Lưu trữ

Người chỉ huy pháo 100mm hạ gục “pháo đài bay”

QĐND - Tại lễ phát động thi đua cao điểm chào mừng kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên phủ trên không” của Lữ đoàn 297 (Quân khu 2), tôi gặp ông Nguyễn Công Tuấn, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 5 pháo phòng không 100mm, Trung đoàn 256, người đã phất cờ lệnh bắn máy bay B-52. Ông kể cho chúng tôi nghe về trận chiến đấu bắn rơi B-52 mà ông không thể nào quên.

Từ miền quê lúa Thái Bình, tròn 18 tuổi, ông vào quân ngũ với quyết tâm ra trận để góp sức mình giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Qua 14 năm tham gia chiến đấu bảo vệ bầu trời thành phố Nam Định, Hải Phòng, Bắc Giang và Hà Nội, Nguyễn Công Tuấn lần lượt đảm nhiệm các cương vị: Chiến sĩ, trung đội trưởng, đại đội trưởng. Tháng 9-1972, Trung đoàn 256, Quân khu Việt Bắc được lệnh cấp tốc nhận 18 khẩu pháo 100mm đã qua sử dụng nhiều năm về biên chế thành ba đại đội hỏa lực, sẵn sàng đối phó với máy bay B-52 Mỹ. Quân chủng Phòng không-Không quân tăng cường một số cán bộ cùng 200 chiến sĩ mới của huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn Nguyễn Công Tuấn được cấp trên chọn là một trong ba đại đội trưởng pháo 100mm sẵn sàng đánh B-52 bảo vệ bầu trời Thái Nguyên-Việt Bắc.

Ông Nguyễn Công Tuấn (ngoài cùng bên trái) kể chuyện bắn máy bay B-52 bằng pháo 100mm với chiến sĩ Lữ đoàn 297 (Quân khu 2).

Đại đội của Nguyễn Công Tuấn được giao nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới vừa được tăng cường để làm chủ vũ khí trang bị. Không quản ngày đêm, Đại đội trưởng Tuấn đem tất cả những kỹ năng, kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm, cùng các cán bộ huấn luyện chiến sĩ thành những pháo thủ giỏi. Cùng với Chính trị viên Nguyễn Văn Bình, Đại đội phó Trần Công…, Đại đội 5 hội tụ đủ yếu tố đánh được B-52 và được công nhận đã “xóa” mục tiêu B-52 trong hai đêm 24 và 26-12-1972.

Ông Tuấn nhớ lại: Tháng 11-1972, khi cấp trên thông báo B-52 sẽ đánh vào thành phố Thái Nguyên và khu gang thép. Mặc dù thế giới khi đó chưa ở đâu hạ được “pháo đài bay” B-52 bằng pháo 100mm, nhưng ông cùng đồng đội đã khám phá, tìm tòi, thấy được những điểm yếu của B-52, như hướng bay không thay đổi, tốc độ bay chậm; nếu biết cách sẽ cắt được ngòi ba điểm nổ khác nhau ở những quả pháo 100mm mà không quân Mỹ vẫn chủ quan coi thường. Căn cứ vào tài liệu mật báo và kinh nghiệm trong chiến đấu, ông Tuấn và đồng đội đã tìm ra cách đánh B-52 khiến địch phải bất ngờ, đó là cách đánh bằng phần tử tính sẵn, có sáng tạo. Ông cho biết: Pháo 100mm có tầm xa 21km và tầm cao 14km, trong khi đó B-52 thường bay ở độ cao từ 8 đến 12km. Khi B-52 còn cách trận địa 20km thì đại đội bắt đầu nã pháo theo cách bắn nhanh, bắn cấp tập, bắn dựng màn đạn, cắt ngòi ba điểm nổ khác nhau ở độ cao 8km, 10km và 12km. Ông Tuấn khẳng định: Với sáu khẩu pháo 100mm của đại đội đánh theo cách này thì chiếc B-52 nào vào tầm ngắm khó mà thoát được.

Đại đội trưởng Tuấn động viên anh em luyện tập và luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đúng như dự đoán, từ 20 giờ ngày 24-12-1972 đến khoảng 0 giờ 5 phút ngày 25-12-1972, Đại đội pháo do ông chỉ huy đã hạ gục một chiếc B-52 (theo tin báo về từ Quân khu 1). Cũng bằng những khẩu pháo 100mm này, rạng sáng 26-12-1972, đại đội do ông trực tiếp chỉ huy tiếp tục hạ thêm chiếc máy bay B-52 thứ hai. Ngay sau trận đánh này, trung đoàn và đại đội do ông chỉ huy được thưởng Huân chương Quân công hạng ba. Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng gửi tặng lẵng hoa. Riêng đại đội trưởng Nguyễn Công Tuấn được cấp trên phong quân hàm từ chuẩn úy lên thiếu úy ngay tại trận địa.

Bài và ảnh: XUÂN PHÚ
qdnd.vn

Sống lại ký ức hào hùng một huyền thoại

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không:

Những ký ức hào hùng về Điện Biên Phủ trên không năm 1972 đẹp như một huyền thoại, được dệt nên bằng ý chí kiên cường, sự dũng cảm mưu trí sáng tạo và một quyết tâm lớn lao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, đặc biệt là lực lượng không quân Việt Nam…

Buổi tọa đàm Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không do Cổng thông tin Chính phủ tổ chức ngày 10/12 đã có những vị khách mời đặc biệt. Đó là Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, nguyên Phó Chính ủy Quân chủng Phòng không – Không quân; Trung tướng Phạm Tuân – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên phi công đoàn Không quân Sao Đỏ; Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 57 – Sư đoàn Phòng không Hà Nội; Đại tá Nghiêm Đình Tích, nguyên Đài trưởng đài Radar P.35, Trung đoàn 291, Binh chủng Radar.

Những ký ức hào hùng về Điện Biên Phủ trên không năm 1972 đẹp như một huyền thoại, được dệt nên bằng ý chí kiên cường, sự dũng cảm mưu trí sáng tạo và một quyết tâm lớn lao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, đặc biệt là lực lượng không quân Việt Nam…

Ra trận chỉ với một tâm thế tất cả vì Tổ quốc

Những chiếc huân chương lấp lánh trên ngực Trung tướng Nguyễn Văn Mậu cứ rung lên. Vị tướng già oanh liệt thuở nào quá xúc động khi nhớ về những ngày tháng oanh liệt quần nhau với B52 của giặc Mỹ trên bầu trời Hà Nội với một tâm thế, không sợ chết, tất cả vì Tổ quốc, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

Vì sao Mỹ lại mở một chiến dịch ném bom lớn như vậy đối với miền Bắc nước ta và đặc biệt là tập trung đánh phá Thủ đô Hà Nội? Trung tướng Nguyễn Văn Mậu chia sẻ, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã hứng chịu nhiều thất bại, ba đời tổng thống Mỹ bị đổ, Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, Chiến tranh cục bộ và Chiến tranh đặc biệt đều đã bị phá sản.

Trước tình hình đó, Mỹ dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc, phá hoại các tỉnh, thành phố. Trước nguy cơ thất bại thảm hại, Mỹ chỉ còn con át chủ bài là B52, chúng dùng để đánh Hà Nội hòng ngăn chặn sự chi viện của ta cho miền Nam và uy hiếp nhân dân ta. Song nhân dân ta theo lời kêu gọi của Bác Hồ “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, đã kiên quyết đánh Mỹ cho đến thắng lợi hoàn toàn.

Trung tướng Nguyễn Văn Mậu còn cho hay, một điều làm cả thế giới kinh ngạc là với những chiếc máy bay nhỏ hơn và với những khẩu súng pháo nhỏ, không quân Việt Nam lại có thể bắn rơi được loại máy bay to lớn và hiện đại nhất lúc bấy giờ là B52, một loại máy bay ném bom chiến lược tầm xa, cự ly bay hàng chục ngàn km, mang tới 30 tấn bom, xen kẽ bom tấn, bom tạ, bom bi, một tốp 3 chiếc B52 có thể san bằng diện tích 2 km2. B52 được dùng để ném bom chiến lược các mục tiêu diện rộng sân bay, thành phố, trung tâm chính trị, bến cảng và khi bị đánh thì hầu như các mục tiêu bị phá hủy.

Tại buổi toạ đàm, các vị tướng, sỹ quan quân đội cùng ôn lại những ký ức oanh liệt trong trận Điện Biên Phủ trên không.

Trung tướng Phạm Tuân, người Anh hùng thân thuộc cũng hồi hộp khi nhớ lại những thời điểm ác liệt, các sân bay chiến đấu của ta bị phá hủy rất nặng nề, nhưng máy bay của ta vẫn có thể cất cánh trong mọi tình huống mà không bị địch phát hiện. Trung tướng Phạm Tuân chia sẻ: “Những thời điểm như vậy đã thể hiện trí tuệ sáng tạo của dân tộc, của không quân nhân dân Việt Nam. Lúc đó, chúng tôi không thấy lo sợ, lo lắng gì cả, có thể vì lý tưởng lớn lao của cả dân tộc đã làm sôi sục ý chí tấn công.

Chúng ta làm rất nhiều sân bay dự bị, hoặc cất cánh trên đường băng phụ. Thậm chí, có khi chúng tôi đeo thêm 2 quả tên lửa bổ trợ, khi đó máy bay có thể cất cánh trên đường băng chỉ 200 – 300m so với đường băng 1,5km thông thường.

Trong 12 ngày đêm, Mỹ sử dụng 193 B52 và hơn 1.000 máy bay chiến thuật, trung bình mỗi đêm đánh vào Hà Nội 50 – 70 lượt B52, cao điểm lên đến 100 lượt B52. Ngoài ra, mỗi đêm trung bình 300 lượt, cao điểm 450 máy bay chiến thuật đánh phá để yểm trợ. Như vậy, bầu trời Hà Nội, mỗi đêm có 200 – 300 máy bay, có thể thấy mức độ đánh phá dày đặc như thế nào.

Lúc đó, chúng tôi không sợ bị bắn rơi, nhưng địch gây nhiễu ác liệt quá. Ví dụ, địch đánh vào sân bay, mình chậm đi một chút, trên đường máy bay yểm trợ đuổi mình chậm thêm chút. Thế nên, phi công phải chủ động, chúng ta cất cánh ở sân bay địch không ngờ tới để không bị chặn ở đầu đường băng. Lúc đó, mệnh lệnh là không đánh F4, chúng ta vượt qua nó, dành tên lửa để đánh B52. Hiệp đồng với binh chủng tên lửa như thế nào, khi tên lửa bắn F4 chúng tôi tranh thủ để vượt qua. Rồi lựa chọn hướng vào tiếp cận B52 như thế nào. Tất cả tạo nên điều kiện thuận lợi nhất đánh B52. Tôi bắn B52 xong rồi mà F4 vẫn ở đằng sau nhưng không làm gì được”.

Đỉnh cao của sự sáng tạo, dũng cảm tuyệt vời

Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không đẹp như một huyền thoại, bởi lẽ ta chỉ được trang bị tên lửa SAM 2, loại vũ khí mà theo đánh giá của đối phương thì không có khả năng đánh được B.52, nhưng trong thực tế thì ngược lại. Có điều kỳ diệu nào ở đây? Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt kể lại, tên lửa SAM 2 đã được nâng công suất. Kỳ diệu ở chỗ là khả năng phát hiện, phân biệt nhiễu B52 của bộ đội tên lửa.

Nhiễu của B.52 rất mịn, ngoài ra còn có nhiễu của các máy bay chiến đấu họ F (F4, F111A…), nhiễu tiêu cực, nhiễu cố định. “Nhưng khó nhất là chọn được 1 chiếc B.52 trong tốp để tiêu diệt, nhưng không quân của ta quả là tài tình sáng tạo và mưu trí, luôn xác định chính xác vị trí B52. Đồng chí Chính uỷ Sư đoàn chỉ thị cho chúng tôi, phải tiết kiệm đạn, do đó chúng tôi chuyển chiến thuật đánh “mổ cò”, nhưng là “mổ cò” chính xác nên máy bay B52 rơi liên tục trong khi tên lửa, đạn tốn kém không quá nhiều”. Để đánh được B52 một trong những vấn đề quan trọng nhất là phải phát hiện ra chúng, nhiệm vụ đó thuộc về Bộ đội Ra đa.

Đại tá Nghiêm Đình Tích đã rất tự hào khi kể lại sự mưu trí của ta đã đánh bại kỹ thuật sử dụng tác chiến điện tử trong suốt 12 ngày đêm ném bom Hà Nội của Mỹ. Ông cho hay: “Trong chiến tranh hiện đại, tập kích đường không của địch và tác chiến phòng không thực chất là một cuộc chiến tranh điện tử, ngoài yếu tố chính trị tinh thần, thì ai thắng trong cuộc chiến điện tử này sẽ là người chiến thắng.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm, chúng ta bị không quân Mỹ gây nhiễu hơn nhiều so với chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, họ gây nhiễu từ các hạm tàm, từ các loại máy bay chiến thuật. Mỗi B52 có 15 máy gây nhiễu, 2 máy phóng nhiễu giấy bạc. Một tốp B52 có 45 máy, như vậy tất cả nhiễu đó tạo thành nhiễu chồng chéo, dày đặc, đan xen, công suất rất lớn, phạm vi rất rộng. Chúng ta gặp rất nhiều khó khăn vì địch âm mưu bịt mắt chúng ta. Toàn thể Binh chủng tập trung nghiên cứu, phát hiện, bảo đảm cho phòng không – không quân đánh B52. Riêng tôi có thuận lợi là được học về nguyên lý điều khiển ra đa do các chuyên gia Liên Xô đào tạo từ năm 1968, 1969. May mắn nhất, chúng tôi trước đó đã từng phát hiện B52 rồi, đặc biệt là trong chiến tranh phá hoại lần thứ 2.

Trong năm 67, địch mở chiến dịch vào Hà Nội đã gây nhiễu rất nặng, chúng tôi xây dựng được quy trình chống nhiễu và phát hiện B52 rất tốt. Chúng tôi lập được nhiều chiến công. Một là cùng với đại đội 41 dẫn đường bắn trúng B52 đêm 20/11/1971. Thứ hai, sau hội nghị của bộ đội tên lửa, quân chủng cử một đoàn cán bộ vào Vinh giúp đánh B52, đơn vị chúng tôi được lệnh về bảo đảm trực tiếp cho một trung đoàn đánh B52. Đêm 22/11, chúng tôi dẫn đường cho trung đoàn 263 bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên”…

Trung tướng Nguyễn Văn Mậu chiêm nghiệm ra một điều sâu sắc rằng, rất đặc biệt là Bác Hồ đã có những dự kiến rất sớm để đánh thắng B52. Năm 1965, Mỹ đem bom thả xuống Bến Cát, Tây Bắc Sài Gòn, Bác đã nói trước sau Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội.

Sau 19 ngày Mỹ đem thả bom ở đèo Mụ Giạ, Tây Bắc Quảng Bình, Bác lại nói ngày 19/7/1965: Dù Mỹ có B57, B52 hay B gì đi nữa, ta cũng đánh mà đánh là nhất định thắng. Mỹ trước sau cũng sẽ thua, nhưng chúng chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội. “Các chú muốn bắt cọp phải vào hang.” Tinh thần đó được quán triệt đến cán bộ chiến sỹ toàn quân chủng Phòng không – Không quân, trở thành ý chí sắt đá, sáng tạo trong chiến dịch 12 ngày đêm.

Thu Phương (ghi)
cand.com.vn

Tên lửa SAM-2, nỗi khiếp đảm của ‘thần tượng’ Hoa Kỳ

(VTC News) – 29 “siêu pháo đài bay” B-52 đã bị hạ gục trong chiến dịchĐiện Biên Phủ trên không tháng 12/1972 bằng hệ thống tên lửa SAM-2.

Hiện nay, tại Bảo tàng Phòng không – Không quân đang trưng bày bệ phóng tên lửa SAM-2 của tiểu đoàn 59, trung đoàn tên lửa 261.

Ông Nguyễn Văn Minh, Phó Giám đốc bảo tàng Phòng không – Không quân cho biết, bệ phóng tên lửa chính là hiện vật quý nhất ở bảo tàng về 12 ngày đêm lịch sử.

Hiện vật này đã giúp bộ đội tên lửa bắn rơi tan xác tại chỗ chiếc B-52 đầu tiên vào đêm 18/12/1972 trên bầu trời Hà Nội. Chiếc B-52 đầu tiên bị bắn hạ trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không đã rơi xuống cánh đồng Chuôm ở xã Phù Lỗ, Đông Anh (Hà Nội).

Tên lửa SAM-2, nỗi khiếp đảm của 'thần tượng' Hoa KỳBệ phóng tên lửa này do Liên Xô sản xuất.

Bộ đội tên lửa là lực lượng chủ yếu bắn rơi máy bay B-52 trong 12 ngày đêm lịch sử năm 1972. Họ đã bắn rơi 29/32 chiếc B-52 trong chiến dịch này. Loại bệ phóng tên lửa do Liên Xô sản xuất này thường được nhiều người biết tới với tên gọi SAM-2.

SAM-2 (tên lửa đất đối không kiểu 2) là tên gọi mà các quốc gia phương Tây đặt cho loại tên lửa S-75 Dvina  do Liên Xô (trước đây) chế tạo và viện trợ cho ta.

Đây là tổ hợp tên lửa đất đối không tầm cao, được điều khiển bằng hệ thống ra-đa ba tác dụng. Kể từ khi được triển khai lần đầu tiên vào năm 1957, nó đã trở thành một trong các loại tên lửa phòng không được triển khai và sử dụng nhiều nhất trong lịch sử.

Đạn tên lửa dùng trong hệ thống SAM-2 là V-750. Đạn V-750 có hai tầng: Động cơ đẩy sử dụng nhiên liệu rắn; động cơ hành trình sử dụng nhiên liệu tên lửa lỏng để duy trì quỹ đạo bay.

Tên lửa SAM-2, nỗi khiếp đảm của 'thần tượng' Hoa KỳCận cảnh bệ phóng tên lửa SAM-2. 

Tầm bắn của tên lửa SAM-2 có thể lên đến gần 40km và độ cao bắn lên đến 25km. Độ cao bắn này giúp tên lửa hoàn toàn có khả năng “hạ gục” máy bay B-52. Đầu đạn của SAM-2 là loại tạo mảnh, chứa gần 200kg thuốc nổ và có tốc độ bay đạt Mach 3.

Bán kính tiêu diệt mục tiêu của đạn tên lửa V-750 khoảng 65m (ở độ cao lớn, khí quyển loãng, bán kính tiêu diệt mục tiêu có thể lên đến 250m).

Các đầu nổ của đạn tên lửa đều được lắp hai hệ thống ngòi nổ: Hệ thống ngòi nổ sát thương và hệ thống ngòi nổ tự hủy. Khi cách mục tiêu khoảng 60m, hiệu ứng vô tuyến sẽ kích hoạt ngòi nổ sát thương gây nổ đạn.

Ngòi nổ tự hủy của đạn tên lửa hoạt động ở chế độ tự động và chỉ được kích hoạt ở độ cao hơn 23km khi ngòi nổ sát thương không hoạt động (trường hợp bắn trượt mục tiêu). Khi đầu đạn được kích nổ sẽ sinh ra nhiệt lượng rất lớn, sóng xung kích mạnh và tạo ra hàng chục nghìn mảnh đạn để tiêu diệt mục tiêu.

Được sự giúp đỡ tận tình của các chuyên gia Liên Xô, bộ đội tên lửa Việt Nam nhanh chóng làm chủ vũ khí, khí tài phòng không hiện đại. Tên lửa SAM-2 nhanh chóng được đưa vào chiến đấu đạt hiệu quả cao. Bộ đội tên lửa với vũ khí SAM-2 đã trở thành một trong những lực lượng nòng cốt bảo vệ bầu trời Tổ quốc.

Cải tiến đáng kể nhất của hệ thống S-75 Dvina tại Việt Nam là việc chống nhiễu điện tử, đảm bảo cho bộ khí tài điều khiển tên lửa hoạt động bình thường.

Tên lửa SAM-2, nỗi khiếp đảm của 'thần tượng' Hoa KỳMột chiếc F-4 của Không quân Hoa Kỳ bị trúng tên lửa SAM-2 khi đang không kích miền Bắc Việt Nam.

Ngoài ra, trong suốt hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Hoa Kỳ tại miền Bắc Việt Nam từ 1965 đến 1968 và năm 1972, hệ thống radar của S-75 Dvina đã được cải tiến 4 lần với 40 nội dung kỹ thuật để theo kịp cuộc chiến tranh điện tử của không lực Hoa Kỳ, bảo đảm an toàn trong sử dụng và nâng cao độ chính xác khi chiến đấu.

Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc 1965-1968 và 1972, các đơn vị tên lửa SAM-2 của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đánh 3.542 trận, trong đó có 588 trận đánh ban đêm; tiêu thụ 5.885 quả đạn; bắn rơi 788 máy bay của không lực Hoa Kỳ, 366 chiếc rơi tại chỗ; trong đó có 43 máy bay B-52; bình quân 7,1 quả đạn diệt được một máy bay.

Tên lửa SAM-2, nỗi khiếp đảm của 'thần tượng' Hoa KỳTên lửa SAM-2. (Ảnh: Tuổi trẻ)

Trong chiến dịch phòng thủ đuờng không 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972, 14 tiểu đoàn tên lửa SAM-2 bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng đã bắn rơi 27 máy bay B-52. Tuy nhiên, Hoa Kỳ chỉ thừa nhận mất 25 chiếc B-52 trong toàn bộ cuộc chiến, trong đó có 15 chiếc bị SAM-2 bắn rơi trong Chiến dịch Linebacker II.

Cho đến nay, Việt Nam là quốc gia duy nhất trên thế giới đã sử dụng tên lửa SAM-2 để đánh thắng máy bay ném bom chiến lược B-52, hạ bệ “thần tượng” của không lực Hoa Kỳ.

SAM-2 vẫn còn được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới, với một số mức độ khả năng hoạt động ở 35 quốc gia.

Minh Quân
vtc.vn

Pháo đài B.52 bị hạ: Lời tự thú của các phi công Mỹ

Họ bảo chúng tôi là ném bom mục tiêu quân sự. Đánh liền bốn lần vào một bệnh viện lớn, với hàng chục tấn bom thì không thể gọi là nhầm lẫn được, một thiếu tá người Mỹ viết.

» ‘Thắng B-52 trên bầu trời Hà Nội’
» Tận mắt chiêm ngưỡng hiện vật Điện Biên Phủ trên không
» Ảnh: Xác máy bay B-52 rơi vương vãi trên đường Hà Nội
» Những cỗ máy khổng lồ rải bom giữa trời Hà Nội
» Khám phá 4 loại máy bay B-52 từng tham chiến ở Việt Nam
» Cuộc hội ngộ đẫm nước mắt của 4 nhân chứng lịch sử
» Những điều chưa biết về ‘pháo đài bay’ B-52
» Ảnh: Sản xuất đạn tên lửa bắn rơi máy bay B52
» Chuyện những người lính anh dũng hy sinh sau bắn hạ B52
» Đêm trắng điều khiển ‘rồng lửa’ tiêu diệt pháo đài bay

“Chúng tôi thiết tha mong rằng những người lãnh đạo của nước Mỹ chấm dứt ngay những cuộc ném bom này. Họ cần làm mọi việc để cuộc chiến tranh chấm dứt ngay, để chúng tôi sớm được trở về với gia đình”, thiếu tá không quân Carl H. Jeffcoat gửi lời cầu xin từ Hỏa Lò (Hà Nội).

“Bám đuôi nhau mà về”?

Đại úy hoa tiêu B.52 Robert G. Certain khai rành rọt sau khi bị bắt sống: “Chúng tôi xuất phát từ đảo Guam. Khi chúng tôi đang giải trí ở câu lạc bộ sỹ quan, một số đã chuẩn bị đi ngủ thì lệnh trên gọi đi ngay. Lệnh cấp tốc. Hoạt động nhiều tốp. Cùng một lúc.

Chưa bao giờ huy động lớn đến thế. Ai cũng bất ngờ.

Bất ngờ hơn nữa là nghe phổ biến nhiệm vụ: đánh vào vùng Hà Nội.

Chúng tôi lo ngại nhìn nhau. Có đứa bảo: Thế là hết Noel.

Mấy viên đại tá cơ quan tham mưu bảo chúng tôi: “Không có gì phải lo cả. Đi ném bom đêm. Bay cao. Cứ bám đuổi nhau cho chặt. Chiếc nọ thẳng hàng chiếc kia. Rồi bám đuôi nhau trở về. Sẽ trở về đủ. Không có gì đáng lo cả!”.

Pháo đài B.52 bị hạ: Lời tự thú của các phi công MỹẢnh tư liệu của Mỹ

Robert còn được các chỉ huy đảm bảo “đi đánh đêm, MIG và trận địa tên lửa không nhìn thấy được”, rồi thay vì được ngủ một giấc tại Guam, là đi thẳng vào “Hilton” Hỏa Lò ngủ dài ngày lẫn đêm.

Còn trung tá lái chính B.52 Henry Ian thì không thể quên những ngày trước khi vào Hỏa Lò “nghỉ ngơi”: “Mọi người lên xe Jeep đi tới một dãy nhà một tầng màu xám. Ở đó người ta họp phổ biến nhiệm vụ cho các phi công trước khi đi ném bom. Không khí lặng lẽ và chìm đắm. Những ai chưa đến lượt đi thì nằm tại buồng riêng thở dài, nghĩ đến gia đình. Những người sắp lên máy bay thì lặng lẽ nhìn nhau, không nói chuyện nhiều như trước.

Trong cuộc họp, người ta còn nói tới cả những hoạt động đi cứu của phi vụ hôm trước, nhưng không nói rõ thiệt hại ra sao. Việc giấu diếm úp mở này càng làm khủng hoảng thêm về tâm lý đối với những người sắp ra đi như tôi lúc bấy giờ. Tất cả là màu xám. Một phòng họp màu xám dưới một bầu trời màu xám.

Pháo đài B.52 bị hạ: Lời tự thú của các phi công Mỹ Chúng tôi thiết tha mong rằng những người lãnh đạo của nước Mỹ chấm dứt ngay những cuộc ném bom này. Họ cần làm mọi việc để cuộc chiến tranh chấm dứt ngay, để chúng tôi sớm được trở về với gia đình

Thiếu tá không quân Carl H. Jeffcoat gửi lời cầu xin từ Hỏa Lò (Hà Nội) Pháo đài B.52 bị hạ: Lời tự thú của các phi công Mỹ

… Hôm ấy là ngày 22/12, máy bay tôi đi đầu tốp thứ 3 trong số 4 tốp của hướng chúng tôi, xuất phát từ Utapao (Thái Lan) lúc 1h30′ sáng. Máy bay của tôi chở bom 700 và 500 cân Anh. Lúc bấy giờ chúng tôi đang ở độ cao 10km, tốc độ khoảng 900km/h. Khoảng 4 phút trước khi tới mục tiêu (Hà Nội) thì chúng tôi được báo động có hiện tượng nghi ngờ là máy bay MIG đang săn đuổi. Ngoài ra, với mắt thường, chúng tôi có thể thấy nhiều tên lửa SAM bay vút lên phía chúng tôi.

Máy bay của tôi bị liên tiếp 2 tên lửa SAM. Sau khi bị hỏng vì quả SAM thứ nhất, chúng tôi không liên lạc gì được với nhau. Tôi đang cố gắng giữ cho máy bay thăng bằng thì bị tiếp quả SAM thứ 2, máy bay bị hỏng nặng. Cửa kính chắn gió ở buồng lái vỡ tung, hệ thống điện trong máy bay hoàn toàn mất hiệu lực, 2 động cơ máy bay bị cháy, cánh trái cháy, điện đài liên lạc để cứu cũng không liên lạc được.

Tôi là phi công lái chính, và là người chỉ huy phi hành đoàn. Tôi rất muốn liên lạc với mọi người trong nhóm, nhưng cả người lái phụ tôi cũng chẳng biết số phận anh ta ra sao. Ghế dù bật tôi ra khỏi máy bay, chiếc máy bay khổng lồ 8 động cơ mà tôi lái đang cháy sáng rực như một quả cầu lửa lớn. Xung quanh tôi tên lửa, đạn pháo nổ, réo vun vút. Thật là kinh khủng. Khi dù sắp hạ tôi xuống đất thì đã có rất nhiều người chờ sẵn để bắt tôi”.

Trong một kíp bay khác, trung úy, hoa tiêu William Thomas Mayall thì than phiền với những người bắt mình: “Theo quy định của giáo trình dạy người lái B.52, nếu gặp bất trắc phải xử lý nhảy dù thì người lái chính phải ra lệnh cho toàn kíp. Sau đó thứ tự nhảy dù quy định như sau:

Thứ nhất, người giữ súng được nhảy đầu tiên. Thứ 2 và thứ 3 là hai hoa tiêu, vì không cần đến họ nữa. Thứ 4 là sỹ quan điện tử. Thứ 5 là phụ lái và cuối cùng là lái chính, vì 2 người này phải giữ cho máy bay thăng bằng, phải cầm lái đến giây cuối cùng, đảm bảo an toàn cho kíp bay lần lượt nhảy dù hết. Tài liệu nhắc rõ là người lái chính phải nhảy dù cuối cùng, khi trong máy bay không còn ai.

Thế nhưng trong máy bay của tôi, hai thằng lái lại nhảy trước tiên. Chúng nó cầm lái, chúng nó nhận ra nguy hiểm đầu tiên. Và chẳng ra lệnh gì cả. Tự chúng nó, hấp! Thoát thân! Mặc chúng tôi. Cũng may, tuy bịt kín tai bằng máy nghe, nhưng tôi thấy máy bay rung mạnh, ngước nhìn lên thì chẳng thấy thằng nào còn ngồi ở ghế cả.

Tôi liền vội bấm nút nhảy dù. Tôi ngồi tầng dưới, hệ thống nhảy dù của tôi không phải bật lên mà là tụt xuống dưới. Từ bụng máy bay bật thẳng xuống, rơi tõm theo hướng thẳng đứng, khá mạnh. Chậm một tý nữa, máy bay lật ngửa bụng là tôi chết cháy”.

Bị bắt mới biết còn sống

Còn trung úy bắn súng máy B.52 Robert M. Hudson (trên máy bay Ebony 02) thì thở phào thuật lại tại Hỏa Lò: “Sân bay bao trùm một không khí nặng nề. Phải nói là buồn, rất buồn. Những ngày Noel xấu nhất. Tôi không thấy một ai chạm cốc với bạn bè. Chúc nhau “một Noel vui vẻ” chỉ là những câu chúc gượng gạo và mỉa mai. Tôi cảm thấy có một không khí chán nản, thậm chí bực bội đối với lệnh đi ném bom. Chưa bao giờ, vâng, chưa bao giờ sân bay B.52 lại có cái không khí khổ sở đến thế!

Bọn hạ sỹ quan B.52 chúng tôi có một mối thắc mắc cố hữu: Sao không cho tên kỹ sư nào đặt ra cái khẩu súng máy này trên máy bay B.52 đi một chuyến cho nó biết?

Không có việc gì làm. Không phải lo nghĩ gì về đường bay, tốc độ, độ cao, máy điện tử… như năm thằng kia. Tôi chỉ có mỗi một việc là ngồi yên để mà sợ. Nhiệm vụ của tôi là sợ, nhiệm vụ tiếp theo cũng là sợ, nhiệm vụ cuối cùng cũng vẫn là sợ.

Tôi lại ngồi ở cuối máy bay. Họ dành cho tôi chỗ rất rộng, nơi tên lửa đuổi theo nổ thì chết trước ai hết! Vâng, vào đây tôi mới yên trí là tôi còn sống. Chứ cứ đi mãi, cứ ngồi ở đuôi B.52 mãi, thì khó tránh khỏi cái chết, không còn đường về với gia đình…”.

Việc B.52 bị bắn rơi ngày càng nhiều và nhân viên phi hành bắt sống liên tục đã gieo sự sợ hãi lên cả chỉ huy của chính họ. David L. Drummond, đại úy phụ trách lái B.52 khai: “Suốt 4 hôm (từ 18-21/12), không khí sân bay rất căng thẳng. Câu lạc bộ vắng hẳn. Ít chuyện trò, chẳng ai nói đùa, khôi hài như trước.

Pháo đài B.52 bị hạ: Lời tự thú của các phi công Mỹ Chúng tôi được đến tận nơi xem một dãy phố dài, một bệnh viện lớn. Chúng tôi rất ngạc nhiên và rất hổ thẹn. Chúng tôi bị cấp trên lừa.

William W. Conlee (trung tá điều khiển máy điện tử B.52) thừa nhận Pháo đài B.52 bị hạ: Lời tự thú của các phi công Mỹ

Các cuộc thông báo (briefing) càng căng thẳng hơn. Đại tá David (Chỉ huy Biên đội 307-NV) đứng dậy hỏi chúng tôi: “Các anh xem có cách nào tránh khỏi máy bay bị trúng đạn và khỏi rơi không?”. Chúng tôi ai cũng biết con số 11 máy bay B.52 đã bị rơi theo Đài phát thanh Hoa Kỳ. Có lẽ con số ấy còn thấp. Không một ai trả lời câu hỏi của David. Nhiều người quay lại bọn E.W.O (sỹ quan điện tử), bọn này cũng im lặng. Đến ngày 25 thì không khí còn căng thẳng hơn nữa”.

Trong khi đó, tại Hà Nội, William W. Conlee (trung tá điều khiển máy điện tử B.52) thừa nhận: “Chúng tôi được đến tận nơi xem một dãy phố dài, một bệnh viện lớn. Chúng tôi rất ngạc nhiên và rất hổ thẹn. Chúng tôi bị cấp trên lừa. Vâng. Đúng là sự lừa dối. Họ bảo là mục tiêu quân sự, nhưng thật ra là vùng đông dân. Bom ném theo bản đồ được đánh dấu kỹ, không thể lầm lẫn!”.

Sự ám ảnh của Conlee trong những ngày bị bắt tại Hà Nội rất khó có thể phai nhòa: “Tôi cứ nhớ mãi quanh cảnh những hố bom giữa Hà Nội. Cái bảng lớn đề những dòng chữ màu đỏ và đen: Đời đời ghi xương khắc cốt tội ác của giặc Mỹ (Conlee không nhớ nguyên văn – NV) cứ ám ảnh tôi. Tôi biết rằng người Việt Nam lúc bắt tôi dù có đánh và xé xác tôi ra, chúng tôi cũng phải chịu.

Thế nhưng các ông không đối xử như thế. Vào đến đây, mọi suy nghĩ của chúng tôi bị đảo lộn. Đảo ngược hẳn. Cứ muốn giữ những hiểu biết và quan niệm cũ, nhưng thực tế lại khác. Đất nước chúng tôi trải qua một thời kỳ xấu, rất xấu”.

Còn Louis H. Bernasconi (trung tá hoa tiêu B.52) đã hình dung ra sự thật của lệnh ném bom hủy diệt Hà Nội từ tổng thống Mỹ: “Ở trường huấn luyện đội ngũ người lái chiến đấu của Bộ Chỉ huy không quân chiến lược tại căn cứ tại Califonia, người ta dạy chúng tôi rằng B.52 là để ném bom những mục tiêu cực lớn, những khu liên hợp quân sự rộng hàng chục dặm vuông. Mục tiêu loại này ở Việt Nam không hề có. Tôi hiểu rằng dùng B.52 ném bom những vùng đông dân chính là để sát thương thật nhiều nhằm mục đích gây sức ép”.

Carl H. Jeffcoat (thiếu tá phi công B.52) thì khẳng định sau khi được đưa tới chứng kiến sức tàn phá của bom Mỹ tại bệnh viện Bạch Mai: “Thế là rõ. Chúng tôi bị lừa. Chỉ có thể là như thế. Họ bảo chúng tôi là ném bom mục tiêu quân sự. Đánh liền bốn lần vào một bệnh viện lớn, với hàng chục tấn bom thì không thể gọi là nhầm lẫn được.

Tôi thất vọng. Tôi buồn. Vì lòng tin của tôi vào Tổng thống của chúng tôi sụp đổ. Bây giờ thì những điều các ông nói đều đúng. Cuộc chiến tranh này rất xấu.

Tôi xin nói thật, nếu biết rằng bom rơi xuống những vùng đông dân ở như thế, thì tôi, và nhiều người chúng tôi sẽ không đi!”.

Trong khi đó, tại Washington, các nghị sỹ đảng Dân chủ ra tối hậu thư: “Không có yêu cầu dân tộc nào hơn yêu cầu chấm dứt ngay lập tức sự dính líu của chúng ta (Mỹ) trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam”.

Ngày 30/12/1972, Nixon rốt cuộc đã phải xuống thang, tuyên bố chấm dứt ném bom hoàn toàn miền Bắc, ngồi vào bàn đàm phán ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, có hiệu lực từ 7h ngày 28/1/1973. Kisingger đã phải thừa nhận với các đại biểu Việt Nam tại Paris rằng: “Các ngài không những anh hùng lại  thông minh”.

12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” đã là đòn giáng mạnh vào “Tư tưởng sùng bái công nghệ và máy móc, coi học thuyết ném bom chiến lược như một giải pháp cho mọi cuộc xung đột và bom là thứ thuốc bách bệnh của Mỹ” (E.Tinpho, “Không quân Mỹ làm được gì ở Việt Nam?”).

Theo Vietnamnet
vtc.vn

Đêm trắng điều khiển ‘rồng lửa’ tiêu diệt pháo đài bay

(VTC News) – Đến cự ly 26km, chúng tôi phóng 2 tên lửa, bám sát tự động, đạn gặp mục tiêu ở cự ly 22, hai quả đều nổ tung.

Đọc bài trước:
» Người xạ thủ và tiểu đội tên lửa liên tục bắn rơi B-52

Kỳ 2: Bắn hạ tại chỗ “pháo đài bay”

Cũng cần nhắc lại một chút về tương quan lực lượng của ta và địch trong thời khắc cả thế giới nín thở theo dõi.

Phía địch có 193 máy bay oanh tạc chiến lược, bố trí trên các sân bay ở Guam, Nhật Bản, Thái Lan với 250 tổ lái; 50 máy bay tiếp dầu KC135 tại Philippines; 5 tàu sân bay hoạt động trên Vịnh Bắc Bộ; số máy bay chiến thuật trên các sân bay Nam Việt Nam và Thái Lan đủ để huy động đến 1000 lần trong một ngày đêm.

Trước khi lên B-52 tiến hành dã tâm đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá, giặc lái Mỹ được các “quan thầy” động viên bằng sự tự tin tuyệt đối đến ngông cuồng, ngạo mạn:

Đêm trắng điều khiển 'rồng lửa' tiêu diệt pháo đài bayĐại tá Đinh Thế Văn với cuộc sống thường nhật

“Các anh chỉ việc lên B-52, ngủ một giấc, đến Hà Nội cắt bom xong thì trở về sân bay ăn mừng chiến thắng, chuẩn bị chào đón Lễ Giáng sinh. Đánh Hà Nội dễ như đi du ngoạn”.

Trong khi đó, lực lượng tên lửa phòng không của chúng ta đang bị căng ra các chiến trường. Đến thời điểm trước ngày 18/12/1972, tại Hà Nội chỉ có vẻn vẹn hai trung đoàn tên lửa là Trung đoàn 257 và Trung đoàn 261.

Mang trọng trách cực kỳ nặng nề, hành trang của các chiến sĩ phòng không tên lửa là lòng quyết tâm bảo vệ Trung ương, nơi đó có Bác Hồ đang yên nghỉ.

Ghi theo hồi ức của nhân chứng lịch sử Đinh Thế Văn:

Ngày 18/12: Đúng 16h30, nhận được thông báo của Tham mưu trưởng sư đoàn 361 Nguyễn Đình Sơn cho trung đoàn và các tiểu đoàn: “Sẽ có một đợt hoạt động của B-52 ra miền Bắc”.

Nhận được thông báo, tiểu đoàn khẩn trương báo cáo lên trung đoàn: “Tiểu đoàn 77 đã chuẩn bị đầy đủ theo lệnh của trung đoàn. Khí tài, bệ, đạn dược hoàn toàn tốt”.

Tuy nhiên, bản thân tôi (Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn) vẫn có cảm giác bồn chồn, lo lắng mà tôi thể không trao đổi với ai. Không ai lo lắng vì sự ác liệt, chỉ lo rằng mình có hoàn thành nhiệm vụ được không?

Chúng tôi đang trong tâm trạng chờ đợi, vì trên màn hiện sóng vi-cô chưa có gì. Chỉ nghe tiếng máy chạy âm âm và tiếng quạt gió để bớt nỗi ngột ngạt. Tôi đang như một thí sinh đã vào phòng thi ngồi chờ nhận đề thi.

Đúng 18h50, lệnh từ Sở Chỉ huy trung đoàn: “Các tiểu đoàn vào cấp một”. Tiểu đoàn 77 sau mấy phút mở máy và kiểm tra chức năng, báo cáo: “Cấp một xong. Khí tài hoàn toàn tốt, chuẩn bị 6 tên lửa”.

Đêm trắng điều khiển 'rồng lửa' tiêu diệt pháo đài bayTên lửa SAM 2 trên bầu trời Hà Nội tháng 12/1972. Ảnh tư liệu

Tiểu đoàn mở máy thu nhiễu, các màn hiện sóng nhiễu trắng xóa. Thông tin với trung đoàn nghe rất nhỏ, có lúc không nghe thấy gì. Chỉ có mạng FA của sư đoàn còn nghe được.

Sư đoàn thông báo: “Nhiều tốp B-52 đang bay vào Hà Nội. Các đơn vị chú ý: Tên lửa tập trung đánh B-52, cao xạ đánh máy bay F, chú ý nhiễu B-52 giả”.

Khi B-52 chưa vào, máy bay chiến thuật quần đảo, kể cả F111. Chúng đánh lung tung, bom nổ khắp nơi, bom F111 rải nổ cứ như của B-52 làm cho ta phân tán sự tập trung nghiên cứu B-52.

Chúng tôi vẫn nghiên cứu giải nhiễu và cố gắng phát hiện bằng được giải nhiễu mịn của B-52. Bên tai, lời nhắc nhở “cẩn thận giải nhiễu B-52 giả” vẫn như văng vẳng. Liên tục phát sóng nhưng không thấy mục tiêu, trong đầu tôi cũng nảy sinh mối nghi ngờ: “Có B-52 hay không?”.

Đúng 19h42, Trung đoàn thông báo: “Có 3 tốp B-52: 566, 567, 569 bay vào Hà Nội. Tiểu đoàn 77, 78 tập trung đánh các tốp ấy”. Cả Tiểu đoàn 77 căng thẳng nghiên cứu nhiễu, xác định mục tiêu, nhưng không bắn được, vì cự ly cách xa 60- 70km và tham số lớn.

Trung đoàn lại thông báo: “Lúc 20h00, tiểu đoàn 78 đã đánh tốp 566, 567, 569 nhưng không rơi, tuy nhiên gần cuối phát hiện được tín hiệu B-52”.

Thật là một tin vui, giúp chúng tôi bớt được sự nghi ngờ về nhiễu B-52 giả. Chắc chắn chúng tôi sẽ được đánh địch. Đúng là trong chiến đấu, trong giây phút cam go, tập trung cao độ, chỉ một chút thông tin có ích cũng rất quý. Mặt nước đang phẳng lặng, chỉ cần chiếc lá rơi đã rung động.

Chúng tôi vẫn tập trung nghiên cứu nhiễu B-52, bộ mặt của nhiễu B-52 bây giờ đã quen rồi. Tuy nhiên chưa tìm được giải nhiễu có tham số tốt.

Bỗng trắc thủ TZK báo cáo: “Có máy bay cháy to lắm, tên lửa phía trước bắn rơi rồi”. Chúng tôi đoán đấy là tên lửa của Tiểu đoàn 59 (Trung đoàn 261, nằm phía trước chúng tôi) bắn hạ.

Đến 23h13 trên mới thông báo, Tiểu đoàn 59 đã hạ được một B-52 tại chỗ. Việc Tiểu đoàn 59 bắn rơi B-52 là một biểu hiện cho thấy thời cơ sắp đến với chúng tôi. Tôi nghĩ như vậy nhưng không dám nói cho anh em.

Thật vậy, đến 23h09 tiểu đoàn nghiên cứu giải nhiễu B-52 có tham số nhỏ. Trung đoàn cho phép bắn. Chúng tôi theo dõi cự ly đến 35km, phát sóng thấy mục tiêu hiện càng ngày càng rõ.

Khi B-52 đến cự ly 33km, chúng tôi phóng hai tên lửa đón đầu ở cự ly 32km theo phương pháp đón nửa góc. Đạn điều khiển tốt, cả 3 màn đều cho bám sát tự động, gặp mục tiêu ở cự ly 23km, cả 2 tên lửa đều nổ tung.

Bên ngoài trắc thủ TZK báo cáo như reo: “Mục tiêu cháy rồi. Cháy to lắm”. Trên màn hiện sóng, trắc thủ góc tà báo cáo: “Mục tiêu hạ thấp độ cao, nhiễu giảm nhiều và tản ra”.

Tôi vui mừng quá, không nói được gì. Cả trận địa cùng reo hò sung sướng. Cấp trên thông báo: “B-52 rơi ở xã Tam Hưng, Thanh Oai, Hà Tây”. Đây là chiếc B-52 thứ hai bị vít cổ xuống đất tại bầu trời Hà Nội.

Khoảng 24h, tình hình bên ngoài bớt căng thẳng hơn. Sở Chỉ huy trung đoàn cho tiểu đoàn tạm nghỉ, chỉ để đài một trực. Tiểu đoàn tập trung rút kinh nghiệm. Tôi nêu ý kiến: “Làm sao để nghiên cứu giải nhiễu chỉ hai lần là tối đa thì chúng ta đã có thể đánh được một trận.

Vì vậy, thời gian xem xét giải nhiễu để có quyết định cần tập trung nghiên cứu không quá 3-5 giây. Có như vậy chúng ta mới tăng được số trận đánh lên, mới tiêu diệt được nhiều máy bay địch”.

Đêm trắng điều khiển 'rồng lửa' tiêu diệt pháo đài bayTrận địa tên lửa của Tiểu đoàn 77. Ảnh tư liệu

Anh em có nhiều ý kiến, nhưng tập trung lại là cần phải phát huy hết trí lực, nhanh chóng nhận biết B-52 để tác chiến, không phải cứ giải nhiễu nào cũng nghiên cứu thì thời cơ sẽ bị lỡ mất.

Ngày 19/12/1972: Đúng 4h00, Trung đoàn lại báo động, có đợt đánh mới. Lần này, theo phân tích của anh em trong tiểu đoàn, có lẽ địch sẽ thay đổi hướng đánh, vì khi đánh hướng Tây Bắc xuống ta đã hạ tại chỗ được hai máy bay rồi. Không dám chủ quan nữa, chúng có thể đánh thăm dò ở hướng khác với lực lượng nhỏ.

Đến 4h36, lệnh từ Trung đoàn: “Tiểu đoàn 77 đánh tốp B52, ở phương vị 197”. Thế là dự đoán đúng rồi. Chúng tôi nghiên cứu nhiễu, phát hiện đúng B-52 thật. Đợi nó đến cự ly 32km, chúng tôi phát sóng và bắt được mục tiêu.

Đến cự ly 26km, chúng tôi phóng 2 tên lửa, bám sát tự động, đạn gặp mục tiêu ở cự ly 22, hai quả đều nổ tung. Trắc thủ TZK báo cáo: “Mục tiêu bốc cháy”. Trắc thủ góc tà báo cáo: “Mục tiêu hạ thấp độ cao”. Trắc thủ phương vị báo cáo: “Giải nhiễu mờ dần”.

Đúng là biểu hiện máy bay rơi, nhưng lần này nó không rơi trên đất.

Sau này chúng tôi mới biết rằng: Có một B-52 bị tên lửa bắn hỏng 4 động cơ, kíp bay một số bị chết, tên lửa nổ phá cả khoang chứa bom, khiến thân máy bay bị phá một khoảng trống có thể nhìn rất rõ bên ngoài.

Nhưng máy bay vẫn lết về đến Utapo (Thái Lan) với 4 động cơ một bên. Máy bay phải bay nghiêng nên khi hạ cánh đã gãy một bên cánh. Các xe cấp cứu kịp chạy ra cứu số kíp lái còn lại.

Tên chỉ huy của chiếc B-52 chết hụt ấy được khen và được gắn huân chương bởi lòng dũng cảm.

Trong đêm 18 rạng ngày 19/12, Tiểu đoàn 77 đánh tổng cộng 4 trận, phóng 8 quả tên lửa, bắn rơi một máy bay tại chỗ. Cả tiểu đoàn trải qua một đêm với tâm trạng hân hoan khó tả vì chiến công đầu.

Nhưng tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn vẫn băn khoăn lo nghĩ, bởi đơn vị phóng đến 8 quả tên lửa mà mới hạ tại chỗ được một máy bay địch. Như vậy là hiệu quả chưa cao.

“Đến bữa cơm, anh nuôi mang ra, tuy miệng nhai mà cứ như muốn ngừng lại. Chỉ mong nghĩ được sáng kiến gì thật kỳ diệu để bảo đảm đánh chắc chắn ở đêm mai”- người lính già đầu bạc hồi tưởng.

Còn tiếp…

Lê Quân
anninhthudo.vn

Người xạ thủ và tiểu đội tên lửa liên tục bắn rơi B-52

(VTC News) – Đại tá Đinh Thế Văn, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa phòng không, tiết lộ chuyện đơn vị đã bắn rơi 4 chiếc B-52.

Anh hùng Phạm Tuân bắn hạ B-52:
» Anh hùng Phạm Tuân bắn hạ B-52 như thế nào?
» Anh hùng Phạm Tuân và giây phút hạ ‘pháo đài bay’ B52

Kỳ 1: Đi tìm lời giải cho bài toán tiêu diệt B-52

Ở tuổi 75, người lính ấy vẫn mạnh khỏe, minh mẫn, thường tự mình phóng xe máy rời ngôi làng nhỏ bên dòng sông Cà Lồ, Thụy Lâm, Đông Anh) đi chơi nội thành Hà Nội hoặc các vùng lân cận.

Phải hai lần tìm gặp, tôi mới có cơ hội tiếp xúc với Đại tá Đinh Thế Văn, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa phòng không 77 (Trung đoàn 257, Sư đoàn Phòng không 361), đơn vị đã bắn rơi 4 chiếc B-52 trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” chấn động địa cầu vào cuối năm 1972.

Bữa nay, ông Đinh Thế Văn ở nhà, cùng vợ lúi húi trong khu vườn rộng rãi mướt mát màu xanh của cây cảnh, cây ăn quả. Thấy khách đến hỏi chuyện cuộc đời quân ngũ, chuyện bắn máy bay B-52 ngày trước, người lính già đầu bạc có gương mặt đen sạm, dáng người gầy mỏng bỗng như hoạt bát hẳn lên.

Người xạ thủ và tiểu đội tên lửa liên tục bắn rơi B-52Đinh Thế Văn – ngoài cùng bên phải, cùng các anh ruột, anh họ trong đoàn dân công tham gia chiến dịch Điện Biên năm 1954. Ảnh tư liệu do Đại tá Đinh Thế Văn cung cấp.

Là con út trong một gia đình có 3 anh em trai, đầu năm 1954, khi đang học lớp 5, tròn 16 tuổi, Đinh Thế Văn hăm hở theo các anh tham gia đợt tuyển bộ đội. Nhưng ông không trúng tuyển vì chỉ nặng có… 38kg, đành vào đoàn dân công C268 với nhiệm vụ phá đá, đốt mìn, làm đường.

Ở đoàn dân công được một tháng thì đơn vị được chuyển sang biên chế quân đội. Và vẫn vì lý do cân nặng, duy nhất ông Văn không được chuyển. Năn nỉ mãi không được, ông cứ lẽo đẽo theo đơn vị hành quân. Nhận thấy ở ông sự nhiệt tình, hăng hái, chân thành, ban chỉ huy lại “chiếu cố” chấp nhận cho nhập ngũ vào ngày 3/3/1954.

Ông được huấn luyện xạ kích ở bộ binh, rồi bổ sung vào đơn vị pháo phòng không 12ly7 bảo vệ bộ binh chiến đấu, với nhiệm vụ… vác đạn. Những đêm ngày tham gia trực tiếp ở Chiến dịch Điện Biên Phủ là bước đầu trong cuộc đời quân ngũ của người chiến sỹ Đinh Thế Văn.

Hòa bình lập lại ở miền Bắc, mấy năm sau, ông được chuyển ngành sang Nhà máy Supe Phốt phát Lâm Thao. Miệt mài lao động và học tập, đến năm 1965, ông đã học xong chương trình phổ thông, trung cấp hóa chất và thi đỗ vào Đại học Bách khoa.

Người xạ thủ và tiểu đội tên lửa liên tục bắn rơi B-52Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn cùng các đồng đội bàn phương án tác chiến trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu.

Lúc này, Đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, ông lại xếp bút nghiên, trở lại quân ngũ. Được biên chế vào Tiểu đoàn tên lửa phòng không 77 (trung đoàn 257), ông Đinh Thế Văn lần lượt trải qua nhiều cương vị công tác và chiến đấu, đến năm 1971 đã là thượng úy, tiểu đoàn trưởng.

Ông và đồng đội đã trải qua nhiều trận đánh ác liệt, lập nhiều chiến công, bắn rơi nhiều máy bay địch… Nhưng ông cũng trải nghiệm nhiều bài học xương máu, chứng kiến nhiều sự hy sinh anh dũng của đồng đội.

Tháng 3/1972, quân đội ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, mở đầu bằng chiến dịch Thừa Thiên – Huế và giành thắng lợi liên tiếp trên các mặt trận. Địch điên cuồng tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai ra miền Bắc.

Chúng bổ sung lực lượng gấp nhiều lần, tăng thêm 50 máy bay B-52 lên tổng số 140 chiếc, tăng cường máy bay F4D, F4E, F4J và A6, A7. Thiết bị điều khiển bom laser được thay bằng loại do một chiếc ném và chiếu shrike, tên lửa chống radar thay bằng tên lửa Standar có cự ly và tốc độ lớn hơn.

Người xạ thủ và tiểu đội tên lửa liên tục bắn rơi B-52Đại tá Đinh Thế Văn kể chuyện đánh B52

Đặc biệt, chúng tích cực dùng máy gây nhiễu ALQ-87 và ALQ-100, là loại có công suất mạnh hơn rất nhiều, hòng cản mắt lực lượng phòng không của ta.

Để đối phó, trung đoàn 257 được chuyển về hướng Tây – Tây Bắc thủ đô, tiểu đoàn 77 được cơ động về trận địa Chèm với những mục tiêu bảo vệ cực kỳ quan trọng là lăng Bác, khu Trung ương, sân bay Nội Bài, Đài Phát thanh Mễ Trì, Nhà máy điện Yên Phụ…

Đại tá Đinh Thế Văn tâm sự: “Thời điểm này, chúng tôi đã đối đầu với B-52, nhưng chưa đạt hiệu quả vì cách đánh chưa phù hợp trong điều kiện nhiễu nặng.

Như ở trận chúng đánh ga Hà Nội, chỉ bằng một tốp 4 chiếc và hai quả bom laser đã phá hủy toàn bộ tòa nhà ga chính trong thời gian chưa quá 5 phút. Nếu chúng ta không thay đổi cách đánh thì hiệu quả kém đi là tất yếu.

Người xạ thủ và tiểu đội tên lửa liên tục bắn rơi B-52“Siêu pháo đài bay” B-52 bị “Rồng lửa Thăng Long” bắn trúng tại Hà Nội. Ảnh tư liệu.

Vấn đề lớn nhất khi đánh B-52 là chống nhiễu và chống shrike (tên lửa không đối đất). Bởi tuy là một pháo đài bay to lớn cồng kềnh, tốc độ bay chậm, nhưng B-52 được bảo vệ bằng hệ thống chống nhiễu tối tân, lại bay vào ban đêm nên khó quan sát được bằng mắt thường.

Nếu ta bật radar quan sát thì sẽ bị các loại máy bay tiêm kích phát hiện, phóng tên lửa Standar tiêu diệt ngay lập tức. Vấn đề không còn trong phạm vi tiểu đoàn nữa. Ngay cả các chuyên gia quốc tế cũng rất căng thẳng mà chưa sao nghĩ ra phương pháp hữu hiệu”.

Việc đầu tiên của Tiểu đoàn 77 trong việc chuẩn bị đối phó với B-52 là củng cố nhân sự, lựa chọn những con người tốt nhất phù hợp cho từng vị trí. Tiếp theo là việc rèn luyện phương pháp đánh trong điều kiện địch sử dụng tên lửa chống lại.

Đây là cách đánh chính, cần thuần thục thao tác tắt mở ăng ten kịp thời, không để cho địch điều khiển tên lửa chính xác vào đài mà ta vẫn bám sát được mục tiêu trong sai số không đáng kể. Thời khắc quyết định sống còn đó thường chỉ là 3- 5 giây, đòi hỏi trắc thủ phải thực sự dạn dày kinh nghiệm.

Ngày 29/9/1972, địch tổ chức nhiều tốp đánh sân bay Nội Bài và Nhà máy điện Yên Phụ. Khi tiểu đoàn mở máy thu trên màn hiện sóng nhiễu dày đặc, khi phát sóng thử kiểm tra thấy nhiễu tiêu cực xen kẽ với nhiễu tiêu cực trắng xóa cả màn hiện sóng.

Theo phương án đã tính sẵn, tiểu đoàn bám sát vào giải nhiễu của tốp chỉ định, rồi phóng 2 tên lửa. Khi tên lửa của ta cách mục tiêu 10 km, tín hiệu tên lửa địch ở cự ly 13 km, nên vẫn cho bám sát 3 màn tự động. Khi có điểm nổ, sĩ quan điều khiển liền nhanh chóng tắt ăng ten tránh làm mục tiêu cho địch. Tên lửa địch nổ cách trận địa 500 m.

Đại tá Đinh Thế Văn hào hứng nói: “Trận đánh này giúp chúng tôi mấy kết luận quan trọng: Dù địch gây nhiễu nặng, nhưng đến cự ly thích hợp phát sóng vẫn bắt được mục tiêu đối với máy bay chiến thuật.

Khi đánh, ta phát sóng thì địch vẫn sẽ phóng tên lửa chống lại. Nhưng nếu khi tên lửa ta còn cách máy bay địch khoảng 10 km mà tên lửa địch cách đài xa hơn, thì có thể tiếp tục bám sát cho đến khi có điểm nổ. Rồi nhanh chóng tắt ăng ten.

Tuy nhiên, chênh lệch cự ly cần có độ an toàn, tức là cự ly địch phải hơn ta 6 km thì mới chắc chắn. Đây là ý tưởng đầu tiên giúp chúng tôi đi vào đánh B-52.

Ý tưởng này càng được củng cố, khi chúng tôi nghiên cứu kỹ về B-52. Chúng tôi thảo luận và cùng nhất trí: Trung thành với phương pháp đánh trong nhiễu, phải nhanh chóng nhận ra nhiễu B-52, kiên quyết nghiên cứu giải nhiễu B-52, rút ra được tham số bay như tốc độ góc tà, tốc độ góc phương vị và cự ly để phán đoán đường bay. Tập trung chú ý đường bay từ hướng Tây Bắc xuống là chủ yếu.

Trong đội hình toàn sư đoàn, trên hướng Tây – Tây Bắc có các Tiểu đoàn 78 (Sơn Tây) Tiểu đoàn 57 (Đại Đồng), Tiểu đoàn 59 (Cổ Loa) và chúng tôi (Chèm) ở vị trí sâu hơn.

Những ngày tháng trước trận “Điện Biên Phủ trên không” quả thực căng thẳng tột độ. Nhưng tình hình chiến trận nói chung, nhất là việc Trung đoàn Tên lửa phòng không 263 (Quân khu IV) đã bắn rơi B-52 tại chỗ giữa đất Lào và Thái Lan càng làm cho chúng tôi tin tưởng hơn”.

Còn tiếp…

Lê Quân
vtc.vn

Anh hùng Phạm Tuân bắn hạ B-52 như thế nào?

(VTC News) – Đúng 21 giờ, phi công Phạm Tuân được lệnh xuất kích. Chiếc Mig-21 xé toang trời đêm Yên Bái, trong chớp mắt đã vọt thẳng lên trời.

Suốt 9 ngày đêm, phi công Phạm Tuân cùng anh em liên tục xuất kích, nhưng không hạ được chiếc B-52 nào. Những chiếc tiêm kích Mig-21 của ta vọt lên trời đêm rất nhiều lần để truy kích “pháo đài bay”, nhưng vẫn không tìm được sơ hở để hạ nó.

Khi đó, phi công Phạm Tuân hiểu rằng, không quân của ta chưa tìm được “gót chân Asin” của gã khổng lồ mang bom. Chúng ta tập trong điều kiện tĩnh, tập khan, nhưng đến lúc vào trận thì hoàn toàn khác.

Chúng đánh sân bay của ta ngay từ khi ta chưa kịp cất cánh. Chúng đánh chặn trên đầu, trên đường đi, chặn mọi điểm ta có thể vào. Đã vậy, chúng còn gây nhiễu một cách hiệu quả.

Bản thân phi công Phạm Tuân thấy rằng, ông đã vướng vào chuyện mà chưa bao giờ gặp. Phi công và bộ phận chỉ huy đã phải liên tục rút kinh nghiệm, phải bố trí lại từ tổ chức, chỉ huy. Chỉ huy thế nào, nằm ở đâu, tổ chức đài ra-đa thế nào để tránh nhiễu, hợp đồng tên lửa ra sao, phi công bay trên trời thế nào… Đó là những câu hỏi không dễ gì trả lời được.

Anh hùng Phạm Tuân bắn hạ B-52 như thế nào? Trung tướng Phạm Tuân nhớ lại giây phút lịch sử bắn hạ B-52

Sau khi tính toán mọi phương án, thì sở chỉ huy phòng không được đưa ra vòng ngoài, đặt ở các tỉnh như Thanh Hóa, Yên Bái, Sơn La.

Điều tiên quyết là phi công phải xuất kích từ vòng ngoài, sớm tích lũy tốc độ, độ cao. Những trận đánh trước đó, Phạm Tuân thường bay thấp để tránh địch phát hiện, rồi mới lấy độ cao. Tuy nhiên, do bị chúng gây nhiễu, nên không thể phát hiện được mục tiêu. Khi phát hiện được chúng, chúng rút đi, thì máy bay của ta không đuổi kịp.

>> Video ‘pháo đài bay’ B-52 bị bắn hạ

Sau nhiều trận thất bại, Phạm Tuân cùng đồng đội của mình đã tìm ra được “gót chân Asin” của “pháo đài bay” B-52. Chỉ có cách duy nhất là đánh chúng từ trên cao xuống.

Khi những chiếc tiêm kích của ta bay trên đầu chúng, F-4 sẽ phát hiện ra máy bay của ta chậm hơn. Khi đã ở độ cao, tích lũy được tốc độ siêu âm, thì chúng có phát hiện ra cũng không làm gì được ta nữa.

Khi đó, phi công phải chủ động, cơ động, sử dụng trí thông minh và cảm giác tinh tế của mình để cắt đuôi F-4, tiêu diệt B-52. Khi đã tiếp cận mục tiêu, sẽ phóng liên tiếp 2 quả tên lửa, thậm chí biến tiêm kích của mình thành quả tên lửa thứ 3.

Anh hùng Phạm Tuân bắn hạ B-52 như thế nào?Mô hình tiêm kích trong nhà anh hùng Phạm Tuân

Phạm Tuân trầm ngâm nhìn chiếc máy bay mô hình Mig-21 đặt trong phòng khách tại căn nhà trong con ngõ yên tĩnh ở phố Cù Chính Lan (Hà Nội), chiếc tiêm kích mà ông xuất kích nhiều lần trong trời đêm miền Bắc, và bồi hồi nhớ về những giây phút làm nên lịch sử.

Đó là đêm 27-12-1972, sau vài lần xuất kích từ sân bay Nội Bài truy tìm B-52 thất bại, ông được lệnh cất cách rời Nội Bài lên sân bay Yên Bái. Đây là lần đầu tiên thực hiện chiến thuật đánh từ vòng ngoài, tích lũy độ cao.

Chiếc Mig-21 lao vun vút ngay trên mái nhà, chỉ cách các đỉnh núi vài chục mét, xé tan bầu trời đêm. Chỉ loáng một cái, Mig-21 đã hạ cánh xuống sân bay Yên Bái. Do bay thấp, trong điều kiện ban đêm, nên địch không phát hiện được.

Suốt nhiều đêm liền, cả tỉnh Yên Bái, đặc biệt là khu vực sân bay ngập chìm trong khói lửa, bom đạn. Trước khi B-52 từ các hướng vào miền Bắc nước ta, chúng đều cho F-111 rải bom các sân bay, các địa điểm đặt ra-đa của ta, để không quân của ta không thể xuất kích.

Thế nhưng, đêm 27-12, sân bay Yên Bái tĩnh lặng lạ thường. Không có tiếng bom, đạn, không có lửa cháy. Có lẽ, đêm qua, chúng đã rải cả ngàn tấn bom xuống sân bay Yên Bái, nên tin rằng ta chưa thể sửa chữa, khắc phục được sân bay nên máy bay chưa thể cất cánh tại đây. Đó chính là điểm chủ quan chết người của địch. Chúng không thể hiểu được người Việt Nam kiên cường và khắc phục mọi khó khăn tốt thế nào.

>> Video ‘pháo đài bay’ B-52 bị bắn hạ

Từng tốp B-52 chở bom nặng đang ù ù tiến về Hà Nội. Phi công Phạm Tuân đã ngồi trong buồng lái, sẵn sàng đợi lệnh từ chỉ huy. “Gót chân Asin” của “pháo đài bay” đã được ông xác định rõ.

Anh hùng Phạm Tuân bắn hạ B-52 như thế nào?Anh hùng Phạm Tuân thời trẻ

Đúng 21 giờ, phi công Phạm Tuân được lệnh xuất kích. Chiếc Mig-21 xé toang trời đêm Yên Bái, trong chớp mắt đã vọt thẳng lên trời. Ở độ cao hơn 10.000 mét, bầu trời bao la trong suốt đầy sao lấp lánh.

Anh hùng Phạm Tuân nhớ lại vài giây quyết định làm ngỡ ngàng cả thế giới: “Tôi tăng tốc hết cỡ, đưa Mig-21 lên độ cao tốt nhất. Từ trên cao, chú đã phát hiện B-52.

Anh hùng Phạm Tuân bắn hạ B-52 như thế nào? Tôi đã tiếp cận được B-52 theo đúng như những gì mình tính. Cách nó 3 km,tôi bắn 2 quả tên lửa. Quả cầu lửa bùng lên trước mắt, tôi điều khiển Mig 21 tránh sang trái, thoát khỏi vòng nguy hiểm và trở về sân bay Yên Bái an toàn. Anh hùng Phạm Tuân bắn hạ B-52 như thế nào?

Khi đó, tôi chỉ có một suy nghĩ duy nhất là làm thế nào để vượt qua được những chiếc F-4. Nhưng vượt được qua nó rồi, lại không để lỡ thời cơ mới là quan trọng.

Đối đầu với B-52, tốc độ của Mig-21 là siêu thanh, tới 1.500km/giờ, trong khi B-52 chỉ có 900km/giờ. Do đó, chỉ chậm 1 giây là mất nửa cây số. Chỉ cần cơ động tránh F-4 mất vài giây là hỏng hết mọi chuyện.

Khi đó, tôi phải tận dụng cơ hội từng giây, để tạo cơ hội. Chú tích lũy tốc độ cao nhất, nên không cần tránh F-4, vì F-4 cũng không đuổi được. Mục tiêu duy nhất của là bám theo B-52 đang bay trước mặt.

Tôi đã tiếp cận được B-52 theo đúng như những gì mình tính. Cách nó 3 km,tôi bắn 2 quả tên lửa. Quả cầu lửa bùng lên trước mắt, tôi điều khiển Mig 21 tránh sang trái, thoát khỏi vòng nguy hiểm và trở về sân bay Yên Bái an toàn.”

Tất cả chỉ có vậy. Có vài giây thế thôi. Nhiều nhà báo trong và ngoài nước cứ hỏi khi đó ông nghĩ gì. Khi đó phi công chả nghĩ gì cả. Sống hay chết cũng chả nghĩ. Chỉ có vài giây thì nghĩ được cái gì. Đến mấy tốp F-4 bảo vệ B-52 bằng hệ thống tên lửa dày đặc cũng không thèm để ý nữa. Chỉ có mục đích duy nhất là hạ B-52”.

Khi người Mỹ, cũng như cả thế giới còn đang ngạc nhiên, không hiểu vì sao phi công của một đất nước nghèo đói, non kém mọi thứ, lại có thể bắn hạ được biểu tượng quân sự, thứ được gọi là “pháo đài bay bất khả xâm phạm” của Mỹ, thì ngay đêm hôm sau, cũng với cách đánh trên, phi công Vũ Xuân Thiều đã bắn 2 quả tên lửa, rồi tiếp tục lao máy bay vào B-52 của Mỹ và anh dũng hy sinh.

Chỉ trong hai đêm, 27 và 28, không quân Việt Nam, với những chiếc Mig-21, chiếc máy bay mà theo giới phân tích quân sự, chả khác gì “châu chấu đá voi”, đã làm nên kỳ tích, đó là tiêu diệt 2 chiếc B-52.

Anh hùng Phạm Tuân đã góp một phần làm nên chiến thắng lịch sử của “Điện Biên Phủ trên không”.

Dương Quân
vtc.vn

“Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” – Bản hùng ca bất tử

(ĐCSVN) - Thế kỷ XX loài người đã phải gánh chịu các cuộc chiến tranh khốc liệt nhất, tàn bạo nhất trong lịch sử và cũng phải nếm trải một hình thức, một phương pháp tác chiến mới của chiến tranh, mà hậu quả do nó gây ra vô cùng to lớn. Đó là những cuộc tập kích đường không – một sản phẩm của chiến tranh hiện đại.

Tự vệ Nhà máy Y Hà Nội ngày đêm nêu cao tinh thần cảnh giác, luyện tập sẵn sàng
chiến đấu, bắn rơi máy bay Mỹ gây tội ác ở Thủ đô trong 12 ngày đêm tháng 12/1972.
(Ảnh: TTXVN)

Tập kích đường không là sự phát triển và biến thể của chiến tranh chớp nhoáng, nó ra đời không lâu sau khi loài người làm ra máy bay – một sản phẩm đánh dấu bước tiến vĩ đại của khoa học – công nghệ. Trớ trêu thay, mơ ước ngàn đời của con người muốn được bay lên không trung nhưng đến khi làm ra được những phương tiện bay để thực hiện khát vọng cháy bỏng đó thì chính nó lại gây ra thảm họa cho con người bằng các cuộc tập kích đường không. Có thể kể ra hàng loạt các trận tập kích đường không trong vòng mấy chục năm qua để thấy rõ tính chất khốc liệt của phương thức tác chiến hiện đại. Tập kích đường không là đòn đánh từ trên không bằng các lực lượng không quân đánh phá một cách ồ ạt, bất ngờ, liên tục trong một thời gian ngắn nên nó gây ra cái chết cho hàng loạt sinh linh, hủy hoại khủng khiếp cơ sở vật chất, vũ khí, trang bị chiến tranh của đối phương. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Đức đã sử dụng hàng trăm máy bay tập kích đánh chiếm Na Uy ngày 9-4-1940 và chiếm được nước này trong thời gian ngắn; các cuộc tập kích đường không cũng của Đức đánh chiếm Hà Lan, Anh, đảo Cret-tơ của Hy Lạp; các cuộc tập kích đường không của quân đồng minh ở Man-tơ, Von-tuốc-nơ, Bắc Phi, Xi-xin, Noóc-măng-đi; của Hồng quân Liên Xô ở Vi-a-dơ-ma, Ki-ép; các cuộc tập kích đường không chiến lược của Anh và Mỹ vào các thành phố đông dân của Đức đều gây ra hậu quả khôn lường. Cuộc tập kích đường không của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng ngày 7/12/1941 là một trong những cuộc tập kích đường không điển hình trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nhật Bản đã bất ngờ cho hàng trăm máy bay cất cánh từ các tàu sân bay phối hợp với các tàu thiết giáp, tàu diệt ngư lôi, tàu tuần dương, tàu phóng lôi và tàu ngầm tấn công Trân Châu Cảng trên quần đảo Ha-oai ở trung tâm Bắc Thái Bình Dương của Mỹ, giết chết hơn hai nghìn sĩ quan, binh lính, hàng nghìn người bị thương và mất tích, đánh chìm 150 tàu các loại, làm cháy, hỏng 170 máy bay của Mỹ. Trận tập kích đường không của Mỹ nhằm vào Thủ đô Nhật Bản ngày 16/3/1945 cũng gây cho Nhật thiệt hại nặng nề. Mỹ đã sử dụng 150 lần chiếc máy bay B.29 ném 1.500 tấn bom xuống các khu dân cư ở Thủ đô Tô-ky-ô của Nhật Bản, thiêu hủy sạch nhiều khu phố xá. Đặc biệt, ngày 6 – 9/8/1945, Mỹ đã mở cuộc tập kích đường không tàn bạo nhất, bất ngờ cho máy bay ném bom nguyên tử xuống thành phố Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki của Nhật Bản, giết chết, làm bị thương hàng vạn người, san phẳng, đốt cháy hàng chục ki-lô-mét phố xá, phá hủy hàng chục nghìn ngôi nhà. Nửa sau thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, trên thế giới đã xảy ra nhiều cuộc tập kích đường không với quy mô lớn, tính chất ngày càng khốc liệt hơn. Từ ngày 5 – 10/6/1967, Ix-ra-en đã phát động chiến dịch Focus dùng không quân ồ ạt tập kích vào các nước Ả-rập, có ngày cường độ hoạt động của không quân lên tới một nghìn lần chiếc, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược chớp nhoáng các nước Ả-rập. Trong vòng 6 ngày, nhờ sự hỗ trợ đắc lực và có hiệu quả của các cuộc tập kích đường không, Ix-ra-en chiếm được 70.000 ki-lô-mét vuông đất đai của các nước Ả-rập, gấp ba lần diện tích nước này, với 1,5 triệu dân. Năm 1991, lấy cớ trừng phạt I-rắc xâm lược Cô-oét, Mỹ đã cùng Liên quân (13 nước có không quân tham gia) mở liên tục các đợt tập kích đường không phá hủy tối đa tiềm lực kỹ thuật, quân sự của I-rắc, mục tiêu làm cho I-rắc tàn lụi không còn đủ sức tranh giành quyền lực với Mỹ ở khu vực Trung Đông. Năm 1999, Mỹ và NATO đã tiến hành các đợt tập kích đường không ở vùng Ban-căng gây sức ép và tiến hành chiến tranh leo thang ở Nam Tư. Đêm mùng 7/10/2001, lấy cớ tiêu diệt chủ nghĩa khủng bố, Mỹ đã bắtđầu các cuộc tập kích đường không đối với Áp-ga-nix-tan, thực chất là củng cố vai trò của Mỹ ở khu vực Trung Đông, Trung Á và tạo điều kiện để nắm nguồn tài nguyên phong phú về dầu lửa ở khu vực này.

Ở Việt Nam, trong hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, đế quốc Mỹ đã tiến hành nhiều cuộc tập kích đường không vô cùng ác liệt, đỉnh cao là cuộc tập kích đường không chiến lược Lai-nơ-bếch-cơ II cuối tháng 12/1972. Đây là chiến dịch có quy mô lực lượng tác chiến đối kháng trên không gian lớn nhất từ sauChiến tranh thế giới thứ hai, gồm toàn bộ không phận miền Bắc, trong đó Thủ đô Hà Nội là điểm tựa phòng ngự đối không cuối cùng và quyết định thắng bại giữa ta và địch. Mỹ đã huy động tới mức cao nhất lực lượng không quân chiến lược, không quân chiến thuật và không quân hỗn hợp nhằm “biến Hà Nội thành bình địa”, “hạ gục Hà Nội” trong phen quyết đấu cuối cùng.

Trong chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II, Mỹ đã huy động 193 chiếc máy bay chiến lược B-52 từ Gu-am và U-ta-pao (chiếm hơn 48% tổng số máy bay chiến lược B-52 của toàn nước Mỹ), xuất kích 663 lần chiếc đánh vào miền Bắc, tập trung ở khu vực Hà Nội tới hơn 400 lần chiếc. Chiến dịch này là một mô hình đặc trưng cho cuộc tập kích đường không hiện đại nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới tính đến thập kỷ bảy mươi của thế kỷ XX. Mỹ đã huy động khoảng 1.000 máy bay chiến thuật các loại, chủ yếu là F-105, F-4A, A-6A, A-7A, F-111A (chiếm 31% tổng số máy bay chiến thuật của Mỹ), xuất kích tới 3.920 lần chiếc để hộ tống, bảo vệ B-52 và trực tiếp đánh phá các sân bay, các trận địa phòng không, các mục tiêu khác của ta. Lần đầu tiên Mỹ sử dụng cả một liên đội máy bay “cánh cụp cánh xòe” F-111 khoảng 50 chiếc, xuất kích mỗi đêm từ 10 đến 25 lần chiếc, hoạt động xen kẽ giữa các đợt đánh phá của B-52. Ngoài ra, Mỹ còn sử dụng 50 máy bay KC-135 tiếp dầu trên không, máy bay trinh sát không người lái để chụp ảnh và nhiều máy bay gây nhiễu ngoài đội hình như EB-66, EA-6A cùng 60 tàu chiến các loại của hạm đội 7 ở Thái Bình Dương. Tất cả các căn cứ không quân của Mỹ ở Đông Nam Á đều được Mỹ sử dụng để phục vụ tối đa cho trận tập kích quy mô này. Với việc tiến hành một chiến dịch tập kích đường không chiến lược lớn như vậy, chính quyền Mỹ hy vọng chỉ trong vòng vài ngày sẽ “bắt Hà Nội phải quỳ gối”, đưa Thủ đô của chúng ta “trở về thời kỳ đồ đá”.

Trong 12 ngày đêm, Mỹ đã ném hơn 100 nghìn tấn bom đạn xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác. Riêng Hà Nội, 441 lần chiếc B-52 cùng nhiều máy bay chiến thuật ném xuống hơn 10 nghìn tấn bom đạn, tương đương 2 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki của Nhật Bản năm 1945. (Mai-cơn Mác-lia đánh giá tương đương 5 quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Hi-rô-si-ma – TG). Ních-xơn muốn biến Hà Nội thành Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki không cần bom nguyên tử. Chúng đã hủy diệt nhiều khu phố, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó có gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga, giết chết 2.368 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác. Trải qua 12 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, kiên cường, mưu trí sáng tạo, với ý chí quyết chiến, quyết thắng quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 81 máy bay các loại của Mỹ, trong đó có 34 chiếc máy bay chiến lược B-52 (16 chiếc rơi tại chỗ), 5 chiếc F-111 (2 chiếc rơi tại chỗ) và 42 máy bay chiến thuật các loại, tiêu diệt và bắt sống nhiều giặc lái. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã buộc Mỹ phải chấp nhận ký kết Hiệp định Pa-ri chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Sau bốn mươi năm chúng ta có điều kiện để nhìn nhận đầy đủ hơn, toàn diện hơn về tầm vóc to lớn và ý nghĩa sâu sắc của chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” để tiếp tục khẳng định rằng đó mãi mãi là biểu tượng của ý chí kiên cường bất khuất của dân tộc, của trí tuệ và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thế trận Phòng không – Không quân nhân dân bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi là bản hùng ca bất tử.

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã phải đương đầu với hàng trăm cuộc chiến tranh xâm lược của phong kiến, thực dân, đế quốc và đều giành thắng lợi vẻ vang. Những chiến công hiển hách của các vị tiên liệt như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Quang Trung… mãi mãi là những trang vàng chói lọi trong lịch sử dân tộc.

Kế thừa truyền thống quật cường của Bạch Đằng, Như Nguyệt, Đông Bộ Đầu, Vạn Kiếp, Chi Lăng – Xương Giang, Rạch Gầm – Xoài Mút, Ngọc Hồi – Đống Đa…; thế kỷ XX dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhân dân ta tiếp tục lập nên những chiến công kỳ diệu, viết tiếp trang sử hào hùng của dân tộc. Chúng ta đã làm nên trận Điện Biên Phủ chấn động địa cầu năm 1954; chiến thắng vẻ vang trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972, tạo tiền đề để giành thắng lợi hoàn toàn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta khẳng định, chiến dịch đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược cuối năm 1972 của Mỹ “Là chiến dịch đầu tiên trên thế giới đã đánh thắng không quân hiện đại của đế quốc Mỹ. Đây thực sự là một chiến công vĩ đại trong lịch sử dân tộc ở thế kỷ XX, là bản hùng ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại mới”. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh:”Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành chân lý sáng ngời trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thôi thúc quân và dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, tiến lên giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác; đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là đỉnh cao của cuộc chiến tranh nhân dân Phòng không – Không quân chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ; là chiến thắng của sức mạnh chính trị tinh thần toàn dân tộc, là ý chí, quyết tâm dám đánh, biết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Dân tộc ta vốn có truyền thống vẻ vang trong chống giặc ngoại xâm, suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta luôn luôn phải đối mặt với kẻ thù có tiềm lực quân sự và kinh tế mạnh gấp nhiều lần nhưng nhân dân ta đều nêu cao tinh thần yêu nước, sẵn sàng đứng lên chiến đấu để bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc. Lịch sử đã chứng minh hùng hồn rằng lòng yêu nước, thương nòi, chí căm thù giặc sâu sắc của nhân dân ta có sức mạnh vô song, giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn gian khổ, nhấn chìm mọi kẻ thù xâm lược. Trong thời đại mới, truyền thống yêu nước được gắn với yêu chủ nghĩa xã hội đã trở thành động lực to lớn thôi thúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, dám xả thân vì sự nghiệp cách mạng cao cả. Cùng với chủ nghĩa yêu nước, ý chí dám đánh, biết đánh, quyết đánh thắng đã trở thành quyết tâm của cả dân tộc mỗi khi bị xâm lăng. Đó chính là sức mạnh chính trị tinh thần, là yếu tố tiên quyết nhất bảo đảm giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân ta.

Sức mạnh chính trị tinh thần của quân và dân ta trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” còn được biểu hiện ở lòng tin, quyết tâm đánh thắng trận đầu, quyết tâm bắn rơi tại chỗ máy bay B-52, bắt sống giặc lái, tạo niềm tin đánh bại hoàn toàn mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù và tinh thần vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt; tinh thần độc lập tự chủ, tự cường, đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể.

Sức mạnh chính trị tinh thần còn được thể hiện sinh động ở sự phát huy cao độ ý chí quyết tâm, thế mạnh, sở trường, sở đoản của tất cả các lực lượng, của các loại vũ khí; động viên tổng lực sức mạnh cho chiến dịch. Quân chủng Phòng không – Không quân luôn xác định đúng vị trí, vai trò là trung tâm hiệp đồng, là lực lượng nòng cốt trong tác chiến Phòng không – Không quân, là chỗ dựa vững chắc cho các lực lượng Phòng không – Không quân nhân dân. Sức mạnh chính trị tinh thần còn là sự khéo léo sử dụng khả năng kỹ thuật, chiến thuật, uy lực vũ khí, đồng thời tạo điều kiện để phát huy sức mạnh chiến đấu tổng hợp của lực lượng phòng không ba thứ quân. Lực lượng phòng không các địa phương, dân quân, tự vệ đã nêu cao ý chí quyết tâm, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng, góp phần tạo lập thế trận nhiều tầng, nhiều nấc, liên hoàn, hiểm hóc như “thiên la, địa võng” đánh địch trên mọi hướng, mọi độ cao, mọi thời điểm, mọi khu vực.

Được tận mắt chứng kiến cuộc chiến đấu của nhân dân ta trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, nhà báo Mỹ I-tơn đã bày tỏ lòng thán phục trước hình ảnh những nữ dân quân, tự vệ Hà Nội dũng cảm chiến đấu với không quân Mỹ: “Trong bom đạn mịt mờ, tôi đã thấy những phụ nữ trên những ụ súng lia những khẩu súng trường theo các máy bay phản lực khổng lồ của Mỹ đang bay trên trời. Họ tin rằng, họ có thể bắn rơi máy bay phản lực bằng một khẩu súng trường. Đây là một ý chí có tính chất truyền thống trong từng người dân mà tôi đã gặp”.

Với mưu đồ bá chủ thế giới, đế quốc Mỹ đã làm ra nhiều loại vũ khí giết người tối tân như vũ khí hạt nhân, tàu ngầm nguyên tử và máy bay chiến lược B-52. Chúng luôn luôn nuôi ảo tưởng nhằm khuất phục đối phương bằng sức mạnh vũ khí. Máy bay chiến lược B-52, kể từ khi ra đời, Mỹ đã dùng làm con bài răn đe, dọa dẫm những người yếu bóng vía. Trên thực tế, B-52 là loại máy bay chiến lược hiện đại, khó có thể bắn hạ, nằm trong bộ ba vũ khí chiến lược của đế quốc Mỹ, với sức chở tới 30 tấn bom đạn, B-52 có sức tàn phá khủng khiếp được Mỹ sử dụng lần đầu tiên ở chiến trường Việt Nam từ năm 1965. Như vậy, đối với Việt Nam, Mỹ không chỉ dọa dẫm mà đã sử dụng B-52 để ném bom rải thảm giết chóc không thương tiếc những người dân vô tội và hủy diệt một dân tộc có chủ quyền ngay từ những ngày đầu leo thang chiến tranh.

Khi bị đế quốc Mỹ đem quân xâm lược nước ta, nhân dân ta đã nhất tề đứng lên tiến hành cuộc chiến tranh chính nghĩa để bảo vệ Tổ quốc. Mọi sự đe dọa và các thủ đoạn tàn bạo của Mỹ không làm nao núng tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của quân và dân ta. Với ý chí Không có gì quý hơn độc lập, tự do, chúng ta đã đánh cho đế quốc Mỹ và tay sai những đòn đích đáng trên cả mặt đất, mặt nước và trên không trung bất kể chúng có binh hùng, tướng mạnh, có vũ khí tối tân, hiện đại. Mỹ hy vọng đưa con “át chủ bài” B-52 ra sẽ khuất phục được nhân dân ta, hòng cứu vãn được tình thế bi đát của chúng. Nhưng nhà cầm quyền Mỹ đã lầm. B-52 hay “bê” gì thì Việt Nam cũng quyết đánh và quyết đánh thắng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy quân và dân ta như vậy.

Quyết tâm đánh thắng B-52 của nhân dân ta được bắt nguồn từ tầm nhìn xa trông rộng và sự chỉ đạo chiến lược sáng tạo, tài tình của Trung ương Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu ngay từ khi đế quốc Mỹ chuẩn bị leo thang chiến tranh ra đánh phá miền Bắc bằng không quân, hải quân vào đầu những năm 60 thế kỷ XX. Đảng và Bác Hồ đã nắm vững quy luật của chiến tranh, sớm nhìn rõ bản chất và âm mưu của kẻ thù, phân tích đúng tình hình, dự báo sớm, chính xác diễn biến sẽ xảy ra. Từ đó, đã lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân ta chuẩn bị sẵn sàng về con người, về lực lượng, về vũ khí trang bị kỹ thuật, về thế trận và cách đánh. Trong suốt quá trình chỉ đạo cuộc kháng chiến, máy bay B-52 và âm mưu sử dụng B-52 trên chiến trường Việt Nam của đế quốc Mỹ luôn luôn là mối quan tâm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã chỉ ra một cách cụ thể về công tác chuẩn bị, xây dựng lực lượng, trang bị vũ khí, tổ chức huấn luyện, rèn luyện bộ đội để sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của Mỹ, kể cả khi chúng dùng máy bay chiến lược B-52 đánh phá miền Bắc.

Nhờ sự tiên đoán thiên tài và sự chỉ đạo sát sao của Bác Hồ, các lực lượng Phòng không – Không quân và quân dân miền Bắc đã chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt, tích cực tìm hiểu tình hình địch, đặc biệt là đã đưa các lực lượng tên lửa, ra-đa, không quân, cao xạ vào nam Quân khu 4 – nơi máy bay B-52 hoạt động thường xuyên để vừa nghiên cứu vừa tìm cách đánh và đánh B-52.

Quyết tâm đánh thắng B-52 của ta được thể hiện ở ý chí dũng cảm, kiên cường, tinh thần chủ động, mưu trí sáng tạo vượt qua khó khăn, ác liệt của bộ đội Phòng không – Không quân trong nghiên cứu tìm cách đánh thắng B-52. Việc đưa các lực lượng Phòng không – Không quân vào vùng đất lửa là một quá trình công phu, gian khổ, chồng chất khó khăn và gian khổ, hy sinh. Nhất là đưa một Trung đoàn Tên lửa với hàng trăm xe pháo cồng kềnh vượt hàng trăm cây số qua các trọng điểm ác liệt như cầu Hàm Rồng, Bến Thủy, Đồng Lộc, Ka Tang, khe Ve, ngầm Bùng, khe Dinh, Quán Hầu, sông Gianh, Xuân Sơn, Long Đại… quả là nhiệm vụ hết sức cam go chưa nói đến phải “ở lâu, bám sâu, trụ vững” trong vùng chảo lửa ngày đêm bị cày xới bởi đạn bom của kẻ thù. Có những Tiểu đoàn Tên lửa trên đường vào chiến trường đã bị địch đánh hỏng gần như toàn bộ khí tài, cán bộ, chiến sĩ thương vong nặng nề, phải quay ra Bắc củng cố lực lượng, nhận khí tài mới; có đài ra-đa mỗi lần phát sóng không chỉ bị bom giội từ trên không mà còn bị pháo, tên lửa từ các hạm tàu ngoài biển bắn vào; mỗi chuyến xuất kích của không quân từ sân bay tuyến trước vào chiến trường như những chuyến bay cảm tử, vừa phải đối phó với địch ở trên không vừa phải cảnh giác với chúng ở đất liền, ngoài biển; bộ đội cao xạ vừa phải làm nhiệm vụ bảo vệ giao thông vận chuyển vừa bảo vệ các trận địa tên lửa, ra-đa và phối hợp hiệp đồng với các đơn vị bạn trong tác chiến hợp đồng quân binh chủng vừa phải đánh địch tự bảo vệ mình. Trong khi đó, từ nam Quân khu 4 trở vào, có giai đoạn không quân, hải quân địch tác oai tác quái, ném bom, bắn pháo, phóng tên lửa vào bất cứ đâu chúng muốn để tiêu diệt các lực lượng của ta, ngăn chặn sự chi viện của hậu phương cho tiền tuyến. Sự khốc liệt đã được kẻ thù đẩy lên đến đỉnh điểm khi chúng đánh hơi chúng ta đưa tên lửa và các lực lượng vào Quảng Bình, Vĩnh Linh (Quảng Trị), nhưng kẻ thù đã không ngăn nổi ý chí quyết tâm đánh B-52 của bộ đội Phòng không – Không quân. Chính nhờ có ý chí sắt đá ấy nên dù phải trải qua những năm tháng ác liệt ở chiến trường nam Quân khu 4, phải trả giá bằng bao mồ hôi, xương máu, bộ đội Ra-đa, Tên lửa, Không quân, Cao xạ sau những ngày “nếm mật nằm gai”, “tàng hình rình mồi” đã “bắt được cọp” trong hang ổ của chúng. Bộ đội Tên lửa đã bắn rơi máy bay chiến lược B-52 trên bầu trời Vĩnh Linh. Các lực lượng đã từng bước đúc kết được những kinh nghiệm quý báu về quy luật hoạt động, các thủ đoạn tác chiến, đội hình bay, lực lượng bảo vệ của máy bay chiến lược B-52 để xây dựng thành cuốn cẩm nang đặc biệt về cách đánh loại “pháo đài bay” này.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân còn được thể hiện ở ý chí chiến đấu kiên cường của nhân dân miền Bắc trong xây dựng thế trận lòng dân, thế trận chiến tranh nhân dân và sự kế thừa, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại mới; là chiến thắng của trí thông minh và lòng dũng cảm của dân tộc ta chống cuộc tập kích đường không có quy mô lớn của kẻ thù với vũ khí trang bị hiện đại.

Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972 của quân và dân miền Bắc với lực lượng không quân chiến lược của Mỹ thực chất là cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam với sức mạnh tổng lực của đế quốc Mỹ được tập trung vào sức mạnh của không lực Hoa Kỳ. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cũng chính là chiến thắng của đường lối chiến tranh nhân dân, của nghệ thuật sử dụng lực lượng, bài binh, bố trận, cơ động tác chiến, theo một ý định, cách đánh đã được chuẩn bị, tính toán từ trước kết hợp với sự chuyển hóa linh hoạt trước các diễn biến, tình huống. Trong suốt chiến dịch ta đã phát huy cao độ tiềm năng chiến đấu của lực lượng Phòng không – Không quân ba thứ quân, lấy Quân chủng Phòng không – Không quân làm nòng cốt, tạo nên hệ thống hỏa lực Phòng không – Không quân rộng khắp và quy tụ thành sức mạnh tổng hợp để đánh thắng, vừa tập trung hiệp đồng đánh tiêu diệt lớn, vừa đồng thời đánh liên tục, đánh tại chỗ, đánh rộng khắp trên các địa bàn.

Ở tất cả các địa phương trên miền Bắc đều có lực lượng phòng không sẵn sàng đánh máy bay địch, ở đâu cũng có hệ thống báo động Phòng không nhân dân, có hầm hào trú ẩn, có trận địa bắn máy bay và thực hiện phòng tránh sơ tán triệt để nhằm đối phó thắng lợi với mọi tình huống. Các lực lượng Phòng không tầm thấp, tầm trung không đánh được máy bay B-52 thì đánh máy bay chiến thuật, máy bay bay thấp. Các lực lượng đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ tạo thành thế trận trên mọi độ cao, hiểm hóc, liên hoàn, vừa có chiều sâu vừa có trọng tâm, trọng điểm, hoạt động nhịp nhàng, có thể liên tục đánh địch từ xa đến gần, đánh địch ở mọi tầng cao, đánh từ nhiều phía, đánh trực diện, đánh từ sau, từ bên sườn, gây cho địch lúng túng không thể cơ động tránh được lưới lửa phòng không, đảm bảo chiến đấu thắng lợi của toàn bộ chiến dịch.

Các lực lượng dân quân, tự vệ trong chiến dịch là lực lượng tại chỗ rộng khắp, có nhiệm vụ đánh máy bay địch bay thấp, hoạt động theo đội hình tốp nhỏ, chiếc lẻ, trực tiếp bảo vệ các mục tiêu quan trọng của địa phương. Ở nhiều khu vực trọng yếu, dân quân, tự vệ đã thực sự là thành phần quan trọng trong chiến thuật “dựng màn đạn”, tạo ra “tọa độ lửa” trên chiến trường miền Bắc. Ngoài nhiệm vụ tập trung bắn máy bay, lực lượng Phòng không ở địa phương và dân quân, tự vệ còn là lực lượng báo động phòng không nhân dân, chỉ đạo và tổ chức sơ tán phòng tránh, bắt giặc lái nhảy dù, san lấp, sửa chữa sân bay, làm trận địa tên lửa, cao xạ, ra-đa, ngụy trang cất giữ vũ khí, khí tài, cứu thương, tải thương. Trong 12 ngày đêm của chiến dịch,các đơn vị súng máy phòng không chủ yếu do lực lượng dân quân tự vệ đảm nhiệm được bố trí đón lõng bắn máy bay bay thấp. Ta đã tổ chức 364 phân đội dân quân, tự vệ với 1.428 khẩu pháo và súng máy phòng không các loại; tổ chức trên 100 trận địa pháo phòng không, gần 500 đài quan sát xa, quan sát bổ trợ, tạo thành thế trận phòng không nhân dân khắp trên các vùng miền. Hiếm có dân tộc nào có lực lượng dân quân, du kích, tự vệ được trang bị pháo cao xạ để đánh máy bay siêu âm hiện đại như ở Việt Nam. Với tinh thầnđánh giặc bằng mọi loại vũ khí, trang bị hiện có, các lực lượng “phi chính quy” của ta không chỉ sử dụng các loại súng pháo phòng không cỡ nhỏ như 12,7ly, 14,5ly mà còn thuần thục thao tác, sử dụng các loại cao xạ 37, 57, 85, 88, 90, 100ly để hạ phản lực siêu âm của Mỹ. Trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cả 5 chiếc máy bay hiện đại cánh cụp, cánh xòe F-111 đều do các lực lượng dân quân tự vệ và pháo cao xạ tầm trung tiêu diệt, không ít tên giặc lái từng mệnh danh là “người hùng” của nước Mỹ bị những dân quân “đầu trần, chân đất” tóm cổ.

Chứng kiến cuộc đọ sức quyết liệt giữa lực lượng không quân chiến lược của Mỹ với lưới lửa phòng không miền Bắc, báo Tin Mỹ và Thế Giới ngày 21/12/1972 đánh giá: “Hệ thống phòng không của Bắc Việt Nam hiện đại, rộng khắp và hiệu quả đến nỗi trong bất kỳ một trận đánh phá nào, 90% máy bay của không quân Mỹ phải lo bảo vệ máy bay ném bom để chống lại MiG tiến công, đồng thời khống chế súng phòng không và tên lửa mặt đất”. Tạp chí Tin Mỹ hằng tuần thì tuyên bố không úp mở rằng: “Hiện nay Bắc Việt Nam có hệ thống phòng không lớn nhất và mạnh nhất thế giới. Các pháo thủ Việt Nam là những tay súng giỏi nhất vì họ có rất nhiều kinh nghiệm”. Sự thú nhận của người Mỹ là một bằng chứng sinh động khẳng định sức mạnh tổng hợp của nhân dân ta trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc.

Chiến thắng của chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” không chỉ tính bằng số mục tiêu được bảo vệ, số lượng máy bay địch bị bắn rơi mà ý nghĩa to lớn của nó là đã động viên được toàn dân tham gia chiến đấu, phòng tránh đánh trả và tổ chức lao động sản xuất. Ở khắp các địa phương trên miền Bắc, từ miền núi đến đồng bằng đâu đâu cũng tổ chức các tổ săn máy bay bay thấp, bố trí các vọng quan sát, xây dựng hệ thống báo động phòng không bằng còi, kẻng. Các công sở, nhà máy, trường học đều tổ chức ngụy trang thường xuyên, có hệ thống hầm hào trú ẩn xung quanh nơi làm việc, học tập. Nhân dân các địa phương đã tích cực cùng bộ đội chủ lực xây dựng hệ thống trận địa phòng không, làm trận địa giả, ngụy trang nghi binh cho bộ đội. Phong trào trồng cây xanh, đào công sự trên các đường phố, đường quốc lộ, đường giao thông trong xóm, làng được phát động rộng rãi. Mọi người khi ra đường, học sinh đi học đều phải ngụy trang, đội mũ rơm, đeo nùn rơm, đề phòng bom đạn địch. Trong bom đạn ác liệt các công xưởng, nhà máy, trường học, cơ quan, trên ruộng đồng khắp nơi trên miền Bắc đâu đâu không khí lao động sản xuất, học tập, công tác vẫn diễn ra sôi nổi và hết sức khẩn trương. Khẩu hiệu “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” được dấy lên thành những cao trào mạnh mẽ.

Ở Hà Nội, trước khi bước vào chiến dịch, quân và dân Thủ đô đã tổ chức được 36 đài quan sát xa, 414 đài quan sát bổ trợ, bố trí 16 còi báo động lớn, 1.300 loa công cộng, 48.133 loa gia đình để báo động phòng không, hướng dẫn phòng tránh và phục vụ chiến đấu. Toàn thành phố đã đào được 63 vạn hầm cá nhân, 178.519 hầm kèo chữ A, 6.119 hầm cất giấu tài sản; 1.130 ki-lô-mét giao thông hào để phòng tránh bom đạn ở các khu vực dân cư, cơ quan, xí nghiệp và dọc hai bên đường giao thông, sơ tán hơn 50 vạn người ra khỏi khu vực bị đánh phá, tổ chức 1.202 điểm và tổ cấp cứu, 11 tổ phẫu thuật, 226 cơ sở điều trị. Đây là một thành công lớn trong việc hạn chế thiệt hại do chiến tranh gây ra đối với nhân dân Hà Nội. Do đó, trong suốt 12 ngày đêm chiến dịch, ngoài những khu vực bị trúng bom B-52 rải thảm như phố Khâm Thiên, bệnh viện Bạch Mai…, còn lại thương vong, tổn thất không lớn.

Với tầm vóc to lớn và ảnh hưởng mạnh mẽ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” của dân tộc ta đã mang ý nghĩa thời đại sâu sắc. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta được đánh dấu bằng những chiến công to lớn, từ chiến thắng Ấp Bắc, Vạn Tường, Núi Thành đến Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, chiến dịch Trị Thiên, chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” và kết thúc thắng lợi hoàn toàn bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã từng bước thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một trong những cuộc chiến tranh giải phóng lâu dài, nhiều gian khổ, hy sinh và cũng là một trong những chiến thắng to lớn, vẻ vang nhất trong lịch sử Việt Nam, mang ý nghĩa sâu sắc trong thời đại ngày nay. Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đánh giá: “Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không là chiến công mang tầm vóc thời đại, là đỉnh cao chiến công trong cuộc đụng đầu lịch sử giữa nhân dân Việt Nam anh hùng với tên đế quốc đầu sỏ Hoa Kỳ”. Sau bốn mươi năm nhìn lại chúng ta càng tự hào, càng nhìn nhận rõ hơn tầm vóc vĩ đại chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” trong thời đại Hồ Chí Minh.

Nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong điều kiện một nửa nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Miền Bắc không chỉ là hậu phương lớn cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam mà còn là mặt trận đánh Mỹ nóng bỏng. Trận “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giữa ta và Mỹ diễn ra trên chiến trường miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc được thôi thúc bởi ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của cả dân tộc; sự cổ vũ bằng những chiến công vang dội của quân và dân miền Nam đánh bại sức mạnh quân sự của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ.

Chiến tranh bao giờ cũng là sự thử thách lớn nhất đối với một dân tộc, một chế độ xã hội. Đánh thắng cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ cuối tháng 12/1972 đã minh chứng hùng hồn về sức mạnh của chế độ mới – chế độ xã hội chủ nghĩa, được dẫn dắt bởi đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng; về tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và bản chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chiến thắng đó được kết tinh trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trong mỗi cán bộ, chiến sĩ Phòng không – Không quân, trở thành động lực to lớn thôi thúc quân và dân ta vượt qua khó khăn ác liệt, chiến đấu ngoan cường và giành chiến thắng vẻ vang.

Từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam đã trở nên quyết liệt, trên miền Bắc ta đã khẩn trương từng bước chuyển mọi mặt sinh hoạt và sản xuất sang chế độ thời chiến. Đảng ta kiên quyết giữ thế chủ động tiến công trên chiến trường miền Nam, phát huy vai trò của miền Bắc là hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa trong cuộc chiến tranh. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã phát huy cao độ quyền làm chủ của mỗi người dân trong thời chiến, không những giữ được sự ổn định mà còn phát triển không ngừng về mọi mặt. Trên toàn miền Bắc, chiến tranh nhân dân đất đối không phát triển rộng khắp, khí thế vừa sản xuất vừa chiến đấu và đẩy mạnh chi viện cho tiền tuyến phát triển mạnh mẽ trong mọi tầng lớp nhân dân. Trong suốt cuộc chiến tranh cực kỳ ác liệt, phải hứng chịu hàng triệu tấn bom đạn của giặc Mỹ, mặc dù ta còn nhiều khó khăn thiếu thốn nhưng trẻ em đều được học hành, ai cũng có cơm ăn, áo mặc kể cả khi gặp thiên tai, bão lụt nặng nề trong các năm 1969, 1971. Ở khắp các địa phương, nhà máy, công trường không kể già, trẻ, trai, gái tất cả sẵn sàng cầm súng bắn máy bay Mỹ bảo vệ quê hương. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã hun đúc ý chí “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” và chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” thành sức mạnh vô song của cả dân tộc để đánh bại kẻ thù cho dù chúng có nhiều âm mưu thủ đoạn gian ngoan và các loại vũ khí tối tân, hiện đại.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã làm thất bại toàn bộ các mục tiêu chiến lược của Mỹ, đánh sập “thần tượng không lực Hoa Kỳ”, phá sản quan điểm quân sự “sức mạnh không quân quyết định thắng lợi trong chiến tranh”, đẩy Mỹ vào thất bại chiến lược toàn diện về quân sự và chính trị, tạo bước ngoặt lịch sử dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu năm 1975. Nếu thập niên 50của thế kỷ XX, nhiều nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh đã giành độc lập sau chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam thì tới thập niên 70 của thế kỷ này sau thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và dưới sự tác động của thắng lợi của nhân dân Việt Nam, nhiều nước thuộc thế giới thứ ba đã đứng dậy đấu tranh giành chủ quyền độc lập cho đất nước.

Nhìn nhận về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” oanh liệt của nhân dân ta, các nhà lãnh đạo, các học giả, nhà báo, nhà văn trên thế giới đã đánh giá rất cao và hết lòng ca ngợi. Ông Rô-mét Chan-đra – Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới lúc đó đã nói: “Việt Nam đồng nghĩa với sự quang vinh, lòng dũng cảm và tinh thần quyết thắng. Nhân dân các dân tộc trên thế giới mắc một món nợ rất lớn đối với Việt Nam. Mỗi lần đứng bên hố bom do đế quốc Mỹ rải xuống Việt Nam, chúng tôi đều nhận ra rằng nhân dân Việt Nam không phải hy sinh chỉ vì Việt Nam mà vì cả chúng tôi. Những người anh hùng ngã xuống trên mảnh đất Việt Nam là những liệt sĩ của thế giới, vì họ đấu tranh cho cả thế giới, cho châu Phi, châu Mỹ La-tinh, châu Á, châu Âu và cho cả nhân dân nước Mỹ”. Chúng tôi nhìn thấy ở Việt Nam tương lai của cả loài người”.

Nhà báo Pháp Mác-ri-bu viết: “Xưa nay chưa từng có một dân tộc nào nhỏ như vậy, mà lại có trọng lượng tolớn như thế đối với lịch sử”. Còn nhà văn Pháp nổi tiếng Giắc-mô-đa, một người theo đạo Thiên Chúa, vốn rất xa với tư tưởng của chúng ta, nhưng chỉ sau mấy ngày Mỹ dùng B-52 đánh phá Hà Nội, đã viết: “Nếu dân tộc Việt Nam vĩ đại mà đầu hàng thì cả loài người sẽ suy sụp. Chiến thắng đế quốc Mỹ, nước đế quốc hùng mạnh nhất thế giới, loài người tiến bộ coi Việt Nam là lương tri của thời đại”. Sở dĩ chiến thắng của nhân dân ta được bạn bè khắp năm châu khâm phục, trân trọng bởi vì chúng ta đã để lại cho họ niềm tin chiến thắng của sức mạnh chính nghĩa, sức mạnh của thời đại mới, của cách mạng vô sản. Đồng thời cuộc chiến đấu của chúng ta luôn luôn vì một mục tiêu cao cả là đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã chứng minh sức sống mãnh liệt của hệ tư tưởng mới, một học thuyết cách mạng, khoa học nhất của nhân loại trong thời đại hiện nay mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Đặc biệt, những vấn đề về chiến tranh và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại ngày nay và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng của Việt Nam càng được sáng tỏ.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, truyền thống yêu nước, truyền thống bất khuất kiên cường của dân tộc đã có bước phát triển về chất khi được trang bị những vấn đề cơ bản về thế giới quan và nhân sinh quan của chủ nghĩa Mác – Lênin. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã biết phát huy và quy tụ sức mạnh đại đoàn kết của cả dân tộc, kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời đại để phát động toàn dân tiến hành một cuộc chiến tranh đất đối không chưa từng có trong lịch sử chiến tranh thế giới. Ních-xơn và Lầu Năm Góc với bộ máy chiến tranh tinh vi, hiện đại vào hàng số một thế giới nhưng không thể hiểu nổi một đất nước tất cả toàn dân không kể trẻ, già, trai, gái, với mọi vũ khí có trong tay đều nhất tề đứng lên chiến đấu khi bị xâm lược.

Sau thất bại thảm hại của cuộc tập kích chiến lược, nhiều học giả Mỹ và phương Tây đã chỉ trích gay gắt sự non kém, ngạo mạn trong đường lối chiến tranh xâm lược của chính quyền Ních-xơn, dựa vào sức mạnh của vũ khí, coi vũ khí là yếu tố quyết định sức mạnh giành chiến thắng trong chiến tranh. Giáo sư lịch sử quân sự Học viện tham mưu không quân Mỹ E-tin-pho, người đã trực tiếp tham gia chiến tranh Việt Nam, tác giả cuốn sách “Gió ngang – Những điều không thể thiếu về mặt văn hóa của chiến tranh đường không”, đã viết: “Cuộc chiến tranh Việt Nam của Mỹ đã thất bại từ lâu. Nó thất bại vì đối phương đã đề ra chiến lược quân sự giỏi hơn, một chiến lược nhận thức chiến tranh ở phạm vi rộng lớn hơn, coi như một hiện tượng văn hóa kết hợp chặt chẽ các mặt xã hội, kinh tế, chính trị, ngoại giao, cũng như quân sự. Chiến lược hòa hợp với lịch sử và văn hóa Việt Nam đã loại bỏ những lợi thế và làm tê liệt không lực – sức mạnh to lớn nhất của Mỹ”.

Học giả Rô-be Ghi-lanh thì viết: “Chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa yêu nước đã nhân lên gấp bội ý chí hy sinh quên mình của người chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Họ vẫn tiếp tục chiến đấu dưới làn bom khủng khiếp của Mỹ, vị tất đã tìm trong lịch sử có kẻ sánh bằng. Thực chất người Mỹ đã không biết tý gì về đất nước mà họ tiến công. Người Mỹ có thể tàn phá đất nước này bằng bom đạn nhưng đất nước này thậm chí khi bị tổn thương vẫn không chịu cúi đầu, vẫn không chịu khuất phục”. Rõ ràng sức mạnh để giành chiến thắng trong chiến tranh phải là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó nhân tố con người là quyết định nhất.

Chiến thắng lịch sử “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” có thể coi như một cuộc đụng đầu lịch sử tiêu biểu, mang nhiều ý nghĩa sâu xa về chính trị và quân sự, không những đối với quá khứ mà còn cho cả tương lai.Thất bại nhục nhã đó đã để lại “hội chứng Việt Nam” nặng nề còn đeo đẳng, ăn sâu lâu dài trong lòng nước Mỹ, không dễ gì xóa được. Suốt bốn thập kỷ qua, người Mỹ đã dày công mổ xẻ dưới nhiều góc độ khác nhau để tìm ra lời giải cho thất bại thảm hại của họ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam nhưng họ không thể tìm ra đáp số chính xác. Đơn giản là vì họ không hiểu biết về con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam và nền văn hóa Việt Nam, cụ thể là họ không phân biệt được chính nghĩa và phi nghĩa, giữa nhân văn và bạo tàn, giữa độc lập, tự do và áp bức, xâm lược.

Tướng Pan-mơ – Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ, trong cuốn sách “Vai trò quân sự của Mỹ trong cuộc chiến tranh 25 năm ở Việt Nam” đã viết: “Chỉ chúng ta, những người thất bại trong chiến tranh Việt Nam nay phải chịu đào bới lại quá khứ để tìm ra những bài học áp dụng cho tương lai”. Nhưng dù có đào bới thế nào chăng nữa thì sự thật vẫn là sự thật, không ai có thể phủ định được; sự thật đó như một chân lý hiển nhiên là không thể dùng bom đạn để khuất phục ý chí con người.

Giáo sư Mỹ Guen-ter Lê-vy trong tác phẩm nổi tiếng “Mỹ ở Việt Nam” đã khẳng định: “Chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II là thất bại chính trị – quân sự của Mỹ, vì nó không buộc được đối phương đầu hàng, nghĩa là có những nhượng bộ mới. Bắc Việt Nam, về thực chất đã kết thúc cuộc chiến tranh với một hiệp định có lợi cho họ… Mỹ phải thừa nhận một điều khoản mà họ đã dồn mọi nỗ lực hơn 10 năm qua để nó không xảy ra -sự có mặt của các lực lượng Bắc Việt Nam ở miền Nam Việt Nam được hợp pháp hóa Sự kiện sau đó đã chứng minh, chỉ hơn hai năm sau cái gọi là “rút quân trong danh dự” của Mỹ, Bắc Việt Nam đã hoàn thành cái việc mà họ muốn là giải phóng miền Nam và thống nhất hoàn toàn đất nước”.

Tiến sĩ Ga-bri-en Côn-cô viết trong cuốn “Giải phẫu một cuộc chiến tranh” đã bóc trần tính chất không tưởng trong nỗ lực tuyệt vọng của Tổng thống Ních-xơn: “Mọi người, kể cả không quân đều thừa nhận rằng sử dụng B-52 là rất sai lầm và việc ném bom không có tác dụng về mặt quân sự lâu dài. Không lực gây thương vong đáng sợ cho các mục tiêu dân sự, nhưng đồng thời cũng phải trả giá chưa từng có”. Ngay với tổn thất máy bay chiến lược B-52 mà Mỹ thừa nhận thì tỷ lệ bị ta tiêu diệt là trên 10% trong vòng hơn mười ngày, một con số cao hơn con số không quân Mỹ có thể chịu đựng được nên đã làm cho họ mất tinh thần. Thực tế trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, ở những nơi có hỏa lực phòng không mạnh, tỷ lệ tổn thất về máy bay của bên tấn công trong các cuộc tập kích đường không thường là trên dưới 1 đến 2% so với tổng số máy bay tham chiến. Trong cuộc tập kích chiến lược cuối tháng 12/1972, chỉ tính riêng B-52 bị bắn rơi lên tới 34 chiếc trong tổng số 193 chiếc tham chiến, chiếm tỷ lệ hơn 17%.

Sau Hiệp định Pa-ri năm 1973, trên trường quốc tế phong trào cách mạng thế giới trên khắp các châu lục phát triển rất mạnh mẽ, tiến công phá vỡ chiến lược toàn cầu của Mỹ ở nhiều khu vực.

Thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, ngoài mục tiêu chính trị và quân sự, nước Mỹ chịu một hậu quả lớn về kinh tế; với 676 tỷ đô-la (thời giá lúc bấy giờ – TG) chi cho chiến tranh Việt Nam đã không đem lại kết quả gì; nước Mỹ phải gánh chịu di chứng nặng nề của chiến tranh, giải quyết hậu quả lính Mỹ bị mất tích trong chiến tranh và một lực lượng ngụy quân, ngụy quyền bỏ chạy, di tản sang Mỹ sau chiến tranh mà Mỹ phải cưu mang, gánh chịu.

Bốn mươi năm nhìn lại chiến thắng lịch sử “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, đặc biệt là sau các cuộc chiến tranh do Mỹ cùng các nước đồng minh của Mỹ gây ra và các cuộc tiến công hỏa lực đường không của chủ nghĩa đế quốc tiến hành từ những năm cuối thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI, chúng ta càng hiểu rõ hơn giá trị lịch sử to lớn và ý nghĩa thời đại của chiến thắng vĩ đại này. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, âm vang chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” sẽ vang vọng suốt chiều dài lịch sử dân tộc, mãi mãi là bản hùng ca bất tử.

Nguyễn Phương Diện (CTV)
cpv.org.vn

Người chụp bức ảnh B52 bốc cháy trên bầu trời Hà Nội

(Chinhphu.vn) – Với nhà báo-nghệ sỹ nhiếp ảnh Nguyễn Xuân Át, bức ảnh ““Pháo đài bay B-52 đền tội trên bầu trời Hà Nội đêm 26/12/1972″ là một trong những tấm ảnh khiến ông tự hào vì nó không chỉ là tấm ảnh ghi lại một chiến công mà tấm ảnh còn khơi gợi biết bao kỷ niệm về 12 ngày đêm tháng 12/1972 khi Mỹ dùng B52 ném bom Hà Nội…

Ông Nguyễn Xuân Át bên Đài tưởng niệm Khâm Thiên, nơi lưu giữ nhiều hình ảnh về những ngày B52 của Mỹ ném bom phố Khâm Thiên năm 1972. Ảnh: VGP/Việt Hà

 

Đã hơn 40 năm, nhưng hình ảnh Hà Nội những ngày tháng Chạp năm 1972 vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức của nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Xuân Át. Trong câu chuyện kể với chúng tôi, nhiều lúc giọng ông trầm hẳn xuống khi hồi tưởng về những ngày B 52 Mỹ ném bom Thủ đô Hà Nội.

Thưa ông, để có được những tấm ảnh ghi lại chân thực và sống động những ngày đêm lịch sử đó, hẳn những người làm báo cũng có những phút giây sinh tử?

Ông Nguyễn Xuân Át: Trong chiến tranh, những người làm báo cũng phải bám các trận địa, trận đánh, tình hình diễn biến của các trận đánh của lực lượng phòng không không quân, để ghi lại những thời khắc, hình ảnh đáng nhớ của các chiến sỹ ta.

Thực tế, lúc đó anh em xác định hi sinh là bình thường. Là bộ đội xung trận rồi thì không có ai nghĩ đến chuyện lẩn tránh, tinh thần chiến đấu rất cao, bất chấp những khó khăn gian khổ ác liệt, phức tạp.

Đêm 18/12/1972, địch bắt đầu đánh vào Hà Nội, thì sáng hôm sau (19/12), tôi được phân công nhiệm vụ lên chụp ảnh xác máy bay B-52 bị bắn rơi ở Phù Lỗ, Đông Anh. Lúc đó, cầu Long Biên không đi được, phải đi cầu phao Chương Dương. Nhưng đường tới Đông Anh cũng bị tắc vì bị đánh bom, cây cối đổ, nhà sập, đất cát tung tóe.

Vậy những ngày đó, người Hà Nội sống ra sao thưa ông?

Ông Nguyễn Xuân Át: Trong những ngày đó, những người Hà Nội không có nhiệm vụ chiến đấu, sản xuất đã nhận được lệnh đi sơ tán hết. Từng dòng người lớn cứ đi tỏa về các hướng bằng cả xe đạp xe thồ, ô tô, đi bộ,… trâu, bò, ngựa, xe cùng theo. Và đông nhất là hướng đường số 6 Hà Đông.

Những người ở lại, lúc máy bay địch không đánh thì vẫn sinh hoạt bình thường. Mỗi khi có báo động thì người dân xuống hầm, còn bộ đội sẵn sàng chiến đấu.

Bức ảnh “Pháo đài bay B-52 đền tội trên bầu trời Hà Nội đêm 26/12/1972” của tác giả Xuân Át

 

Bức ảnh “Pháo đài bay B-52 đền tội trên bầu trời Hà Nội đêm 26/12/1972” đã trở thành bức ảnh nổi tiếng trong bộ sưu tập ảnh về chiến thắng B-52 của quân và dân Hà Nội. Xin ông nói thêm về thời khắc ghi lại bức ảnh đó?

Ông Nguyễn Xuân Át: Tôi chụp ngay tại phố Khâm Thiên, nhà tôi lúc đó ở con phố này. Ban ngày đi trực chiến nhưng ban đêm, tôi được phép về qua nhà. Vệt sáng trong bức ảnh là đám cháy phát ra từ chiếc máy bay B-52 bị bắn, nó ngoài sức tưởng tượng vì tôi cũng chưa nhìn thấy bao giờ. Ngay khi bom B-52 chuẩn bị trút xuống Khâm Thiên, cả khoảng trời nơi tôi đứng tối đen như mực. Anh tôi nói: “Mưa chú ạ”. Còn tôi bảo: “B-52 đấy anh ạ”.

Lúc ấy tôi 32 tuổi. Đêm 26/12 là trận đánh then chốt, đến sáng 27/12, tôi điện về chỉ huy sở, đồng đội của tôi trực ở chỉ huy sở đã nói như gào trong máy: “Có đúng Át không? Đêm qua chúng tao đã thắp hương mày rồi”. Hẳn lúc đó mọi người đều nghĩ tôi đã chết….

Bây giờ nhớ lại những ngày tháng đó, ông cảm thấy điều gì?

Ông Nguyễn Xuân Át: Lúc đó, chiến tranh ác liệt, cho đến bây giờ, có những cái thời đó vẫn được nhớ đến, có cái cũng bị sao nhãng đi. Nhưng tôi không bao giờ quên được những hình ảnh đau thương mùa đông năm 1972. Khi ấy, lòng căm thù địch trào dâng, những người lính đã nói với nhau: “Thù này không đội trời chung, muôn đời muôn kiếp không quên…”

Giờ đây, đã 40 năm trôi qua rồi, chiến tranh cũng đã qua rồi, nhưng mỗi lúc nghĩ lại vẫn thấy như mới ngày hôm qua, vẫn nguyên cảm giác đau thương mất mát, lòng căm thù, ý chí chiến đấu để chiến thắng, những cảm giác ấy cứ đan xen trong tâm trí…

Có thể các bạn trẻ bây giờ không thể hình dung hết được về những ngày hào hùng ấy. Phim ảnh, tư liệu chỉ phản ánh phần nào sự ác liệt của chiến tranh cũng như tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của lớp thanh niên chúng tôi thời đó, còn tôi nghĩ những ai đã trải qua những ngày tháng lịch sử ấy thì không dễ dàng quên được. Tôi thấy tiếc là mình không ghi lại hết được những hình ảnh Hà Nội lúc đó, những hình ảnh về chứng tích tàn khốc của chiến tranh, những hình ảnh về người Hà Nội, người Việt Nam anh hùng chống Mỹ…

Việt Hà thực hiện
chinhphu.vn

Những trắc thủ ra đa phá nhiễu, diệt B52

(Chinhphu.vn) – Kinh nghiệm phá sóng gây nhiễu máy bay B52 Mỹ của đơn vị pháo cao xạ 57 ly thuộc Đại đội C4, Trung đoàn 228 Hàm Rồng (Thanh Hóa) đã góp phần cùng bộ đội tên lửa chủ động đánh thắng B52 trong 12 ngày đêm tháng 12/1972 lịch sử.

Trắc thủ Lê Xuân Giang trong dịp mừng công chiến thắng. Ảnh: VGP/Sao Chi

Trong cuộc gặp gỡ của các nhân chứng lịch sử, các anh hùng, những người từng góp phần làm nên chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, ông Lê Xuân Giang (huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa), người Trung đội trưởng thuộc Đại đội C4 anh hùng, của Trung đoàn 228 Hàm Rồng đã chia sẻ những kinh nghiệm góp phần đánh thắng B52 trên vùng trời Hà Nội, Hải Phòng cuối tháng 12/1972.

Ông Giang kể, tháng 4/1972, ông đang là Trung đội trưởng Đại đội C4 chịu trách nhiệm bảo vệ cầu Hàm Rồng nhằm đảm bảo thông suốt con đường vận tải chiến lược từ Bắc vào Nam. Đại đội C4 chốt giữ trên đồi C4 cạnh cầu Hàm Rồng, đây cũng là vị trí mà ra đa và pháo 57 ly có thể dễ dàng bắt sóng và bắn máy bay địch một cách thuận lợi.

Với nhiệm vụ của một trắc thủ ra đa pháo cao xạ, ông Giang và đồng đội phải tìm cách phát hiện rồi hướng dẫn các khẩu đội pháo cao xạ của Trung đoàn bắn các loại máy bay Mỹ ( như F105, F111, F4, A4, A6, A7…) khi chúng đánh phá cầu Hàm Rồng.

Sau 8 năm đánh phá miền Bắc (kể từ ngày 5/8/1964) , tới ngày đầu tháng 4/1972, Mỹ bắt đầu thực hiện chiến dịch Linebacker I ném bom trở lại toàn miền Bắc hòng lật ngược tình thế ở chiến trường miền Nam và trên bàn đàm phán Pari.

Ngày mùng 10/4, Mỹ cho máy bay đánh phá thành phố Vinh; tới ngày 13/4 Mỹ tiếp tục điều 64 lần chiếc máy bay cường kích và 6 chiếc B52 không kích cầu Hàm Rồng và sân bay Thọ Xuân (căn cứ không quân của ta) và từ ngày 16/4 Mỹ đánh phá Hải Phòng.

Tới đêm ngày 21/4 Mỹ điều động 30 máy bay B52 đánh phá khu vực cầu Hàm Rồng, (Thanh Hóa)…

Ông Giang kể lại, thời ấy các loại ra đa của pháo cao xạ, tên lửa của ta chủ yếu là do Liên Xô sản xuất và quân đội Mỹ cũng đã nắm được tính năng kỹ thuật của các loại khí tài này. Vì vậy chúng hoàn toàn “tự tin” vào khả năng gây nhiễu của B52 nhằm “bịt mắt” ra đa của quân đội ta.

Ngay trong đêm 21/4, máy bay B52 cùng rất nhiều máy bay tiêm kích và máy bay gây nhiễu sóng ra đa của Mỹ đánh phá cầu Hàm Rồng, sân bay Sao Vàng (Thanh Hóa). Nhưng điều chúng không ngờ là Việt Nam có một loại máy ra đa mang tên K860 trang bị cho pháo cao xạ 57 ly do Đại đội C4 của Trung đoàn 228 Hàm Rồng sử dụng lại có thế phá nhiễu sóng và lần ra được “pháo đài bay” B52 của chúng.

Ngay sau khi nghe tin Hàm Rồng bị B52 ném bom và thông tin ra đa K860 của pháo cao xạ 57 ly có thể phát hiện được B52, bắt sóng chính xác mục tiêu, Quân chủng Phòng không-Không quân đã thu thập kinh nghiệm kĩ thuật này để cho binh chủng tên lửa phòng không chuẩn bị sẵn sàng ứng phó nếu Mỹ đem B52 đánh Hà Nội, Hải Phòng.

Tháng 12/1972, Mỹ điên cuồng tiếp tục chiến dịch Linebacker 2 bằng việc ồ ạt đưa con “át chủ bài” B52 ném bom miền Bắc nhằm khuất phục nhân dân ta.

Vì đã có kinh nghiệm đánh B52 từ khắp các chiến trường trước đây (bộ đội phòng không, không quân còn biên soạn cuốn cẩm nang đánh B52), lực lượng ra đa tên lửa của ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Khi đó đồng chí Phan Thu, kỹ thuật viên, đã tiếp thu được kinh nghiệm dùng máy ra đa K860 mà Đại đội C4 đã cải tiến để dẫn đường cho tên lửa bắn chính xác mục tiêu B52 khi bay vào vùng trời Hà Nội cũng như ở một số tỉnh thành phố khác.

19h10 tối 18/12/1972, Đại đội ra đa 45, Trung đoàn 291 thông báo sớm 35 phút trước khi B52 vào đánh phá Hà Nội. Đây là khoảng thời gian vô cùng quý giá để quân, dân, đặc biệt là các tiểu đoàn tên lửa ở các thành phố lớn ở miền Bắc chủ động đánh trả B52.

Lúc 20h13, kíp chiến đấu Tiểu đoàn 59, Trung đoàn tên lửa 261 đã tiêu diệt chiếc pháo đài bay đầu tiên ở cánh đồng Chuôm (huyện Sóc Sơn, Hà Nội).  Và kết thúc ngày chiến đấu đầu tiên (ngày 18/12), bộ đội tên lửa đã bắn rơi 3 máy bay B52. Sau 12 ngày của trận Điện Biên Phủ trên không tháng 12/1972, 34 chiếc B52 trong tổng số 81 máy bay bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng… đã khiến Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom bằng B52 ở miền Bắc Việt Nam.

Có thể nói chiến thắng của 12 ngày đêm “Điên Biên Phủ” trên không là sự thắng lợi của tinh thần đoàn kết và hiệp đồng tác chiến của quân, dân ta mà đặc biệt phải kể tới các binh chủng không quân, tên lửa, cao xạ…

Trong đó, những bài học kinh nghiệm phá nhiễu sóng máy bay B52 của những người lính ra đa pháo cao xạ 57 ly, Trung đoàn 228 Hàm Rồng anh hùng trong đó có trắc thủ Lê Xuân Giang, đã góp một phần quan trọng làm nên chiến thắng…

Sao Chi
chinhphu.vn

Người lính canh chừng B-52 bên Cột cờ Hà Nội

(Chinhphu.vn) – “Suốt 12 ngày đêm tháng 12/1972, chúng tôi biết mình có thể hi sinh bất cứ lúc nào nhưng chưa bao giờ run sợ trước kẻ thù, luôn bám trụ Cột cờ Thủ đô”, ông Trần Đức Thịnh, ở xã Úc Kỳ (huyện Phú Bình, Thái Nguyên), nguyên Tiểu đội trưởng Tiểu đội Cột cờ bồi hồi nhớ lại.

Những người lính của Tiểu đội Cột cờ năm xưa-Ảnh do nhân vật cung cấp

Nhiệm vụ của Tiểu đội Cột cờ trong những ngày Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc là quan sát Hà Nội và vùng phụ cận, bằng mắt thường, hay qua ống nhòm, trong từng trận ném bom để báo cáo diễn biến cho Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu.

Ông Dương Sỹ Nguyên, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Úc Kỳ, trên đường dẫn chúng tôi đến nhà ông Thịnh cứ tấm tắc mãi: “Mỗi lần nghe anh Thịnh kể về những ngày tháng làm nhiệm vụ bảo vệ Cột cờ Hà Nội dưới bom đạn của đế quốc Mỹ, chúng tôi luôn cảm thấy tự hào về ý chí quật cường của quân và dân ta”.

Qua câu chuyện bên chén trà nóng, ông Thịnh cho biết từ năm 1966, ông đã được điều chuyển sang tiểu đội Cột cờ Hà Nội.

Hàng ngày, tiểu đội chia làm 3 ca thay nhau trực. Mỗi ca có 4 người, chia làm 4 hướng. Mỗi người chịu trách nhiệm quan sát một hướng nhất định. Cả tiểu đội bao quát toàn bộ các vị trí ở Hà Nội, kịp thời báo cáo diễn biến từng trận đánh về Cục Tác chiến bằng điện thoại.

Bình thường trên đỉnh Cột cờ rất bằng phẳng, nhưng trong những trận ném bom, mỗi người lính tự buộc mình vào cột thu lôi trên cột cờ bằng dây dây da cho khỏi bị ngã, nhất là trong những trận bom ném gần ga Hà Nội, phố Khâm Thiên, Cửa Nam…

Biết mình có thể hi sinh bất kể lúc nào, nhưng ông Thịnh và đồng đội luôn tâm niệm lời thề trong bất kể tình huống nào, cũng không rời vị trí.

Từ Cột cờ Hà Nội, nhiều lần ông Thịnh và đồng đội vô cùng đau xót khi chứng kiến cảnh tàn phá khủng khiếp của những trận bom Mỹ rải xuống Hà Nội và vùng phụ cận.

 “Có lần tôi đang làm nhiệm vụ, máy bay Mỹ đến oanh kích Hà Nội, ném bom cầu Long Biên. Mới đầu, chúng thả bom hơi, rồi bom phá, cuối cùng là bom tấn làm mấy nhịp cầu đổ sập xuống, trời đất mù mịt. Người tôi giật tung lên. Có nhiều lúc chúng tôi cảm tưởng như bom nổ ngay bên mình”, ông Thịnh nhớ lại.

Song mọi thành viên trong Tiểu đội Cột cờ đều nén đau thương để nhìn kỹ, nhìn chính xác vị trí của từng trận ném bom của địch để báo cáo về Cục Tác chiến, góp phần cung cấp thông tin trong việc xây dựng các phương án phòng không hiệu quả cho Thủ đô.

Ông Trần Đức Thịnh đang xem lại những kỉ vật thời chiến tranh-Ảnh: VGP/Nguyễn Thắng

Ông Thịnh nói rằng, trong suốt 7 năm làm nhiệm vụ ở Cột cờ Hà Nội, 12 ngày đêm cuối năm 1972 là khốc liệt, gian khổ nhưng cũng rất tự hào, anh dũng.

12 ngày đêm rực lửa ấy, máy bay Mỹ rải bom dữ dội xuống Thủ đô và các tỉnh lân cận, ông cùng đồng đội làm việc suốt đêm không ngủ. Cứ mỗi lần nghe tiếng báo động, mọi người xuống hầm trú ẩn còn cả Tiểu đội Cột Cờ lại lên vị trí quan sát không sợ mưa bom bão đạn của kẻ thù.

“Lúc đó, ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh. Chúng tôi biết mình có thể hi sinh bất cứ lúc nào. 12 người chúng tôi cầm tay nhau đứng dưới chân Cột cờ cùng thề sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc”, ông Thịnh nói.

Đêm 19/12/1972, máy bay B-52 của Mỹ liên tục dội bom xuống Thủ đô làm rung chuyển đất trời. lực lượng phòng không Việt Nam đáp trả bằng tên lửa, pháo phòng không sáng rực cả bầu trời.

Xác máy bay B-52 bị bắn rơi, cháy đỏ rực. Các mảnh vỡ bay tung tóe…

Giờ đây, hồi tưởng về những ngày tháng không thể nào quên ấy, trong tình cảm của người cựu chiến binh vẫn còn nguyên vẹn niềm tự hào. Ông nói: “Chúng tôi không sợ bom đạn của kẻ thù. 12 người lính trong tiểu đội Cột cờ đều thấy vinh dự và tự hào khi được làm nhiệm vụ dưới lá cờ Tổ quốc giữa Thủ đô Hà Nội trong những ngày tháng rực lửa ấy”.

Nguyễn Thắng
chinhphu.vn

“Điện Biên Phủ trên không” qua ký ức một tiêu đồ viên

(Chinhphu.vn) – Trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, Hầm Chỉ huy tác chiến Bộ Tổng Tham mưu là nơi chứng kiến cuộc đấu trí cam go giữa Việt Nam với Hoa Kỳ.

Ông Nguyễn Đức Phách, ngoài cùng bên trái, thăm lại Hầm Tác chiến. Ảnh: VGP/Việt Hà

 

Phóng viên Cổng Thông tin Điện tử Chính phủ có dịp trò chuyện với cựu chiến binh Nguyễn Đức Khách, một tiêu đồ viên đã có mặt trong Hầm Tác chiến trong những ngày khốc liệt năm 1972.

Thưa ông, nhiệm vụ của một tiêu đồ viên là gì?

Tiêu đồ viên có nhiệm vụ theo dõi đường bay của máy bay địch và máy bay ta, ghi lại thông tin tình hình về máy bay địch do rađa thu thập qua tổng hợp của tổng đài Phòng không – Không quân.

Thông tin đó về từng tốp máy bay, loại gì, bao nhiêu chiếc. Có những tốp vào gần ven biển lại quay ra, có thể muốn trinh sát hoặc thăm dò một cái gì đó. Diễn biến đó phải được theo dõi sát.

Ông làm việc dưới Hầm Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu thời gian nào?

Tôi nguyên từ Trung đoàn rađa 291 đóng tại Sân bay Gia Lâm. Đồng chí Phùng Thế Tài điều tôi về làm tiêu đồ viên từ tháng 2/1965. Năm 1967, Hầm Tác chiến được xây dựng xong, chúng tôi xuống làm việc ở đây, cho đến khi hòa bình.

Trong 12 ngày đêm với cường độ dày đặc máy bay Mỹ vào như vậy, các tiêu đồ viên làm như thế nào để kịp ghi đường bay?

Chúng tôi vẫn làm việc như ngày thường nhưng chỉ có điều phải nhanh mắt, nhanh tay và cường độ làm việc tối đa. Chúng tôi làm việc bằng tất cả tinh thần và ý chí để làm thế nào thông tin kịp thời và chuẩn xác cho Sở chỉ huy, giúp Trung ương và Bộ Quốc phòng lãnh đạo toàn quân, toàn dân đánh thắng B-52.

Tinh thần của cán bộ, chiến sỹ trong Hầm Tác chiến khi đó thế nào?

Chúng tôi chỉ trào lên lòng căm thù trước tội ác ném bom giết hại người dân vô tội nhưng phải nén lại để hoàn thành nhiệm vụ mà quân đội giao cho. Ban đêm, chúng tôi tập trung hết dưới hầm, vừa trú ẩn nhưng thực ra là trực chiến.

Những lúc lên khỏi hầm, đứng trên Lầu Công chúa, chúng tôi thấy một Hà Nội hiên ngang đánh trả những trận bom B52 dội xuống. Người dân Hà Nội những ngày đó rất bình thản, những người lại đều tham gia dân quân, tự vệ, luôn khoác súng trên vai.

Ông có kỷ niệm nào đáng nhớ nhất trong 12 ngày đêm ấy?

Kỷ niệm thì nhiều lắm. Nhưng kỷ niệm mà chúng tôi không thể quên là khi nghe thông báo đã bắn gục B52. Lúc đó, chúng tôi sung sướng lắm, càng thêm quyết tâm và  ý chí trong công việc.

Mỗi lúc như vậy, chúng tôi thấy vui vì mình đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của một người lính.

Nhưng chúng tôi cũng không thể quên hình ảnh Bạch Mai, Khâm Thiên bị tàn phá bởi bom Mỹ, hàng nghìn người chết, có gia đình không còn ai…

Hôm nay về đây, cảm xúc của ông thế nào ?

Nhiều lần muốn về thăm lại nơi này nhưng đây là lần đầu tiên tôi trở lại nơi mình đã gắn bó suốt thời trai trẻ. Chúng tôi rất xúc động và phấn khởi. Trong không khí kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, tôi tự hào vì đã góp phần cùng với quân dân cả nước đánh bại B52 của Mỹ. Đó cũng là niềm tự hào mà tôi muốn nhắn nhủ tới con cháu và các thế hệ sau này: Bất cứ giá nào cũng phải giữ được độc lập tự do, phải xây dựng được Tổ quốc ta mạnh giàu.

Việt Hà (Thực hiện)
chinhphu.vn