.

Gia đình tôi bắt đầu cuộc sống âm thầm trong ấp chiến lược. Má tôi lầm lì ít nói hẳn đi. Chị Hai tôi, thì cũng đổi tính nết, hay bẳn gắt và thường ít khi ra khỏi nhà. Tôi chỉ còn biết lủi thủi chơi những trò chơi vụn vặt chẳng thú vị tí nào với Bai. Tôi với Bai thân với nhau từ bé tí. Những ngày còn ở xóm Cũ, hai đứa thường leo chuyền trên những cành me xam xáp da tay và ngủ quên trên những chạc ba.

Tôi và Bai bắt đầu cắp sách đến trường “Ấp Tân Sinh”. Nhưng cũng chỉ được bốn tháng sau, tôi bỏ học. Từ ngày vào trường; cứ mỗi buổi sáng, trước khi vào lớp, cả lủ con nít chúng tôi đứng thẳng hàng, nghiêm trang rồi ong ỏng hát lên bài “Suy tôn Ngô Tổng Thống”. Tôi thấy chán bài hát ấy, vì không hiểu gì cả, nhưng cứ phải gân cổ mà hát thật to.

Một hôm, trong giờ ra chơi, Bai kéo tôi ra sau trường rồi hỏi nhỏ:

- Này, mày có biết Ngô Tổng Thống là ai không? Tôi trả lời như học thuộc lòng:

- Ngô Tổng Thống là chí sĩ cách mạng, là người đã … đã …

- Không phải! – Nó hét lên ngắt lời tôi một cách đột ngột và giận dữ – Ngô Tổng Thống là người đã giết ba mày và chặt tay ba tao trong tù, bắt cả nhà mày, nhà tao vào ấp sống khổ cực. Mày nghe chưa?

Tôi chụp tay nó, hốt hoảng:

- Sao mày biết? Ai nói với mày?

- Ba tao nói với tao hồi tối này.

Ai chứ bác Ba Cụt nói là tôi tin ngay. Bác Ba là người thân tín nhất của gia đình tôi từ ngày ba tôi mất. Sáng hôm sau, không như thường lệ phải thức dậy sớm để chuẩn bị đi học, tôi nằm lì trên giường trùm mền kín đầu. Tưởng tôi bệnh, chi Hai tôi giở mền sờ vào trán tôi, hỏi:

- Em bệnh phải không?

- Không! Tôi vùng vằng.

- Vậy sao em không dậy đi học?

Tôi tung mền ngồi dậy, nhìn chị trân trân rồi nói một cách cương quyết:

- Em không thèm đi học nữa!

Chị tôi hơi ngạc nhiên, ngồi xuống mép giường, vuốt tóc tôi rồi ân cần hỏi lại:

- Em nói cho chị nghe đi, sao lại không thèm đi học?

- Tại em không thèm hát suy tôn Ngô Tổng Thống nữa!

Rồi như có một luồng hơi nóng từ ngực tôi phả lên mặt nóng bừng, tôi nói như hét vào tai chị tôi:

- Vì người ta giết ba mình. Ngô Tổng Thống giết ba mình, chặt tay bác Ba, vì…

Chị Hai vội vàng lấy bàn tay bịt miệng tôi không cho tôi nói nữa. Lần này, thì chị tôi sửng sốt thật sự. Chị ôm chặt lấy tôi. Rồi hai chị em cùng khóc. Ngày hôm đó trôi qua lặng lẽ. Hai chị em không nói với nhau lời nào, nhưng trong lòng thì như có cái gì đang âm ỉ.

Sáng hôm sau, chị Hai gọi tôi xuống bếp. Chị nhẹ nhàng cầm tay tôi và mở cho những ngón tay xòe ra. Hình như chị đặt vào đó một vật gì nhỏ như đồng xu, cồm cộm rồi nắm chặt bàn tay tôi lại. Chị hỏi tôi nhỏ nhẹ:

- Em có nhớ cây me nhà mình không?

- Có, em nhớ lắm.

- Em có muốn về lại với nó không?

Tôi ngạc nhiên hỏi lại chị:

- Nhưng mà làm sao về được?

Chị không trả lời câu hỏi của tôi, mà mở bàn tay tôi ra. Cái vật be bé, tròn như đồng xu ấy nằm giữa lòng bàn tay tôi, có màu bạc; ở giữa là hình nổi gương mặt một ông già có chòm râu dài, trán rộng, vẻ hiền từ phúc hậu hao hao như hình ông bụt trong tranh vẽ in trong sách.

- Em biết ai đây không?

Tôi lắc đầu.

- Bác Hồ đó!

Lần đầu tiên, tôi nghe nói đến cái tên ấy. Tôi cầm cái vật be bé đó lên ngắm nghía, rồi hỏi chị Hai:

- Bác Hồ giống ông Bụt quá phải không chị?

- Ừ, Bác Hồ là ông tiên đó!

Chị Hai tôi nói và cười. Nụ cười tươi tắn hiếm hoi mà tôi được thấy ở chị từ ngày về sống trong ấp chiến lược này.

- Vậy Bác Hồ có giúp nhà mình và nhà thằng Bai về xóm cũ, cho em về với cây me được không chị? Tôi nói liền một hơi.

- Ừ, chị lại cười. Bác Hồ sẽ giúp cho bà con mình về lại xóm cũ, cho em về với cây me của em.

Tôi mừng quá, muốn nhảy lên, chạy mau đi tìm thằng Bai để nói cho nó biết điều này. Tôi lại ngắm nghía cái vật be bé có ảnh ông Bụt – Bác Hồ lần nữa; và bỗng nhớ đến gương mặt bì bì trong khung ảnh lớn treo phía trên bảng đen trong lớp học. Bây giờ, tôi mới thấy nó ác làm sao!

- Chắc Ngô Tổng Thống sợ Bác Hồ lắm hả chị?

- Ừ, sợ lắm!

Tôi cảm thấy lòng mình được thỏa mãn, được trả thù. Tôi đã biết được kẻ đã giết ba tôi, mà tôi phải suy tôn mỗi sáng, phải sợ một người. Tuy rằng, người ấy, giờ đây, tôi chỉ mới hình dung qua cái vật tròn tròn be bé này. Tôi áp nó lên ngực và nói với chị tôi:

- Chị cho em xin cái này nghe chị?

- Ừ, chị cho em. Em gọi nó là “huy hiệu Bác Hồ”.

Chị tôi đứng dậy, kéo tay tôi đi lên nhà trên, đến trước bàn thờ ba tôi được đặt giữa nhà, rồi nói nhỏ với tôi giọng xúc động:

- Chiếc huy hiệu Bác Hồ này là của ba mình. Trước lúc hy sinh trong tù, ba đã gửi lại cho các bạn tù và sau đó được bác Ba đem về cho chị em mình.

Chị nhìn tôi, thoáng suy nghĩ rồi nói tiếp:

- Bây giờ, chiếc huy hiệu này là của em. Nhưng em phải cất nó vào sau lưng khung ảnh của ba mới được. Cảnh sát mà thấy, nó sẽ đánh chết chị em mình.

Tôi gật đầu và nhìn chừng ra cửa cho chị cất huy hiệu vào sau khung ảnh ba. Xong rồi, chị thắp ba cây nhang, thầm thì nói với khung ảnh ba tôi điều gì đó, chị cắm nhang vào lư. Hai tay chị run run.

Suốt bốn năm sống trong ấp chiến lược; Bác Hồ trong trí tưởng tượng của tôi, lúc thì mờ ảo giống như ông Bụt hiện lên giúp cô Tấm lấy được hoàng tử; lúc thì sừng sửng, oai nghi như vua Quang Trung cưỡi voi đại phá quân Thanh được vẽ trong sách.

Cho đến khi, ấp chiến lược bị phá xong, về được vùng giải phóng, được tiếp tục đi học và sinh hoạt trong đội thiếu niên tiền phong, hình ảnh Bác Hồ luôn ở bên tôi hằng ngày, trên ngực áo nơi trái tim. Và đến ngày Bai lên đường để vào học trường thiếu sinh quân ở Miền, tôi đã tặng vật kỷ niệm ấy cho Bai. Nó cũng đã ấp ủ bên cạnh trái tim Bai suốt bao năm học tập và chiến đấu. Khi ngã xuống, máu của Bai đã thấm ướt đẫm chiếc huy hiệu này.

Trên bàn thờ Bai, chiếc huy hiệu vẫn ánh lên màu bạc. Tôi chợt nảy ra một ý định. Tôi sẽ nói với gia đình Bai xin lại chiếc huy hiệu kỷ niệm để tặng cho phòng truyền thống của trường phổ thông của xã và kể lại câu chuyện về chiếc huy hiệu này cho các em học sinh hiểu thêm về những cuộc đời đã hy sinh để có được hòa bình hôm nay và ngày mai tươi sáng.

Ngô Đình Miên

bqllang.gov.vn

Bệnh thành tích hay bệnh nói dối

(ĐCSVN)- Thành tích, theo đúng nghĩa đó là cái mà người ta đạt được cao hơn mức bình thường. Ở mỗi cuộc thi, thường thì thành tích được chỉ những cá nhân hay một tập thể nào đó đoạt giải; trong công việc hoặc học tập là những người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đạt thứ hạng cao trong học tập, được cơ quan, đơn vị khen thưởng, đồng đội nể phục.

Nhìn từ góc độ tâm lý mọi con người đều thích được khen; mỗi khi làm được việc gì hay, tốt đẹp hoặc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ người ta đều muốn được đánh giá đúng và khi nhận được sự khen ngợi, tâm trạng của chúng ta đều rất phấn khởi; nhưng nếu bị chê thì không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận, cho dù đó là những lời chê đúng. Đối với một cấp, một ngành hay một cơ quan, tổ chức nào đó cũng vậy.

Sẽ là rất tốt nếu thành tích đạt được là thật. Và sự khen thưởng đúng sẽ như một liều thuốc bổ khuyến khích người được khen càng cố gắng nỗ lực hơn, chí ít là phấn đấu để giữ vững thành tích cũ, không bị tụt hạng. Còn đối với những người khác, với đồng nghiệp thì cũng lấy đó làm tấm gương để phấn đấu, vươn lên “cho bằng chị, bằng em”. Vậy nếu xét về góc độ tích cực thì thành tích chính là động lực để chúng ta phấn đấu và người yêu thành tích không thể coi là xấu mà ngược lại đó là nét đẹp nên khuyến khích.

Nhưng tại sao lâu nay chúng ta lại thường dùng cụm từ bệnh thành tích hay chạy theo thành tích để gán ghép cho những kết quả ảo trong Giáo dục, y tế, trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội… ?

Thực ra thành tích không có tội. Tội là của sự hám danh, sự đại khái, không dám chịu trách nhiệm dẫn đến giả dối trong báo cáo của cấp dưới đối với cấp trên và sự quan liêu, thậm chí là thiếu khách quan, nhân nhượng trong việc đánh giá của cấp trên đối với cấp dưới.

Thực tế cho thấy có không ít cơ quan, đơn vị mặc dù kết quả hoạt động không được bao nhiêu, song do có “cách làm báo cáo tốt” nên đã được khen thưởng; song cũng có những đơn vị, nếu so kết quả thì không kém gì đơn vị kia, nhưng vì trung thực, làm được bao nhiêu báo cáo bấy nhiêu, nên không những không được khen mà thậm chí còn bị phê bình, bị chê… Chúng ta thường nói “khen thưởng là con dao hai lưỡi”, nếu khen thưởng đúng sẽ có tác dụng kích thích mọi người phấn đấu vươn lên; nhưng nếu khen không đúng sẽ cho “tác dụng ngược”. Sự quan liêu, thiếu khách quan trong việc đánh giá của cấp trên đối với cấp dưới sẽ vô tình “khuyến khích” và “nhân rộng” tính nói dối của cấp dưới. Bởi nếu cùng ngang nhau mà cơ quan này được khen còn cơ quan kia lại bị phê bình thì tất nhiên sẽ gây nên sự so bì ghen tỵ lẫn nhau hoặc nếu nể nang nhau thì họ sẽ học cách báo cáo thiếu trung thực để được khen. Mặt khác việc đánh giá, khen thưởng thiếu chính xác, không xứng đáng với thành tích thực cũng sẽ làm thui chột động cơ phấn đấu của mọi người vì chỉ cần cứ hoạt động bình bình, không mắc khuyết điểm gì là sẽ đạt “trong sạch vững mạnh”, “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”…. được khen thưởng….

Một nguyên nhân nữa dẫn đến “bệnh nói dối” trong báo cáo còn do sự chủ quan trong việc đưa ra các chỉ tiêu phấn đấu của các cấp, ngành. Thông thường muốn phát triển người ta đều phải đặt ra những mục tiêu cao hơn để phấn đấu vươn tới. Song mục tiêu đó cần phải dựa vào thực lực, có cơ sở khoa học, và phải phù hợp với điều kiện của từng địa phương, đơn vị, chứ không phải bằng mong muốn chủ quan.

Một người chưa biết tiếng Anh mà đặt ra mục tiêu trong một tháng vừa học vừa thi phải lấy được Chứng chỉ B thì dứt khoát chất lượng không phải là thật; một lớp học với quá nửa học sinh yếu mà đưa ra chỉ tiêu phải lên lớp trên 100% thì là điều không tưởng. Tương tự như vậy, một đoàn thể muốn đưa ra chỉ tiêu phát triển đoàn viên, hội viên thì trước hết phải có nguồn, quần chúng nơi đó có tự nguyện, thiết tha tham gia đoàn thể mình hay không và phải tính đến trình độ của cán bộ có khả năng vận động quần chúng tham gia hay không…; không đủ những yếu tố đó mà đưa ra những chỉ tiêu chủ quan thì sẽ tạo ra áp lực làm cho cấp dưới phải phấn đấu quá sức, khi không đạt thì vì sợ không được khen, lại bị phê bình, bị chê, nên dẫn đến báo cáo sai sự thật (trong thực tế đã có những đoàn thể xóa tên trong danh sách hàng chục ngàn hội viên, đoàn viên danh nghĩa); ở cơ sở do bị áp lực mà nói dối, cấp trên không kiểm tra hoặc đại khái trong việc đánh giá, chấp nhận kết quả đó và vô tình đã tiếp tay cho sự dối trá, tự mình nói dối mình, trở thành “nói dối có hệ thống”….

Tệ hại hơn là dựa vào những những báo cáo thiếu chính xác, những kết quả không có thực đó để tiếp tục hoạch định chính sách và lại đưa ra những chỉ tiêu không sát thực tế, mà không sát thực tế thì khó thực hiện đạt, nếu báo cáo không đạt thì sợ mất thi đua, không được khen, nên đành phải báo cáo sai sự thật, khiến cho cả hệ thống cứ trượt dài trong thành tích ảo. Và như vậy suy cho cùng cái mà lâu nay chúng ta thường gọi “bệnh thành tích” chính là “bệnh nói dối”.

Thiết nghĩ, một cơ thể có bệnh, muốn chữa khỏi thì trước hết phải tìm được đúng bệnh và những nguyên nhân gây ra bệnh đó; chẩn đoán sai đồng nghĩa với việc chữa trị sai, không những không khỏi bệnh mà còn có thể gây hại. “Bệnh thành tích” và “bệnh nói dối” hoàn toàn không đồng nhất với nhau cho nên cần phải phân ra rạch ròi. Bệnh thành tích, đó chỉ là biểu hiện của sự mong muốn; nhưng nói dối, báo cáo sai sự thật thì đã thể hiện trong hành vi, vì vậy cần phải kiên quyết ngăn chặn, phê bình, kiểm điểm nghiêm khắc, có như vậy chúng ta mới có được những kết quả thực trong hoạt động.

Tạ Trung Dũng

bqllang.gov.vn

Những chuyện cảm động về Bác Hồ qua lời kể của thành viên nhóm tình báo Con Nai (Mỹ)

Henry Prunier năm nay đã 86 tuổi, là một trong bảy thành viên của nhóm tình báo Con Nai (Deer Team) thuộc OSS. Theo lời kêu gọi của Bác Hồ, nhóm Con Nai nhảy dù xuống Tân Trào tháng 7 năm 1945 để giúp đỡ trong việc huấn luyện các chiến sĩ Việt Minh đánh Nhật.

Chúng tôi đến thăm hai ông bà Henry Albert Prunier và Maria Prunier vào một buổi sáng mưa lạnh ở vùng New England. Ông Henry Prunier rất vui khi biết chúng tôi có ý định tìm hiểu, tham vấn ông để làm một cuốn sách liên quan đến thời kì đó.

Theo ông, lịch sử sẽ dần trôi vào quên lãng nếu không có những người nhắc lại giai đoạn đặc biệt này của quan hệ giữa hai nước – Một giai đoạn rất ngắn khi Việt Nam và Hoa Kỳ đã từng là bạn.

Những thành viên của The Office of Strategic Services (OSS), đã giúp đỡ Việt Minh sử dụng vũ khí và cũng chính những thành viên ấy đã hết sức nhiệt tình chuyển giúp thư của Bác Hồ đến chính phủ Mỹ, đề nghị Tổng thống Truman công nhận độc lập của Việt Nam.

Chỉ tiếc rằng lịch sử đã đi theo hướng hai nước trở thành đối thủ trong cuộc chiến 20 năm.

Có lẽ ông là một trong rất ít người còn sống và đã cùng ông Allison K. Thomas (trưởng nhóm Con Nai), trở lại Hà Nội năm 1995 gặp gỡ các chiến sĩ Việt Minh mà ông đã có dịp sống và làm việc. Cuộc gặp mặt sau 50 năm được tổ chức theo sáng kiến của Hội Hữu nghị Việt – Mỹ và do Quỹ Ford tài trợ.

Khi đến Tân Trào, ông mới 24 tuổi, làm thông dịch viên cho nhóm. Chỉ có chưa đầy một tháng được tiếp xúc với Bác Hồ, đại tướng Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ Việt Minh, nhưng đã để lại trong ông những kí ức và kỷ niệm khó quên mà ông mang theo bên mình trong hành trình hơn nửa thế kỷ.

Ông nhớ rõ từng chi tiết khi nhảy dù xuống Tân Trào. Nhóm Con Nai ở cách Tân Trào 3 km, trước đó đây là nơi dành cho các lớp bồi dưỡng chính trị, nay thành thao trường huấn luyện của Việt Minh.

Nhóm Con Nai mỗi người mỗi việc, trong đó có bác sĩ đã từng chữa bệnh cho Bác Hồ khi Người bị ốm. Vũ khí, thuốc men, thực phẩm của họ đều được tiếp tế bằng máy bay trực thăng. Tuy nhiên, cả nhóm vẫn dùng thực phẩm của địa phương như cơm, ngô, măng rừng, rau và thịt gà. Ông nhớ nhất là bữa ăn rất thiếu rau, còn thịt gà là món ông nhớ nhất vì nó… không ngon một chút nào.

Tiếp đó là những ngày hành quân về Hà Nội cùng tướng Đàm Quang Trung, qua Thái Nguyên còn phải đánh nhau với tàn quân Nhật. Các ông về đến Hà Nội vào ngày 9/ 9/1945.

Ông được gặp lại Bác Hồ, bây giờ là Chủ tịch nước Việt Nam độc lập, với cảm giác ngỡ ngàng vì trước đó một tháng ông chỉ biết đó là “Mr. Hồ”. Con người giản dị đó giờ đây đã trở thành người đứng đầu một đất nước thoát khỏi ách thuộc địa.

Ông ở Hà Nội một thời gian ngắn, rồi sang Côn Minh và về Mỹ tháng 1/1946.Ông học đại học, rồi làm việc ở công ty gia đình J.S, Prunier and Sons.

Năm 1997, ông tham dự cuộc gặp mặt những thành viên OSS và các chiến sĩ Việt Minh tại New York. Hiện ông đang sống tại thành phố Webster nằm phía đông của bang Massachusetts, Hoa Kỳ.

Bước vào nhà, vật đầu tiên ông chỉ cho chúng tôi là bức tranh thêu trên lụa khổ 1,5 m x 0,6 m, về một nhân vật trong lịch sử Trung Quốc, được lồng trong khung kính, treo trang trọng trong phòng khách.

Đó là món quà của Bác Hồ tặng ông từ năm 1945, và ông đã giữ cho đến tận bây giờ. Mặc dù đã 62 năm đã trôi qua, nhưng bức tranh không hề phai màu, được bảo quản gần như mới…

Ông đưa chúng tôi vào nơi trước đây là Văn phòng giao dịch của công ty J.S. Prunier and Sons. Bây giờ, đây là nơi ông lưu giữ những cuốn sách về Bác Hồ, về Việt Nam, về đội Con Nai, OSS trong những ngày ở Đông Dương.

Những cuốn sách của các tác giả là thành viên của đội OSS như Charlse Fenn, Archimedes Patti, và các nhà nghiên cứu về Việt Nam sau này như William Duiker, Dixee R. Bartholomew-Feis. Ông gìn giữ cẩn thận từng băng ghi âm các cuộc phỏng vấn của các cơ quan truyền thông trong những năm 1960, cả những băng cối, sử dụng rộng rãi vào thời kỳ đó.

Ông cho chúng tôi xem những băng ghi hình về Bác Hồ của nhiều đài truyền hình, các hãng thông tấn khác nhau như Đài BBC, kênh truyền hình “Lịch sử” của Mỹ (History Channel) và các cuộc phỏng vấn ông khi làm phim về Bác.

Từng tập hồ sơ, nhật ký của đội OSS ông còn giữ từ năm 1945, rồi ông đem những bức hình của các chiến sĩ Việt Minh năm xưa so sánh với những bức ảnh ông chụp với họ khi gặp lại nhau năm 1995 ở Hà Nội và năm 1997 tại New York.

Đặc biệt nhất là những bức ảnh đen trắng ông được chụp chung với Bác Hồ, đại tướng Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ Việt Minh. Những bức ảnh gốc đã hơn 60 năm tuổi, chúng có mặt trên các tạp chí nổi tiếng như Life Magazine của Hoa Kỳ (1978), Paris Match của Pháp (1968) và trong nhiều phim tài liệu về lịch sử ngắn ngủi trong quan hệ Việt-Mỹ.

Ông tháo trên tường một khung kính nhỏ hơn khổ giấy A4 một chút, đó là chứng chỉ do Đại học Berkeley cấp ngày 2/9/1944, công nhận ông đã học qua khóa tiếng Việt trong 9 tháng (chứng chỉ ghi là tiếng Annam).

Hóa ra có trường đại học Mỹ đã dạy tiếng Việt từ thời kỳ đó. Ông trân trọng cho chúng tôi xem từng bài viết về Bác Hồ, được cắt ra từ báo hoặc tạp chí. Đã nhiều năm trôi qua, nhiều chỗ đã hoen ố, nhưng dường như chúng vẫn mang hơi thở của thời kỳ ra đời. Và với chúng tôi, những người tìm hiểu về lịch sử thì đó là kho tài liệu vô giá.

Đề tài ông thích nhất có lẽ là nói về Bác Hồ. Ông có thể ngồi hàng giờ nói chuyện về những kỷ niệm không bao giờ quên trong thời gian hơn ba tuần được tiếp xúc với Bác.

Mặc dù là phiên dịch tiếng Việt, nhưng ông bảo Bác Hồ nói tiếng Pháp và tiếng Anh rất thạo, đương nhiên là hơn hẳn tiếng Việt của ông nên Bác thường trao đổi trực tiếp bằng tiếng Anh, khiến ông gần như… thất nghiệp.

Biết ông là người Massachusetts, Bác nhắc lại kỷ niệm về những ngày Bác sống và làm việc ở Boston và New York. Ông nhắc đi nhắc lại ấn tượng về Bác Hồ: Một con người rất đời, giản dị nhưng có chí khí mãnh liệt, một con người rất Việt, nhưng mang trong mình mọi tính cách của thành viên thuộc cộng đồng thế giới.

Ông mỉm cười khi nói đến hình ảnh ông nhớ nhất về Bác Hồ là Bác mặc áo cánh và quần sooc khi ở Tân Trào và cả khi về Hà Nội, trên cương vị Chủ tịch nước, Bác vẫn ăn mặc giản dị như thế khi tiếp đón các thành viên OSS tại Phủ Chủ tịch. Bác chiêu đãi, tặng quà và cám ơn các thành viên trong nhóm. Bác không hề tỏ ra mình là nhân vật quan trọng, khi mà trên thực tế lúc đó Bác là người vô cùng quan trọng.

Ông buồn rầu kể: “Hồ Chí Minh đã nhờ chúng tôi viết thư về Mỹ đề nghị Tổng thống Truman công nhận quyền độc lập của Việt Nam. Chúng tôi là những người lính chứ không phải các chính trị gia, nên mặc dù đã làm hết sức mình, nhưng không giúp được gì nhiều. Chỉ tiếc là những bức thư đó sau này nằm trong kho lưu trữ quốc gia. Thời điểm ấy, nước Mỹ chỉ tập trung vào châu Âu, bỏ qua khu vực Đông Nam Á.

Tổng thống Truman đã để Charlse de Gaulle quyết định vấn đề Đông Dương. Phải chăng đây cũng là một phần nguyên nhân của cuộc chiến kéo dài 30 năm? Hồ Chí Minh mời chúng tôi trở lại Việt Nam bất cứ lúc nào, thế mà phải 50 năm sau tôi mới có dịp trở lại”.

Năm 1968, khi tổng thống Johnson leo thang chiến tranh, ném bom miền Bắc, tại Mỹ phong trào chống chiến tranh trong mọi tầng lớp nhân dân, sinh viên, thanh niên đã phân đất nước thành hai cực.

Nước Mỹ tìm hiểu về cuộc chiến, một tờ báo địa phương của thành phố Worcester, tiểu bang Massachusetts nơi ông sinh sống đã đăng bài về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ của phía bên kia qua lời kể của Henry Prunier.

Bài báo ông cho chúng tôi xem không khác những điều ông trân trọng kể về Bác hôm nay. Trong cuộc phỏng vấn do đài phát thanh thành phố thực hiện, Henry Prunier đã khẳng định: “Chúng ta không bao giờ giành chiến thắng tại Việt Nam bởi vì chúng ta chiến đấu không có mục đích. Trong khi đó, người Việt chiến đấu vì mục đích, vì niềm khao khát độc lập tự do”.

Chúng tôi hỏi ông vì sao chỉ với thời gian rất ngắn ở Việt Nam mà ông đã có kết luận như vậy? Ông trả lời: “Đơn giản lắm, người Việt có chung niềm khao khát độc lập như chúng tôi đã có ở thế kỉ 18. Khi đó chúng tôi phải giành độc lập bằng mọi giá do chính sách thuế má nặng nề của nước Anh áp đặt lên chúng tôi, vì có mục đích chúng tôi mới chiến thắng trong cách mạng Mỹ”.

Ngay sau khi ông phát biểu trên đài phát thanh, con gái ông còn đang đi học đã bị một số bạn bè và cả thầy cô quy kết là “con của cộng sản”. Ông bảo họ muốn nói gì cũng mặc, với ông, cái gì ông cho là đúng thì ông làm. Và điều ông nói đã thành sự thật. Năm năm sau, những người lính Mỹ cuối cùng đã rút khỏi Việt Nam và năm 1975, đất nước ta đã hoàn toàn thống nhất. Với người viết bài này, đây là một cuộc gặp mặt thật cảm động và khó quên. Người đang làm cuốn sách liên quan đến thời kỳ lịch sử này là ông David Thomas, một cựu binh đã tham chiến tại Playku năm 1968, người đã trân trọng quý mến Bác Hồ và vẽ trên 50 bức tranh về Bác.

Henry Prunier, cựu binh của thế chiến II, người đã tham gia giúp Việt Minh kháng chiến chống Nhật. Còn David Thomas, cựu binh của Chiến tranh Việt Nam, người đã tham chiến chống lại quân đội nhân dân Việt Nam.

Hơn 30 năm sau, tại nước Mỹ, hai thế hệ cựu binh đều gật đầu đồng tình với ý kiến của ông Prunier: “Đúng, chúng ta (người Mỹ) đã thất bại bởi vì chúng ta chiến đấu không có mục đích”.

Theo: Minh Phương
(Bài viết đăng trên Tạp chí Sự kiện nhân chứng)

bqllang.gov.vn

“Càng già chí khí càng dai…”

Bác Tôn Đức Thắng sinh năm 1888, hơn Bác Hồ 2 tuổi. Tình cảm giữa Bác Hồ và Bác Tôn cũng hình thành từ rất sớm, khi hai người chưa hề gặp nhau: Bác Tôn Đức Thắng từng ngưỡng mộ Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919 khi Người còn hoạt động trên đất Pháp, đã đưa ra “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” 8 điểm đòi quyền độc lập cho Việt Nam làm chấn động Hội nghị Véc-xây… Nhưng mãi đến cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, khi Bác Tôn được bầu là đại biểu Quốc hội và ra Hà Nội làm việc, lần đầu tiên Bác Tôn và Bác Hồ mới gặp mặt nhau.

Tại phiên họp vào ngày 8-11-1946 của kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa một, khi Chủ tịch Chính phủ liên hiệp (lâm thời) Hồ Chí Minh phát biểu từ chức, trao quyền để Quốc hội chọn người đứng ra lập Chính phủ mới-Chính phủ “tập họp nhân tài, đoàn kết kháng chiến”-thì đại biểu Quốc hội Nam Bộ Tôn Đức Thắng đã đứng lên dõng dạc phát biểu ý kiến: “Tôi xin giới thiệu Cụ Hồ Chí Minh, tức nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc là người xứng đáng hơn ai hết, đứng ra thành lập Chính phủ mới”. Ý kiến của Bác Tôn đã làm cho nhóm đại biểu các đảng phái phản động chưng hửng, thất vọng vì họ đã chuẩn bị sẵn một “danh sách tân chính phủ”…

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12, Bác Tôn cùng hai con gái là Hạnh, Nghiêm đều đã tham gia cách mạng được theo cha lên chiến khu Việt Bắc công tác. Trong kháng chiến chống Pháp, Bác Tôn là quyền Bộ trưởng Nội vụ, Trưởng ban vận động thi đua ái quốc Trung ương, Trưởng ban Thường trực Quốc hội… Giữa chiến khu Việt Bắc những ngày kháng chiến, Bác Hồ thường mời Bác Tôn đến gặp để đàm đạo công việc, trao đổi ý kiến về những công việc cụ thể nhằm đẩy mạnh phong trào Thi đua ái quốc, đẩy mạnh kháng chiến.

Bác Tôn cũng là người có phong cách rất cần kiệm trong đời sống, giản dị trong sinh hoạt. Hai Bác xưng hô với nhau rất thân mật bằng đại từ “cụ” và thân tình như một đôi bạn tri kỷ luôn “tâm đầu ý hợp”. Sau ngày kháng chiến thành công, trở về sống ở Thủ đô, Bác Hồ vẫn chỉ ở và làm việc tại căn phòng của người thợ điện cạnh tòa nhà Phủ Chủ tịch. Ngày vợ chồng hai người con gái là chị Hạnh-anh Phúc và chị Nghiêm-anh Trúc theo cha (Bác Tôn) về Hà Nội, thì bà Giàu từ miền Nam tập kết ra, lúc này gia đình mới sum họp. Ở nhà 35 Trần Phú, vợ chồng chị Hạnh, chị Nghiêm cũng chỉ có một phòng rộng không quá 20m2, hai chị em nhất định nhường cho ông thư ký riêng của cha căn phòng rộng hơn, vì “gia đình ông đông người hơn”. Ở Hà Nội, Bác Hồ thường sang thăm gia đình Bác Tôn. Thấy Bác Tôn làm việc, nghỉ ngơi trên tầng 2, hằng ngày thường phải lên xuống cầu thang không thuận tiện và tốn sức tuổi già, Bác Hồ nhắc Văn phòng: “Phải sắp xếp và đưa cụ xuống tầng dưới để ít phải đi lại, xuống hầm (hầm trú ẩn tránh bom đạn khi máy bay Mỹ đánh phá) cũng nhanh hơn…”. Những thời gian có thể, thường vào chiều thứ bảy trong tháng, Bác Hồ lại cho mời Bác Tôn sang nhà sàn cùng ăn cơm và đàm đạo với nhau. Mỗi lần như vậy, khi đến giờ, Bác Hồ ra tận gốc cây sát bờ ao thả cá đứng đợi “đón bạn”. Khi Bác Tôn đến, Bác Hồ lên tiếng: “Chào cụ!”. Bác Tôn cũng liền chắp hai bàn tay đáp lại: “Chào cụ !” đáp lễ…

Vào dịp kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Bác Tôn (20-8-1958), Quốc hội quyết định tặng Bác Tôn Đức Thắng Huân chương Sao Vàng. Tại buổi lễ, trước khi gắn huân chương lên ngực áo Bác Tôn, Bác Hồ rất vui và rất xúc động phát biểu: “Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: Suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân… Thay mặt nhân dân và Chính phủ, tôi trân trọng trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng Huân chương Sao Vàng, là huân chương cao quý nhất của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, mà đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và rất xứng đáng được tặng…”.

Hai năm sau, ở tuổi 72, kỳ họp Quốc hội tháng 7-1960 đã tín nhiệm bầu Bác Tôn làm Phó chủ tịch nước. Bác Tôn không chịu nhận có thêm thư ký riêng với lý do “công việc không nhiều”, sử dụng thêm một cán bộ là lãng phí. Nhưng Bác Hồ không tán thành, vì Bác Tôn tuổi đã cao. Bác Hồ bàn với Văn phòng sắp xếp công việc để có người giúp việc Bác Tôn, nên năm 1962 mới có người giúp việc-thư ký cho Bác Tôn, đó là ông Lê Hữu Lập… Cho đến năm Mậu Thân 1968, Bác Tôn Đức Thắng tròn 80 tuổi giữa thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang rất quyết liệt. Bác Hồ lúc đến chúc thọ người bạn già tri kỷ Tôn Đức Thắng, đã tặng bạn hai câu thơ:

“Càng già chí khí càng dai
Chống Mỹ, cứu nước ít ai hơn già”.

Tuấn Hải
(Tạp chí Sự kiện nhân chứng)

bqllang.gov.vn

Những tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị của Đảng ta

Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” là hai tác phẩm vô giá tiếp tục dẫn đường chỉ lối cho công tác lý luận và "thực hành lý luận" của Đảng ta. Ảnh tư liệu

(TCTG) – Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giáo dục lý luận chính trị và giáo dục thực hành lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. “Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hai tác phẩm lý luận lớn, cũng là những tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị của Người để lại.

Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng ta luôn đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng về lý luận chính trị là nhiệm vụ hàng đầu. Đây cũng chính là vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta luôn quan tâm ngay từ khi phấn đấu thành lập Đảng cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta sau này. Người đã có rất nhiều bài viết, bài nói và những tác phẩm riêng về xây dựng Đảng nói chung, về công tác giáo dục lý luận chính trị nói riêng. Trong các tài liệu đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày rất rõ, rất toàn diện và cụ thể về vấn đề này, từ giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin đến vấn đề xây dựng Đảng mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; từ nội dung và nhiệm vụ học lý luận chính trị đến vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục lý luận chính trị.

1. “Đường Kách mệnh” – tác phẩm lý luận đầu tiên, cũng là tác phẩm lớn về giáo dục lý luận chính trị của Đảng ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin sau khi đã nghiên cứu nhiều học thuyết, tìm hiểu nhiều tôn giáo trên thế giới. Người đã tự nhận mình là học trò của Đức Khổng Tử, của Chúa Giê su, của Các Mác, Tôn Dật Tiên…Cùng với việc tiếp thu những tinh hoa của các học thuyết ấy, Người còn tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tiễn qua việc nghiên cứu các cuộc cách mạng trên thế giới. Người nhận xét: Cuộc cách mạng Mỹ 1776 cũng như cuộc cách mạng Pháp 1789 đều là những cuộc “cách mạng không đến nơi… Cách mệnh An Nam nên nhớ điều ấy”(1) và “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lê-nin”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chắt lọc những tinh hoa của lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới để định ra con đường cách mạng Việt Nam. Khi gặp ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười, ánh sáng của chủ nghĩa Mác -Lênin, Người vui mừng khôn tả xiết. Người nói: Chủ nghĩa Lê-nin đối với cách mạng Việt Nam như người đi đường đang đói mà có cơm ăn, đang khát mà có nước uống. Người quyết định phải đến nước Nga, đến với Lê-nin. Tháng 6/1923, bất chấp muôn ngàn thử thách và hiểm nguy, Nguyễn Ái Quốc đã đến Tổ quốc của Cách mạng Tháng Mười.

Sau hơn một năm học tập và nghiên cứu tại Liên Xô, được chứng kiến công cuộc xây dựng CNXH, xây dựng cuộc sống hạnh phúc của nhân dân Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc càng mong sớm được trở về Tổ quốc. Người tin tưởng vào tương lai không xa trên đất nước thân yêu của mình cũng sẽ diễn ra sự nghiệp xây dựng CNXH. Tháng 3/1924, khi trả lời phỏng vấn phóng viên báo “Unita” của Đảng Cộng sản Ý tại Matxcơva – Giôvanni Giécmanéttô, Nguyễn Ái Quốc nói: Tôi sẽ trở về tổ quốc để đấu tranh cho sự nghiệp của chúng tôi. Ở bên chúng tôi có nhiều việc phải làm lắm… “Chúng tôi hiểu rõ là chúng tôi có trách nhiệm rất nặng nề và tương lai của các dân tộc tùy thuộc vào sự tuyên truyền và tinh thần hy sinh của chúng tôi”(3).

Nguyễn Ái Quốc xác định công việc đầu tiên phải làm là thành lập tổ chức của những người cộng sản, huấn luyện và đào tạo họ trở thành những chiến sỹ tiên phong cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc khẳng định giáo dục chủ nghĩa Lê-nin là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để những người cách mạng Việt Nam, trước hết là những người cộng sản, người lãnh đạo luôn là những người đi trước, dám hy sinh, xả thân vì sự nghiệp đó. Người còn chỉ rõ việc giáo dục chủ nghĩa Lê-nin là nguyên tắc đảm bảo cho Đảng có phương hướng, có nền tảng vững chắc và chỉ có theo chủ nghĩa Lê-nin mới đảm bảo cho Đảng trở thành người lãnh đạo đúng đắn và duy nhất của cách mạng Việt Nam.

Toàn bộ nội dung cuốn “Đường Kách mệnh” của Người là nhằm tổ chức và xây dựng Đảng ta theo tinh thần đó. Ngay trang đầu tiên của cuốn sách Nguyễn Ái Quốc đã trích câu nói nổi tiếng của Lê-nin trong tác phẩm “Làm gì”, rằng: “Không có lý luận cách mạng, thì không có cách mạng vận động…Chỉ có theo lý luận cách mạng tiên phong Đảng cách mạng mới làm nổi nhiệm vụ cách mạng tiên phong”. Người còn chỉ rõ: “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm nòng cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam…Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”(4).

Là tác phẩm lý luận nhưng hành văn của “Đường Kách mệnh” rất đơn giản và dễ hiểu. Nguyễn Ái Quốc viết: “Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ. Chắc có người sẽ chê rằng văn chương cụt quằn. Vâng! Đây nói việc gì cũng rất giản tiện, mau mắn, chắc chắn như hai lần hai là bốn, không tô vẽ, trang hoàng gì cả…Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ: Cách mệnh! Cách mệnh! Cách mệnh!!! Nguyễn Ái Quốc đã “Việt Nam hóa” lý luận Mác – Lênin một cách thật tài tình. Những vấn đề lý luận quan trọng Người mong muốn những người Việt Nam thấm nhuần được tóm tắt trong hai từ “Cách mệnh”. Hai từ này được giảng giải bằng những lời giản dị rất dễ hiểu, dễ nhớ. Người viết:

Muốn làm cách mạng thì phải biết:

- Làm cho quần chúng giác ngộ.
- Phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu.
- Làm cách mệnh phải bày sách lược cho dân.
- Muốn làm cách mệnh phải tập trung sức. Và muốn tập trung sức phải có đảng cách mệnh.

Với hai từ “Cách mệnh” Nguyễn Ái Quốc lại giảng giải: Cách mệnh là gì? Cách mệnh có mấy thứ? Vì sao mà sinh ra tư bản cách mệnh? Vì sao mà sinh ra dân tộc cách mệnh? Vì sao mà sinh ra giai cấp cách mệnh? Cách mệnh khó hay dễ? Cách mệnh trước hết phải có cái gì?. Đó là những vấn đề lý luận hết sức cần thiết để những người cách mạng Việt Nam lúc đó mở rộng hiểu biết về thế giới. Nguyễn Ái Quốc đã giảng giải những vấn đề đó trên quan điểm Mác – Lênin và cho rằng đó là nền tảng tư tưởng mà một chính đảng không thể thiếu. Bằng cách đó, chủ nghĩa Mác – Lênin đã đến với cách mạng và nhân dân Việt Nam, như hạt giống tốt gặp mảnh đất mầu mỡ đã được chuẩn bị sẵn sàng, đã tạo ra bước ngoặt lịch sử cho cách mạng Việt Nam.

Trên quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin và kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới, Người chỉ rõ cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc và có hai giai đoạn: cách mạng giải phóng dân tộc sau đó là cách mạng vô sản. Hai giai đoạn đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. “Đường Kách mệnh” cũng đã chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến tay sai. Lực lượng để tiến hành cuộc cách mạng ấy là toàn dân tộc, trong đó lực lượng chủ yếu là công nhân, nông dân.

Với những nhiệm vụ cách mạng được nêu lên trong “Đường Kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc cũng đã chỉ rõ nguyên tắc chiến lược trong việc xác định đường lối cách mạng, đó là phải vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin. Đảng phải xây dựng cho mình một hệ thống lý luận riêng phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tiễn thì lý luận đó mới trở thành người dẫn đường, lý luận đó mới là lý luận chân chính. Sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Từ trong học thuyết dạt dào sức sống của chủ nghĩa Lê-nin, chúng tôi khơi nguồn sức mạnh để giành thắng lợi cho sự nghiệp thiêng liêng là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, để giành thắng lợi cho CNXH” (5).

Đánh giá ý nghĩa tác phẩm “Đường Kách mệnh”, đồng chí Trường Chinh đã viết: “Đường Kách mệnh” chẳng những có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong thời kỳ đã qua mà còn soi sáng con đường cho nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong giai đoạn mới”(6).

2. “Sửa đổi lối làm việc”- một tác phẩm lớn về giáo dục thực hành lý luận chính trị theo quan điểm Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Song Người cũng luôn nhấn mạnh rằng học Mác – Lênin là phải học tinh thần Mác – Lênin, học phương pháp Mác – Lênin để xử trí mọi việc. Người nói với cán bộ huấn luyện: “Các chú dạy cho cán bộ đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác – Lênin, chắc có nhiều người thuộc, nhưng các chú có làm cho mọi người hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là thế nào không? Theo Bác hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lê-nin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác”(7). Trong nhiều tài liệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục thực hành lý luận Mác – Lênin, thì tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” là một điển hình tiêu biểu.

Tiếp theo cuốn “Đường Kách mệnh”, ở tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nêu rõ phải giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ và nhân dân ta. Người viết: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế”; “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Vì vậy, ở tác phẩm này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những khuyết điểm mà nhiều cán bộ còn mắc phải, như: kém lý luận, khinh lý luận, lý luận suông. Người cũng chỉ ra nguyên nhân của những khuyết điểm đó đều là do nhận thức chưa rõ vai trò của lý luận. Người nêu những người kém lý luận là những người lười học tập, lười nghiên cứu lý luận hoặc là do yêu cầu của nhiệm vụ có bước phát triển nhanh, mới, nên trình độ lý luận chưa theo kịp, dẫn đến kết quả làm việc thất bại. Người viết: “Vì kém lý luận nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”.

Về chứng bệnh khinh lý luận, Người phân tích đó thường là khuyết điểm của những người cho rằng mình có kinh nghiệm và không biết phải kết hợp kinh nghiệm ấy với lý luận để giải quyết công việc. Người viết: “Có những cán bộ, những đảng viên cũ, làm được việc, có kinh nghiệm… Nhưng họ lại mắc phải cái bệnh khinh lý luận. Họ quên rằng: nếu họ đã có kinh nghiệm mà lại biết thêm lý luận thì công việc tốt hơn nhiều…Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ. Những anh em đó cần phải nghiên cứu thêm lý luận, mới thành người cán bộ hoàn toàn”. Nhưng cũng theo Người: “Lý luận cốt là để áp dụng vào thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông”.

Một nội dung rất lớn và quan trọng của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” là việc giáo dục tư cách đạo đức cách mạng để người đảng viên có thể biến lý luận thành hành động cụ thể. Người kết luận: “Chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành”. Bởi vậy, trong toàn bộ 6 phần của nội dung cuốn sách là: Phê bình và sửa chữa; Mấy điều kinh nghiệm; Tư cách và đạo đức cách mạng; Vấn đề cán bộ; Cách lãnh đạo; Chống thói ba hoa, thì phần “Tư cách và đạo đức cách mạng” có vị trí đặc biệt quan trọng và có độ dài nhất trong tác phẩm.

Vấn đề đạo đức cách mạng cũng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên như một nguyên tắc “sống còn” trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam ở tác phẩm “Đường Kách mệnh” năm 1927. Và đây là nội dung giáo dục đầu tiên trong các lớp huấn luyện cán bộ của Đảng ta lúc đó. “Trung với nước, hiếu với dân”, phẩm chất cơ bản của đạo đức cách mạng mới được nêu lên rất rõ trong tác phẩm này. Có phẩm chất ấy người cán bộ đảng viên có thể sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp của Đảng, của dân tộc. “Vị công vong tư. Không hiếu danh. Không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Ít lòng ham muốn vật chất. Giữ vững chủ nghĩa. Biết hy sinh”…Tư cách đạo đức đó lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển sâu sắc thêm, cụ thể hơn trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” trong điều kiện mới, khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền.

Ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi đảng viên phải thực hiện một cách nghiêm túc mối quan hệ giữa lời nói và việc làm và nêu cụ thể nhiệm vụ của mỗi cán bộ đảng viên phải làm gì và làm như thế nào để thực hành lý luận. Những nhiệm vụ đó được Người trình bày cụ thể trong các phần: về phận sự của đảng viên và cán bộ; về tư cách và bổn phận của đảng viên; về vấn đề vì sao đảng viên phải rèn luyện tính Đảng. Điều cốt lõi để thực hiện những nhiệm vụ đó là phải trọng lợi ích của Đảng hơn lợi ích của cá nhân. Người viết: “Vô luận thế nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng”. Trái lại những đảng viên và cán bộ nào “ham muốn địa vị, tìm cách phát tài, ra mặt anh hùng, tự cao tự đại,v.v..Đó đều là trái với lợi ích của Đảng”. Cũng trong tác phẩm này, những vấn đề về đạo đức cách mạng một lần nữa được Người phân tích, giảng giải. Theo đó, nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm là những nội dung cơ bản của tư cách đạo đức cách mạng. Tư cách đạo đức ấy là cơ sở, là cốt lõi để thực hành lý luận. Người chỉ rõ: Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải tính chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các chứng bệnh nguy hiểm.

Đọc lại “Tư cách và đạo đức cách mạng” trong “Sửa đổi lối làm việc” chúng ta càng hiểu thêm tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Chúng ta cũng càng hiểu thêm mong muốn của Bác đối với sự phấn đấu tu dưỡng của mỗi người, để có đủ đức và tài đưa chủ trương, đường lối và nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

3. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh phải “Sửa đổi lối làm việc” về phong cách và phương pháp lãnh đạo nhằm thực hành lý luận

Nói về “Cách lãnh đạo” trong “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên cách để cán bộ, đảng viên có thể tập hợp, tổ chức, lãnh đạo nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng và chính sách của Chính phủ. Đây là những bài học vô cùng quý báu để tránh được tình trạng: chủ trương, chính sách ban hành thì nhiều nhưng không thực hiện được, hoặc thực hiện không đến nơi đến chốn.

Nêu vấn đề phải lãnh đạo đúng, Người viết: Lãnh đạo đúng nghĩa là: 1- Phải quyết định mọi vấn đề cho đúng…2- Phải tổ chức sự thi hành cho đúng…3- Phải tổ chức kiểm soát. Ba nội dung lãnh đạo đó quan hệ mật thiết vơi nhau và đều gắn bó, dựa vào nhân dân, thực hành sự kết hợp đánh giá từ trên xuống với từ dưới lên để đánh giá được đúng đắn, hoàn thiện hơn. Để xây dựng được cách lãnh đạo như thế, Người nêu vấn đề phải chọn người lãnh đạo: “Chọn người và thay người lãnh đạo là vấn đề quan trọng trong việc lãnh đạo…Những người mắc phải bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, không làm được việc, phải thay đi; Những người cậy mình là “công thần cách mạng” rồi đâm ra ngang tàng, không giữ kỷ luật thì cần phải mời họ xuống công tác hạ tầng, khép họ vào kỷ luật để chữa tính kiêu ngạo, thói quan liêu cho họ và để giữ kỷ luật của Đảng và Chính phủ; Một hạng người thứ ba cũng không thể ở vị trí lãnh đạo, đó là hạng người nói suông. Đó là những người chỉ “biết nói và nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”. Nếu để những người như thế ở vị trí lãnh đạo, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là sẽ chỉ làm hại uy tín của Đảng, không thể tập hợp, lãnh đạo được quần chúng nhân dân.

Vì vậy, học tập và làm theo tư tưởng, phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh, trước hết là phải phát hiện ra hạng người như thế và điều quan trọng là phải kiên quyết loại những người đó ra khỏi vị trí lãnh đạo, bởi vì họ quá xa lạ với phong cách và phương pháp lãnh đạo mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu trong “Sửa đổi lối làm việc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: muốn lý luận được thực hành thì phải có lối làm việc thiết thực, hiệu quả. Người đòi hỏi mỗi cán bộ phụ trách phải thực hiện cho được lối làm việc này. Phải khắc phục bệnh quan liêu “hữu danh vô thực”, tránh lối “làm cho qua chuyện, làm lấy rồi”, chỉ ham làm chủ tịch này, uỷ viên nọ, chứ không làm công tác thực tế. Để lãnh đạo thiết thực, Người nêu lên hai cách lãnh đạo: Một là, liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng. Hai là, liên hợp người lãnh đạo với quần chúng. Như thế là một cách lãnh đạo thiết thực. Người cũng cho đó là một cách vừa lãnh đạo vừa học tập và chỉ rõ: “Bất kỳ người lãnh đạo nào, nếu không học nổi những việc thiết thực, những người thiết thực và những bộ phận thiết thực của cấp dưới, để rút kinh nghiệm, thì nhất định không biết chỉ đạo chung cho tất cả các bộ phận”.

Thiết thực là phong cách lãnh đạo nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng là bài học sâu sắc, là kinh nghiệm quý giá mà Người để lại trong “Sửa đổi lối làm việc” và trong thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Lãnh đạo thiết thực là cách tốt nhất để tập hợp, tổ chức và động viên nhân dân đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

Suốt đời quan tâm đến việc giáo dục lý luận chính trị và giáo dục thực hành lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, “Đường Kách mệnh” và “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hai tác phẩm lý luận lớn, cũng là những tác phẩm vô giá về giáo dục lý luận chính trị Người để lại. Tư tưởng của Người, những lời tâm huyết của Người về vấn đề này đã, đang và mãi mãi soi sáng sự nghiệp xây dựng Đảng ta, Đảng của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam trên hành trình hướng tới tương lai./.

———-

Chú thích:

(1), (2) (4). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1995, t.2, tr.274, 280, 268.
(3). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd, t.1, tr.482.
(5). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd t.7,tr.519,520.
(6).Trường Chinh, Lời giới thiệu cuốn sách “Đường Kách mệnh”, Nxb.Sự Thật, H,1982, tr.17.
(7). Hồ Chí Minh,Toàn tập, Sđd, t.12, tr.554.

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nền kinh tế mở

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một cơ sở sản xuất. Ảnh: Tuấn Anh

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam không có tên trên bản đồ thế giới. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do chủ tịch Hồ Chí Minh viết và công bố trước toàn thế giới là một sự kiện trọng đại, đánh dấu thắng lợi mở đầu của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Quốc hiệu, quốc huy, quốc ca, quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập từ đó hiên ngang trên chính trường quốc tế, khẳng định quyền được bình đẳng giữa các dân tộc trên thế giới.

Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để đất nước bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới tự chủ. Nhưng tự chủ không có nghĩa là khép lại mà là tự lực, tự cường, là sự tự vận động bằng chính các nguồn lực sẵn có ngay trong lòng dân tộc mình, đất nước mình, không trông chờ, ỷ lại vào bất cứ nguồn viện trợ nào dù đó là sự viện trợ vô tư và khách quan nhất (trong thực tế không có sự vô tư và khách quan tuyệt đối đó); đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ và hợp tác với các nước khác trên tinh thần đoàn kết và cùng có lợi, cùng vì mục tiêu hòa bình và phát triển. Hồ Chí Minh viết: “Những nguyên tắc của Lênin về quyền dân tộc tự quyết, về chung sống hòa bình, không can thiệp vào việc nội bộ của các nước khác, về quyền bình đẳng và quan hệ hai bên cùng có lợi giữa tất cả các nước, những nguyên tắc làm cơ sở cho chính sách đối ngoại của Liên Xô, đang chỉ cho nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc con đường đấu tranh giành thống nhất và độc lập dân tộc”.

Một nền kinh tế mở trước tiên phải xuất phát từ một nền xã hội mở, và một nền văn hóa mở. Hồ Chí Minh đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam hòa nhập cùng cách mạng thế giới, tự nguyện là một bộ phận của cách mạng thế giới. Sự nghiệp cách mạng của Người là cuộc đấu tranh bền bỉ để toàn nhân loại bị áp bức thoát khỏi kiếp nô lệ, tiến tới thế giới đại đồng. Người kêu gọi: “Tất cả mọi người hãy đứng lên quanh lá cờ đỏ để chinh phục thế giới. Lao động tất cả các nước, đoàn kết lại !”. Lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc là sự mở rộng khẩu hiệu của V.I.Lênin và cả khẩu hiệu của C.Mac và F.Enghen trước đó. Nó cụ thể hơn, bản chất hơn rằng thế giới sau Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã bước vào kỷ nguyên toàn thể nhân loại bị áp bức đồng loạt đứng lên “chặt đứt cả hai cái vòi của con đỉa” là chủ nghĩa đế quốc thực dân “hút máu” người lao động ở thuộc địa và cả ở chính quốc; rằng, đã đến lúc lao động toàn thế giới phải cùng nhau giành lại bằng được tất cả những quyền lợi mà chủ nghĩa tư bản dùng mọi thủ đoạn đã tước đoạt của họ, để từ đó bắt tay vào xây cuộc đời mới, cuộc đời tự do cho chính mình.

Đối với xã hội loài người, sự phát triển và tiến bộ của nó trước tiên và cũng là cứu cánh là làm sao thỏa mãn tối đa nhu cầu lao động của toàn thể nhân loại (thỏa mãn nhu cầu lao động chứ không phải thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ).

Lao động đã biến con người tự nhiên thành con người xã hội. Trong lao động và những thành quả của lao động mà con người đạt được, những giá trị của lao động được tích tụ thành những lớp trầm tích văn hóa để rồi từ đó lại tiếp tục kích thích con người lao động sáng tạo ra những văn hóa mới. Quá trình tích tụ văn hóa tiếp diễn không ngừng ngay cả trong các hình thái kinh tế – xã hội phân chia giai cấp; bởi chính nhu cầu sáng tạo trong lao động của người lao động tự giác duy trì nó, chứ không phải do mục đích của chế độ bóc lột duy trì nó. “Đỉnh cao” của chủ nghĩa tư bản khiến con người sớm nảy sinh mâu thuẫn đối kháng với nó, kịch liệt lên án nó, dễ dàng đồng lòng chống nó vì nó đã đưa sự bóc lột lao động thành “nghệ thuật”. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, người lao động bị vô sản hóa. Họ bị tước đoạt quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, mất cả quyền sở hữu cá nhân về mọi mặt; quyền ăn, ở, đi lại, phát biểu, ngôn luận,…Họ bị dồn vào các đô thị, họ đi lang thang. Họ buộc phải làm thuê trong các nhà máy, hầm mỏ,.. sức lao động của họ trở thành hàng hóa và mặc sức để bọn chủ bóc lột giá trị thặng dư của mình (điều mà C.Mác đã phát hiện). Ở thuộc địa, người lao động còn bị đối xử thậm tệ hơn. Bọn chủ tư bản coi họ chỉ là những công cụ biết chuyển động. họ bị áp bức bằng chính sách ngu dân, chủ yếu là rượu và thuốc phiện (điều mà Nguyễn Ái Quốc đã công khai vạch trần ngay tại quê hương của chủ nghĩa tư bản). Một “đỉnh cao” khác cũng thuộc bản chất của chủ nghĩa tư bản là “nghệ thuật” tạo ra hố ngăn cách ngày càng rộng và sâu giữa giàu và nghèo có tính toàn cầu, gây cho thế giới sự mất ổn định triền miên, làm cho các dân tộc hùng hằn lẫn nhau. Và, có thể coi tâm lý ảo tưởng về “tự do”, “bình đẳng”, về cuộc sống “phồn hoa” hướng tới sự thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ, gieo rắc dưới mọi hình thức và mọi thủ đoạn, là một “đỉnh cao” khác của chủ nghĩa tư bản. “Nghệ thuật gieo rắc” này, điển hình ngày nay là Mỹ, càng đạt hiệu quả dẫn đến sự kiện Liên Xô tan rã và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ. Bức tranh về một thế giới hiện đại dưới sự ảnh hưởng tác động trực tiếp của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhất là những mặt trái của nó, hiện đang đẩy xã hội loài người vào sự khủng hoảng toàn diện và đồng thời nảy sinh những mâu thuẫn đối kháng quyết liệt. Bằng nhãn quan kiệt xuất và tâm hồn trong sáng, Hồ Chí Minh đã dự cảm đúng về tương lai cách mạng Việt Nam trong xu thế phát triển của thế giới ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX. Người đã xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, con đường đi tới của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định: Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Người mong muốn và vận động, giáo dục nhân dân phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh trên cơ sở thực hiện đời sống mới để cải tạo bản thân, cải tạo bản thân, tiếp tục hun đúc cho nền văn hóa dân tộc ngày thêm bền vững và tỏa rạng mãi mãi. Tâm hồn và tư tưởng của Hồ Chí Minh gây xúc động mạnh mẽ tới nhà báo Liên Xô Ôxip Medenxtam ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên. Trên báo Ogonok số 39 ngày 23 tháng 12 năm 1923, Medenxtam viết: “Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị. Văn minh Châu Âu trên đất nước ấy dùng lưỡi lê và rượu độc và che dấu tất cả những cái đó dưới tà áo dài đen của bọn cố đạo. Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu Châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. Sau này, đại hội đồng Liên Hợp Quốc cũng khẳng định điều đó khi tôn vinh Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc” và “Danh nhân văn hóa kiệt xuất” và tổ chức kỉ niệm 100 năm Ngày sinh của Người trên toàn thế giới.

Khi xây dựng một xã hội mở, một nền văn hóa mở thì nền kinh tế trong đó không thể khép kín. Đó là một lôgic tất yếu. Kinh tế có phát triển không và phát triển như thế nào đều phụ thuộc trước tiên và cuối cùng cũng là nhân tố con người, trong đó quan trọng lại là ý thức lao động của quần chúng nhân dân. Tiến hành cách mạng để giành độc lập, tự do cho dân tộc thì đồng thời giải phóng nhân dân hỏi kiếp nô lệ; nhưng, để toàn dân có ý thức lao động đúng đắn thì cách mạng phải tiếp tục thực thi những nhiệm vụ nặng nề nhằm gột rửa những thói hư tật xấu do chế độ thực dân và phong kiến cai trị tạo ra đã ăn sâu thành thói quen, thành sức ì trong tâm thức người lao động. Hồ Chí minh là người thấu triệt sự cấp bách “phải có giáo dục đạo đức công dân”, phải “giáo dục tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính” không chỉ nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt mà cho cả công cuộc bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước trong dài lâu. Ý thức lao động chuyển từ địa vị kẻ nô lệ sang người chủ đất nước trong người lao động là sự dịch chuyển vừa có tính đột biên vừa chậm chạp, có tác động ảnh hưởng, trực tiếp hay gián tiếp, tới quá trình giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, tới quá trình xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất. Ý thức lao động ấy nếu không được giáo dục vận động thường xuyên lại có cơ hội nảy nở và phát triển những mặt xấu, tiêu cực một cách tràn lan như cỏ dại. Hồ Chí Minh đã nói: “ Nêu cao và thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính tức là nhen lửa cho đời sống mới”; và, bằng nhiều cách lý giải khác nhau, dưới nhiều hình thức khác nhau, Người kiên trì giáo dục cán bộ đảng viên và nhân dân rèn luyện đạo đức cách mạng. Bản thân Hồ Chí Minh luôn là tấm gương trong sáng về sự tự rèn luyện ấy.

Nội dung “Đời sống mới” do Hồ Chí Minh đề xuất bao hàm mối quan hệ hữu cơ giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần do người lao động tạo dựng trực tiếp và chính họ trực tiếp hưởng những thành quả đó, vậy họ phải ý thức được ý nghĩa của việc thực hành cần, kiệm, liêm, chính và lợi ích mà đời sống mới đem lại cho họ. Sự tự ý thức ấy chẳng có con đường nào khác là phải học để giệt giặc dốt trong bản thân mình, để nâng cao hiểu biết và từ đó có khả năng đổi mới tư duy. Vấn đề là ở chỗ cán bộ – những người tổ chức và hướng dẫn quần chúng – có tự nguyện và chân thành làm công bộc của dân hay không ?, có ham học hỏi, có tự tu dưỡng đạo đức cách mạng hay không ? cán bộ không gương mẫu thực hành cần, kiệm, liêm, chính không đi đầu thực hiện đời sống mới, thì hiển nhiên dân không kính, không yêu, vì dân không còn tin cán bộ.đó là những điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tiên lượng và thường xuyên nhắc nhở cán bộ đảng viên.Người luôn chỉ ra rằng dân là tất cả, dân là trên hết, Đảng và Nhà nước có nhiệm vụ lo cho dân về mọi mặt, từ cái lớn đến cái nhỏ, bằng việc tổ chức cho nhân dân cách thức xây dựng cuộc sống, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tổ chức tốt thì phát huy được tính sáng tạo của dân, sức dân, để đưa đất nước đến giàu mạnh. Đồng thời phải biết tiết kiệm tiền của của dân để phát triển lâu dài. Thời còn bôn ba trên đất khách quê người Hồ Chí Minh đã nhận thức rằng: Từ một nước thuộc địa đứng dậy giành độc lập, tự do và xây dựng xã hội mới, dân tộc Việt Nam sẽ thiếu thốn mọi điều kiện, trong đó cái thiếu quan trọng nhất là thiếu trình độ tổ chức. Người đã dày công tìm hiểu và viết tác phẩm “Đường Kách mệnh”. Nội hàm của tác phẩm chính là phương thức tổ chức để tiến hành thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, mà việc áp dụng hình thức hợp tác xã là một trong những biện pháp tổ chức sản xuất quá độ từ thánh phần kinh tế cá thể lên thành phần kinh tế tập thể, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Điều đó có nghĩa là, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là một điều kiện tất yếu của tổ chức sản xuất, điều kiện đó đặc biệt quan trọng và cần thiết đối với Việt Nam mới giành được độc lập, nền kinh tế đang ở tình trạng lạc hậu, kém phát triển. Trong “Thư gửi các giới công thương Việt Nam” Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng. Vậy tôi mong giới công thương nỗ lực và khuyên các nhà công nghiệp và thương nghiệp mau mau gia nhập vào “công – thương cứu quốc đoàn” cùng đem vốn vào làm những công cuộc ích quốc lợi dân”. Chính sách mở cửa của chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên nguyên tắc bảo đảm quyền độc lập tự chủ được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu thẳng thắn như sau: “Có thể rằng: Những cơ sở mà người Pháp đã bỏ vổn ra gây dựng ở đây từ trước đến giờ, nếu xét ra cho nền kinh tế quốc gia Việt Nam, sẽ được chúng ta chuộc lại dần dần. Có thể rằng: chúng ta hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác. Có thể rằng: Chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia. Nhưng, phải nhắc lại rằng, điều kiện chính vẫn là họ phải thừa nhận nền độc lập của xứ này. Nếu không vậy, thì không thể nói chuyện gì được cả”.

Phép “ Dĩ bất biến ứng vạn biến” được Hồ Chí Minh vận dụng vào bất cứ hoàn cảnh nào, trong mọi lĩnh vực đối nội và đối ngoại, trong chính trị, văn hóa, kinh tế, quân sự. Nguyên tắc độc lập, tự chủ là trên hết, là bất di bất dịch, không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể lay chuyển nổi. Chỉ như vậy mới bảo đảm độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân. Bất cứ ai, việc gì làm lợi và có lợi cho nước, cho dân thì có thể sử dụng, huy động đến mức tối đa. Giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ và khôn khéo, linh hoạt, tùy cơ ứng biến, thì mọi cái khó thì trở nên dễ dàng. Người viết: “Việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe. Miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng, không là việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với tổ quốc là có thể dùng được. Tài to ta dùng vào việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực vào việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta không lo gì thiếu cán bộ”.

Năm 1946 thời điểm đầy sóng gió đối với cách mạng Việt Nam, vận mệnh của nước Cộng hòa non trẻ như ngàn cân treo sợi tóc, trước khi lên đường sang Pháp làm thượng khách, Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao quyền điều hành đất nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng. Người nói với cụ Huỳnh cái phép “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Người nói chuyện với đồng bào:

“Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tồ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó.…Bất kì bao giờ, bất kì ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích nước lợi dân. Vậy nên lần này, tôi xin hứa với đồng bào rằng: Tôi cùng anh em đại biểu sẽ gắng làm cho khỏi phụ lòng tin cậy của quốc dân”. Và, Người gửi thư tới đồng bào Nam bộ với lời lẽ thiết tha, xúc động: “Tôi xin đồng bào cứ bình tĩnh. Tôi xin hứa với đồng bào rằng Hồ Chí Minh không phải là người bán nước… Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí đó không bao giờ thay đổi !”.

Tại Pháp, với cương vị là thượng khách của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng tài tình phép “Dĩ bất biến ứng vạn biến” để nhằm đạt được mục tiêu của mình cũng như nguyện vọng chung của dân tộc. Với tinh thần, như Người trả lời phỏng vấn của báo Franc – Tireur: “Tôi không muốn trở về Hà Nội tay không. Tôi muốn khi trở về nước sẽ đem về cho nhân dân Việt Nam những kết quả cụ thề với sự cộng tác chắc chắn mà chúng tôi mong đợi ở nước Pháp”. Chủ tịch Hồ Chí Minh làm mọi điều, bằng mọi cách để quảng bá chủ trương, chính sách đối ngoại của nước Việt Nam độc lập, để đấu tranh với tính ích kỉ, lòng hẹp hòi của những người cầm quyền Chính Phủ thực dân Pháp. Thông qua các cuộc tiếp xúc với đủ tầng lớp nhân dân tại Pháp, Người tuyên truyền lòng yêu chuộng hòa bình và ý chí sắt đá bảo vệ hòa bình của dân tộc Việt Nam, tinh thần tự lực tự cường phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hùng cường; Người vận động kêu gọi tình đoàn kết giữa các dân tộc, giữa nhân dân hai nước Việt – Pháp vì tương lai của một thế giới đại đồng. Trong diễn văn tại lễ kỷ niệm quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1946) do Hội Liên hiệp Việt kiều và Hội Hữu nghị Pháp – Việt tổ chức tại Paris, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tôi tin tưởng rằng nước Pháp đã kháng chiến và giành được giải phóng sẵn sàng công nhận nền độc lập của chúng tôi, điều cần thiết phải có để một dân tộc mong muốn kết bạn với các dân tộc khác. Nước Pháp mới đặt ra cho mình mục đích là giải phóng các dân tộc. Tại sao nước Pháp mới lại vô tình trước số phận của nhân dân các nước đang theo đuổi những lí tưởng của chính mình? Vả lại, hoàn toàn độc lập quyết không có nghĩa là đoạn tuyệt. Nước Việt Nam đã long trọng cam kết tôn trọng những lợi ích văn hóa và kinh tế của Pháp trên đất nước Việt Nam; hơn thế nữa, Việt Nam còn sẵn sàng phát triển nó bằng sự hợp tác anh em và trung thực. Việt Nam độc lập, chẳng những không làm hại đến lợi ích của Pháp, mà còn tăng cường vị trí và củng cố uy tín của Pháp ở Châu Á.

Sự đóng góp của Việt Nam cho sự vĩ đại của nước Pháp và cho sức mạnh của Liên hiệp Pháp, điều đó tất nhiên tùy thuộc vào mức độ phồn vinh của Việt Nam, mà sự chia rẽ và chia cắt không thể mang lại phồn vinh. Thật là phi lý nếu toan tính dựa vào nước Việt Nam suy yếu, chia rẽ và bị chia cắt để đạt được sự hùng mạnh của Liên hiệp Pháp. Liên hiệp Pháp chỉ có được vai trò với điều kiện nó giữ được sự vững chắc, thống nhất và gắn bó củ nó, và điều kiện đó chỉ có thực hiện được khi mỗi thành viên của nó cũng giữ được sự vững chắc, thống nhất và gắn bó của mình. Đó là cái giá phải trả cho tương lai của Liên hiệp Pháp. Chúng ta biết rằng nhân dân tất cả các nước ở Pháp quốc hải ngoại đều quan tâm đến việc thực hiện điều này. Thực vậy, việc liên kết các dân tộc tự do, bình đẳng và bác ái, gắn bó bởi một trong những sợi dây mạnh mẽ nhất, một lý tưởng chung, đó là lý tưởng dân chủ; việc liên kết đó hấp dẫn biết bao. Liên hiệp Pháp sẽ có vai trò to lớn trong xã hội trong việc tổ chức xã hội loài người. Là một nước dân chủ, thành viên của Liên hiệp Pháp, nước Việt Nam mong muốn được đóng góp vào việc thiết lập và duy trì hòa bình và dân chủ trên thế giới, bên cạnh Liên Hợp quốc”.

Cần thiết phải trích dẫn như trên là để thấy rõ một cách đầy đủ và logic của lý luận của Hồ Chí Minh trong việc giải quyết các mối quan hệ đa chiều giữa lịch sử và thời đại, giữa chính trị, kinh tế và văn hóa, giữa dân tộc và quốc tế… Thực tiễn ngót một thế kỷ qua đã chứng minh tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng chứng minh rằng, do bản chất và dã tâm đen tối của các đế quốc thực dân đã cố tình làm mất đi những cơ hội cho những hợp tác tốt đẹp trên nguyên tắc đảm bảo tính tự quyết của mỗi dân tộc và các bên cùng có lợi.

Trong “Lời tựa” cho lần xuất bản cuốn thứ nhất cuốn “ Pari – Sài Gòn – Hà Nội” , Philippe Devillers viết: “Năm1946, chúng ta suýt nữa đã hiểu nhau và thỏa thuận được với nhau. Chỉ cần một chút nữa thôi là chúng ta đã có được không phải một “thỏa hiệp” hay một “tạm ước” mà văn bản một sự liên kết, hơn thế nữa, một sự đồng minh giữa hai dân tộc tự hào và tự do, trong khuôn khổ một tổng thể mà hai bên sẽ cùng nhau quy định. Lỡ mất bao nhiêu cơ hội tốt”. Điều này cho thấy một sự nuối tiếc của những công dân nước Pháp, họ ý thức được những mất mát trong lịch sử Pháp – Việt đã đem lại thiệt thòi cho cả hai dân tộc đáng lí không nên có. P.Dellivers cũng thừa nhận: “Ngay từ cuối 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu nhân dân Việt Nam phải tập phân biệt giữa những người Pháp: Một bên là thực dân đế quốc, một bên là những người dân chủ tin tưởng một cách chân thành vào các giá trị của tự do, công bằng, bác ái và hành động đi đôi với lòng tin” và “Bất hạnh đã đến, không phải không được kiểm soát cẩn thận. Sau đó, Chính phủ Pháp không muốn lên án chúng nên đã thi hành trong nhiều năm, vẫn trong bí mật, một chính sách mà lịch sử ngày nay lên án”. Trong cuốn sách này cũng trích thư của Charle de Gaulle gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 8 tháng 2 năm 1966: Giá có một sự hiểu biết nhau tốt hơn giữa người Việt Nam và người Pháp ngay sau đại chiến thế giới thì đã có thể tránh được những sự biến tai ác đang giằng xé đất nước ngài hôm nay”. Đây thực sự là một nhận thức muộn màng. Vì cách đó hai mươi năm, ngày 18 tháng 6 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời Hãng thông tấn AFP: “Tôi rất tin cậy ở kết quả hội nghị Pháp – Việt này. Hai nước Pháp – Việt xa nhau không phải vì văn hóa, lý tưởng mà chỉ vì quyền lợi của một vài cá nhân. Mục đích của Pháp là tự do, bình đẳng, bác ái, nếu Pháp thi hành đúng thì chắc chắn sẽ mua được tình thân thiện của nước Việt Nam”. Ngày ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng tất cả mọi nỗ lực để tránh cho hai dân tộc một cuộc chiến tranh đổ máu, đồng thời mở ra mối quan hệ cho sự phát triển trong hòa bình, độc lập. Song, chiến tranh đã đóng sập cánh cửa của sự phát triển đó không chỉ trong chín năm mà kéo dài tới tận tới năm 1975. Xâm lược Việt Nam và sau này đánh phá miền Bắc Việt Nam, đế quốc Mỹ theo vết xe đổ của thực dân Pháp tự mình chuốc lấy những thất bại đắng cay và cũng lại phải chua xót thừa nhận những đắng cay của mình, chẳng hạn như trường hợp của Robert S.McNamara – cượu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ. Trong cuốn “Nhìn lại quá khứ – tấm thảm kịch và những bài học về Việt Nam”, tuy bảo thủ và không được chân thành như người Pháp, nhưng McNamara vẫn phải rút ra “11 nguyên nhân chính gây ra thảm họa của chúng ta tại Việt Nam” và đi đến nhận định: “Tóm lại đó là những thất bại chính của chúng ta. Mặc dù chúng xuất hiện rời rạc nhưng ở một mức nào đó, chúng có liên quan với nhau: Thất bại ở một khía cạnh này lại góp phần tạo nên thất bại ở khía cạnh khác. Mỗi thất bại đó, đến lượt mình, lại trở thành mớ bòng bong”. Thực ra, thất bại của đế quốc Mỹ trong cuộc xâm lược Việt Nam đã bắt nguồn từ lúc Chính phủ Hoa Kỳ chưa chính thức can thiệp vào Đông Dương. Cũng ngay từ năm 1946, ngày 16 tháng 2, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định đường lối đối ngoại và thiện chí của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thư gửi Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: “…mục tiêu của chúng tôi là hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới”. Tiếp theo, trong “Lời kêu gọi liên hợp quốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “….nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:

a. Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kĩ nghệ của mình.
b. Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.

c. Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc.

Trong cuộc đấu tranh vì quyền thiêng liêng của mình, nhân dân Việt Nam có một niềm tin sâu sắc rằng họ cũng chiến đấu cho một sự nghiệp chung: Đó là sự khai thác tốt đẹp những nguồn lợi kinh tế và một tổ chức hiệu quả hiệu quả cho an ninh ở Viễn Đông”.

Chính sách mở cửa của Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố trước thế giới một cách thẳng thắn, chân thành và mạch lạc. Tư duy của Hồ Chí Minh cho thấy: Tuy mới thoát khỏi ách nô lệ kéo dài gần tám mươi năm nhưng khi dành được độc lập, dân tộc Việt Nam đã sẵn sàng hội nhập với thế giới trên tinh thần hiểu biết lẫn nhau sâu sắc và tầm nhìn thời đại. Đó là thái độ chủ động của một tư duy lược về sự hợp tác để đem lại những lợi ích thiết thực cho mọi quốc gia, cho mọi dân tộc, xóa bỏ những hận thù, những âm mưu, thủ đoạn can thiệp vào công việc nội bộ, quyền tự quyết của quốc gia này đối với quốc gia khác. Nhưng lịch sử – chính lịch sử của các cuộc xâm lăng của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã ngăn cản và làm chậm bước tiến đến hiện thực mà tư duy trong sáng của Hồ Chí Minh đã nêu lên từ giữa thế kỷ XX, để sau này bản thân họ phải hối tiếc cho chính những việc làm thiển cận của mình. Bởi, chiến tranh không chỉ đem đến cho dân tộc Việt Nam tang thương và thiệt thòi mà cũng đã cướp đi của dân tộc Pháp, dân tộc Mỹ và các quốc gia tham chiến những người con ưu tú, làm hoen ố những giá trị tinh thần cao cả và để lại những kí ức nặng nề cho các thế hệ sau đó. Tuy nhiên, mặc dù đã tự rút ra những bài học xương máu từ cuộc gây chiến với Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc nói chung, đế quốc Mỹ nói riêng vẫn chưa chịu sửa chữa những lỗi lầm, tiếp tục gây ra xung đột vũ trang trên thế giới và can thiệp vào các quyền tự quyết của các dân tộc khác. Hiện thực đó nói lên rằng: Bản chất của chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản – là không thay đổi; mặt khác nó biểu hiện con đường suy thoái không thể tránh khỏi của một hình thái kinh tế – xã hội đang mắc vào sự khủng hoảng toàn diện và triền miên không tìm ra lối thoát. Các nhà trí thức tiến bộ phương Tây đã và đang tiếp tục tìm kiếm cách lí giải sự bế tắc này dưới nhiều góc độ khác nhau trên các lĩnh vực kinh tế văn hóa, xã hội từ đó phê phán tùy theo mức độ và theo các quan điểm khác nhau. Chẳng hạn, Alain Touraine nhà xã hội học nổi tiếng người Pháp, trong cuốn “Phê phán tính hiện đại” đã phân tích những vấn đề do tính hiện đại đặt ra trong quá khứ cũng như hiện nay dưới góc độ triết học, cũng là sự tự phê phán chính những kinh nghiệm về tính hiện đại của Phương tây. A.Touraine viết: “Chúng ta ngày càng sợ rằng sự tăng trưởng phá vỡ mất những cân bằng tự nhiên cơ bản, làm tăng thêm những bất bình đẳng ở trình độ thế giới, áp đặt lên tất cả mọi người một cuộc chạy đua kiệt sức tới sự thay đổi. Đằng sau những nỗi lo ngại ấy đang hiện là một sự hoài nghi sâu xa hơn: Loài người phải chăng đang phá bỏ sự liên kết của nó với tự nhiên, đang trở thành dã man khi nó tưởng rằng đã được giải thoát khỏi sự bó buộc truyền thống và làm chủ được số phận của mình ?”. Điều này có nghĩa là, trải qua mấy trăm năm tồn tại, chủ nghĩa tư bản đem lại rất ít tiến bộ cho xã hội, ở chỗ nó không giải phóng thực sự để con người tự làm chủ số phận của mình, trái lại nền văn minh vật chất tăng trưởng ngày càng biểu hiện những mặt tiêu cực đến độ dã man trong các mối quan hệ ứng xử giữa con người với nhau. Người phương Tây đang phải tự nhìn lại chính mình và đối chiếu tư tưởng triết học của họ với tư tưởng minh triết phương Đông. Và, trong sự đối chiếu ấy họ nhận thức được Hồ Chí Minh là một nhà hiền triết, rằng Người đã quy tụ và phát huy một cách đầy đủ những giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại, của cả phương Đông và phương Tây đến độ thăng hoa của thế kỷ XX và trở thành “ Anh hùng giải phóng dân tộc” và “ Danh nhân văn hóa kiệt xuất” mà Đại hội đồng Liên hợp quốc đã nhất tôn vinh nhân dịp kỉ niệm 100 năm Ngày sinh của Người. UNESCO cũng đồng ý với nhận định: Hồ Chí Minh là “Hiện thân những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định diện mạo của mình và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau”.

Thực tế cho thấy, muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau thì các dân tộc, các quốc gia phải thực sự và thành tâm “mở lòng” mình bằng việc xây dựng chính sách đối ngoại mở, chính sách kinh tế mở trên các nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, hợp tác để cùng nhau phát triển, tức là ai cũng có lợi trong sự hợp tác ấy. Những phát biểu của Hồ chí Minh đều xuất phát từ quyền lợi của dân tộc, của nhân dân mình và gắn với quyền lợi chung của các dân tộc trên thế giới, vì nền hòa bình thế giới và vì một thế giới đại đồng. Quan điểm về một nền kinh tế mở là một bộ phận khăng khít trong toàn bộ hệ thống quan điểm cách mạng của Người. Đề ra chính sách mở cửa và hợp tác với các nước trong mọi lĩnh vực, hơn ai hết Hồ Chí Minh rất thấu hiểu tình cảnh của một dân tộc bị o bế bởi phương thức sản xuất tự cấp tự túc, rằng nền kinh tế tiểu nông chỉ đem lại nghèo nàn và lạc hậu, không tạo ra được những cơ hội tiếp thu kĩ nghệ tiên tiến và như vậy không có cơ may để tiến kịp các dân tộc khác. Không những thế, chính sách “khai hóa” của thực dân, đế quốc (kiểu cũ hay kiểu mới cũng cùng bản chất) càng nhấn chìm dân tộc Việt Nam xuống bùn đen. Đấu tranh dành độc lập dân tộc, một mặt để thoát khỏi ách nô lệ, mặt khác để vươn ra thế giới, từng bước thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh. Một quốc gia không có nền độc lập, tự chủ thì không thể và không bao giờ đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh.

Ngược lại, khi đã giành được độc lập mà không có chính sách mở cửa và hợp tác với các nước khác trên cơ sở của các nguyên tắc đã được cộng đồng quốc tế quy định, thì quốc gia cũng không thể phát triển theo đúng quỹ đạo,có khi còn lâm vào tình trạng bế tắc, thậm chí bị các quốc gia mạnh hơn chi phối và đi đến mất quyền độc lập và tự chủ. Thực tế của thế giới ngày nay đã diễn ra như vậy. Vì vậy, xây dựng một xã hội mở, trong đó nền kinh tế mở có vai trò trực tiếp và quan trọng, là một yêu cầu khách quan. Một nền kinh tế mở là một nền kinh tế bao gồm đầy đủ hai nhóm nhân tố: Nội lực và ngoại lực; trong đó nhóm nhân tố nội lực mang tính quyết định. Tư duy của Hồ Chí Minh đã giải quyết thấu đáo mối quan hệ nhân quả này ngay từ khi Người còn bôn ba trên thế giới và đặc biệt sáng tỏ, khúc chiết sau khi nước nhà giành được chính quyền và lập nên nhà nước dân chủ nhân dân. Cho dù tư duy của Người đã bị các thế lực phản động ngăn cản bằng các cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài, thì tính đúng đắn của tư duy ấy vẫn được Đảng và nhân dân của Người thực hiện thành công, để cuối cùng dành được thắng lợi huy hoàng. Chính thực lực vốn có và thực lực ấy luôn được phát huy cao độ vừa là nhân tố thu hút sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ tận tình của bầu bạn và nhân dân trên thế giới, vừa là nhân tố quyết định đánh bại ý chí xâm lược của các cường quốc đế quốc mạnh gấp nhiều lần và đó cũng là nền tảng để sau khi chiến tranh chấm dứt, dân tộc Việt Nam đã “khép lại quá khứ”, “gác lại hận thù” nhanh chóng bắt tay với các nước trên tinh thần học hỏi để khôi phục và xây dựng đất nước giàu mạnh. Tư duy về một nền kinh tế mở của Hồ Chí Minh mang tầm chiến lược, vì đã kết tinh đầy đủ tính dân tộc và tính thời đại, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới ngày nay.

Theo NXB Thanh Niên
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tìm hiểu thực chất và ý nghĩa của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh - Người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Ảnh: Tuấn Anh

Trong các bài viết, bài nói của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hầu như không dùng ngôn ngữ triết học và không tự thừa nhận mình là nhà khoa học, nhưng trong tư tưởng của Người lại luôn nhất quán một thế giới quan, một nhân sinh quan, một hệ thống tư duy triết học.

Là học trò của C.Mác, Ph. Ăng ghen, V.I.Lênin nên thế giới quan, tư duy triết học của Người là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Người đã bảo vệ và phát triển tư duy triết học trên nền tảng triết học Mác – Lênin. Khác với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh không để lại một tác phẩm triết học như: Hệ tư tưởng Đức, Luận cương Phoiơbắc, Biện chứng của tự nhiên, Bút ký triết học… Bởi vì, Hồ Chí Minh sống và hoạt động cách mạng trong thời đại đã có chủ nghĩa Mác – Lênin soi sáng, dẫn đường và nhiệm vụ của Người là cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc khỏi áp bức, bóc lột, bất công đem lại hoà bình, tự do, hạnh phúc cho đồng bào. Chính nhiệm vụ này đã cuốn hút Người với tất cả tinh thần và sức lực, làm cho Người sống gần gũi với nhân dân, đem tinh tuý, sâu sắc của triết học diễn đạt thành những điều giản dị, cụ thể, rõ ràng và thiết thực để nhân dân dễ hiểu, dễ làm. Rõ ràng, phải có một trình độ triết học sâu sắc, uyên bác, Hồ Chí Minh mới có thể chuyển hoá thành triết học của cuộc sống. Nhờ đó, người trang bị cho cán bộ, đảng viên thế giới quan duy vật biện chứng, giúp họ nhìn nhận, xem xét, đánh giá đúng tình hình, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách sát thực tế, có hiệu quả; đồng thời không rơi vào dao động, không mắc phải sai lầm ảo tưởng, chủ quan, duy ý chí cũng như giáo điều, xét lại; mặc dù khi viết, khi nói Người ít dùng các thuật ngữ triết học. Nghiên cứu di sản lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy ở Người toát lên những tư tưởng triết học sâu sắc. Hồ Chí Minh đã dựa chắc vào vấn đề cơ bản triết học để giải quyết mối quan hệ giữa việc nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa phát triển sản xuất với củng cố hệ thống chính trị, tăng trưởng kinh tế với phát triển giáo dục văn hoá và nhiều mối quan hệ khác như mối quan hệ giữa xây dựng đất nước với đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc; kết hợp sức mạnh của dân tộc với thời đại, giữa kháng chiến với kiến quốc. Rõ ràng, khi giải thích hàng loạt các vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Hồ Chí Minh đã nói tới triết học, bàn tới triết học và tư tưởng triết học Hồ Chí Minh thể hiện rõ những giá trị nhân văn đặc sắc, tràn đầy tinh thần biện chứng duy vật. Trong đó có sự hoà quyện đến nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tinh hoa văn hoá, triết học phương Đông, phương Tây và lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê nin.

Với tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Người, chúng ta nhận thấy ở đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phép “biến dịch” của triết học phương Đông và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thế giới quan Hồ Chí Minh là thế giới quan khoa học. Trong đó, thế giới quan triết học Mác – Lênin đóng vai trò quyết định bản chất khoa học, cách mạng. Thế giới quan của Người còn ảnh hưởng của tư tưởng triết học dân tộc, của tinh hoá văn hoá, triết học phương Đông, phương Tây. Về khuynh hướng tư duy, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đi sâu lý giải các vấn đề xã hội và nhân sinh. Bởi lẽ, xuất phát từ hoài bão lớn lao và mục đích chính trị cao cả là “cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc” nên Người đặc biệt chú trọng xây dựng lý luận về chính trị – xã hội, đạo đức cách mạng nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn hơn là hình thức học thuyết triết học, nhận thức và lôgíc học như các nhà triết học vẫn thường làm.

Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là sản phẩm của quá trình hoạt động tư duy lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng của Người có vai trò to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Chính tư tưởng, quan điểm triết học của Người cùng với triết học Mác – Lênin luôn là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho cách mạng Việt Nam. Chúng ta không thể hiểu rõ bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh nếu như không hiểu cái gì là cốt lõi quy định cách nhìn, cách nghĩ và phương pháp cách mạng cũng như cái gì là trung tâm dẫn dắt đồng bào ta vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đứng vững trên lập trường duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đã đi vào thực tiễn xã hội Việt Nam, lấy cái cốt lõi là giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công, đem lại cuộc sống hoà bình, tự do, ấm no, hạnh phúc cho đồng bào làm mục đích hướng tới, đạt tới. Đây thực chất là những cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh đối với việc bảo vệ và phát triển triết học Mác – Lênin trong điều kiện lịch sử mới, nhất là việc phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Những cống hiến của Hồ Chí Minh trong phát triển triết học Mác -Lênin là tư tưởng về giải phóng dân tộc, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực ra, hai khái niệm này đều được Hồ Chí Minh dùng cùng một nội hàm như nhau. Đối với Hồ Chí Minh, thực tế không đối lập với thực tiễn, nó chỉ rộng hơn thực tiễn mà thôi. Khi bàn về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với tư cách là một nguyên tắc cơ bản của triết học Mác -Lênin, Hồ Chí Minh dùng khái niệm thực tiễn, liên hệ lý luận với thực tiễn thì Người thường dùng khái niệm thực tế thay cho thực tiễn. Ngày nay, trong đời sống hàng ngày, khái niệm thực tiễn và thực tế được nhân dân ta hiểu và sử dụng cùng nghĩa (xem Từ điển Tiếng Việt 1991). Trong thế giới quan triết học của Hồ Chí Minh, vấn đề con người chiếm vị trí hết sức quan trọng. Phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề con người ở Hồ Chí Minh không phải là chung chung, trừu tượng, phi lịch sử như trong triết học nhân bản mà là con người hiện thực, con người lao động “đồng bào tôi”. Trọn đời mình, Người phấn đấu, hy sinh là nhằm mục đích đem lại độc lập, tự do, cơm no, áo ấm cho đồng bào. Chủ nghĩa nhân văn hiện thực cao cả của Hồ Chí Minh thể hiện ở lòng thương yêu con người, tôn trọng, tin tưởng ở nhân dân, coi sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân. Có thể khái quát tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là sự kết hợp sáng tạo đạt đến sự nhuần nhuyễn giữa tư duy triết học Mác – Lênin mà cốt lõi là tư duy biện chứng duy vật trong sự hoà quyện với tư duy duy triết học và văn hoá phương Đông, phương Tây, tư duy, trí tuệ, văn hoá dân tộc Việt Nam và phong cách Hồ Chí Minh. Nhờ đó, Người đã tìm ra bản chất, quy luật và hình thành nên hệ thống luận điểm về chủ nghĩa thực dân, về cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội …có những quyết định đúng đắn, sáng tạo, đảm bảo cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi. Từ quan niệm trên, có thể thấy tư tưởng triết học Hồ Chí Minh có một số đặc trưng cơ bản như sau:

Trước hết, tư duy triết học Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính khoa học và tính cách mạng, giữa lập trường, quan điểm và phương pháp nhận thức, hành động. Sự kết hợp này vừa là đặc trưng tư duy triết học Hồ Chí Minh vừa là nguyên tắc của Hồ Chí Minh nhận thứ và hành động. Thể hiện sự nhất quán trong tư tưởng triết học của Người. Tư duy triết học Hồ Chí Minh là tư duy độc lập, sáng tạo, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, suy nghĩ và hành động, giữa lời nói và việc làm thể hiện sự hoàn chỉnh chu kỳ vận động: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn hoạt động cách mạng Việt Nam. Tư duy triết học Hồ Chí Minh được thể hiện bằng ngôn ngữ trong sáng, giản dị, phổ thông, dễ hiểu, dễ xâm nhập vào quần chúng. Có thể coi đây là đặc trưng đặc sắc, độc đáo của tư duy triết học Hồ Chí Minh.

Việc nắm vững thực chất phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin và truyền thống triết học phương Đông, nắm vững ngôn ngữ của quần chúng nhân dân và quan hệ mật thiết với họ đã giúp Người diễn đạt tư tưởng triết học duy vật biện chứng vốn là tư duy khoa học, có hàm lượng trí tuệ cao, có sự trừu tượng hoá và khái quát cao, sâu sắc trở nên phổ thông, dễ hiểu mà vẫn giữ được bản chất khoa học, cách mạng của nó. Nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, xuyên suốt tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng quy luật khách quan: Nắm vững quan điểm thực tiễn và thực hiện đúng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; giải quyết mọi việc phải toàn diện, nhấn mạnh trọng điểm và lấy hiệu quả làm mục đích; xem xét sự việc trong sự phát triển, thực hiện “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; giải quyết mọi việc đều vì con người, do con người, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân.

Phương pháp luận Hồ Chí Minh là phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử. Về thực chất, đó là phép biện chứng Hồ Chí Minh, là phương châm xem xét và hành động khoa học được Hồ Chí Minh đúc kết từ sự tiếp thu, kế thừa, vận dụng sáng tạo và bổ sung, phát triển phép biện chứng duy vật mác-xít, kết hợp với kế thừa truyền thống tư duy dân tộc, tư duy triết học phương Đông và thực tiễn giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Khái quát lại, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm, quan niệm duy vật biện chứng về con đường cách mạng Việt Nam, thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nhằm xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác – Lênin, bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn và phong phú mà nền tảng của nó là tư tưởng triết học. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh không chỉ là sự tiếp thu, vận dụng sáng tạo triết học Mác – Lênin mà còn có sự phát triển Triết học Mác – Lênin, nhất là một số vấn đề về chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhờ đó Hồ Chí Minh đã góp phần làm phong phú, giàu có thêm kho tàng lý luận Mác – Lênin nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học cách mạng, là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạt nhân là thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta.

Theo cpv.org.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chiến lược Hồ Chí Minh về đào tạo người cán bộ, công chức

Chúng tôi cho rằng những chủ trương của Hồ Chủ tịch liên quan đến xây dựng và rèn luyện cán bộ, trong đó có việc đào tạo kiến thức và rèn luyện phẩm chất cán bộ của Người mang tính chiến lược. Nhưng trong toàn bộ di sản của Người hầu như không dùng từ “chiến lược” trong các giáo huấn cũng như các hoạt động của người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước. Vậy vấn đề xây dựng đội ngũ ở tầm chiến lược thể hiện như thế nào? Xin được nêu lại mấy giáo huấn sau đây của Người cho thấy tầm chiến lược của vấn đề này:

Đưa sự hiểu biết của người dân trong đó có cán bộ ở tầm “quốc hồn” của dân tộc khi Người nói: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, nếu muốn không dốt thì phải học, học liên tục, học suốt đời để dân tộc đó có trí tuệ bền vững, nghĩa là việc học là việc chiến lược, liên tục, lâu dài;

Một trong những việc làm đầu tiên trong hoà bình kiến quốc là việc học để “diệt giặc dốt”. Coi việc học của công dân như là việc đánh giặc rõ ràng là vấn đề đó được đặt ở tầm quốc sách, chiến lược!

Một trong những đánh giá tiêu chuẩn cán bộ rất đơn giản nhưng cũng đầy bao quát về người cán bộ cũng mang tầm chiến lược dùng người và rèn luyện nhân cách: Tiêu chuẩn tài và đức. Tài mà thiếu thì khó làm mọi việc, đức thiếu thì vô dụng. Phẩm chất của công chức chính là vấn đề chiến lược của Đảng và Chính phủ trong việc cải cách nhà nước và đổi mới hệ thống chính trị.

Chúng tôi dùng chữ “chiến lược” để nhận thức vấn đề đào tạo và xây dựng đội ngũ trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ cơ sở nhận thức như vậy.

Có thể nói những giáo huấn Hồ Chí Minh liên quan đến yêu cầu nâng cao sự hiểu biết về chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện chuyên môn đa phần nhằm vào công việc của người cán bộ trong bộ máy hành pháp. Thực ra, ở giai đoạn này những khi Hồ Chủ tịch đưa ra những chỉ thị giáo dục cán bộ, công chức cũng chưa phân biệt người làm việc trong bộ máy của Đảng và người làm việc trong bộ máy nhà nước. Nói cụ thể đa phần những bài nói hay viết của Người phần lớn liên quan đến đội ngũ những người làm trong bộ máy nhà nước.

Chính Hồ Chủ tịch là người Việt Nam đầu tiên chỉ ra vị trí cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước. Vì vậy Người có những lời dạy đối với đảng viên thì phần lớn là những đảng viên trong bộ máy chính quyền. Hơn nữa, ở vào thời kỳ này vấn đề phân quyền ở nước ta cũng chưa có điều kiện bàn tới như một phần của khoa học chính trị mà chỉ thể hiện trong cấu trúc thiết chế của Hiến pháp. Nhưng sự vận hành của bộ máy hành pháp là hoạt động cơ bản, bao trùm vì thời kỳ này nước ta đang trong giai đoạn của thời kỳ kháng chiến.

Vì vậy, những gì Người nói về đạo đức, về tác phong, về yêu cầu học tập của cán bộ cũng liên quan nhiều nhất đến đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy hành pháp.

Nhận xét về những chỉ giáo Hồ Chí Minh liên quan đến kiến thức, hiểu biết nói chung của cán bộ, công chức, chúng tôi thấy chúng không chỉ dừng lại như những kiến thức văn hoá, thậm chí kiến thức chuyên môn, mà còn cả những kiến thức về chính trị, đạo đức, nhân văn. Muốn có kiến thức phải học tập. Việc học diễn ra trong nhà trường, ở cơ quan, đoàn thể, ở trong xã hội và trong nhân dân…

Xin nêu một số chủ đề dưới đây:

Học để phụng sự Tổ quốc và nhân loại; phụng sự nhân dân và phụng sự giai cấp. Đó là yêu cầu chính trị vừa là sứ mệnh của công dân trước Tổ quốc, vừa là trách nhiệm của một con người trước nhân loại. Người phụng sự trực tiếp cho Tổ quốc chính là người làm việc trong bộ máy công quyền, là những cán bộ và công chức. Mỗi cá nhân là thành viên của một nhà nước và mỗi quốc gia là một tế bào tạo nên thế giới của nhân loại.

Với sự thấm nhuần giữa quốc gia, dân tộc với những nguyên lý mác xít về sứ mệnh chung của mỗi thành viên đối với sự tiến bộ nhân loại, những giáo huấn của Người thường không dừng lại ở quan hệ của mỗi cá nhân đối với Tổ quốc và còn mở rộng thành quan hệ trong một thế giới đồng loại.

Vì thế, khi đề cập mục đích học tập để phục vụ Tổ quốc thì Người nhấn mạnh trong mối quan hệ với mục tiêu cho nhân loại (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.5, Tr.684). Nếu chỉ nói ở cương vị một người đứng đầu nhà nước phải chăng Người đề cập trách nhiệm công dân trước Tổ quốc là đủ và nói tới nhân loại là nói theo tinh thần vô sản quốc tế Mác – Lê-nin? Theo chúng tôi đúng là như vậy.

Đối với một quốc gia, Hồ Chủ tịch đã nói: Một dân tộc dốt là dân tộc yếu (T.4, Tr.8). Như thế một thế giới gồm nhiều quốc gia thất học thì thế giới đó không thể có nhiều tiến bộ được.

Nếu từ đó mà liên hệ tới giáo huấn của Người về việc học để phụng sự Tổ quốc và nhân dân cũng có thể khẳng định rằng, một nền hành chính gồm những người cán bộ, công chức dốt thì không thể hoàn thành bổn phận công bộc cho dân được, không thể tạo ra sức mạnh của bộ máy nhà nước được…

Học để làm cán bộ, để làm việc

Có thể nói, đây chính là giáo huấn giành riêng cho cán bộ, công chức và đoàn thể. Tư tưởng về sự cần thiết phải học tập để có kiến thức cho mỗi con người nói chung và cho những người công bộc của dân nói riêng xuất phát từ mấy quan điểm cơ bản:

Xã hội nào cần con người thích hợp cho nó; muốn có chủ nghĩa xã hội cần có con người xã hội chủ nghĩa; muốn vậy phải là người có học người cán bộ là người cần học trước hết (để phụng sự nhân dân và để giúp dân chống sự dốt nát đó là một loại giặc ở bên trong của quốc gia).

Nói theo hiệu quả của công việc, cán bộ tốt là vốn liếng của đoàn thể (cán bộ, công chức tốt càng là vốn liếng của Nhà nước và của dân tộc, quốc gia); không có cán bộ tốt thì hỏng việc. Tốt là một phạm trù bao gồm hai phẩm chất hồng và chuyên… Nếu chỉ có hồng mà không có chuyên thì làm việc cũng khó (ngày nay có những việc nếu không học thì không thể làm được việc lớn); người tốt bụng là rất đáng quý nhưng Người cho rằng như thế là chưa đủ vì làm cán bộ là làm việc chứ không làm “Ông Bụt”!

Học là một công việc trau dồi kiến thức. Nhưng học không có nghĩa là chỉ học ở nhà trường. Trong điều kiện đất nước còn khó khăn của những năm kháng chiến gian khổ, việc học lại càng khó khăn hơn. Từ thực tiễn của việc học và điều kiện khó khăn của nước nhà, Hồ Chủ tịch đã chỉ cho mọi người thấy phương pháp để có thể học được, đó là:

Học ở trường học ở sách vở (đại học thì làm gì, trung học, tiểu học thì làm gì, Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.9, Tr.509).

Học ở nhân dân, Người nói thế giới ngày nay đổi mới, nhân dân ngày càng tiến bộ, nếu cán bộ, công chức không học thì thành ra lạc hậu, vậy phải học để “tiến bộ đuổi kịp nhân dân” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.8, Tr.215).

Cán bộ, công chức phải tự học và tự mình học lấy những cái mới mỗi người cần phải rèn luyện và coi việc học như một nhu cầu (của sự hứng thú và của công việc). Vì vậy, Người nói người học phải “học không biết chán” (còn người dạy thì “dạy không biết mỏi”).

Thật là đúng đắn và khoa học, vì rằng chẳng có dân tộc nào mà ở đó việc học ở trường là công việc suốt đời, những đời người thì sự hiểu biết luôn ở phía trước. Không ai là người bình thường lại có thể nói việc học đối với họ là kết thúc vì không còn gì là họ không thành thạo!

Cho nên tự học không những là phương pháp mà còn là phương châm của hành động. Hồ Chủ tịch nói: Lấy tự học làm cốt; sắp xếp thời gian và bài học cho khéo (cho hợp lý – N.H.Kh), không phải có thầy thì học (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.5, Tr.273). Ngày nay, cán bộ, công chức được hưởng những điều kiện hoàn toàn mới: được ưu đãi về thời gian, được giành ngân sách cho học tập, được lượng hoá kiến thức trong lộ trình thăng tiến đã nói lên rằng: học là một phần trong đời công vụ của công chức và vấn đề học mà Hồ Chủ tịch kêu gọi thực sự là vấn đề chiến lược.

Thực tiễn cũng là trường học. Nguyên lý của việc học đã được Hồ Chí Minh đúc kết và giáo dục cán bộ: học phải đi đôi với hành (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.9, Tr.294; T.6, Tr.50; T.5, Tr.235). Để tránh sự giáo điều, sách vở của những người chỉ thuần tuý ham chữ, Người cho rằng nếu chỉ có lao động trí óc mà không có lao động chân tay thì chẳng khác nào người ta bị “bán thân bất toại” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.9, Tr.174); tách rời thực tế thì người có học chỉ như “cái hòm đựng chữ” mà thôi (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.5, Tr.234).

Để phòng ngừa bệnh kiêu ngạo của một số người được học Người đã chỉ ra những căn bệnh của người có học: xa rời thực tiễn, nói thì cái gì cũng thông nhưng động vào thực tiễn (những tình huống cụ thể) thì lại lúng túng như từ “trên trời rơi xuống”! Người nói rằng những người vì có ít chữ mà đã cho là trí thức thì chưa phải là “trí thức hoàn toàn”, nếu ai coi thường, khinh rẻ lao động thì chúng ta “kiên quyết chống lại”.

Chúng tôi xin dẫn một số quan điểm còn rất thời sự mà Hồ Chủ tịch phát biểu tại Hội nghị Giáo dục toàn quốc năm 1948 (1):

Phải sửa đổi triệt để chương trình giáo dục cho phù hợp với sự nghiệp kháng chiến kiến quốc. Đây có phải là quan điểm giáo dục phải đáp ứng nhu cầu của xã hội? Theo chúng tôi đúng là như vậy. Quan điểm này thể hiện rõ trong giáo dục đào tạo và bồi dưỡng đối với đội ngũ cán bộ, công chức.

Qua thực tiễn những năm vừa qua, chúng tôi thấy quan điểm của Hồ Chủ tịch còn rất có ý nghĩa thực tiễn cho việc đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay là:

Không thể cứ dạy theo kiểu người dạy cứ nói, người nghe cứ nghe. Người dạy không giải đáp được những vấn đề của thực tiễn khi người học có câu hỏi muốn làm rõ. Vì vậy, chương trình cũ, không phù hợp cần phải thay thế hoặc sửa đổi một cách phù hợp với thời kỳ đổi mới; đổi mới giai đoạn đầu (giai đoạn hội nhập trên “giấy”) phải phù hợp với giai đoạn tiếp theo (giai đoạn hội nhập thực tế).

Chúng ta phải sửa đổi cách dạy. Cách dạy ở đây bao hàm cả cách dạy của giáo giới và cách dạy theo đối tượng: Dạy ai cái gì và ai đi học cái gì? Có nên tiếp tục hay kéo dài việc đào tạo công chức theo kiểu “tiền bổ” như hiện nay, nghĩa là một người giữ chức vụ rồi (do bầu hay do bổ nhiệm) mới “cắp sách đi học”?

Thực tiễn giáo dục và đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân cũng như trong hệ thống công vụ hành chính đang trở thành vấn đề rất đáng quan tâm. Đó là sự cách biệt giữa cái học trong nhà trường và cái cần ngoài xã hội.

Phải đào tạo cán bộ mới và giúp đỡ cán bộ cũ. Đây là quan điểm có thể sát hợp với quan điểm chuẩn hoá kiến thức cho cán bộ, công chức trong đó có những người của bộ máy hành chính. Giúp đỡ theo chúng tôi chính là bồi dưỡng cập nhật kiến thức cho những cán bộ, công chức khi có những chính sách hay tình huống mới của quản lý đặt ra.

Nước ta đã từng tồn tại chế độ “hậu bổ”, nghĩa là một người học đáp ứng với tiêu chuẩn quy định cho một chức vụ thì mới được bổ nhiệm vào chức vụ (Tất nhiên cũng không thể cực đoan việc học một lần là xong, mà cần có sự bồi dưỡng có tính cập nhật. Việc này hoàn toàn khác với tình hình hiện nay là có người được bầu hay bổ nhiệm vào chức vụ lại phải đi học để có một bằng cấp cao hơn kiến thức họ có).

Vận dụng như thế nào?

Trong thời kỳ đổi mới với bao khó khăn và thử thách từ nhiệm vụ kinh tế – xã hội, an ninh và quốc phòng. Thực tiễn kinh tế – xã hội và những tình huống chiến lược cũng như những nhiệm vụ cụ thể nhiều khi chúng ta tỏ ra bế tắc chỉ vì việc học. Bế tắc không phải chúng ta không chú ý đến việc học tập đối với nền giáo dục quốc dân và đối với bộ máy nhân lực của Chính phủ chúng ta cũng đã làm được rất nhiều việc.

Nếu không, làm sao chúng ta đứng vững cho đến ngày nay với một nhà nước độc lập tự chủ, kinh tế phát triển đều đặn, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Vì vậy, xin được miễn nói những gì là thành tựu. Chỉ xin nói thêm về những thực trạng cần có đổi mới trong việc học tập cho cán bộ và công chức từ giáo huấn Hồ Chí Minh:

Chưa có chương trình cụ thể để gắn việc học với điều kiện của thực tiễn. Làm cái gì thì học cái đó trước, cái đó nhiều, cái đó suốt đời. Đưa người đã học vào bộ máy công chức là chính, lấy người chưa học là phụ (tránh tình trạng hiện nay: sinh viên thất nghiệp, công chức đi học tại chức!).

Đưa thực tiễn vào tất cả các khâu: phân bổ thời gian; bố trí con người “dạy thực tiễn” (như dạy sinh viên hành chính là trưởng phó phòng, chủ tịch, phó chủ tịch, dạy tiếp dân…).

Tiếp cận cách thức đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức trong nước với thế giới để tránh tình trạng bất cập có thể có: một bên là Việt Nam và một bên là thế giới còn lại!

Thiết nghĩ một trong những điều mà giáo huấn Hồ Chí Minh trở thành tư tưởng Hồ Chí Minh chính là giá trị “đi cùng thời đại” của những giáo huấn đó.

(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, T.5, Tr.462.

Theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Khiên
Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Tâm trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đặc sắc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

Bác Hồ đọc tấm bia "Côn Sơn Tư Phúc tự bi” tại chùa Côn Sơn tỉnh Hải Dương, ngày 15-02-1965

“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (Hồ Chí Minh).

Thực đúng như vậy, nghiên cứu quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc ta, có thể có đầy đủ cơ sở để đi tới một nhận định có tính khái quát: Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại. Ở đây, bản chất Việt Nam được bộc lộ rõ ràng, đầy đủ, tập trung nhất hơn bất cứ ở lĩnh vực nào. Yêu nước đã trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam, là đạo lý của dân tộc Việt Nam, một truyền thông sâu bền, cao đẹp, không còn dừng lại ở trình độ một nhận thức, một tình cảm, mà đã trở thành một chủ nghĩa, một lực lượng tinh thần vô cùng mạnh mẽ, có tác dụng to lớn trong việc động viên, cổ vũ mọi người dân sẵn sàng đứng lên bảo vệ Tổ quốc khi có nguy cơ xâm lược từ ngoài tới, hay kiên trì góp hết tinh thần và sức lực vào sự nghiệp dựng nước.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam tuyệt nhiên không phải là một cái gì trừu tượng, mà là một sản phẩm đích thực của chính lịch sử Việt Nam, nó bắt nguồn từ những điều kiện cụ thể của Việt Nam, về hoàn cảnh địa lý, về khí hậu, về đời sống kinh tế, văn hóa – xã hội, về lịch sử. Cũng cần phải thấy yêu nước là một tình cảm và tư tưởng phổ biến mà dân tộc nào cũng có. Duy chỉ khác nhau là ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc thì tư tưởng và tình cảm yêu nước bị hình thành và phát triển trong những điều kiện không giống nhau, sớm muộn, đậm nhạt khác nhau mà thôi.

Liên hệ với nước Việt Nam chúng ta, về hoàn cảnh địa lý, nước ta ở vào một vị trí vô cùng quan trọng trên báo đảo Đông Dương, vào nơi tiếp xúc, ngã tư đường của vùng Đông Nam Á cả về tự nhiên và văn hóa, ở góc cực đông nam của đại lục châu Á, mặt nhìn ra biển Đông nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương. Là bao lơn của Thái Bình Dương, trên một chiều dài 3.300km, Việt Nam tuy được nối liền với lục địa bằng một mạng lưới đường giao thông thủy bộ thuận lợi, từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, nhưng cũng tạo thành những hành lang thuận lợi cho việc thực hiện tham vọng bành trướng của các thế lực đen tối từ ngoài tới.

Về mặt khí hậu, Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới gió mùa, phù hợp với nghề trồng lúa nước, nhưng thường xuyên phải chống chọi hàng năm với lũ lụt, bão tố, hạn hán… Cũng là một vùng đất thống nhất trong đa dạng trên rừng, dưới biển, nằm sâu dưới đất đều chứa đựng nhiều tài nguyên phong phú và quý giá (ngọc trai, ngà voi, sừng tê, khoáng sản…) nên từ rất sớm đã phải đương đầu với các kẻ thù đầy tham vọng từ các nơi tới.

Rõ ràng trong bối cảnh đó, nhân dân Việt Nam từ rất sớm đã phải đứng trong vị thế vừa dựng nước vừa giữ nước. Lịch sử Việt Nam bắt đầu bằng một sự kiện có ý nghĩa vô cùng trọng đại là sự ra đời rất sớm của Nhà nước Văn Lang trên cơ sở hợp nhất tự nguyện của người Việt cổ (Lạc Việt và Âu Việt): “Vua Hùng đã có công dựng nước”, và nước Việt ngay từ lúc mới ra đời đã là một quốc gia có cương vực ổn định với một nền văn hóa rực rỡ, với sản phẩm trống đồng. Có thể khẳng định rằng sự xuất hiện sớm của Nhà nước Văn Lang đã tạo điều kiện rất cơ bản cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hình thành sớm.

Nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam là nước Âu Lạc (thống nhất giữa Tây Âu và Lạc Việt) với người thủ lĩnh kiệt hiệt là Thục Phán để chống lại sự xâm lược của nhà Tần từ phương Bắc tràn xuống, với sự kiện này đã nói rõ một đặc điểm của lịch sử Việt Nam: Bắt đầu dựng nước cũng là bắt đầu giữ nước! Tư thế chung của dân tộc ta trong lịch sử là phải luôn luôn vừa lao động xây dựng đất nước , vừa chiến đấu bảo vệ đất nước dựng nước đi đôi với giữ nước là một đặc điểm bao trùm, một quy luật cơ bản của lịch sử Việt Nam.

Đến cuối thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, vào cuối thời Văn Lang (và các vua Hùng) sang đầu thời Âu Lạc (và vua Thục) dân tộc Việt Nam đã đi vào chính sử. Và công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã được thực hiện quyết liệt và có kết quả. Vào cuối đời vua Hùng (thế kỷ 3 trước Công nguyên) đế chế Tần (Tần Thủy Hoàng) với âm mưu bành trướng xuống phía Nam đã cử 50 vạn quân xuống phía Nam để bình Bách Việt. Nhưng chúng đã vấp phải sức kháng cự quyết liệt của người Việt (cư dân Văn Lang – Âu Lạc) do Thục Phán đứng đầu đánh bại sau một cuộc kháng chiến kéo dài đến 6-7 năm trong những điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ, thiếu thốn đủ bề (từ 214 trước CN – 209 trước CN). Thục Phán là một thủ lĩnh người Âu Lạc đã cùng các thủ lĩnh người Văn Lang và quân dân Việt tổ chức cuộc chiến đấu, bãi chiến trường là miền rừng núi Việt Bắc và miền trung du miền Đông Bắc ngày nay. Cuối cùng nhà Tần đã phải ra lệnh bãi binh, rút hết quân ra khỏi phạm vi đất nước người Việt, cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ đầu tiên của tổ tiên ta đã giành được toàn thắng. Nước Âu Lạc là cao điểm cuối cùng của kỷ nguyên bắt đầu dựng nước và giữ nước. Sau chiến thắng oanh liệt đó, (đặc biệt là qua việc đoàn kết chiến đấu), tinh thần cố kết dân tộc trong nội bộ cộng đồng người Việt càng được củng cố và tăng cường.

Sau chiến thắng quân Tần (khoảng 208 trước CN) nhân uy tín sẵn có Thục Phán đã xưng là An Dương Vương đổi quốc hiệu là Âu Lạc, phản ánh sự hợp nhất chặt chẽ hơn giữa hai thành phần Việt tộc (Âu và Lạc) trong một chỉnh thể quốc gia, một kết cấu chính trị – xã hội cao hơn. Âu Lạc là một thể thống nhất Việt tộc có ý nghĩa là vừa thống nhất Dân tộc, vừa thống nhất Quốc gia) cao hơn Văn Lang. Thục Phán (An Dương Vương) quyết định dời đô từ Việt Trì (Phú Thọ) về ngã ba sông Đuống – sông Hồng là vùng đất Cổ Loa (huyện Đông Anh) xây thành, đánh dấu sự phát đạt của nền kinh tế vùng đồng bằng (cả về mật độ dân số, về trình độ nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Sự thành lập nước Âu Lạc là bước phát triển kế tục nước Văn Lang với hai thành tựu nổi bật về kỹ thuật quốc phòng (đắp thành Cổ Loa và cải tiến nỏ và tên nỏ)đáp ứng một nhu cầu bức xức chống ngoại xâm từ phía Bắc tới. Thời đại Văn Lang và Âu Lạc là thời đại văn minh Sông Hồng, thời đại các Vua Hùng và Vua Thục, một thời đại vô cùng quan trọng của lịch sử Việt Nam. Đó là thời kỳ hình thành dân tộc với nền tảng là một đời sống kinh tế chung cho toàn quốc, là thời kỳ hình thành Nhà nước đầu tiên. Đó cũng là thời đại hình thành một nền văn hóa dân tộc với một bản sắc độc đáo phi Hoa, phi Ấn với một phong cách Đông Sơn rất đặc trưng, rất điển hình và có ảnh hưởng lớn đến toàn vùng Đông Nam Á. Cộng đồng dân tộc Việt xây dựng từ đó một lối sống riêng, có một bản lĩnh vững vàng, và trên nền tảng đó đã xây dựng được một xã hội, một lối sống Việt Nam, một truyền thống Việt Nam. Đó cũng là thời kỳ hình thành ý thức dân tộc được tổng hợp từ những tình cảm gia đình, họ hàng, quan hệ đồng bào, tình làng nghĩa nước để trở thành một lòng yêu nước Việt Nam bất khả chiến bại, một ý thức về quyền sở hữu chung của dân tộc, về địa bàn đất đai, đất nước, lãnh thổ để trên nền tảng đó ý thức hệ của công cuộc giữ nước bắt đầu. Đó là kỷ nguyên bắt đầu dựng nước của dân tộc Việt Nam, mở đầu truyền thống dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc, từ đó được nâng lên trình độ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

Nhưng vào năm 183 trước CN, Triệu Đà lợi dụng tình hình phương Bắc rối loạn để xưng đế, lập nước Nam Việt, rồi đưa quân xuống phía Nam chiếm nước Âu Lạc, mở đầu một thời kỳ mất nước kéo dài hơn ngàn năm, là một thời kỳ thử thách lớn lao đối với sức sống của dân tộc với âm mưu đồng hóa toàn diện và triệt để của kẻ thù. Nhưng dân tộc Việt Nam đã nêu cao tinh thần bất khuất, kiên cường, bền bỉ đấu tranh để bảo tồn cuộc sống, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, quyết giành lại độc lập dân tộc. Các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đánh Hán, Triệu Thị Trinh chống Ngô, Lý Bí chống Lương dựng nên nước Vạn Xuân, Triệu Quang Phục đánh đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi, nhưng đến đầu năm 603 sau CN lại bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Bất chấp tình hình bất lợi, phong trào khởi nghĩa vẫn bùng nổ liên tục, trên khắp mọi miền đất nước. Đến đầu thế kỷ 10 (905), Khúc Thừa Dụ đánh thắng quân phong kiến nước ngoài, xây dựng một chính quyền tự chủ. Năm 930, nhà Nam Hán sang xâm chiếm, Dương Đình Nghệ lại đánh bại chúng giành lại quyền tự chủ. Đến cuối năm 938 Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng kết thúc oanh liệt thời kỳ mất nước kéo dài hơn 1.000 năm. Một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc bắt đầu. Ngô Quyền lên ngôi vua, đóng đô ở Cổ Loa, đánh dấu một bước phát triển mới của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

Sau khi Ngô Quyền mất, chính quyền trung ương bị tan rã, các thế lực phong kiến chia nhau hùng cứ các phương và tranh giành nhau quyết liệt, tạo nên thế 12 sứ quân cát cứ các địa phương. Yêu cầu cấp thiết của lịch sử lúc đó là phải khôi phục sự thống nhất của nước nhà. Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế (năm 968), đóng đô ở Hoa Lư, lập quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Từ đó, trải qua các triều Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, suốt trong năm thế kỷ (từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 15), quốc gia thống nhất ngày càng được củng cố, công cuộc xây dựng đất nước được tiến hành trên quy mô lớn, đặt nền tảng vững chắc và toàn diện cho sự phát triển của dân tộc và của Nhà nước phong kiến độc lập, việc dựng nước gắn liền với giữ nước. Nhưng cũng trong năm thế kỷ đó, không có thế kỷ nào dân tộc ta không phải chống ngoại xâm, thế kỷ 13 phải tới ba lần chống Nguyên – Mông. Đến thế kỷ 15, nhà Trần đổ nát và bị nhà Hồ thay thế. Nhưng cuộc kháng chiến do Hồ Quý Ly đứng đầu đã nhanh chóng thất bại vì không phát huy được sức mạnh vĩ đại của dân tộc để chống giặc giữ nước. Phong trào yêu nước dâng lên mạnh mẽ, lôi cuốn mọi tầng lớp, mọi thành phần, phát triển rộng khắp dần quy tụ vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi đứng đầu.

Sau 10 năm chiến đấu (1418-1428), với thắng lợi của cuộc kháng chiến, nền độc lập dân tộc được khôi phục và giữ vững, âm mưu xâm lược của kẻ thù bị đánh bại hoàn toàn. Tình hình đó tạo ra những điều kiện rất thuận lợi để củng cố và xây dựng đất nước. Nhưng đến thế kỷ 16, nhân triều Lê suy yếu, các phe phái phong kiến (Mạc, Trịnh, rồi Trịnh – Nguyễn) xung đột nhau. Đất nước bị chia cắt trên 200 năm. Trong sự phát triển như vũ bão của nông dân khởi nghĩa mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn vào cuối thế kỷ 18, dưới sự lãnh đạo của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, dân tộc ta đã đánh thắng cả thù trong và giặc ngoài (1789). Sau chiến thắng, Vua Quang Trung cương quyết tiến hành xây dựng đất nước. Công cuộc phục hồi và phát triển kinh tế của Quang Trung đang mang lại những kết quả bước đầu đầy hứa hẹn thì ông đã bị bạo bệnh và mất đột ngột để tới năm 1802 chế độ quân chủ chuyên chế nhà Nguyễn lại được thiết lập trên cả nước.

Thời kỳ này chế độ phong kiến Việt Nam đã bước vào giai đoạn khủng hoảng suy vong. Phong trào nông dân khởi nghĩa tiếp tục lan tràn, chỉ trong vòng nửa thế kỷ đầu của triều Nguyễn đã có tới trên 300 cuộc khởi nghĩa nông dân lớn và nhỏ. Tới giữa thế kỷ 19, vận mạng dân tộc ta đứng trước một thử thách mới vô cùng nghiêm trọng là sự xâm lăng của tư bản Pháp. Lịch sử Việt Nam cũng chuyển sang một trang mới, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam phát triển theo những khuynh hướng mới. Chính Đảng vô sản ra đời (ngày 3-2-1930) tạo nên một bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Từ đây Cách mạng Việt Nam đi vào quỹ đạo của thời đại. Chủ nghĩa yêu nước lúc này là chủ nghĩa yêu nước của nhân dân, không bị hạn chế, biến chất bởi chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi, chủ nghĩa sô vanh tư sản, phong kiến. Chính trong thời kỳ Đảng lãnh đạo, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam càng có những điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển. Yêu nước ngày nay là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp hài hòa với chủ nghĩa quốc tế vô sản chân chính, là đem hết nhiệt tình, trí tuệ và tài năng để xây dựng Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trước mắt là xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh trên tinh thần hòa bình, hữu nghị và hội nhập, cùng nhau phát triển.

Để kết luận, có thể khẳng định chủ nghĩa yêu nước là động lực, là chìa khóa của lịch sử Việt Nam, đoàn kết yêu nước là sức mạnh vô địch của dân tộc. Về vấn đề này, có thể vận dụng bài học của Bác Hồ về yêu cầu khai thác, phát triển lòng yêu nước, cũng được trình bày trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951):

“Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”./.

Theo GS. Đinh Xuân Lâm
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thời đại Hồ Chí Minh sinh ra trước hết từ chủ nghĩa yêu nước

Thời đại Hồ Chí Minh - thời đại mới của dân tộc Việt Nam

Lợi dụng thời cơ ngàn năm có một, nuôi dưỡng và phát động tinh thần dân tộc, Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã lãnh đạo nhân dân trên cả nước làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi.

Chiều 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình, thay mặt Chính phủ Lâm thời, Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do. Thời đại mới mở ra từ đây. Thời đại đó được gọi theo tên người khai sinh ra nó – thời đại Hồ Chí Minh.

Thời đại Hồ Chí Minh sinh ra trước hết từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, từ tinh thần dân tộc Việt Nam, được nuôi dưỡng và thăng hoa bằng tinh thần dân tộc hay như chính Hồ Chí Minh đã từng ý thức: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”.

Nhưng “cây muốn lặng, gió chẳng đừng”. Nhân dân Việt Nam sung sướng hưởng sự độc lập và tự do chưa được bao lâu thì thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23-9-1945, nhân dân Sài Gòn, thay mặt nhân dân cả nước, đứng dậy chiến đấu bảo về nền độc lập dân tộc vừa mới giành được. Hành trình dân tộc đến với độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất Tổ quốc bắt đầu từ đây, vắt qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại, hết chống Pháp đến chống Mỹ, ròng rã trong ngót 30 năm mới tới đích.

Cả nước vừa chống giặc đói, giặc dốt vừa dốc sức bằng phong trào “Nam tiến” chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam chống ngoại xâm. Thế và lực chúng ta lúc đó còn chênh vênh và mỏng nên không thể ngăn chặn được quân thù, song cũng đã kịp làm một số việc lớn chưa từng có trong lịch sử: Tổng tuyển cử bầu những người đại diện của mình vào Quốc hội, thành lập Chính phủ mới và thông qua Hiến pháp năm 1946. Hào khí Cách mạng Tháng Tám được phả vào đây một cách sống động và tự nhiên mà sau đó các thế lực chống đối muốn chối bỏ cũng không thể nào làm được bởi tính hợp pháp, hợp hiến của nó.

Rồi giặc Pháp trở lại Hà Nội hợp sức với các thế lực thù địch khác và dùng mọi thủ đoạn, quyết tâm tiêu diệt Chính phủ Hồ Chí Minh, cũng tức là muốn đánh sập ý chí độc lập tự do của dân tộc ta. Đại diện cho ý chí của toàn dân tộc, Hồ Chủ tịch dõng dạc tuyên bố lời thề chém đá “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Quân dân Hà Nội chiến đấu cầm chân giặc cho cuộc rút lui chiến lược của Chính phủ Hồ Chí Minh lên Việt Bắc tổ chức kháng chiến không cân sức tựa như “châu chấu đá voi”. Cả nước theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh, bỏ lại phía sau những cánh đồng xanh ngát, kinh thành bốc cháy, ra bưng biền, lên rừng núi đánh giặc trường kỳ. Người Hà Nội hào hoa dứt khoát “ra đi, đầu không ngoảnh lại”. Công nhân nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo “xẻ” nhà máy thành những bộ phận nhỏ, gồng gánh, mang vác đưa lên chiến khu dựng lại tiếp tục sản xuất, phục vụ kháng chiến. Những chí sĩ như Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại…, những trí thức như Nguyễn Văn Tố, Hoàng Đạo Thúy… cả những trí thức lớn từ Pháp mới về như Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng… các văn nghệ sĩ như Văn Cao, Nguyễn Huy Tưởng… lên chiến khu, tham gia dựng lại cơ đồ, mở mang sự nghiệp. Thủ đô kháng chiến Tân Trào, Thái Nguyên, Tuyên Quang thắp sáng niềm tin cho toàn dân tộc: “Ở đâu đau đớn giống nòi/ Trông lên Việt Bắc mà nuôi chí bền”. Một lần nữa, sự cố kết dân tộc, tinh thần dân tộc được đẩy lên cung bậc cao nhất: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công!”.

Sau hơn bốn năm xây dựng, tích trữ lực lượng, Thu – Đông 1950, quân đội ta xông trận. Thắng lớn, cánh cửa biên giới thông thương với các nước trong phe dân chủ, với thế giới mở toang. Cuộc phá vây ngoạn mục đã hoàn thành trên thực tế (Trên bình diện ngoại giao, từ tháng 1-1950 bởi sự công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam của Trung Quốc, Liên Xô…). Thế và lực chúng ta vững hơn, mạnh lên. Từ đó, chúng ta chủ động trên chiến trường, khiến quân Pháp điều binh khiển tướng chạy theo như đèn cù, hết Tây Bắc đến Thượng Lào… và cuối cùng gom quân Pháp tại lòng chảo Mường Thanh và giáng trận Điện Biên “chấn động địa cầu”, buộc Pháp ngồi vào bàn Hội nghị Giơnevơ. Ta chưa được toàn vẹn lãnh thổ, nhưng ta đã có được nửa nước, đặc biệt Hà Nội – mảnh đất nghìn năm văn hiến, Thủ đô muôn đời – đã về với ta. Cũng trên Quảng trường Ba Đình sang sảng tiếng Bác đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày nào, giờ đây, ngày 1-1-1955, Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh ra mắt và chào nhân dân Thủ đô sau hơn tám năm kháng chiến ở rừng núi. Hào khí Thăng Long – Hà Nội hội tụ với hào khí thắng giặc Pháp trở thành âm hưởng chủ đạo của thời đại. Châu Á, Châu Phi và Mỹ La tinh luôn vang mãi một cụm từ bất tử: “Việt Nam – Điện Biên Phủ – Hồ Chí Minh – Võ Nguyên Giáp”.

Ở miền Nam, Pháp đi, Mỹ tới. Chính quyền Sài Gòn do Mỹ dựng lên phá hoại Hiệp định Giơnevơ, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước chúng ta. Chúng tàn sát những người yêu nước, những người kháng chiến cũ bằng Luật 10/59 tàn bạo, bằng máy chém, bằng cực hình, bằng lao tù. Những vụ tàn sát Vĩnh Trinh, Phú Lợi thức tỉnh lương tri, kêu gọi hành động khẩn cấp. Cả nước một lần nữa “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” và cùng với phong trào “Đồng Khởi” miền Nam tạo thành khúc dạo đầu của bản giao hưởng chống Mỹ, cứu nước, không chỉ lay động trái tim, khối óc toàn dân tộc ta, mà còn thức tỉnh lương tri nhân loại. Hai con đường huyền thoại trên bộ, trên biển (Đường Hồ Chí Minh xuyên Trường Sơn với những con đường nhánh có độ dài trên 7 nghìn km, Đường Hồ Chí Minh trên biển khởi đầu từ bến Vạn Hoa, Đồ Sơn, Hải Phòng) hình thành, chi viện sức người sức của cho chiến trường miền Nam. Quân và dân miền Nam lần lượt đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bằng trận Ấp Bắc, Bình Giã, đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” bằng cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 và buộc Chính quyền Washington ngồi vào bàn Hội nghị Pari tháng 5-1968. Cục diện chiến tranh xoay chuyển, vừa đánh vừa đàm, có lợi cho ta. Nếu như Hội nghị Giơnevơ năm 1954, chúng ta bị sức ép từ nhiều phía nên thắng lợi không như ta mong muốn thì tại Hội nghị Pari này, ta chủ động và tự quyết định hoàn toàn vận mệnh của Tổ quốc ta bằng sự kết hợp khéo léo sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại.

Các quyết định ở bàn Hội nghị Pari, lúc hai bên, lúc bốn bên, đều tùy thuộc ở chiến trường. Những nhà ngoại giao Xuân Thủy, Lê Đức Thọ, Nguyễn Thị Bình dựa vào nền tảng tựa như bàn thạch từ những chiến thắng quân sự trên cả hai chiến trường Nam, Bắc mà ung dung ngồi vào bàn đàm phán. Trên chiến trường miền Nam, quân dân ta đã thắng lớn trong chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, chiến dịch Trị – Thiên Xuân – Hè 1972. Ở miền Bắc, quân dân ta với trí thông minh và lòng quả cảm đã đánh thắng cuộc chiến tranh phá họai bằng không quân và hải quân tàn bạo của đế quốc Mỹ với tham vọng ngông cuồng của tướng Curtis Emerson Le May “đưa người Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá”. Và cuối cùng, bằng sức mạnh của tinh thần Việt Nam, quân dân ta đã giăng lưới thép tầng thấp, tầng trung, tầng cao “vít cổ” pháo đài bay B52 mà chính quyền Mỹ đem ra hù dọa những kẻ yếu bóng vía trên thế giới vào những ngày tháng Chạp năm 1972 trên đất Hà Nội mà thế giới biết tới là “Trận Điện Biên Phủ trên không”. Hoa Kỳ đã hết “vở”, buộc phải trở lại Hội nghị Pari và ngày 27-1-1973, Kítsinggơ, Cố vấn an ninh, sau trở thành Ngoại trưởng Hoa Kỳ, phải cầm bút ký vào bản Hiệp định Pari, công nhận nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của chúng ta và rút hết quân đội Mỹ và chư hầu về nước.

Chính sách đối ngoại hai bước của Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn Quân, toàn Dân thực hiện trọn vẹn. Bước 1: “Đánh cho Mỹ cút”. Bước hai: “Đánh cho ngụy nhào”, được khởi động thận trọng, nhưng khẩn trương chuẩn bị mọi điều kiện cho cuộc vùng dậy cuối cùng. Chiến dịch Phước Long cuối năm 1974 như chiến dịch trinh sát chiến lược, chúng ta toàn thắng. Thắng lợi Phước Long trùng vào lúc Hội nghị Bộ Chính trị đang họp nên Bộ Chính trị coi cả năm 1975 là thời cơ, nhưng chín muồi lúc nào là cơ hội lúc đó để tiến hành bước hai – đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất Tổ Quốc như khát vọng của toàn dân tộc, của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Bước hai được ấn nút vào tháng Ba, “mùa con ong đi lấy mật” ở Tây Nguyên bằng cuộc tấn công vào Buôn Mê Thuột. Buôn Mê Thuột thất thủ, Tây Nguyên “nóc nhà của Đông Dương” bị bỏ ngỏ. Thừa thắng xốc tới, ta mở chiến dịch Huế – Đà Nẵng với khí thế “thần tốc, thần tốc… một ngày bằng hai mươi năm” của Quân ủy Trung ương. Thế và lực của ta mạnh hơn bao giờ hết. Các đoàn quân chiến thắng với năm mũi tiến công, đang túc trực trước cửa ngõ Sài Gòn, chờ lệnh. Thời cơ chín muồi cho cuộc xung trận cuối cùng đã xuất hiện. Chiến dịch mang tên Hồ Chí Minh tiến công vào dinh lũy cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, bắt đầu. Trưa ngày 30-4-1975, lá cờ Giải phóng của ta đã phấp phới bay trên nóc Dinh Độc lập. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam đã hoàn toàn được giải phóng. Năm 1976 hai miền Nam Bắc thống nhất, non sông về trong một mối sau 21 năm chia cắt.

Như Hồ Chí Minh, người khai sinh nền cộng hòa dân chủ, đã từng nói (đại ý): Nước độc lập mà dân không được ăn no, mặc ấm, không được học hành thì độc lập không có nghĩa lý gì. Và trong những ngày gồng mình đánh giặc, Hồ Chí Minh đã nói tới viễn cảnh: Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Sau hơn 13 năm thử nghiệm, tìm tòi, cuối cùng, năm 1986, Đảng ta đã tìm thấy con đường ấm no, hạnh phúc và giàu mạnh của dân tộc bằng công cuộc “Đổi mới”, bắt đầu từ đổi mới tư duy, trước hết trong lĩnh vực kinh tế, sau đó sang lĩnh vực chính trị và văn hóa rồi đến hội nhập quốc tế mà thực chất là mở cửa “làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”. Hào khí trong kháng chiến chống ngoại xâm bây giờ biến thành hào khí trong dựng xây đất nước giàu mạnh. Cả nước thành một đại công trường xây dựng. Đất nước thay da, đổi thịt mỗi ngày. Mức sống của nhân dân được cải thiện và nâng lên từng năm, từng năm. Ta đã vượt qua dưới hạn của nước nghèo và vững tin gia nhập vào các nước đang phát triển. Hào khí thời đại Hồ Chí Minh đang cộng hưởng nâng ta tiếp bước trong thời đại hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa.

Hào khí thời đại Hồ Chí Minh có một cội nguồn từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, từ tinh thần dân tộc Việt Nam. Hào khí đó sẽ tiếp tục nâng bước ta đi tới tương lai – xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải nước ta như vua Lê Thánh Tông từng răn đe quần thần thuở trước: “Kẻ nào dám lấy một thước đất, một tấc đất của Thái Tổ để lại, để làm mồi cho giặc sẽ bị tru di tam tộc”./.

Theo PGS.TS. Phạm Xanh
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn